MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG DÂN SỰ 6 1 1 Những vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng dân sự 6 1 2 Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về ngư[.]
Trang 1Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN VÀ KIẾN NGHỊ 452.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về người tiến hành tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc
2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định
của pháp luật Việt Nam về người tiến hành tố tụng dân sự tại Tòa án
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
Trang 2BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
CQTHTTDS : Cơ quan tiến hành tố tụng dân sựHĐXX : Hội đồng xét xử
HTND : Hội thẩm nhân dân
LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân
LTCVKSND : Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânNTHTTDS : Người tiến hành tố tụng dân sựTAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TTDS : Tố tụng dân sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối caoVVDS : Vụ việc dân sự
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thời gian gần đây, các tranh chấp dân sự tăng nhanh về số lượng, quy
mô cùng với những diễn biến phức tạp Theo thống kê cho thấy, số lượng các vụ ándân sự tăng nhanh không chỉ dừng lại ở các vụ việc dân sự (VVDS) theo nghĩa hẹp
mà còn cả những vụ án kinh doanh, thương mại, lao động Những tranh chấp nàyngày càng phức tạp về nội dung, phạm vi lĩnh vực, diễn biến gây khó khăn khôngnhỏ cho hoạt động của các Tòa án nhân dân (TAND) Mặc dù gặp phải những khókhăn nhưng ngành Tòa án đã giải quyết triệt để, có hiệu quả các VVDS, đáp ứngđược kì vọng của quần chúng nhân dân, tăng cường tính tuân thủ pháp luật và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự
Bên cạnh điểm tiến bộ nêu trên thì thực tế hiện nay vẫn còn tồn tại nhiềuvướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án Trong đó nguyênnhân chủ yếu xuất phát từ cơ cấu tổ chức của Tòa án, Viện kiểm sát còn chưa hợp
lý, trình độ, năng lực của những người tiến hành tố tụng dân sự (NTHTTDS) chưacao, chưa đáp ứng yêu cầu tình hình mới Đặc biệt những bất cập về NTHTTDS làrào cản, ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng, hiệu quả xét xử của các TAND Vì vậy,việc tiếp tục nghiên cứu về NTHTTDS, đề xuất các kiến nghị về hoàn thiện và thựchiện pháp luật về NTHTTDS, khắc phục những nhược điểm trên, vừa đảm bảonguyên tắc tuân thủ pháp luật vừa góp phần xây dựng quy trình gỉai quyết VVDSkhoa học, khách quan và minh bạch nhất, đóng góp vào thực hiện mục tiêu cải cách
tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra trong tình hình mới
Với lý do nêu trên, học viên chọn đề tài: "Người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn" nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian trước và sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nghiên cứu cácvấn đề liên quan đến NTHTTDS đã được công bố Trong các công trình đó, tiêubiểu là các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý sau đây:
Trang 4- Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, của Khoa Luật trực thuộc Đại
học Quốc gia Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 2014;
- Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, của Đại học Huế, do Nhà xuất
bản Công An nhân dân xuất bản năm 2015;
- Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, của Trường Đại học Luật Hà
Nội, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2019;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự", của Bùi Thị Huyền, bảo vệ năm 2001 tại Trường
Đại học Luật Hà Nội;
- Khóa luận tốt nghiệp đại học: "Người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự",
của Triệu Hoàng Lan Hương, bảo vệ năm 2011 tại Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Khóa luận tốt nghiệp đại học: "Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự", của Lê Thị Thúy Nga, bảo vệ năm 2012 tại
Trường Đại học luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự", của Nguyễn Thị Hằng, bảo vệ năm 2013 tại Đại
học Quốc gia Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc gỉai quyết vụ án dân sự ở Tòa án cáp sơ thẩm", của Vũ
Thanh Tuấn, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự", của Lã Thị Vân Anh, bảo vệ năm 2016 tại
Trường Đại học luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng", của Nguyễn Thị Nghiệp, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Luật Hà Nội
Ngoài ra, trên các tạp chí cũng đăng tải một số bài viết có nội dung liênquan về NTHTTDS như:
- Bài viết: "Quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành và những vấn đề đặt ra", của Phạm Văn Lợi, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 08/1999;
Trang 5- Bài viết: "Đổi mới chế định Hội thẩm, nâng cao hiệu qủa hoạt động của Tòa án", của Nguyễn Tất Viễn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 01/2000;
- Bài viết: "Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng", của Bùi
Thị Huyền, Tạp chí Luật học, số Đặc san góp ý sự thảo BLTTDS, số 04/2004;
- Bài viết: "Những quy định mới của chế định cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong Bộ luật tố tụng dân sự",
của Nguyễn Công Bình, Tạp chí Luật học, số 06/2004;
- Bài viết: "Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt dộng của Hội thẩm", của Hoàng Hùng Hải, Tạp chí TAND, số 06/2005;
- Bài viết: "Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm Tòa án nhân dân" của tác giả Lê Thu Hà, Tạp chí TAND, số 23/2009;
- Bài viết: "Hoàn thiện các quy định của pháp luật về Thẩm tra viên Tòa ánnhân dân", của Trần Anh Tuấn và Hoàng Văn Tùng, Tạp chí TAND, số 05/2016;
- Bài viết: "Tư cách của người tiến hành tố tụng dân sự", của Lương Xuân
Vũ, Tạp chí Lập pháp, số 03/2016;
- Bài viết: "Thực tiễn thay đổi NTHTTDS" của tác giả Đào Công Tám, Tạpchí Lập pháp, số 11/2017;
- Bài viết: "Đôi điều suy nghĩ về người tiến hành tố tụng dân sự trong các
vụ án dân sự", của Nguyễn Ngọc Yến, Tạp chí Luật học, số 2/2017;
- Bài viết: "Vai trò, trách nhiệm của Hội thẩm trong tố tụng dân sự", của Lê
Mỹ Linh, Tạp chí Luật học, số 7/2018 v.v
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên hầu hết chỉ đề cập gián tiếp đếnNTHTTDS và chủ yếu tập trung vào NTHTTDS là Thẩm phán Tại TAND huyệnLộc Bình, tỉnh Lạng Sơn thì chưa có công trình nghiên cứu nào về NTHTTDS và
thực tiễn thực hiện Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài "Người tiến hành tố tụng trong
tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn" của học viên có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về NTHTTDStrong TTDS, nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về NTHTTDS và thực tiễn
Trang 6thực hiện các quy định này tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Từ đó, nhậndiện được những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về NTHTTDS
và thực tiễn thực hiện các quy định này tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; đềxuất các giải pháp hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật về NTHTTDSnhằm nâng cao vai trò của NTHTTDS tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên cứu đềtài có các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về NTHTTDS;
- Phân tích làm rõ thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam vềNTHTTDS, nhận diện được các bất cập, hạn chế của các quy định đó;
- Khảo sát thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam vềNTHTTDS tại Tòa án, nhận diện được các bất cập, hạn chế trong việc thực hiện cácquy định đó;
- Tìm ra được được những giải pháp hoàn thiện và thực hiện các quy địnhcủa pháp luật về NTHTTDS tại Tòa án để nâng cao năng lực, vai trò củaNTHTTDS trong giải quyết các VVDS tại Tòa án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về NTHTTDS;các quy định của pháp luật Việt Nam về NTHTTDS và thực tiễn thực hiện các quyđịnh của pháp luật Việt Nam về NTHTTDStại Tòa án
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ ứng dụng, phạm vi nghiên cứu đề tàichủ yếu là những vấn đề lý luận cơ bản về NTHTTDS như khái niệm, đặc điểm, vaitrò và nội dung điều chỉnh của pháp luật về NTHTTDS; các quy định của pháp luậtViệt Nam hiện hành về NTHTTDS và thực tiễn thực hiện các quy định này tạiTAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn trong thời gian từ năm 2017 đến nay Mặtkhác, việc nghiên cứu chỉ được tiến hành đối với những NTHTTDS được quy địnhtại Khoản 2 Điều 46 BLTTDS năm 2015 và chủ yếu đối với NTHTTDS của Tòa án
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin về phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, sử dụng các
Trang 7phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp sosánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp điều tra, phương pháp phân tích đánhgiá về mặt định tính và định lượng…; từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn để giải quyết,làm sáng tỏ các mục tiêu nghiên cứu đề tài.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về người tiến hành tố tụng dân sự.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về người tiến hành tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnhLạng Sơn và kiến nghị
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Những vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng dân sự
Theo Hán Việt Từ điển, "tố tụng" là việc thưa kiện1 Theo Từ điển TiếngViệt, "tố tụng" cũng được hiểu là trình tự, thủ tục được tiến hành theo quy định củapháp luật2 Đối với thuật ngữ "dân sự", hiểu theo nghĩa thông thường đó là nhữngviệc có liên quan đến người dân; hiểu theo nghĩa pháp lý "dân sự" là các VVDStheo nghĩa rộng, tức là các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Theo Từ điển Tiếng Việt, "tiến hành"
là làm, thực hiện một cách chủ động một công việc nào đó đã được định trước3
Trong khoa học pháp lý, tố tụng dân sự (TTDS) là "trình tự do pháp luậtquy định cho việc giải quyết VVDS và thi hành án dân sự"4 Hay TTDS là một quátrình với nhiều giai đoạn và các trình tự, thủ tục khác nhau Quá tình đó bắt đầu từthời điểm khởi kiện (yêu cầu) và thụ lý vụ việc và kết thúc khi vụ việc giải quyết xong,bản án, quyết định của Tòa án được thi hành, công lý được thực thi trên thực tế5
Quá trình Tòa án giải quyết VVDS có sự tham gia của nhiều cá nhân, cơquan, tổ chức, do đó phát sinh các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các cánhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình đó Theo pháp luật Việt Nam hiệnhành, Tòa án và Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự(CQTHTTDS) còn những cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi tham gia vào quá trìnhgiải quyết VVDS được gọi là những người tham gia tố tụng dân sự CácCQTHTTDS và những người tham gia tố tụng dân sự là những chủ thể của cácquan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết VVDS do pháp luật TTDS điều
1 Đào Duy Anh (1957), Hán Việt Từ điển, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr 302, trích trong tài liệu: Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), Pháp luật về tố tụng dân sự, Đặc san tuyên truyền pháp luật, Hà Nội, tr 3
2 Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 108.
