1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật học vai trò của thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự một số vấn đề lý luận và thực tiễn

137 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 552 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Xét xử là chức năng của Tòa án nhân dân, là một dạng hoạt động đặc thù, khác với các hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp khác nói riêng. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xét xử, Bác căn dặn ngành Tòa án phải hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước và nhân dân đã giao phó. Từ những lời dạy của Bác, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết, đúc rút thành phương châm xét xử, phổ biến cho toàn ngành đó là: Xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tòa án là nơi đại diện cho cán cân công lý, là nơi thể hiện rõ nét và sâu sắc nhất bản chất của nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Xét xử của Tòa án là khâu quan trọng nhất trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, một cá nhân được xác định là có tội hay không, nếu có tội thì là tội gì, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với người đó đều phụ thuộc vào phán quyết của Tòa án. Phán quyết này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, việc nâng cao chất lượng xét xử đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa luôn được chú trọng hơn cả. Tại Nghị quyết số 08NQTW ngày 02012002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...” và Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam đến năm 2020 lại tiếp tục khẳng định: “…nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”. Trên thực tế, việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành như thế nào, chất lượng tranh tụng đạt hiệu quả đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào người tiến hành điều khiển việc tranh tụng, đó là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử các vụ án hình sự mà đặc biệt là trong việc tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, có những giai đoạn Thẩm phán thực hiện quá nhiều việc, thậm chí thực hiện luôn cả chức năng buộc tội, nhưng cũng có giai đoạn vai trò của Thẩm phán còn mờ nhạt, không thể hiện được vai trò là người trọng tài điều khiển việc tranh tụng. Chính vì vậy mà chất lượng tranh tụng trong các vụ án hình sự còn nhiều hạn chế, việc tranh tụng chưa thực sự dân chủ và bình đẳng. Điều này làm ảnh hưởng tới quyền lợi của những người tham gia tố tụng dẫn tới việc xét xử sai, xét xử oan người vô tội, làm ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Do đó, để thực hiện tốt công cuộc cải cách tư pháp đang được triển khai sâu rộng ở các địa phương, việc nghiên cứu để bổ sung những vấn đề về lý luận và thực tiễn về vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự, những hạn chế, nguyên nhân để từ đó có những giải pháp nâng cao vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Xét xử là chức năng của Tòa án nhân dân, là một dạng hoạt động đặc thù,khác với các hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư phápkhác nói riêng Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xét

xử, Bác căn dặn ngành Tòa án phải hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước

và nhân dân đã giao phó Từ những lời dạy của Bác, Tòa án nhân dân tối cao đãtổng kết, đúc rút thành phương châm xét xử, phổ biến cho toàn ngành đó là: Xét

xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được nhân dân đồng tình ủng

hộ Tòa án là nơi đại diện cho cán cân công lý, là nơi thể hiện rõ nét và sâu sắcnhất bản chất của nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa Xét xử của Tòa án làkhâu quan trọng nhất trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, một cá nhânđược xác định là có tội hay không, nếu có tội thì là tội gì, điều luật áp dụng vàmức hình phạt đối với người đó đều phụ thuộc vào phán quyết của Tòa án Phánquyết này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của bị cáo và những người thamgia tố tụng khác

Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và trong tiến trình cải cách

tư pháp ở nước ta hiện nay, việc nâng cao chất lượng xét xử đang được Đảng vàNhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiêntòa luôn được chú trọng hơn cả Tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002

của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư,

Trang 2

người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ” và Nghị quyết số

49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp ở Việt

Nam đến năm 2020 lại tiếp tục khẳng định: “…nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” Trên

thực tế, việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành như thế nào, chất lượngtranh tụng đạt hiệu quả đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào người tiến hành điềukhiển việc tranh tụng, đó là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tuy nhiên, hiện nayvai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử các vụ án hình sự mà đặc biệt làtrong việc tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, có nhữnggiai đoạn Thẩm phán thực hiện quá nhiều việc, thậm chí thực hiện luôn cả chứcnăng buộc tội, nhưng cũng có giai đoạn vai trò của Thẩm phán còn mờ nhạt,không thể hiện được vai trò là người trọng tài điều khiển việc tranh tụng Chính

vì vậy mà chất lượng tranh tụng trong các vụ án hình sự còn nhiều hạn chế, việctranh tụng chưa thực sự dân chủ và bình đẳng Điều này làm ảnh hưởng tớiquyền lợi của những người tham gia tố tụng dẫn tới việc xét xử sai, xét xử oanngười vô tội, làm ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng,Nhà nước và các cơ quan tư pháp

Do đó, để thực hiện tốt công cuộc cải cách tư pháp đang được triển khai sâurộng ở các địa phương, việc nghiên cứu để bổ sung những vấn đề về lý luận vàthực tiễn về vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự,những hạn chế, nguyên nhân để từ đó có những giải pháp nâng cao vai trò củaThẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa là một trong những vấn đề quan

trọng hiện nay Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm

luận văn Thạc sỹ luật học của mình

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu.