3 3 Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Sđd, tr 952
4 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 10
5 5 Đại học Huế (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 8
Trang 9chỉnh Trong đó, có những chủ thể được sử dụng quyền lực của Nhà nước để giảiquyết VVDS, kiểm sát việc giải quyết VVDS và ngược lại có những chủ thể phảichấp hành quyết định của các chủ thể đó Vì vậy, pháp luật TTDS đã có quy địnhcho hai nhóm chủ thể khác nhau có các địa vị pháp lý khác nhau Trong đó, cácCQTHTTDS là chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết VVDS vàkiểm sát việc giải quyết VVDS.
Trong mỗi CQTHTTDS, lại có những người có thẩm quyền doCQTHTTDS quản lý, được thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của CQTHTTDStrong phạm vi mà pháp luật quy định Những người này được gọi là nhữngNTHTTDS Như vậy, NTHTTDS là cá nhân, là một con người cụ thể làm việctrong CQTHTTDS và thay mặt cho cơ quan này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trênthực tế Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nộiđịnh nghĩa: "Người tiến hành tố tụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng dân sự"6; Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam củaKhoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa: "Người tiến hành tốtụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việcdân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự"7 Tuy nhiên, cácđịnh nghĩa này còn khá cô đọng, chưa bao quát hết các đặc điểm của NTHTTDS.Ngoài ra, nếu hiểu TTDS theo nghĩa rộng là "trình tự do pháp luật quy định choviệc giải quyết VVDS và thi hành án dân sự" thì định nghĩa NTHTTDS trong Giáotrình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội là phù hợp,bao gồm cả những người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan tiến hành tốtụng dân sự trong giải quyết VVDS, thi hành án dân sự và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong tố tụng dân sự Nếu hiểu TTDS theo nghĩa hẹp là "trình tự do phápluật quy định cho việc giải quyết VVDS" và theo quy định của pháp luật Việt Namhiện hành thì định nghĩa NTHTTDS trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
6 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 91.
7 7 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 109
Trang 10của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là phù hợp, chỉ bao gồm ngườithực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CQTHTTDS trong giải quyết VVDS và kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong TTDS.
Những NTHTTDS có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong việcgiải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS MỗiNTHTTDS thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau của CQTHTTDS trongphạm vi pháp luật quy định nhưng các hoạt động TTDS của họ có mối liên hệ mậtthiết, thống nhất với nhau và đều có mục đích chung là bảo đảm việc giải quyết kịpthời, đúng pháp luật VVDS của TAND để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của
xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Ngoài ra, nhữngNTHTTDS còn được bổ nhiệm hoặc bầu theo những tiêu chuẩn và thủ tục do phápluật đã quy định
Từ những vấn đề nêu trên có thể đi đến kết luận: Người tiến hành tố tụng dân sự là người được bổ nhiệm hoặc bầu theo tiêu chuẩn và thủ tục pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự trong giải quyết vụ việc dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.
1.1.2 Đặc điểm của người tiến hành tố tụng dân sự
Người tiến hành TTDS có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, NTHTTDS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CQTHTTDSDS
trong phạm vi pháp luật quy định
Người tiến hành TTDS trong TTDS thông qua việc thay mặt CQTHTTDSthực hiện quyền lực nhà nước khi giải quyết VVDS ra các bản án và các quyết định
về giải quyết VVDS Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam làNhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyềnlực nhà nước thuộc về nhân dân Nguyên tắc "quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp" được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2, Hiếnpháp năm 2013 Trong đó, quyền tư pháp chính là một dạng của quyền lực nhànước, chỉ khi có các hoạt động cụ thể của các chủ thể xác định mới trở thành quyềnlực thực tế Đây chính là quá trình hiện thực hóa quyền tư pháp được ghi nhận trong
Trang 11các văn bản pháp luật vào thực tiễn đời sống của xã hội Việc áp dụng thực hiện cácquy phạm pháp luật vào thực tế cần thông qua hoạt động của từng cá nhân xác định.Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, "Tòa án nhân dân là cơquan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tưpháp" Trong TTDS, NTHTTDS của Tòa án sẽ thay Tòa án thực hiện quyền xét xử.NTHTTDS thực hiện quyền lực nhà nước thông qua quá trình xem xét, thụ lý, giảiquyết các tranh chấp, yêu cầu dân sự khi đương sự có yêu cầu nhân danh nhà nướcxét xử và ra các bản án, quyết định giải quyết VVDS Từ đó, để tránh lạm dụngquyền lực thì hoạt động tố tụng cần phải kiểm sát chặt chẽ Phần lớn thì sự kiểm sátnày do Kiểm sát viên thực hiện, bằng cách kiểm sát việc tuân theo pháp luật củanhững người tiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng trong quá trìnhgiải quyết VVDS Việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của NTHTTDS phảituân theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được bảo vệbởi pháp luật Vì đây là nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước trao cho NTHTTDSchứ không phải trao cho một chức danh bất kì nào trong bộ máy nhà nước.
Hai là, NTHTTDS là công chức thuộc biên chế của cơ quan tiến hành
TTDS, trừ Hội thẩm nhân dân (HTND)
Người tiến hành TTDS là những người nhân danh nhà nước, thực thi nhiệm
vụ tháo gỡ, giải quyết các VVDS bằng quyền lực nhà nước, được nhân dân tínnhiệm và góp phần tạo ra môi trường sống lành mạnh, yên bình cho nhân dân.NTHTTDS trong TTDS là người được hưởng lương từ NSNN, được bổ nhiệm/bầudựa theo những tiêu chuẩn chặt chẽ mà pháp luật đã quy định sao cho phù hợp vớinhiệm vụ mà ngành tư pháp đặt ra đối với những cá nhân thực hiện hoạt động củaCQTHTT Tại Việt Nam, NTHTTDS đầu tiên phải là công dân Việt Nam, có phẩmchất đạo đức tốt, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN ViệtNam; đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ học vấn, sức khỏe và trình độ chuyên môn,nghiệp vụ
Ba là, hoạt động của NTHTTDS mang tính chất chủ động và độc lập
Đây là đặc điểm bắt nguồn từ những nhiệm vụ và quyền hạn riêng biệt màpháp luật quy định cho NTHTTDS trong việc thay mặt CQTHTTDS ra các bản án
và quyết định về giải quyết VVDS Trong tố tụng hình sự, nếu Thẩm phán chỉ tiến
Trang 12hành xét xử trên cơ sở hồ sơ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát kết luận mà khôngtiến hành điều tra vụ án hình sự, thì sự chủ động trong hoạt động của Thẩm phán sẽthể hiện rõ nét hơn Có thể hiểu, "Thẩm phán trong tố tụng dân sự là người trực tiếpthu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạmthời, hòa giải, chuẩn bị hồ sơ vụ án và trực tiếp xét xử"8
Sự chủ động của NTHTTDS trong TTDS cũng chỉ mang tính chất tươngđối Khi NTHTTDS thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn để giải quyết VVDS tức làđang giải quyết các tranh chấp, những yêu cầu trong các quan hệ; dân sự, kinhdoanh, lao động, thương mại, hôn nhân và gia đình Đặc trưng của những quan hệnày là quyền tự quyết và tự định đoạt của các chủ thể có quyền quyết định việc khởikiện, yêu cầu CQTHTTDS, NTHTTDS giải quyết các tranh chấp hoặc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Cần có hành vi khởi kiện, yêu cầu của đương sự thìmới có các hoạt động tiếp theo của NTHTTDS Cùng với đó, trong quá trình giảiquyết VVDS, giữa các đương sự có thể thỏa thuận và thương lượng để giải quyếtcác vấn đề tranh chấp; rút đơn khởi kiện Nếu quyết định, thỏa thuận đó không tráivới quy định của pháp luật và đạo đức xã hội thì NTHTTDS trong trường hợp này
sẽ phải tôn trọng quyết định, tôn trọng sự thỏa thuận của đương sự Do vậy, bêncạnh sự chủ động khi tiến hành tố tụng, thì sự độc lập cũng là đặc điểm nổi bậttrong hoạt động của NTHTTDS Nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chứcthực hiện quyền tư pháp là độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Quyền tư pháp làquyền xét xử mà nhân dân giao cho TAND thực hiện thông qua hoạt động củaNTHTTDS của Tòa án Qua đó bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận việc nghiêm cấm các cơquan, tổ chức và cá nhân can thiệp vào quá trình xét xử của Thẩm phán, HTNDchính là sự bảo đảm hiến định quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét
xử Sự độc lập của Thẩm phán, HTND nói riêng và của NTHTTDS nói chung độclập với cả yếu tố bên ngoài và bên trong Và sự độc lập trên cả hai phương diện nàyđược hiểu là khi tiến hành tố tụng, NTHTTDS chỉ được căn cứ vào các tài liệu vàchứng cứ; căn cứ vào quá trình tranh tụng của các bên để giải quyết VVDS
8 8 Vũ Thanh Tuấn (2013), Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 13.
Trang 13Bốn là, hoạt động của NTHTTDS có ý nghĩa quyết định đối với việc giải
quyết đúng đắn VVDS
Trong CQTHTTDS thì NTHTTDS giữ vị trí trung tâm trong hoạt động tốtụng và tạo nên sức mạnh và uy tín của cơ quan đó Chỉ có NTHTTDS mới đượcpháp luật quy định là có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện việc giải quyết các VVDS
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VVDS Hoạt độngcủa NTHTTDS quyết định đến tính chính xác, khách quan của bản án, quyết địnhcủa Tòa án; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy vậy, quátrình giải quyết VVDS luôn tiền ẩn những yếu tố tác động không tốt đến sự vô tư,khách quan của Thẩm phán, Kiểm sát viên, HTND nói riêng cũng như sự độc lậpcủa các NTHTTDS khác, TAND và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) nói chung.Trên thực tế thì các biểu hiện có tác động đến sự vô tư, khách quan thường phức tạp
và đa dạng, do nhiều nguyên nhân và chủ thể khác nhau tạo nên Dù với bất kỳ mụcđích nào thì sự không vô tư, khách quan của NTHTTDS đều gây ảnh hưởng đếnchất lượng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của họ; khiến cho quá trình giảiquyết VVDS trở nên thiếu khách quan Dẫn tới việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp của đương sự không được thực hiện nghiêm chỉnh Mỗi một NTHTTDS nếuhoàn thành tốt nhiệm vụ trong các giai đoạn của quá trình tố tụng thì tất nhiên sẽkhẳng định được hiệu quả hoạt động của CQTHTTDS nơi họ đang công tác, tạo nên
uy tín cho CQTHTTDS và nhận được sự tin tưởng của nhân dân; củng cố sự côngbằng và nghiêm minh của pháp luật
Mặt khác, nếu NTHTTDS hoàn thành không tốt nhiệm vụ của bản thân thìhiệu quả hoạt động của CQTHTTDS đó cũng sẽ bị giảm xuống; tạo sự bất bình, mấtniềm tin trong nhân dân đối với CQTHTTDS nói riêng và đối với hoạt động của bộ máynhà nước nói chung Đặc biệt với các trường hợp NTHTTDS thực hiện nhiệm vụ vàquyền hạn không công tâm và khách quan sẽ tạo phẫn nộ, bức xúc lớn đối với đương sựnói riêng và người dân nói chung Do đó, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn NTHTTDSluôn luôn phải nắm vững được nhiệm vụ, quyền hạn của bản thân và chịu trách nhiệmtrước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó Thông qua đó, góp phần nângcao trách nhiệm của NTHTTDS trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của họ
Trang 141.1.3 Vai trò của người tiến hành tố tụng dân sự
Người tiến hành TTDS có vai trò rất quan trọng đối với việc giải quyếtnhanh chóng, đúng đắn VVDS, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, hoạt động của NTHTTDS bảo đảm cho VVDS được giải quyết một
cách công tâm, khách quan, không bị gián đoạn, qua đó bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa đương sự, đảm bảo tính thượng tôn và nghiêm minh của pháp luật
Người tiến hành TTDS giống như người lái tàu đưa con tàu VVDS đếnthành công, thu được kết quả cuối cùng Những người trên con tàu đó là NTHTTDSchèo lái, đưa vụ việc ra ánh sáng, làm sáng tỏ VVDS một cách công khai và minhbạch nhất, đảm bảo tính tuân thủ pháp luật trong giải quyết VVDS
Hai là, hoạt động của NTHTTDS là hạt nhân của các CQTHTTDS trong
việc phòng chống vi phạm pháp luật
Hoạt động của NTHTTDS tạo nên sức mạnh, uy tín của CQTHTTDS Hiệuquả hoạt động của NTHTTDS cũng chính là hiệu quả hoạt động của các CQTHTTDS.Chính vì vậy, NTHTTDS có vai trò đặc biệt quan trọng trong CQTHTTDS, vì hoạtđộng của họ mang tính chất quyết định kết quả công việc của cơ quan, đơn vị tốtụng đó CQTHTTDS mạnh hay yếu, hoạt động có hiệu quả hay không có hiệu quả,phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động của họ, vì hầu hết các hoạt động của họ đều trựctiếp tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, hoạt động của họ
có hiệu quả sẽ tạo nên dư luận xã hội tốt, tạo dựng được uy tín của CQTHTTDS,cao hơn nữa là sự tin tưởng vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật Ngượclại, nếu hiệu quả hoạt động của NTHTTDS kém, không bảo vệ được quyền, lợi íchhợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân sẽ gây nên dư luận bất bình của xã hội
và mất lòng tin của nhân dân đối với CQTHTTDS nói riêng và đối với Nhà nướcCộng hòa XHCN Việt Nam nói chung
Ba là, hoạt động của NTHTTDS góp phần quyết định trong việc bảo vệ trật
tự pháp luật, tăng cường việc tuân thủ pháp luật
Nhiệm vụ chính của NTHTTDS là giải quyết các VVDS đối với các tranhchấp, yêu cầu về quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và giađình Do trên thực tế, phạm vi các loại tranh chấp, yêu cầu thường rất đa dạng vàthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên hoạt động TTDS của NTHTTDS có ảnh hưởng
Trang 15nhất định đến sự ổn định, phát triển của nhiều mối quan hệ xã hội Việc áp dụngđúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xét xử là yêu cầu quan trọngnhất đối với NTHTTDS Bởi khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn tố tụng đúngpháp luật thì khả năng phát hiện tội phạm cao hơn, tìm được chính xác người phạmtội, xử lý thật nghiêm minh, không làm oan người vô tội, không để bỏ lọt tội phạm;bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động xét xử,giải quyết các tranh chấp, yêu cầu, người dân được phổ biến các đường lối, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Qua đó tạo nên môi trường ổn định cho sựphát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, nâng cao tinh thần chấp hành nghiêm chỉnhpháp luật của nhân dân, góp phần củng cố hiệu lực của pháp luật, tăng cường phápchế XHCN, nâng cao uy tín của bộ máy nhà nước mà đại diện là các cơ quan bảo vệpháp luật.
Như vậy, NTHTTDS có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy nhànước, không có hoạt động của họ thì nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạmkhông được đặt ra Trong những năm gần đây, chính vì NTHTTDS có vị trí và vaitrò quan trọng nên Đảng, Nhà nước ta luôn hết sức chú trọng đến đội ngũNTHTTDS; vừa tăng về số lượng và chất lượng NTHTTDS nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả của hoạt động TTDS Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạtđược, hiệu quả hoạt động của NTHTTDS còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ so với yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra Điều này có nhiều nguyên nhân,nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là các quy định của pháp luật về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người NTHTTDS chưa cụ thể và rõ ràng;NTHTTDS là những người trực tiếp thực hiện các hành vi tố tụng, nhưng rất ít thẩmquyền, dẫn đến tình trạng làm giảm vai trò, tính chịu trách nhiệm, tính độc lập vàtính hiệu quả hoạt động của những NTHTTDS Vì thế, vấn đề đặt ra là cần quy địnhđầy đủ, rõ ràng, khoa học về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của NTHTTDStrong giải quyết các vụ án dân sự, là cơ sở, điều kiện để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ
mà Nhà nước giao phó và đáp ứng được yêu cầu do thực tiễn đặt ra
1.1.4 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về người tiến hành tố tụng dân sự
Trang 161.1.4.1 Thành phần người tiến hành tố tụng dân sự
Không phải tất cả các cán bộ, nhân viên trong các CQTHTTDS đều có thểthực hiện được nhiệm vụ và quyền hạn của CQTHTTDS trong việc giải quyếtVVDS Thông thường chỉ có những người có năng lực, trình độ chuyên môn nhấtđịnh mới có thể thực hiện được nhiệm vụ và quyền hạn của CQTHTTDS trong việcgiải quyết VVDS Bởi vậy, để NTHTTDS thực hiện tốt được vai trò của mình trongviệc giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc giải quyết VVDS thì pháp luật trước hếtphải quy định về thành phần NTHTTDS hay nói cách khác là pháp luật phải quyđịnh rõ ai là NTHTTDS Theo đó, thành phần NTHTTDS phải bao gồm nhữngngười có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiến hành giải quyết VVDS và kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong giải quyết VVDS Ngoài ra, pháp luật cũng phải quyđịnh rõ tiêu chuẩn cụ thể để bổ nhiệm hoặc bầu những NTHTTDS và trình tự, thủtục bổ nhiệm hoặc bầu những NTHTTDS
1.1.4.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của người tiến hành tố tụng dân sự
Người tiến hành TTDS chỉ có thể thực hiện tốt vai trò của mình trong việcgiải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc giải quyết VVDS trong trường hợp pháp luậtquy định đầy đủ, cụ thể và hợp lý nhiệm vụ và quyền hạn của họ trong việc giảiquyết VVDS hoặc kiểm sát việc giải quyết VVDS Những quy định này được đưa
ra phù hợp với vị trí, vai trò của từng NTHTTDS, thể hiện rõ đặc thù của từng vị trínghề nghiệp nhất định Pháp luật điều chỉnh về khía cạnh này thông qua việc mặcđịnh và luật hóa những công việc NTHTTDS phải làm và phải thực hiện, làm nềntảng xuyên suốt trong hệ thống pháp luật dân sự
Việc quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Thẩm phán,HTND là cơ sở để NTHTTDS nhận thức rõ về nhiệm vụ của mình, tích cực, chủđộng và tự giác hơn trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động TTDS và là
cơ sở cần thiết để xác định trách nhiệm của họ khi tiến hành tố tụng để xảy ra sai phạm
1.1.4.3 Việc phân công người tiến hành tố tụng dân sự tham gia giải quyết
vụ việc dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Việc phân công NTHTTDS tham gia giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việcgiải quyết VVDS cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của NTHTTDS Nếu việc phân công khách quan, hợp lý sẽ giúp
Trang 17NTHTTDS phát huy được năng lực của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn đã được pháp luật quy định còn nếu không thì kết quả có thể sẽ ngược lại Bởivậy, bên cạnh việc pháp luật phải quy định đầy đủ, cụ thể quyền, nghĩa vụ củanhững NTHTTDS thì pháp luật còn phải quy định cả về việc phân công người tiếnhành tố tụng dân sự tham gia giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo phápluật trong TTDS Cụ thể pháp luật phải quy định về thẩm quyền phân côngNTHTTDS, thủ tục phân công NTHTTDS Thông qua việc quy định những vấn đềnày bảo đảm việc phân công NTHTTDS tham gia trong mỗi VVDS được kháchquan, phù hợp với năng lực chuyên môn của mỗi người đảm bảo việc giải quyếtVVDS và kiểm sát việc giải quyết VVDS được đúng pháp luật.