Vấn đề tranh tụng tại phiên tòa và vai trò của Thẩm phán trong việc tranhtụng tại phiên tòa cũng đã được một số chuyên gia nghiên cứu về luật Tố tụnghình sự Việt Nam, các luật gia, các thẩm phán có nhiều năm làm công tác xét xử

nghiên cứu và đề cập đến như : Tiến sỹ Từ Văn Nhũ với bài: Đổi mới thủ tục xét

xử nhằm nâng cao chât lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự ( Tạp chí Toà án nhân dân số 10+11 năm 2002), Thạc sỹ Ngô Hồng Phúc với bài : Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà ( Tạp chí Toà án nhân dân số 2 năm 2003), Thạc sỹ Đinh Văn Quế với bài : Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự, và cuốn sách: “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” Nguyễn Mạnh Tiến với bài: “Bàn về một

số quy định của BLTTHS về tranh tụng tại phiên tòa” (Tạp chí Tòa án nhân dân

số 17/2005); Nguyễn Hà Thanh: “Thực trạng tranh tụng hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2007); THS Nguyễn Nông: “Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam” (Tạp chí Kiểm sát số 9/2003); Ths Nguyễn Trương Tín với bài: “Một số vấn đề về vai trò của Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp” (Tạp chí Tòa án số 1/2009); Ths Ngô Hồng Phúc: “Vấn

đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa” (Tạp chí Tòa án số 2/2003); Nguyễn Văn Hiển: “Những điều cần biết về quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”; Nguyễn Văn Huyên: “Kỹ năng xét

xử vụ án hình sự”; Nguyễn Thái Phúc: “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2008; Đỗ Gia Thư: “Yêu cầu nhiệm vụ của ngành Tòa án và quan điểm xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn mới” (Tạp chí Tòa án số

Trang 4

13/2004); Nguyễn Đức Mai: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Tạp chí Tòa án số 17/2007); Trần Thu Hạnh: “Một số giải pháp nâng cao vị thế đội ngũ Thẩm phán trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” (Tạp chí luật học

số 25/2009); Ths Nguyễn Văn Trượng: “Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự và việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp” (Tạp chí Tòa án số 13/2008).

Tuy nhiên những bài viết và các công trình nghiên cứu này chưa làm rõđược vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét

xử vụ án nói chung và trong việc tranh tụng tại phiên tòa nói riêng Vì vậy việcnghiên cứu vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, vai trò của Thẩm phán trong việctranh tụng tại phiên tòa có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn

Là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu

3.2 Về mặt thực tiễn.

Trang 5

Thứ nhất, trong quá trình cải cách tư pháp với mục tiêu đổi mới công tác

xét xử, tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, cải cách cơ cấu tổ chức Tòa án thìviệc nghiên cứu “vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hìnhsự” có ý nghĩa to lớn giúp chúng ta nhìn nhận lại thực tiễn xét xử tại Việt Nam,

vị trí, vai trò của Thẩm phán khi xét xử vụ án hình sự trong thời gian qua để cónhững định hướng đúng đắn cho việc thực hiện cải cách tư pháp và xây dựng nhànước pháp quyền XHCN

Thứ hai, nghiên cứu để tìm ra những ưu điểm và những bất cập, tồn tại

của Thẩm phán trong quá trình điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa, để từ đó

có những biện pháp để phát huy những ưu điểm, hạn chế và dần loại bỏ nhữngtồn tại để góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và kỹnăng xét xử của người Thẩm phán

Quy định của pháp luật và thực tiễn về vai trò của Thẩm phán trong việctranh tụng tại phiên toà hình sự: quy định của pháp luật, thực tiễn, những kết quảđạt được, những hạn chế tồn tại về vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụngtại phiên tòa, nguyên nhân

Trang 6

Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụngtại phiên tòa hình sự: những yêu cầu, định hướng và các giải pháp để nâng caovai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự.

Tóm lại, cơ cấu của Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung,phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Trong đó phần nội dung gồm có

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Cơ sở lý luận của đề tài: dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và

Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước vàpháp luật, về cải cách tư pháp trong tình hình mới

Phương pháp nghiên cứu luận văn dựa vào Chủ nghĩa duy vật biện chứng,phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp

so sánh, phương pháp chứng minh

6 Điểm mới về mặt khoa học.

Đây là lần đầu tiên vấn đề “Vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tạiphiên tòa hình sự” được lựa chọn làm đề tài cho một luận văn thạc sỹ và cũng làlần đầu tiên vấn đề này được nghiên cứu một cách tổng thể, kỹ lưỡng các vấn đềliên quan đến Thẩm phán và vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại

Trang 7

phiên tòa Chính vì vậy, quá trình nghiên cứu tác giả đã không những đưa rađược những nguyên nhân làm hạn chế vai trò của Thẩm phán khi điều khiểnphiên tòa mà còn đưa ra những giải pháp khắc phục có ý nghĩa thực tiễn cao

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG

VIỆC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ

1.1 KHÁI NIỆM THẨM PHÁN

1.1.1 Khái niệm:

Trong bất kỳ một nền tư pháp nào, việc đưa ra quyết định một công dân

có tội hay không có tội là một việc làm hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đếndanh dự, nhân phẩm, tài sản, tính mạng và các quyền, lợi ích của họ quyết địnhđến vận mệnh, tương lai, cuộc sống của mỗi con người Ở hầu hết các quốc giatrên thế giới, nhiệm vụ quan trọng và nặng nề này thường được trao cho Tòa án,

cơ quan duy nhất có thẩm quyền đưa ra phán quyết đối với một cá nhân vi phạmpháp luật

Trong hệ thống tư pháp, Tòa án giữ vai trò đặc biệt, ở hầu hết các nước,

hệ thống Tòa án thường được trao nhiệm vụ bảo vệ các quyền con người nóichung và quyền công dân nói riêng Bằng hoạt động của mình, Tòa án có vai tròquan trọng trong việc giữ gìn và bảo đảm công lý, bảo vệ pháp luật và quyền, lợiích của công dân

Việc quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ ántrong đó có án hình sự là nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công

Trang 8

dân, tránh những việc làm tùy tiện, bởi vì không phải bất cứ ai hay bất cứ tổchức nào cũng có quyền kết tội một công dân Chỉ có Tòa án là cơ quan đượcpháp luật của nhà nước quy định có quyền thay mặt nhà nước ra phán quyết mộtngười là có tội hay không và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Để thựchiện được nhiệm vụ trên thì Thẩm phán – người trực tiếp giải quyết các vụ án vàđưa ra phán quyết giữ một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng Thẩm phán đượcgiao nhiệm vụ quyết định tối cao về sinh mạng, tự do, các quyền, trách nhiệm vàtài sản của công dân Trong bản các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về tínhđộc lập của tư pháp được Đại hội liên hợp quốc lần thứ 7 về ngăn chặn tội ác vàđối xử với bị can được tổ chức tại Milan từ ngày 26/8 đến ngày 06/9/1985 vàđược Đại hội đồng ghi nhận trong Nghị quyết số 40/32 ngày 29/11/1985 và Nghị

quyết số 40/146 ngày 13/12/1985 quy định: “Xét thấy, các Thẩm phán có trách nhiệm đưa ra quyết định cuối cùng về cuộc sống, sự tự do, nghĩa vụ và tài sản của công dân”.

Như vậy, hoạt động xét xử là việc phán xét tính đúng đắn, tính hợp phápcác hành vi của chủ thể pháp luật Một phán quyết của Thẩm phán liên quan trựctiếp đến sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân Nó ảnhhưởng tới những lợi ích của nhà nước, của các tổ chức và những giá trị đượcthừa nhận chung trong xã hội Do đó, nảy sinh nhu cầu hoạt động xét xử cần phảiđảm bảo tính cẩn trọng, kỹ lưỡng, tỉ mỉ Đây chính là cơ sở của việc Thẩm phánphải chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình Khi Thẩm phán phải chịutrách nhiệm về những quyết định của mình thì những quyết định của Thẩm phán

sẽ cẩn trọng hơn, kỹ lưỡng hơn Từ đó việc xét xử sẽ đúng người, đúng tội, đảmbảo công lý, bất bình đẳng không xảy ra

Trang 9

Thẩm phán có vị trí và vai trò quan trọng như vậy Tuy nhiên từ trước tớinay chúng ta thường hiểu nôm na rằng Thẩm phán là người làm nhiệm vụ xét xửcác vụ án Nhưng công việc của Thẩm phán liên quan tới rất nhiều khía cạnh củađời sống xã hội Do đó việc tìm hiểu khái niệm "Thẩm phán", địa vị pháp lý của

họ có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta hiểu rõhơn về Thẩm phán, người nắm cán cân công lý của toàn xã hội

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm Thẩmphán:

- Quan điểm thứ nhất: "Thẩm phán, người thầy cuộc sống" Đây là quan

niệm do Visanhsky, người xây dựng ngành tư pháp Nga sau Cách mạng tháng 10đưa ra Theo quan niệm này thì Thẩm phán cần phải hội tụ nhiều yếu tố:

Thứ nhất: Thẩm phán phải thấu hiểu hai bộ luật là bộ luật dân sự và bộluật hình sự, hai bộ luật gốc, là linh hồn của mọi luật chuyên ngành, của các thể

lệ, các quy định

Thứ hai: Thẩm phán có trách nhiệm tìm hiểu vụ việc, tìm hiểu đến conngười, bao nhiêu con người, bao nhiêu số phận… các mối quan hệ, các cuộctranh chấp giữa người với người muôn hình, muôn vẻ, không việc nào giống việcnào, không người nào giống người nào Có lúc nhầm lẫn, có lúc sáng suốt, dầndần kinh nghiệm được tích lũy, việc hiểu người và việc dần dần mau lẹ và xácthực

Thứ ba: Thẩm phán luôn luôn tìm hiểu các quy định của pháp luật, luônluôn phân tích việc đời, luôn luôn suy luận về con người, luôn đắm mình vàoviệc tìm ra phi trái, đúng - sai, tốt - xấu… thế là mặc nhiên đó là một sư tudưỡng, một sự tu dưỡng thường xuyên Thẩm phán như sinh ra để làm việc này.Đạo đức do đó, từ đó ngày một hoàn thiện, nhân cách mỗi ngày một nâng cao

Trang 10

cao Họ trở thành người gương mẫu trên mọi mặt, xứng đáng được xã hội tônvinh.