1.1.4.4 Thay đổi người tiến hành tố tụng dân sự
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS là phải đảm bảotính khách quan, vô tư của NTHTTDS Để phòng ngừa các khả năng dẫn đến bản
án, quyết định được tuyên không khách quan, vô tư vì những NTHTTDS có cácquan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ xã hội gây tác động đến tính kháchquan của bản án thì việc thay đổi họ là cần thiết Việc thay đổi này sẽ đảm bảo giảiquyết VVDS cũng như việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giảiquyết VVDS theo đúng pháp luật; bảo đảm sự công bằng cũng như tôn trọng tínhtối cao của pháp luật Vì thế, bên cạnh việc quy định việc phân công NTHTTDStham gia giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thìpháp luật còn phải quy định cả vấn đề thay đổi NTHTTDS Về nội dung này, phápluật cần quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến việc thay đổi NTHTTDS nhưcăn cứ thay đổi hoặc từ chối NTHTTDS, thẩm quyền thay đổi NTHTTDS, thủ tụcthay đổi hoặc từ chối NTHTTDS Các quy định về vấn đề này càng khoa học, rõràng và chặt chẽ sẽ càng tạo cơ sở thuận lợi cho việc thay đổi NTHTTDS thực hiệnđược dễ dàng hơn, bảo đảm việc giải quyết VVDS đúng pháp luật
1.2 Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về người tiến hành tố tụng dân sự
1.2.1 Quy định về thành phần người tiến hành tố tụng dân sự
Điều 46 BLTTDS năm 2015 quy định như sau:
"1 Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
Trang 18a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát;
2 Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư
ký Tòa án;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên".
Như vậy, thành phần của NTHTTDS khá đa dạng, bao gồm:
- Người tiến hành TTDS của Tòa án gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;
- Người tiến hành TTDS của Viện kiểm sát gồm: Viện trưởng Viện kiểmsát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
Quy định trên đã quy định khá đầy đủ, bao quát hết phạm vi nhữngNTHTTDS, đã nêu cụ thể các chức danh cơ bản, là căn cứ cho việc xác định nhiệm
vụ, quyền hạn của từng người và có sự phối hợp, liên kết giữa họ trong việc thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn, đảm bảo tính tuân thủ pháp luật, tôn trọng và bảo vệquyền con người, quyền công dân trong TTDS
- Chánh án Tòa án
Người tiến hành TTDS đứng đầu Tòa án là Chánh án, tổ chức và chịu tráchnhiệm thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án Trước kia hệ thống Tòa ánnhân dân gồm 3 cấp tuy nhiên hiện nay đã được chia thành 4 cấp gồm có:TANDTC; TAND cấp cao; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; TANDhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Cùng sự xuất hiện củaTAND cấp cao, bước đầu hệ thống Tòa án đã tách khỏi việc tổ chức Tòa án trong sựphụ thuộc vào địa giới hành chính
Như vậy, theo tổ chức hệ thống Tòa án mới thì Chánh án Tòa án gồm:
Trang 19quân sự được thực hiện dựa vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân LTCTAND năm
2014 Cùng với đó trong TAND thì Chánh án là NTHTTDS nắm giữ hai vai trò đólà: Người lãnh đạo của Tòa án và Thẩm phán giải quyết VVDS cụ thể Như vậy,bên cạnh việc bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án thông qua việc tổ chức giảiquyết VVDS thì Chánh án của Tòa án còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn để giảiquyết VVDS Và khi Chánh án tham gia giải quyết VVDS cụ thể, Chánh án cónhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
- Thẩm phán
Theo quy định tại LTCTAND năm 2014, Thẩm phán là người thuộc biênchế Tòa án và là một chức danh tư pháp Các cá nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn quyđịnh tại Điều 67 LTCTAND năm 2014 sẽ được bổ nhiệm làm Thẩm phán, bao gồmcác tiêu chuẩn về: chính trị, trình độ học vấn, thời gian công tác thực tiễn, chuyênmôn, nghiệp vụ và tiêu chuẩn về sức khỏe
Các ngạch Thẩm phán Tương ứng với 4 cấp Tòa án theo tổ chức hệ thốngTòa án mới của LTCTAND năm 2014 bao gồm:
- Tòa án nhân dân tối cao có ngạch Thẩm phán [1];
- Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương có ngạch Thẩm phán [2];
- Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án quân sự quân khu và tương đương có ngạchThẩm phán [2], [3], [4];
- Tòa án nhân dân huyện, Tòa án quân sự khu vực có ngạch Thẩm phán [3]
Trang 20hóa các chức danh này Dù cho Thẩm phán ở địa phương nào, cấp nào thì cũng đều
là các cá nhân được bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước và thực hiện quyền tư pháp.Tất cả các bản án và quyết định của mọi Thẩm phán đều phải được thi hành và đượcNhà nước bảo đảm thực hiện
- Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân là NTHTTDS được bầu dựa theo quy định của phápluật, có nhiệm vụ chung là thực hiện việc xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền củaTòa án theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm HTND9 Trongtrường hợp Thẩm phán thuộc biên chế của Tòa án thì HTND là người do HĐNDcùng cấp bầu theo từng nhiệm kỳ và nằm ngoài biên chế của Tòa án Nếu có đủ cáctiêu chuẩn theo quy định tại Điều 85 LTCTAND năm 2014 sẽ được bầu làm HTND.HTND có vai trò là người đại diện cho Nhân dân và tham gia vào hoạt động xét xử
của Tòa án Cùng với đó, bản thân chế định HTND là sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong Hội đồng xét
xử (HĐXX)
- Thẩm tra viên
Thẩm tra viên là chức danh mới được quy định trong Tòa án, được xác lậpkhi ban hành Quyết định số 788-TCCP-VC ngày 08/10/1993 của Bộ trưởng,Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (ngày nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hànhtiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức Thẩm tra viên ngành Tòa án10
Theo Luật số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012 của Quốc hội sửa đổi, bổsung một số điều của Luật luật sư, thì người đã là Thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa
án được miễn tập sự hành nghề luật sư Đến LTCTAND năm 2014, trong các Tòa
án, chức danh Thẩm tra viên đã được ghi nhận một cách cụ thể BLTTDS năm 2015quy định Thẩm tra viên là NTHTTDS của TAND Quy định này được ban hànhnhằm phù hợp với định hướng của LTCTAND năm 2014 Khoản 1 Điều 93LTCTAND năm 2014, Thẩm tra viên là công chức chuyên môn của Tòa án đã làm
9 9 Điều 84 LTCTAND 2014.
10 10 Trần Duy Bình (2013), "Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng, nghiệp vụ thẩm tra viên và một số ý kiến đóng góp về chương trình đào tạo Thẩm tra viên", Trang thông tin điện tử TANDTC, địa chỉ http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1 &item_id=35253577, ngày truy cập 30/6/2020.
Trang 21Thư ký Tòa án từ 05 năm trở lên, được đào tạo nghiệp vụ Thẩm tra viên và bổnhiệm vào ngạch Thẩm tra viên Thẩm tra viên gồm có 3 ngạch: Thẩm tra viên,Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên cao cấp Điểm mới của BLTTDS năm 2015
là quy định về nhiệm vụ của thẩm tra viên, cụ thể, thẩm tra viên có quyền nghiêncứu hồ sơ theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; đề nghị chánh án xem xét khángnghị; có quyền thu thập những tài liệu, chứng cứ cần thiết 11
- Thư ký Tòa án:
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 92 LTCTAND năm 2014, Thư kýTòa án là người có trình độ cử nhân luật trở lên, được tuyển dụng bởi Tòa án, đượcđào tạo nghiệp vụ và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án Thư ký Tòa án thuộc biênchế của Tòa án giống Thẩm phán Thư ký Tòa án bao gồm các ngạch như:
về những tiêu chuẩn cần có Do đó, tiêu chuẩn, điều kiện và việc thi nâng ngạch Thư
ký Tòa án sẽ do Chánh án TANDTC quy định Và Thư ký Tòa án cũng là cán bộ, côngchức Nhà nước, vậy nên để được tuyển dụng làm Thư ký Tòa án thì cần phải đủ tiêuchuẩn để được tuyển dụng làm cán bộ, công chức Thư ký Tòa án để thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình cần phải có trình độ pháp luật và trình độ nghiệp vụ nhất định
11 11 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS 2015, NXB Lao động, Hà Nội, tr.100.