Người Thẩm phán nếu ý thức được nhiệm vụ quang vinh của mình, cólòng yêu nghề nghiệp, lao tâm, khổ tứ, trải qua những thành công và những sailầm thì năm năm, bảy năm có thể tiến gần đến cái bục "người thầy của cuộcsống"

Như vậy, theo quan điểm của Visanhsky thì Thẩm phán được ví như mộtngười thầy trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, một người có tầm hiểu biếtsâu rộng, có phẩm chất và đạo đức trong sáng, xứng đáng được mọi người coitrọng và nể phục

- Quan điểm khác đưa ra khái niệm của Thẩm phán như sau:

"Thẩm phán (Judge) là nhân vật chủ chốt trong hệ thống xử án Người

đó chỉ đạo việc tiến hành phiên tòa và tuyên bố hình phạt đối với những ngườiphạm tội" [48]

- Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì khái niệm Thẩm phánđược đưa ra như sau: "Thẩm phán là người có chức vụ của cơ quan Tòa án được

bổ nhiệm theo trình tự luật đinh, thực hiện chức năng xét xử các vụ án"

Như vậy, theo khái niệm này thì Thẩm phán là người có nhiệm vụ xét xửcác vụ án Quan niệm như vậy thì có phần bó hẹp vai trò, nhiệm vụ, quyền hạncủa Thẩm phán Bởi vì bên cạnh việc làm nhiệm vụ xét xử các vụ án Thẩm pháncòn phải thực hiện các công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án Việc thựchiện các công việc này có thể theo sự phân công của của lãnh đạo trực tiếp, lãnhđạo cấp trên hoặc theo chức năng, nhiệm vụ của ngành mình Chính vì lý do này

mà việc đưa ra khái niệm về Thẩm phán như trên là chưa đầy đủ

Trang 11

- Quan niệm khác cho rằng: Thẩm phán là người của Tòa án có nhiệm vụđiều tra, hòa giải, truy tố hay xét xử các vụ án Quan niệm này thể hiện Thẩmphán thực hiện tất cả các nhiệm vụ để giải quyết một vụ án, từ việc điều tra đếntruy tố, xét xử…Thực tế trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự hay các vụ

án khác, Thẩm phán không thể thực hiện hết tất cả các công việc ngay từ khi một

vụ án bắt đầu Bởi vì nếu một Thẩm phán có thể giải quyết toàn bộ vụ án thì sẽkhông đảm bảo tính khách quan, toàn diện và trách nhiệm của Thẩm phán trởnên nặng nề hơn rất nhiều Do đó quan niệm về Thẩm phán như trên là có phầnphiến diện

- Bên cạnh đó còn có quan niệm: Thẩm phán là người được bổ nhiệmtheo quy định của pháp luật để tiến hành xét xử những vụ án thuộc thẩm quyềncủa Tòa án [22]

- Ngoài những quan niệm về khái niệm Thẩm phán như trên, tại khoản 1Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân năm 2002 đã đưa ra khái

niệm Thẩm phán như sau: "Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án".

Về mặt lý luận: ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới thìThẩm phán đều là những người tiến hành xét xử các vụ án Tùy từng hệ thốngpháp luật khác nhau, tùy mỗi quốc gia mà vai trò của người Thẩm phán khi tiếnhành xét xử các vụ án là khác nhau

Về thực tiễn: Thẩm phán ngoài việc xét xử các vụ án thì ở một số nướctrong đó có Việt Nam, Thẩm phán còn có trách nhiệm giải quyết những việckhác thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa án mình Ví dụ: Giải quyết khiếu nại, tốcáo thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự ủy quyền của Chánh án; cấp, thu hồi

Trang 12

Giấy chứng nhận bào chữa theo sự ủy quyền của Chánh án; nghiên cứu hồ sơ vụán.

Như vậy, từ khái niệm trên có thể đưa ra một số đặc trưng về Thẩm phánnhư sau:

+ Thẩm phán là người nhân danh công quyền, hoạt động nhân danh nhànước, Thẩm phán được coi là một chức danh trong bộ máy nhà nước, Thẩm phánđóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của bộ máynhà nước hiện đại

+ Thẩm phán là người được bổ nhiệm hoặc bầu theo quy định của phápluật

+ Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án

+ Thẩm phán giải quyết các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.+ Thẩm phán xét xử đại diện cho niềm tin và hoài bão về một xã hộicông bằng, đại diện cho cái thiện chống lại cái ác

1.1.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán:

Xét xử là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ không thể thiếu trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là một khâu quan trọng trong quátrình giải quyết vụ án Kết quả của hoạt động xét xử là việc ra phán quyết củaTòa án Phán quyết của Tòa án có căn cứ hay không và có tính thuyết phục haykhông phụ thuộc rất nhiều vào Hội đồng xét xử, trong đó có Thẩm phán

Xét từ khía cạnh nhân lực thì hệ thống Tòa án bao gồm nhiều nhân viênnhà nước làm việc trong đó, như: Thẩm phán chuyên nghiệp, Hội thẩm nhândân, Thẩm phán danh dự (ở các nước theo hệ thống pháp luật civil law, ViệtNam gọi là Hội thẩm nhân dân), Đoàn bồi thẩm (các nước theo hệ thống phápluật Anh – Mỹ), Thư ký Tòa án… Tất cả những người này đóng góp vào quá

Trang 13

trình thực thi chức năng của Tòa án, tuy nhiên vai trò của họ trong quá trình đó

là khác nhau

Xét về công việc thì có thể coi Thẩm phán là một nghề: Nghề của Thẩmphán có những đặc trưng riêng biệt khác với những nghề nghiệp khác do nhữngđặc thù trong áp dụng pháp luật Vì vậy người Thẩm phán đòi hỏi một bản lĩnhvững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, sự công bằng, vô tư, khách quan