Trang 22- Viện trưởng Viện kiểm sát
Khoản 1 Điều 7 LTCVKSND năm 2014 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân
do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao" Cho thấy nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành đã được
làm rõ Viện trưởng Viện kiểm sát là NTHTTDS đứng đầu và chịu trách nhiệmtrong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
Hệ thống VKSND được quy định theo LTCVKSND năm 2014 gồm 4 cấp:[1] Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
[2] Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;
[3] Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
[4] Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh vàtương đương
Sự ra đời của TAND cấp cao gắn liền với quy định mới về VKSND cấpcao Nhằm thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng tại Nghị quyết 49-NQ/TWngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020:
"Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án"
Và theo tổ chức hệ thống Viện kiểm sát này thì Viện trưởng Viện kiểm sát bao gồm:
- Viện trưởng VKSND tối cao
- Viện trưởng VKSND cấp cao
- Viện trưởng VKSND cấp tỉnh
- Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Việc bầu/miễn nhiệm/bãi nhiệm Viện trưởng VKSNDTC và bổ nhiệm/miễnnhiệm/cách chức Viện trưởng VKSND cấp cao/cấp tỉnh/cấp huyện và Viện trưởngcác Viện kiểm sát quân sự được thực hiện theo quy định của LTCVKSND năm 2014
- Kiểm sát viên
Điều 74 LTCVKSND năm 2014 quy định, Kiểm sát viên là NTHTTDSđược bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền
Trang 23công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Theo đó Kiểm sát viên thuộc biên chế củaViện kiểm sát Các ngạch Kiểm sát viên tương ứng với hệ thống VKSND gồm:
[1] Kiểm sát viên VKSNDTC;
[2] Kiểm sát viên cao cấp;
[3] Kiểm sát viên trung cấp;
[4] Kiểm sát viên sơ cấp
- Các Viện kiểm sát khác có thể được bố trí ngạch [2], [3] và [4]
Những người được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cần phải hội tụ đủ các tiêuchuẩn về: chính trị, sức khỏe, chuyên môn và nghiệp vụ, được quy định tại Điều 75LTCVKSND năm 2014 Bên cạnh các tiêu chuẩn chung ở trên, tương ứng với mỗimột ngạch Kiểm sát viên thì sẽ có các tiêu chuẩn riêng, được quy định từ Điều 77đến 80 của LTCVKSND 2014 và Điều 81 LTCVKSND năm 2014
- Kiểm tra viên
Theo Khoản 1 Điều 90 LTCVKSND năm 2014 quy định, Kiểm tra viên làngười được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật nhằm giúp Kiểm sát viên thựchành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạnkhác theo sự phân công của Viện trưởng Viện Kiểm sát Kiểm tra viên bao gồm bangạch: Kiểm tra viên; Kiểm tra viên chính và Kiểm tra viên cao cấp Dựa theo đềnghị của Viện trưởng VKSNDTC, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về cáctiêu chuẩn bổ nhiệm và điều kiện nâng ngạch Kiểm tra viên Kiểm tra viên phải hội
tụ đủ các tiêu chuẩn chung sau: tiêu chuẩn về chính trị, thời gian công tác thực tiễn,chuyên môn và sức khỏe; quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 924/2015/UBTVQH13của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 13/05/2015 về tiêu chuẩn bổ nhiệm và điềukiện nâng ngạch Kiểm tra viên của VKSND Ngoài ra, sẽ có tiêu chuẩn bổ nhiệmriêng đối với từng ngạch Kiểm tra viên
Trang 241.2.2 Quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của người tiến hành tố tụng dân sự
1.2.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án Tòa án
Như đã nêu ở trên, Chánh án Tòa án là NTHTTDS nắm giữ hai vai trò:Người lãnh đạo của Tòa án và Thẩm phán giải quyết VVDS cụ thể Như vậy, ngoàiviệc bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án thông qua việc tổ chức việc giải quyếtVVDS thì Chánh án Tòa án còn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn để giải quyếtVVDS Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi tham gia giảiquyết VVDS cụ thể Tại các Điều 27, 35, 42 và 47 của LTCTAND năm 2014 quyđịnh nhiệm vụ và quyền hạn chung của Chánh án Tòa án Trong TTDS, Chánh án vớivai trò là NTHTTDS đứng đầu Tòa án, có những nhiệm vụ và quyền hạn chính sau:
- Tổ chức việc giải quyết các VVDS thuộc thẩm quyền của TAND: Với vaitrò là người lãnh đạo của CQTHTT thì Chánh án sẽ tổ chức, chỉ đạo và phân côngcông việc cho các NTHTTDS, cán bộ và công chức làm việc tại Tòa án Trong quátrình tổ chức việc giải quyết các VVDS thuộc thẩm quyền của TAND, Chánh ánTòa án có quyền quyết định phân công Thẩm phán, HTND và Thư ký Tòa án đểgiải quyết VVDS; Cùng với đó là kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của những NTHTTDS trên trong suốt quá trình giải quyết VVDS Cùng với tổchức giải quyết các VVDS, ở Điều 47 BLTTDS năm 2015 quy định thêm choChánh án Tòa án nhiệm vụ bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc ghi nhận bổ sung nhiệm vụ này choChánh án xuất phát từ đặc trưng của nguyên tắc này - nguyên tắc hiến định, có lịch
sử hình thành và phát triển lâu dài Có thể thấy nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩmxét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được ghi nhận từ Hiến pháp 1946 chođến Hiến pháp năm 2013, được ghi trong các LTCTAND năm 1960, 1981, 1992,
2002 và 2014 và trong các BLTTDS năm 2004 và 2015 Sử dụng nguyên tắc nàymang lại ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm cho tất cả đương sự đều được bình đẳngtrước pháp luật Dù đương sự là ai đi chăng nữa thì cũng không bao giờ phân biệtgiới tính, địa vị xã hội và khả năng kinh tế Tất cả đương sự đều được hưởng cácquyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia vào hoạt động TTDS Nguyên tắc này gópphần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, duy trì được mốiquan hệ tốt đẹp giữa các bên trong cuộc sống Trên thực tế thì công tác xét xử cũng
Trang 25cho thấy Chánh án có thể có những tác động nhất định đến hoạt động xét xử củaThẩm phán và HTND Bên cạnh đó, như đã nêu phía trên, Chánh án là NTHTTDSgiữ hai vai trò Đầu tiên, với vai trò là người lãnh đạo, Chánh án Tòa án sẽ tổ chứcviệc xét xử, và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải quyết VVDS Tức là Chánh án có vaitrò lãnh đạo Thẩm phán Như vậy, rất cần thiết phải quy định Chánh án có nhiệm vụbảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theopháp luật Bởi quy định này không chỉ đề cao vai trò, trách nhiệm người lãnh đạo
mà còn tạo cả tâm lý thoải mái cho Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử; bảo đảm hoạtđộng xét xử tuân theo pháp luật, không chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài
- Tiến hành các hoạt động TTDS theo quy định của pháp luật: Nhằm bảo đảmhoạt động xét xử của Tòa án, tùy thuộc vào điều kiện, căn cứ mà pháp luật quy định,Chánh án Tòa án có thể đưa ra quyết định tố tụng như quyết định thay đổi Thẩm phán/HTND/Thẩm tra viên/Thư ký Tòa án trước khi phiên tòa được mở (điểm c khoản 1Điều 47 BLTTDS năm 2015); hay quyết định thay đổi người phiên dịch/người giámđịnh trước khi phiên tòa được mở (điểm d khoản 1 Điều 47 BLTTDS năm 2015);kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã cóhiệu lực của Tòa án theo quy định của BLTTDS (điểm g khoản 1 Điều 47 BLTTDSnăm 2015) Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của TAND,điểm b khoản 1 Điều 47 BLTDS năm 2015 đã bổ sung thêm, khi Chánh án Tòa ánquyết định phân công Thẩm phán thụ lý VVDS, Thẩm phán giải quyết VVDS, HTNDtham gia HĐXX vụ án dân sự; quyết định phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa ántiến hành tố tụng đối với VVDS thì phải bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản
2 Điều 16 của BLTTDS năm 2015 Đây là quy định nhằm bảo đảm quyền bình đẳngcủa các đương sự tốt và góp phần nâng cao trách nhiệm của Chánh án trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ Để đảm bảo rằng sự phân công NTHTTDS là khách quan vàminh bạch, thì Chánh án cần phải tìm hiểu sát sao chi tiết đối với từng vụ việc cụthể
- Giải quyết các khiếu nại tố cáo về việc giải quyết các VVDS thuộc thẩmquyền theo quy định của pháp luật: Một ví dụ điển hình: Điều 125 BLTTDS năm
2004 quy định: Chánh án phải xem xét, giải quyết các khiếu nại, kiến nghị về quyếtđịnh áp dụng/thay đổi/hủy bỏ hoặc không áp dụng/thay đổi/hủy bỏ biện pháp khẩn
Trang 26cấp tạm thời và quyền hạn này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 147 BLTTDS năm
2015 Cùng với đó, Chánh án Tòa án cũng có quyền kháng nghị dựa theo thủ tụcgiám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theoquy định của pháp luật TTDS Khoản 1 Điều 47 BLTTDS năm 2015 quy định,Chánh án Tòa án còn có quyền kiến nghị Chánh án có thẩm quyền xem xét khángnghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của Tòa án; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, bổ sung, sửađổi hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu tráivới Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy banThường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Qua đóthể hiện vai trò của cơ quan tư pháp trong việc kiểm soát hoạt động lập pháp Việcxây dựng các quy phạm pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xét xử củaTòa án và sự bổ sung này, cũng như phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm
2013, khi mà lần đầu nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quanthực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được ghi nhận
1.2.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán
Trong TTDS, Thẩm phán có vai trò là NTHTTDS quan trọng, chủ yếu củaTAND, do đó có những nhiệm vụ và quyền hạn chính sau:
- Tiến hành thiết lập hồ sơ VVDS: Thẩm phán có vai trò chủ đạo trong quátrình lập hồ sơ để giải quyết VVDS Chủ yếu lập hồ sơ VVDS liên quan đến cáchoạt động thu thập, hoàn thiện tài liệu, chứng cứ, như là: Thẩm phán có thể yêu cầuđương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; thực hiện một hoặc một số biện pháp
để thu thập chứng cứ Khi đương sự không thể tự thu thập chứng cứ và có đơn yêucầu thì Thẩm phán có thể tiến hành thu thập chứng cứ thông qua một số biện phápnhư: Lấy lời khai của đương sự (Điều 98 BLTTDS năm 2015); xem xét, thẩm địnhtại chỗ (Điều 101 BLTTDS năm 2015) Đây là quy định hợp lý vì có những tàiliệu, chứng cứ được quản lý bởi các cơ quan, tổ chức mà đương sự khó có thể tiếpcận và thu thập được Có thể thấy, quy định này của BLTTDS Việt Nam cũng tươngđồng với quy định về thu thập chứng cứ và xây dựng hồ sơ vụ án của BLTTDS Liênbang Nga (theo điều 150) Khoản 1 Điều 172 BLTTDS năm 2004 quy định: sau khi
Trang 27nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thụ lý vụ án nếu xét thấy
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và người khởi kiện nộp tiền tạm ứng
án phí Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án phâncông Thẩm phán giải quyết vụ việc Do vậy, sau khi Thẩm phán nhận được quyếtđịnh phân công giải quyết vụ án, phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ từ đầu trongtrường hợp Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc nhưng lại không phải làngười xử lý và thụ lý đơn khởi kiện trước đó Quy định này không hợp lý, gây tốnkém cả về mặt nhân lực và thời gian Vì vậy, BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi theohướng sau khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán sẽ có thêm nhiệm vụ
xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý VVDS Theo Điều 191 BLTTDS năm 2015,trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa
án sẽ phân công ngay một Thẩm phán để xem xét đơn khởi kiện
- Tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giảiquyết vụ án theo quy định của BLTTDS; ra quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải và pháp luật không giới hạn sốlần hòa giải nên với vai trò hỗ trợ các bên hòa giải thì Thẩm phán được phân cônggiải quyết vụ án sẽ có nhiệm vụ tổ chức phiên hòa giải, tạo điều kiện cho các đương
sự thỏa thuận với nhau Giống như BLTTDS Việt Nam, BLTTDS Liên bang Ngaquy định Thẩm phán phải áp dụng những biện pháp hòa giải giữa các bên và giảithích cho họ về quyền yêu cầu Tòa án công nhận giải quyết và hậu quả của hành vi
đó (Điều 50)12 BLTTDS năm 2015 có nhiều điểm mới quan trọng, việc ghi nhậnnguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Có thể hiểu theo nghĩa hẹp, tranh tụng
là sự đối đáp với nhau bằng các chứng cứ, lý lẽ, lập luận tại phiên tòa giữa các bên
có quyền lợi đối lập nhau nhằm chứng minh rằng những yêu cầu hoặc phản đối củamình đối với bên kia là có chứng cứ và đúng pháp luật Còn hiểu theo nghĩa rộng,tranh tụng là quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và sẽ kết thúc khi bản án,quyết định của Tòa án có hiệu lực của pháp luật Quá trình tranh tụng diễn ra từ khikhởi kiện, yêu cầu, chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm
về việc giải quyết vụ việc giữa các bên Chính vì vậy, để đảm bảo tranh tụng, các
12 12 Vũ Thanh Tuấn, tlđd chú thích 8, tr 36.