Xét về vị trí, Thẩm phán là một chức danh tư pháp Địa vị pháp lý củaThẩm phán thể hiện trong mối quan hệ nội bộ cơ quan, với những người tiếnhành tố tụng, người tham gia tố tụng và với tư cách là chủ tọa phiên tòa Trongmối quan hệ nội bộ cơ quan: Thẩm phán được xếp vào đội ngũ công chức nhànước và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do tính chất đặcthù công việc của Thẩm phán là làm nhiệm vụ xét xử các vụ án, nên việc đưaThẩm phán vào đội ngũ công chức nhà nước cần có nhiều thủ tục khác nhau.Trên thế giới, tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật khác nhau mà quyền, nghĩa

vụ, địa vị pháp lý, cách thức chọn lựa Thẩm phán là khác nhau:

Theo hệ thống pháp luật Common law thì nguồn bổ nhiệm Thẩm phán là

từ các Luật sư Tiêu biểu là nước Mỹ và nước Anh: Tuy nhiên ở Mỹ để trở thànhThẩm phán Tòa án tối cao không nhất thiết phải là Luật sư, thậm chí cũng khôngcần phải có bằng Đại học nữa Nhưng các ứng cử viên vào cương vị này phải trảiqua một quá trình kiểm tra cực kỳ ngặt nghèo, tất cả những phẩm chất, chuyênmôn và cá nhân đều được phân tích kỹ lưỡng và các cơ quan an ninh ra sức điềutra, tìm hiểu về quá khứ của họ, hoạt động này có thể ví như việc "bới lông tìmvết" Hiến pháp Mỹ ghi rõ những yêu cầu về độ tuổi, nơi cư trú và quốc tịch củacác ứng cử viên Tổng thống và các Nghị sĩ Tuy nhiên đối với các Thẩm pháncủa Tòa án tối cao thì Hiến pháp lại không có những yêu cầu như vậy, ngoại trừ

Trang 14

quy định: ứng cử viên nào cũng phải được Tổng thống đề cử và được đa số trongThượng nghị viện phê chuẩn Kinh nghiệm xét xử, trình độ chuyên môn nghiệp

và thậm chí cả học vấn pháp lý về mặt hình thức cũng không phải là yêu cầu bắtbuộc đối với các ứng cử viên Thẩm phán Trở thành Thẩm phán của Tòa án tốicao Mỹ đã là những vị Thẩm phán ở các cấp Tòa án thấp hơn, các Luật sư, cácCông tố viên và các học giả luật học Đối với Thẩm phán ở Tòa án liên bang thìtrước khi được bổ nhiệm vào giữ chức vụ Thẩm phán Tòa án liên bang, đa số cácThẩm phán đều đã là Thẩm phán của các Tòa án bang hoặc địa phương, tiếp theo

đó là những người đã làm việc trong các lĩnh vực chính trị hoặc chính quyền,hoặc thậm chí là trong các hãng luật có quy mô lớn Các Thẩm phán cũng khácvới toàn bộ công chức nói chung ở chỗ họ có một xu hướng mạnh mẽ về "tính kếnghiệp" Có nghĩa là các Thẩm phán thường xuất thân từ những gia đình cótruyền thống làm việc trong lĩnh vực tư pháp hoặc dịch vụ công Khung tuyểnchọn Thẩm phán là như nhau đối với tất cả các Thẩm phán liên bang Tất cả đềuđược bổ nhiệm bởi Tổng thống sau khi tham khảo ý kiến theo đúng quy trình Đểtuyển chọn Thẩm phán cấp bang thì có 5 con đường đến với chức vụ Thẩm phántại bất cứ bang nào Đó là: tuyển cử theo đảng phái, tuyển cử không qua đảngphải, tuyển chọn theo công trạng, bổ nhiệm của Thống đốc và bổ nhiệm của cơquan lập pháp bang [49]

Ở Mỹ, để đảm bảo nguyên tắc Tòa án độc lập thì các Thẩm phán đều doTổng thống liên bang hoặc do Thống đốc các bang bổ nhiệm với nhiệm kỳ suốtđời Sau khi đã bổ nhiệm với nhiệm kỳ lâu dài sẽ tạo điều kiện bảo đảm cho cácThẩm phán độc lập khi xét xử, chỉ phụ thuộc vào pháp luật Khi xét xử các Thẩmphán của Tòa án cấp dưới không chịu sự chỉ đạo của Tòa án cấp trên Các bản

Trang 15

án, quyết định phán xét sai sẽ được xem xét lại theo các thủ tục phúc thẩm, giámđốc thẩm và tái thẩm.