Trang 28đương sự được quyền biết trước về yêu cầu của nhau, chứng cứ của vụ việc Trongthực tế, các nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng sẽ mở một phiên họp xem xétchứng cứ để thống nhất về hai vấn đề trước khi đưa vụ án ra xét xử Nội dung haivấn đề như sau: những vấn đề còn tranh chấp và các chứng cứ đem ra tranh luận.Sau phiên họp đó, nếu chứng cứ được đưa ra là bất khả kháng thì chứng cứ đó mớiđược chấp nhận Còn với Việt Nam, BLTTDS năm 2015 cũng đã quy định về phiênhọp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Điều 208.Quy định này nhằm bảo đảm mọi chứng cứ sẽ được công khai, các đương sự đượcbiết mọi tài liệu và chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng Thẩm phángiữ vai trò trung gian, là người tiến hành mở, điều kiển phiên họp Thẩm phán công
bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên họp Thẩm phán có thể hỏiđương sự về những vấn đề đã thống nhất hay chưa thống nhất để yêu cầu Tòa ángiải quyết; việc bổ sung tài liệu, chứng cứ… Đây là hoạt động cần thiết để có thểkịp thời giải quyết VVDS theo hướng đơn giản hơn
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã tiếp thu các quy định về nhiệm vụ, quyềnhạn của Thẩm phán từ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS được ban hànhnăm 2011 Theo đó, BLTTDS năm 2015 đã quy định Thẩm phán chỉ thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình khi dược Chánh án Tòa án phân công và quy định bổ sungthêm nhiều nhiệm vụ khác cho Thẩm phán như xử lý đơn khởi kiện, nghiên cứu hồ
sơ VVDS Nhiệm vụ của Thẩm phán được mở rộng về số lượng và phạm vi Làmột trong những NTHTTDS, Thẩm phán tham gia giải quyết VVDS từ giai đoạnthụ lý VVDS cho tới khi kết thúc Thẩm phán tự mình thu thập, xác minh tài liệunếu cần thiết là quy định khá tiến bộ, nâng cao vai trò của Thẩm phán Thẩm phán cóquyền đề nghị Chánh án Tòa án phân công thẩm tra viên hỗ trợ hoạt động tố tụng13
- Ban hành các quyết định tố tụng:
* Quyết định chuyển VVDS: VVDS phải do Tòa án có thẩm quyền giảiquyết Do vậy, sau khi Tòa án thụ lý VVDS mà phát hiện thấy vụ việc không thuộcthẩm quyền của mình thì phải chuyển hồ sơ VVDS cho Tòa án có thẩm quyền giảiquyết Sau đó, Tòa án sẽ xóa sổ thụ lý, gửi ngay quyết định cho VKSND cùng cấp
và đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
13 13 Bùi Thị Huyền (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS 2015, NXB Lao động, Hà Nội, tr 98.
Trang 29* Quyết định thu thập chứng cứ: Để đảm bảo các VVDS được giải quyếtđúng đắn, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tàiliệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật Và Thẩm phán phải ra quyết định, nêurõ lý do và yêu cầu của Tòa án
* Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: Theokhoản 1 Điều 112 BLTTDS năm 2015, trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thayđổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ do một Thẩm phán xem xét, quyết định.Theo khoản 2 Điều 112 BLTTDS năm 2015, ở tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi,hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ do HĐXX xem xét, quyết định
* Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết VADS: Trong giai đoạnchuẩn bị xét xử, Thẩm phán có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án;còn tại phiên tòa thì HĐXX sẽ quyết định Cùng với đó, BLTTDS năm 2015 quyđịnh bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS Theo Điều 214 BLTTDSnăm 2015, trường hợp cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liênquan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết củaQuốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quyphạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ cũng là căn
cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Sự bổ sung này không những tạo sựthống nhất trong các quy định của BLTTDS năm 2015 mà còn bảo đảm cho việcgiải quyết VVDS đúng đắn và chính xác
* Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết:Đây là căn cứ chấm dứt giai đoạn chuẩn bị xét xử, chuyển sang giai đoạn xét xử.Nên trước khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải nghiên cứu lại hồ sơ của VVDS
để bảo đảm tính chính xác cho việc xét xử và giải quyết VVDS
* Quyết định triệu tập những người tham gia phiên tòa: Tại phiên tòa, vớicác tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Thẩm phán sẽ xác định cá nhân, tổ chức nàoliên quan để làm cơ sở thẩm tra các tài liệu, chứng cứ; qua đó góp phần giải quyếtVVDS Như vậy, để giải quyết nhanh chóng và chính xác VVDS, Thẩm phán phảinghiên cứu hồ sơ vụ việc thật tỉ mỉ và cẩn trọng để triệu tập đúng những người cầnthiết tham gia tố tụng
Trang 30- Tham gia xét xử các vụ án dân sự, giải quyết VVDS: Thẩm phán đóng vaitrò quyết định khi xét xử vụ án Tại phiên tòa Thẩm phán sẽ thực hiện hầu hết cácthủ tục tố tụng Tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia theo tố tụngtranh tụng, Thẩm phán cũng có vai trò và vị trí quyết định đối với hoạt động tố tụng.
Tại BLTTDS năm 2004, bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận các nhiệm vụ,quyền hạn của Thẩm phán, thì BLTTDS năm 2015 đã bổ sung một số nhiệm vụ vàquyền hạn cho Thẩm phán dưới đây:
- Theo khoản 6 Điều 48 BLTTDS năm 2015, giải thích, hướng dẫn cho đương
sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của pháp luật
về trợ giúp pháp lý Việc cung cấp miễn phí dịch vụ pháp lý cho người được trợ giúppháp lý theo quy định của pháp luật, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật được gọi làTrợ giúp pháp lý Nhà nước có trách nhiệm trợ giúp pháp lý Khi giải quyết mộtVVDS, Thẩm phán cần giải thích, hướng dẫn về quyền được yêu cầu trợ giúp pháp
lý cho những người được trợ giúp pháp lý nhanh chóng hiểu rõ quyền này của mình
- Phát hiện, đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩmquyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấuhiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nướccấp trên theo quy định của BLTTDS năm 2015 Thẩm phán trực tiếp giải quyếtVVDS Để một bản án, quyết định bảo đảm đúng quyền, lợi ích hợp pháp củađương sự thì Thẩm phán khi xét xử phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Vì thế,các quy phạm pháp luật có đúng đắn và hợp lý, phù hợp với thực tiễn hay không, sẽ
có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử Hơn nữa, Thẩm phán còn là người cótrình độ chuyên môn tốt, được đào tạo chuyên sâu và có kinh nghiệm thực tiễn, nên
dễ dàng phát hiện những văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,luật… Ngoài ra, quy định này còn khẳng định rõ vai trò của cơ quan tư pháp trong việckiểm soát hoạt động lập pháp; bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước có sự phâncông, kiểm soát lẫn nhau và tránh sự lạm quyền Vì vậy, Thẩm phán với vai trò làNTHTTDS, giữ vị trí trung tâm của hoạt động xét xử, tham gia tất cả các giai đoạn
Trang 31của quá trình tố tụng, BLTTDS năm 2015 đã quy định bổ sung cho Thẩm phán nhiềunhiệm vụ, quyền hạn, nhằm phục vụ cho hoạt động giải quyết VVDS của Thẩm phán
1.2.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
Khi tham gia xét xử HTND có quyền ngang với Thẩm phán (Điều 11BLTTDS năm 2015) Nhưng HTND chỉ tham gia xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa
sơ thẩm mà không tham gia giải quyết tất cả các VVDS và không tham gia vào tất
cả các giai đoạn của quá trình tố tụng Những nhiệm vụ, quyền hạn chính mà phápluật đã quy định cho HTND để bảo đảm hiệu quả hoạt động là:
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự trước khi mở phiên tòa: Do khi tham gia xét
xử, HTND ngang quyền với Thẩm phán nên trước khi mở phiên tòa cần phải nghiêncứu hồ sơ vụ án là quy định hợp lý, để tạo điều kiện cho HTND nắm được nội dung
và yêu cầu của vụ án Càng nghiên cứu nội dung vụ án tỉ mỉ, càng giúp cho HTND có
cơ sở để tham gia xét xử, đưa ra đánh giá chính xác và đầy đủ về nội dung của vụ án
- Tham gia xét xử các vụ án dân sự: Khi xét xử, HĐXX sơ thẩm vừa phảilàm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến vụ án và vừa phải làm rõ các vấn đề chuyênmôn, các vấn đề xã hội khác liên quan đến vụ án nên sự tham gia của HTND là rấtcần thiết Bằng những kiến thức và kinh nghiệm trong công việc, HTND góp phầngiải quyết thuận lợi và nhanh chóng vụ án dân sự HTND thường được chọn lựa từcác tổ chức xã hội, đoàn thể ở địa phương như Công đoàn, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
- Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩmquyền của HĐXX khi xét xử vụ án dân sự: HTND có quyền tham gia hỏi trongphiên tòa để làm rõ các vấn đề của vụ án dân sự, tham gia thảo luận và biểu quyếtcác vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐXX Theo Điều 249 BLTTDS năm 2015, saukhi nghe xong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vànhững người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này, những ngườitham gia tố tụng khác được quyền hỏi; sau đó mới đến chủ tọa phiên tòa và HTND.Như vậy HTND cần chú ý theo dõi, lắng nghe kỹ và nắm vững nội dung để tránhđặt những câu hỏi ngoài lề, hoặc câu hỏi đã được làm rõ, hay câu hỏi không liên
Trang 32quan đến vụ án Khi nghị án, HTND được biểu quyết trước, biểu quyết sau cùng làThẩm phán chủ tọa phiên tòa (theo khoản 2 Điều 264 BLTTDS năm 2015) Quyđịnh này là hợp lý, giúp HTND có các quyết định khách quan, độc lập; tránh bị ảnhhưởng bởi ý kiến và quyết định của Thẩm phán
1.2.2.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án
Khoản 4 Điều 92 LTCTAND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạnchung của Thư ký Tòa án bao gồm:
- Làm Thư ký phiên tòa, tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định củaluật tố tụng;
- Thực hiện nhiệm vụ hành chính, tư pháp và nhiệm vụ khác theo sự phâncông của Chánh án Tòa án
Trong TTDS, một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thư ký Tòa án đượcthể hiện thông qua:
- Lập các biên bản tố tụng: Là nhiệm vụ chính của Thư ký Tòa án khi giúpviệc cho Thẩm phán, HĐXX trong quá trình giải quyết VVDS Ngoài nhiệm vụ này,khoản 4 Điều 51 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung cho Thư ký Tòa án nhiệm vụ ghibiên bản phiên họp giải quyết việc dân sự và biên bản lấy lời khai của người thamgia tố tụng (gồm đương sự, người làm chứng)