- Ở Anh, Thẩm phán gồm có Thẩm phán ở tòa án địa phương và Thẩmphán ở tòa án Trung ương: ở tòa án địa phương thì có Thẩm phán ở tòa hòa giải

và Thẩm phán ở tòa án vùng (quận): Thẩm phán ở tòa hòa giải là những ngườihoạt động kiêm nhiệm, không ăn lương, Thẩm phán xét xử các vụ án, các việctranh chấp dân sự với giá trị nhỏ Khi Thẩm phán xét xử các vụ việc không phải

tổ chức điều hoặc có văn bản buộc tội trước Dựa trên báo cáo của cơ quan cảnhsát và kèm theo lời khai của bị can, Thẩm phán tự ra quyết định và đưa bản ánvào thi hành ngay Thẩm phán cấp quận, vùng do nhà vua bổ nhiệm Nhưng nhàvua chỉ có thể bổ nhiệm những ứng cử viên Chính phủ và Đảng cầm quyền đềnghị Tiêu chuẩn ứng cử viên Thẩm phán là những Luật sư đã có thâm niên hơn

10 năm

Đối với Thẩm phán của tòa án trung ương (tòa án tối cao) thì đều do Nhàvua bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch ThượngNghị viện Anh Quốc Ứng cử viên phải là những Luật sư có kinh nghiệm và khiđược bổ nhiệm thì Thẩm phán có quyền cho đến khi vẫn còn có khả năng và đạođức xứng đáng

- Ở Pháp: Hệ thống Tòa án gồm có Tòa sơ thẩm, Tòa thượng thẩm vàTòa án tối cao Theo đó Thẩm phán ở Pháp cũng gồm Thẩm phán của Tòa sơthẩm, Thẩm phán Tòa thượng thẩm và Thẩm phán tòa án tối cao (Tòa phá án)

Tất cả Thẩm phán của Pháp đều do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghịcủa Hội đồng tối cao Thẩm phán Hội đồng tối cao Thẩm phán đề nghị Tổngthống bổ nhiệm Thẩm phán Tòa phá án và Chánh tòa thượng thẩm Phê chuẩn đềnghị bổ nhiệm các Thẩm phán khác của các Tòa án Hội đồng này còn có quyền

Trang 16

đề nghị thuyên chuyển các Thẩm phán, xem xét và quyết định các hình thức kỷluật Thẩm phán [12, tr.251].

Khác với các Thẩm phán ở Mỹ, các Thẩm phán Pháp không được bổnhiệm thẳng từ những người hành nghề luật có kinh nghiệm mà một Thẩm phánthường bắt đầu sự nghiệp của mình từ cấp Tòa án thấp nhất trong hệ thống Tòa

án, sau đó được đề bạt lên các chức vụ khác nhau trong hệ thống Tòa án CácThẩm phán ở Pháp được bổ nhiệm với nhiệm kỳ suốt đời cho đến khi đạt độ tuổinghỉ hưu

- Thẩm phán ở Việt Nam cũng giống như Thẩm phán ở một số nước trênthế giới (các nước theo hệ thống pháp luật civil law) như Pháp và Đức ở nhiềukhía cạnh như: cũng được bổ nhiệm, cũng là những Thẩm phán xét xử, cũng theođuổi sự con đường sự nghiệp giống nhau trong suốt thời gian làm Thẩm phán vàtrên hết là được đào tạo về luật luôn là điều kiện tiên quyết để họ được bổnhiệm Ở Việt Nam tồn tại hai hình thức để đưa một người vào chức vụ Thẩmphán, đó là bổ nhiệm và tái bổ nhiệm Bổ nhiệm được thực hiện lần đầu tiên đốivới một người vào chức vụ Thẩm phán, còn tái bổ nhiệm được áp dụng khi kếtthúc mỗi nhiệm kỳ Thẩm phán Đối với một Thẩm phán khi đến thời hạn hếtnhiệm kỳ thì việc được bổ nhiệm hay không cũng có ý nghĩa như việc một ngườiđược bổ nhiệm Thẩm phán lần đầu tiên

Trong hệ thống Tòa án Việt Nam, Thẩm phán bao gồm Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án địa phương (bao gồm Thẩm phán Tòa ánnhân dân cấp tỉnh và Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện), Thẩm phán Tòa

án quân sự các cấp (bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự Trung Ương, Thẩmphán Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Tòa án quân sự khuvực) Đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm và

Trang 17

tái bổ nhiệm sau khi được Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao đề nghị Thẩm phán Tòa án địa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

bổ nhiệm sau khi được Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân cấptỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thông qua và đề nghị Sau khi được Chủ tịchnước hay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, một Thẩm phán sẽ ngaylập tức được coi là Thẩm phán chính thức Tuy nhiên để được Chủ tịch nước hayChánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm thì phải có sự đồng ý đề của của Hộiđồng tuyển chọn Thẩm phán Khác với Đức, ở Việt Nam không có Thẩm phánthử việc và cũng không có thời gian thử việc dành cho Thẩm phán [24]

Theo pháp luật Việt Nam, tiêu chuẩn chung để bổ nhiệm Thẩm phán đólà: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực,

có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhânluật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn,

có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏeđảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệmlàm Thẩm phán”

Bên cạnh tiêu chuẩn chung này theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân năm 2002, để được bổ nhiệm làm Thẩm phán cần phải

có đủ về thời gian công tác pháp luật, về năng lực giải quyết các vụ án và giảiquyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án thì có thể được bổ nhiệmlàm Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao

Về việc tái bổ nhiệm Thẩm phán: Cơ sở quan trọng nhất để phục vụ việctái bổ nhiệm Thẩm phán hiện nay đó là căn cứ vào số lượng án bị hủy và oan sai

bị sửa Trong một năm thì mức giới hạn án hủy tối đa là 1,16% trong tổng số án

Trang 18

giải quyết, trong một nhiệm kỳ thẩm phán cũng như vậy Khi hết nhiệm kỳ sẽdựa vào tỷ lệ án bị hủy và những vấn đề khác nữa để xem xét có tái bổ nhiệmhay không.

Như vậy, ở Việt Nam để trở thành Thẩm phán và thực hiện quyền hạn vàtrách nhiệm của mình thì cần phải có đủ những điều kiện và tiêu chuẩn nhấtđịnh Với tư cách là người chịu trách nhiệm chính trong việc xét xử các vụ án vàđưa ra các phán quyết nên địa vị pháp lý của Thẩm phán có những đặc điểmkhác với những người tiến hành tố tụng khác Thẩm phán không những là mộtcông chức nhà nước mà còn là một người có chức danh tư pháp Do đó Thẩmphán khi thực hiện vai trò của mình phải đảm bảo tuân theo các quy định củapháp luật nói chung và pháp luật về trình tự tố tụng nói riêng Như Các Mác từngnói “đối với người Thẩm phán thì vị tư lệnh (hay cấp trên của họ) chính là phápluật” [24]

1.2 VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG CÁC MÔ HÌNH TỐTỤNG TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tố tụng chính, đó là mô hình tốtụng tranh tụng, mô hình tố tụng thẩm vấn (xét hỏi) và mô hình tố tụng đan xen(pha trộn) Trong số đó có khoảng 48% các nước theo mô hình tố tụng thẩm vấn,1,9% theo mô hình tố tụng tranh tụng, còn lại là mô hình tố tụng đan xen [49].Bất kỳ mô hình tố tụng nào thì đều có mục đích là tìm ra sự thật của các vụ án,hay nói cách khác tìm xem sự thật có phải là bị cáo trong vụ án đó đã phạm tộihay không Tuy nhiên, mỗi mô hình tố tụng trên có những dấu hiệu đặc trưngkhác nhau, do đó vị trí, vai trò của những chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụngtrong đó có Thẩm phán ở từng mô hình tố tụng cũng khác nhau

1.2.1 Vai trò của Thẩm phán trong mô hình tố tụng tranh tụng.

Trang 19

Mô hình tố tụng tranh tụng tồn tại và phát triển mạnh ở các nước theo hệthống thông luật (Common law) như Anh, Mỹ…Mô hình tố tụng này dựa trênquan điểm cho rằng: Tố tụng là cuộc tranh đấu tại Tòa án giữa một bên là Nhànước (thông qua đại diện) và một bên là công dân bị nghi thực hiện tội phạm; làcuộc tranh đấu thì hai bên đều được sử dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhưnhau trong việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân tích và đưa ra các

kết luận đối với những việc cụ thể Ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tố tụng đòi

hỏi phải rất chính xác và tố tụng có vai trò đặc biệt quan trọng đến mức nhiềungười cho rằng tố tụng tranh tụng là hệ thống coi trọng luật tố tụng hơn luật nộidung Trong tố tụng tranh tụng, một số yếu tố có tính chất bắt buộc đó là xét xửmiệng thay vì căn cứ vào hồ sơ vụ án, thẩm tra chéo các nhân chứng và nguyêntắc đối tụng công bằng Vì đề cao yếu tố công bằng nên mô hình tố tụng tranhtụng thiên về bảo vệ lợi ích cá nhân, trong khi đó mô hình tố tụng thẩm vấnngoài việc bảo vệ lợi ích con người còn nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng Do đóviệc nhận tội của bị can, bị cáo là lý do để chấm dứt vụ việc Chính vì vậy trong

tố tụng tranh tụng cho phép việc “đàm phán nhận tội” Trong mô hình tố tụngtranh tụng không tồn tại một hồ sơ vụ án hình sự như trong mô hình tố tụng thẩmvấn, mà thay vào đó những chứng cứ có giá trị khi được trình bày và thẩm trabằng miệng tại tòa và mới được sử dụng để định tội Bị can, bị cáo được quyềngiữ im lặng tuyệt đối Bên buộc tội là bên có trách nhiệm chứng minh bị cáo cótội, bản thân bị cáo không phải chứng minh mình vô tội

Về trình tự tố tụng: ở giai đoạn tiền xét xử thì bắt đầu khi khởi tố bị can.Luật sư tham gia ngay từ giai đoạn này Trong giai đoạn này, bên công tố và bênbào chữa có quyền điều tra ngang nhau: Bên công tố điều tra để tìm nhữngchứng cứ buộc tội đối với bị cáo, còn bên bào chữa tìm những chứng cứ để gỡ

Trang 20

tội cho bị cáo Ở giai đoạn này có thể diễn ra việc đàm phán nhận tội Tức làcông tố viên đàm phán với bên bào chữa để bị cáo nhận một tội nào đó và qua đóđình chỉ thủ tục tố tụng đối với vụ án hình sự đang giải quyết Sau khi đàm phánxong các bên sẽ cùng nhau tới Tòa án để công nhận kết quả đàm phán Tronggiai đoạn này, sự tham gia của Thẩm phán là không nổi bật Khi Thẩm phántham gia thường là để bảo vệ quyền cơ bản của công dân hoặc là để đảm bào quytrình tố tụng diễn ra công bằng và trôi chảy Ví dụ: trong vòng 48 tiếng kể từ khi

bị bắt, bị cáo phải được đưa ra trước Tòa án để xác nhận lại lệnh bắt; nếu luật sưkhông được công tố viên chia sẻ hồ sơ hình sự thì luật sư có quyền kiện ra tòaán… [34, tr 8]