- Hỗ trợ Thẩm phán xác minh và thu thập chứng cứ: Thư ký Tòa án thựchiện nhiệm vụ này trước khi mở phiên tòa Ngoài ra thì Thư ký Tòa án còn chuẩn bịcác công việc nghiệp vụ cần thiết cho việc mở phiên tòa như liên hệ mời HTND, bốtrí thời gian và địa điểm để Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ vụ án; khi có yêu cầu xinhoãn phiên tòa hay các trường hợp mà đương sự không thể tham gia phiên tòa thìThư ký tòa án sẽ báo cáo với Thẩm phán…
- Kiểm tra về sự có mặt của người được triệu tập tham gia phiên tòa và phổbiến nội dung phiên tòa: Nhiệm vụ này được Thư ký Tòa án thực hiện tại phiên tòa.Khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa xong, Thư ký Tòa án sẽ báo cáovới HĐXX về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập đến tham giaphiên để HĐXX xem xét, quyết định
- Thực hiện các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánh án,Thẩm phán và quy định của pháp luật: Ngoài các nhiệm vụ trên, Thư ký Tòa án có
Trang 33thể kiểm tra biên bản phiên tòa; sửa chữa và bổ sung biên bản dưới sự yêu cầu củaThẩm phán; sắp xếp hồ sơ vụ án và hoàn thiện bản án, quyết định… BLTTDS năm
2015 chỉ quy định chi tiết, rõ ràng hơn một số nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa
án Ngoài ra, trên thực tế, Thư ký Tòa án có thể được Thẩm phán phụ trách vụ việcgiao cho nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và có thể đưa ra ý kiến ban đầu của mình về việcgiải quyết vụ việc
1.2.2.5 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm tra viên
Thẩm tra viên với vai trò là công chức chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vựcthẩm tra các VVDS của Tòa án và làm việc dưới sự phân công của Chánh án, Thẩmtra viên có các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 50, Điều 97, Điều 208của BLTTDS năm 2015 như sau:
- Thẩm tra hồ sơ VVDS: Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật cần phải xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Thẩm traviên sẽ thực hiện việc thẩm tra hồ sơ VVDS
- Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất với Chánh
án Tòa án về phương án giải quyết VVDS: Sau khi tiến hành thẩm tra xong, Thẩmtra viên sẽ ra kết luận về việc thẩm tra Kết luận này phải chính xác, căn cứ vào quátrình thẩm tra và các quy định của pháp luật Vì kết quả thẩm tra có ý nghĩa rất lớnđối để giải quyết đúng đắn VVDS Thẩm tra viên sẽ báo cáo kết quả thẩm tra và đưa
ra đề xuất phương án giải quyết VVDS với Chánh án Tòa án
- Thu thập chứng cứ và tài liệu có liên quan đến VVDS: Xuất phát từquyền tự định đoạt của đương sự đối với việc tham gia TTDS của mình Pháp luậtTTDS đã quy định, việc thu thập các chứng cứ và tài liệu liên quan đến VVDS làquyền và nghĩa vụ của các đương sự Các chứng cứ và tài liệu này dùng để chứngminh cho yêu cầu hoặc phản đối của đương sự trước Tòa án là có căn cứ hợp pháp
Khoản 4 Điều 97 BLTTDS năm 2015 quy định về xác minh, thu thập chứng
cứ thì trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành cácbiện pháp để thu thập chứng cứ, tài liệu theo quy định tại Khoản 2 Điều này Cácbiện pháp bao gồm:
[1] Lấy lời khai của đương sự và người làm chứng;
Trang 34[2] Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp những tài liệu có thể đọcđược, nghe và nhìn được hoặc hiện vật có liên quan đến việc giải quyết VVDS;
[3] Xác minh về sự có mặt/vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú
Trong đó, Tòa án phải ra quyết định (quyết định phải nêu rõ lý do và yêucầu của Tòa án) khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp [2] Ngoài ra, Thẩm tra viêncòn hỗ trợ Thẩm phán thực hiện các hoạt động tố tụng và những nhiệm vụ, quyềnhạn khác theo quy định của pháp luật Thẩm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn nhưThư ký Tòa án14 khi Chánh án phân công Thẩm tra viên làm Thư ký Tòa án
1.2.2.6 Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát
Trong TTDS, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát bao gồm:
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronghoạt động TTDS: Viện trưởng Viện kiểm sát với vị trí là NTHTTDS đứng đầu Việnkiểm sát, sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án thì Viện trưởng Việnkiểm sát sẽ quyết định phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongviệc giải quyết vụ án dân sự đó Theo quy định của BLTTDS năm 2015, sau khi Việnkiểm sát có quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân
sự, phiên họp giải quyết việc dân sự và thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luậtđối với VVDS thì phải thông báo cho Tòa án Việc phân công Kiểm sát viên phảibảo đảm để Kiểm sát viên vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã lược bỏ quyền "kiểm tra hoạt độngkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của Kiểm sát viên" củaViện trưởng Nhưng trên thực tế thì Viện trưởng Viện kiểm sát luôn phải tăngcường kiểm tra việc tiếp nhận và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giảiquyết các VVDS của Kiểm sát viên nhằm bảo đảm chất lượng công tác củaVKSND Đặc biệt, đối với VKSND cấp huyện, người lãnh đạo cần kiểm tra và chỉđạo sát sao hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên trong đơn vị Vì khi Kiểm sát viên
xử lý nhanh gọn, chính xác, thực hiện tốt nhiệm vụ thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạtđộng của VKSND nói chung, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghềnghiệp cho Kiểm sát viên ở địa phương nói riêng
14 14 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động,
Hà Nội, tr 100.
Trang 35- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyếtđịnh của Tòa án theo quy định của BLTTDS: Điều 278 BLTTDS năm 2015 quyđịnh: Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghịbản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự củaTòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tụcphúc thẩm Bộ luật này cũng quy định thêm, Viện trưởng Viện kiểm sát khi xem xétthấy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm phápluật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện ra tình tiết mới có thểlàm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định thì có thể kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Theo Khoản 1 Điều 21 BLTTDS năm 2015, khikiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, để bảo đảm cho việc giải quyếtVVDS được kịp thời, đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có các quyền yêu cầu, kiếnnghị và kháng nghị theo quy định pháp luật BLTTDS này cũng ghi nhận thêm choViện trưởng Viện kiểm sát quyền yêu cầu và kháng nghị theo quy định của phápluật Ví dụ: Theo quy định Điều 515 BLTTDS năm 2015, đối với hoạt động kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại và tố cáo trong TTDS,thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp, Tòa án cấpdưới hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo có căn cứ và đúng pháp luật.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật:Viện trưởng Viện kiểm sát với tư cách là người tổ chức và chỉ đạo hoạt động kiểmsát việc tuân theo pháp luật, Viện trưởng dễ dàng hơn trong việc đôn đốc Kiểm sátviên thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn Bên cạnh đó còn tạo được uy tín và tính răn
đe đối với các Kiểm sát viên
1.2.2.7 Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên
Trong TTDS, Kiểm sát viên có vai trò là NTHTTDS thực hiện việc kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VVDS Những nhiệm vụ,quyền hạn chính của Kiểm sát viên bao gồm:
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết VVDS
và của những người tham gia tố tụng trong VVDS đó: Trong quá trình giải quyếtVVDS, từ các bước lập hồ sơ, hòa giải vụ việc, cho đến khi ra bản án, quyết định
Trang 36giải quyết VVDS, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án.Cùng với kiểm sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của những NTHTTDS,Kiểm sát viên còn phải kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của những ngườitham gia tố tụng nhằm bảo đảm kiểm sát triệt để việc tuân theo pháp luật và giúpgiải quyết phù hợp, chính xác VVDS.
- Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tạiphiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự:
+ Tại phiên tòa sơ thẩm: Theo Điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa BLTTDS, Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụngcủa Thẩm phán, HĐXX và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng màkhông phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Quy định này có ưu điểm làbảo đảm quyền bình đẳng và quyền tranh luận của những người tham gia tố tụng tạiphiên tòa, tránh việc Tòa án và Viện kiểm sát có những tranh luận và quan điểm tráichiều Nguyên tắc lý giải cho quy định này là "tôn trọng quyền tự quyết và tự địnhđoạt của các đương sự" Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản khi giải quyếtVVDS Các chứng cứ được cung cấp bởi các đương sự, giúp chứng minh cho yêucầu của đương sự là hợp pháp Tòa án chỉ dựa vào các chứng cứ do đương sự cungcấp hoặc yêu cầu Tòa án thu thập để xét xử Kiểm sát viên với vai trò kiểm sát hoạtđộng tố tụng, chỉ phát biểu về những hành vi tố tụng đã được thực hiện trước vàtrong phiên tòa để phát hiện, xem xét các vi phạm Vì tại phiên tòa sơ thẩm, khiHĐXX tuyên án thì mới có bản án, quyết định sơ thẩm nên Viện kiểm sát chỉ có thểthực hiện thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán,HĐXX, của những người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trướckhi HĐXX nghị án15 Tuy nhiên, quy định trên có hạn chế là đã thu hẹp phạm vikiểm sát của Viện kiểm sát Trong thực tế, những năm vừa qua, khi BLTTDS được
áp dụng luôn có hai quan điểm trái chiều về việc phát biểu của Kiểm sát viên tạiphiên tòa sơ thẩm Quan điểm đầu tiên cho rằng Kiểm sát viên chỉ phát biểu về việctuân theo pháp luật tố tụng, quan điểm này tương ứng với quy định trong Luật sửađổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Còn quan điểm thứ hai thì lại cho rằng
15 15 Triệu Hoàng Lan Hương (2011), Người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học luật Hà Nội, Hà Nội, tr 25.
Trang 37Kiểm sát viên phát biểu về cả tố tụng và nội dung vụ án Theo khoản 3 Điều 107Hiến pháp năm 2013 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ phápluật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa vàbảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gópphần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Cùng với đó,khoản 4 Điều 27 LTCVKSND năm 2014 cũng quy định: "Tham gia phiên tòa,phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ
án, vụ việc theo quy định của pháp luật" Chính vì vậy, Điều 262 BLTTDS năm
2015 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng nội dung phát biểu của Kiểm sát viêntại phiên tòa sơ thẩm nhằm bảo đảm thống nhất với các quy định của Hiến phápnăm 2013 và LTCVKSND năm 2014 cũng như khắc phục những vướng mắc củaBLTTDS năm 2004 Theo đó, Kiểm sát viên được phát biểu ý kiến về việc giảiquyết vụ án Hoạt động này bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh,thống nhất Và quy định này cũng không trái với nguyên tắc "tôn trọng quyền tựquyết và tự định đoạt của các đương sự" Vì trong quá trình giải quyết vụ án dân sự,nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng thỏathuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội thì NTHTTDS có nghĩa vụ tôntrọng thỏa thuận đó Ngược lại, nếu các đương sự không thể thỏa thuận được, thìphải có hoạt động áp dụng pháp luật nội dung để bảo vệ quyền và lợi ích của cácđương sự thông qua bản án, quyết định của Tòa án Khi mà các đương sự khôngthỏa thuận được thì Kiểm sát viên phát biểu cũng không ảnh hưởng đến nguyên tắctôn trọng quyền tự quyết và tự định đoạt của đương sự Nhưng ý kiến của Kiểm sátviên có thể là cơ sở giúp cho HĐXX xem xét và đánh giá các nội dung của vụ án.Như vậy, sự sửa đổi, bổ sung này là điều kiện thuận lợi để Kiểm sát viên thực hiệnchức năng kiểm sát các hoạt động tố tụng trong TTDS một cách tốt nhất
1.2.2.8 Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm tra viên
Kiểm tra viên là người giúp Kiểm sát viên thực hành quyền kiểm sát hoạtđộng tư pháp trong TTDS Những nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên bao gồm:
- Nghiên cứu hồ sơ vụ việc: Đây là bước đầu tiên mà Viện kiểm sát cầnphải làm để tiến hành việc kiểm sát hoạt động tố tụng khi giải quyết VVDS Kiểm
Trang 38tra viên sẽ hỗ trợ Kiểm sát viên tiến hành nghiên cứu kỹ hồ sơ để nắm chắc và chínhxác nội dung vụ việc thông qua các chi tiết sau: Tư cách của nguyên đơn và bị đơntrong vụ án; các yêu cầu của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn và những người cóquyền lợi và nghĩa vụ liên quan; tính chất, nội dung tranh chấp thế nào, yêu cầu củacác bên đương sự có tuân theo quy định của pháp luật không… Khi nội dung hồ sơ
đã được nghiên cứu kỹ, Kiểm tra viên sẽ báo cáo kết quả cho Kiểm sát viên đểKiểm sát viên nắm chắc nội dung đó
- Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc: Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát
sẽ phân công Kiểm tra viên lập hồ sơ kiểm sát vụ việc Hồ sơ kiểm sát phải phảnánh được nội dung và các tình tiết của vụ án, quan điểm về vụ án của lãnh đạo Việnkiểm sát Cần sắp xếp tài liệu trong hồ sơ theo đúng thứ tự, đúng các tiêu mục trênbìa hồ sơ; trích cứu trung thực và đầy đủ lời khai của các đương sự và các tài liệukhác có liên quan Hồ sơ kiểm sát VVDS giúp giải quyết nhanh chóng và chính xáctừng công việc trong cơ quan; là căn cứ để kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronghoạt động tố tụng khi giải quyết VVDS
- Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS: Kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là công việc phức tạp, đòi hỏi Kiểm traviên cần có chuyên môn tốt và trách nhiệm trong công việc cao Theo BLTTDSnăm 2015, sự tham gia của Viện kiểm sát trong TTDS được mở rộng Do đó, Việnkiểm sát nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức của ngành nói riêng sẽ đảm nhiệmnhiều hơn khối lượng công việc và trách nhiệm công việc cũng gia tăng thêm Nhưvậy, Kiểm tra viên với vai trò là người hỗ trợ hoạt động của Kiểm sát viên, Kiểm traviên có thể giúp cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo phápluật TTDS; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; bảo đảm cácVVDS được giải quyết đúng pháp luật
1.2.3 Quy định về phân công người tiến hành tố tụng dân sự tham gia giải quyết vụ việc dân sự
Việc phân công NTHTTDS được quy định tại một số điều luật của BLTTDSnăm 2015 như Điều 47, Điều 191, Điều 197… Theo dó, trước khi xét xử, giải quyếtVVDS thì Tòa án phân công một Thẩm phán phụ trách giải quyết VVDS Đối với Tòa
Trang 39án cấp huyện thì Chánh án/Phó chánh án có trách nhiệm phân công một Thẩm phánxem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Việc phân công này sẽ giúp xác lập tư cách tiếnhành tố tụng của Thẩm phán trong giải quyết VVDS cụ thể với các quyền, nghĩa vụcủa một NTHTTDS là động lực quan trọng giúp họ toàn tâm, toàn ý thực hiện côngviệc được giao Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án tức là Thẩm phán đóđược giải quyết vụ án từ kể khi có quyết định phân công cho đến khi giải quyết xongVVDS
Trong BLTTDS năm 2015 có quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh ánTòa án Theo luật định, Chánh án Tòa án sẽ đứng ra phân công những NTHTTDS làThẩm phán, HTND, Thẩm tra viên hay Thư ký Toà án Việc phân công cần phảiđảm bảo sự khách quan, vô tư và minh bạch Quy định này là phù hợp với cương vị,nghĩa vụ và quyền hạn của Chánh án Tòa án bởi Chánh án là người đứng đầu trong
hệ thống chức danh Toà án, việc đứng ra phân công sẽ dảm bảo sự vô tư, kháchquan và đồng thời tôn trọng nguyên tắc của pháp luật dân sự nước ta
Trong thực tiễn tố tụng, sau khi đã thực hiện đầy đủ thủ tục thụ lý, Chánh
án Tòa án chỉ ghi vào sổ theo dõi rồi sau đó giao cho Thẩm phán trực tiếp giải quyết
mà không ban hành quyết định phân công NTHTTDS Mặc dù điều luật không quyđịnh rõ việc phân công Thẩm phán thông qua quyết định cụ thể, theo quan điểm của
em thì Chánh án Toà án hoặc người được ủy quyền cần ban hành quyết định phâncông Thẩm phán, thư ký Tòa án thực hiện quá trình tố tụng với vụ tranh chấp16 Cónhư vậy mới đảm bảo sự chặt chẽ trong TTDS đồng thời là căn cứ rõ ràng, cụ thể đểThẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng theo đúng luật định,tránh xảy ra sơ suất khi làm nhiệm vụ
1.2.4 Quy định về thay đổi người tiến hành tố tụng dân sự
1.2.4.1 Căn cứ thay đổi người tiến hành tố tụng dân sự
Sự vô tư và khách quan của NTHTTDS trong việc thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn VVDS Do đó,pháp luật TTDS quy định trong những trường hợp dẫn đến khả năng NTHTTDSkhông vô tư khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì NTHTTDS phải từ chối tiếnhành tố tụng hoặc bị thay đổi Những căn cứ chung để thay đổi NTHTTDS trước
16 16 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS 2015, NXB Lao động, Hà Nội, tr 259.
Trang 40đây đã được quy định tại Điều 46 BLTTDS năm 2004 và sau đó tiếp tục được kếthừa quy định tại Điều 52 BLTTDS năm 2015 bao gồm:
Một là, họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của
đương sự
- Đương sự gồm có Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi và nghĩa vụliên quan
- Người thân thích của đương sự gồm có:
+ Chồng, vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của đươngsự;
+ Ông ngoại, bà ngoại, ông nội, bà nội, chị ruột, anh ruột, em ruột củađương sự;
+ Bác ruột, cậu ruột, chú ruột, cô ruột và dì ruột của đương sự;
+ Cháu ruột của đương sự là ông nội, bà nội, bà ngoại, ông ngoại, bác ruột,cậu ruột, chú ruột, dì ruột, cô ruột
Trên đây là những người có mối quan hệ huyết thống gần gũi nhất đối vớinhững NTHTTDS Trong cuộc sống, NTHTTDS là những người bình thường, cótình cảm gắn kết với gia đình và người thân ruột thịt nhưng trong công việc thìkhác, họ là những người giữ trọng trách trong việc giải quyết các VVDS Chính vìvậy, pháp luật đưa ra quy định này để dự phòng cho những khả năng có thể dẫn đến
sự không vô tư và khách quan của NTHTTDS do yếu tố "tình cảm", "tình thân" gâyảnh hưởng, dẫn đến thiên lệch trong việc ra quyết định, bản án giải quyết VVDS
Ngoài quy định chung cho NTHTTDS phải từ chối tiến hành TTDS hoặcthay đổi trong những trường hợp luật định, pháp luật TTDS còn quy định cụ thể đốivới từng người tiến hành TTDS Chẳng hạn, trong cùng một HĐXX thì các thànhviên trong Hội đồng không thể là người thân thích với nhau, mỗi thành viên trongmột HĐXX không được tham gia xét xử trong giai đoạn TTDS khác nhau Khi cóhai người trong HĐXX thân thích với nhau thì phải thay dổi một NTHTTDS17
Thứ hai, họ tham gia với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự; người làm chứng, người phiên dịch, người giám định trong vụ án đó
17 17 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS 2015, Nxb Lao động, Hà Nội, tr 100.