Giai đoạn xét xử: Bắt đầu bằng việc các bên gửi vụ việc đến Tòa án đểyêu cầu Tòa án xét xử Việc xét xử có Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn Thẩm phán

và Bồi thẩm đoàn đều không được đọc trước hồ sơ vụ án và đều chưa biết về nộidung vụ án Các chứng cứ sẽ được các bên trình bày tại phiên tòa và được kiểmchứng trước tòa Trong suốt quá trình xét xử, Thẩm phán có thể ví như “ngườitrọng tài lạnh lùng” quan sát sự tuân thủ quy tắc cuộc đấu của hai bên và quyếtđịnh bên nào sẽ chiến thắng [30] Điều này thể hiện ở chỗ: Tại phiên tòa, Thẩmphán im lặng và gần như không bao giờ hỏi những câu hỏi liên quan đến nộidung vụ án hay xét hỏi nhân chứng Thẩm phán cũng không phải là người quyếtđịnh về việc có tội hay không có tội đối với bị cáo mà chỉ quyết định về hìnhphạt sau khi bị cáo đã bị kết tội Thẩm phán chỉ can thiệp vào việc xét xử trongmột số trường hợp như: Khi Thẩm phán cần phải hướng dẫn Đoàn bồi thẩm vềmột vấn đề thủ tục (như bỏ qua một chứng cứ không hợp lệ); khi cần phải quyếtđịnh về một vấn đề liên quan tới tính hợp lệ của chứng cứ; quyết định cho phéphay không có phép tố quyền của một bên nào đó; quyết định các vấn đề pháp lý

Trang 21

khác Tóm lại, trong giai đoạn xét xử Thẩm phán chỉ có vai trò thủ tục, nắm giữluật lệ, bảo đảm có một môi trường công bằng cho việc cạnh tranh giữa bên buộctội và bên bào chữa Tuy nhiên, ở một số nước như Mỹ thì về mặt pháp lý, Thẩmphán cũng có quyền can thiệp vào nội dung vụ án dựa trên thuyết “sai rõ ràng”(planin error) hay “tính hiệu quả của người bào chữa” (effective assistance ofcounsel) để góp ý về bằng chứng như không đủ chứng cứ buộc tội…[34] Nhưvậy, trong giai đoạn xét xử mặc dù vai trò của Thẩm phán đã trở nên tích cựchơn so với giai đoạn tiền xét xử, song người giữ vai trò chính của giai đoạn nàyvẫn là các bên đối tụng của vụ án là công tố và bào chữa Chính công tố viên vàngười bào chữa là những người quyết định về các vấn đề như nhân chứng, trình

tự xét hỏi nhân chứng, nội dung hỏi, xác định vấn đề cần làm rõ của vụ án, đưa

ra tranh luận của mình về vụ án Và như vậy vai trò của bị cáo là mờ nhạt, bị cáothường không phát biểu gì trong suốt phiên xử

1.2.2 Vai trò của Thẩm phán trong mô hình tố tụng thẩm vấn.

Mô hình tố tụng thẩm vấn xuất hiện vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ, trongcác Tòa án tôn giáo và dần dần thâm nhập vào Tòa án thường Hình thức tố tụngnày phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ quân chủ và được sử dụng hầu hết các quốc giathuộc Châu Âu lục địa, các nước Mỹ La tinh, Châu Á và Châu Phi không thuộckhối thịnh vượng chung Đặc điểm của hình thức tố tụng thẩm vấn được tiếnhành bằng hình thức viết, bí mật, không trực diện; các chức năng tố tụng khôngđược phân định một cách rõ ràng Trong hình thức tố tụng này, khi đánh giáchứng cứ đòi hỏi sự khắt khe và chính xác cao và việc đánh giá chứng cứ thuộc

về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Nếu mô hình tố tụng tranhtụng dựa vào sự “tranh đấu” của hai bên là Luật sư và công tố viên để tìm ra sựthật thì mô hình tố tụng thẩm vấn dựa vào trí tuệ của những người chuyên nghiệp

Trang 22

gồm Điều tra viên, công tố viên và Thẩm phán để tìm ra sự thật khách quan của

vụ án Tố tụng thẩm vấn đặt trọng tâm của toàn bộ quá trình tố tụng là tìm kiếm

sự thật và giao việc tìm kiếm sự thật đó cho các cơ quan tiến hành tố tụng gồm

cơ quan điều tra, Viện công tố và Tòa án Khác với tố tụng tranh tụng, việc tìmkiếm sự thật thông qua quá trình tranh tụng, đối kháng giữa các bên Việc xét xửtập trung vào Tòa án, người buộc tội là một công chức và bị cáo thì hạn chế khảnăng bào chữa, họ không được coi là chủ thể của quá trình tố tụng mà là đốitượng truy cứu của tố tụng Trong tố tụng thẩm vấn, các cơ quan tiến hành tốtụng vừa làm nhiệm vụ buộc tội và gỡ tội Luật sư có quyền nhưng không cónghĩa vụ phải trình bày chứng cứ, họ có quyền bổ sung chứng cứ trong việc tìm

ra sự thật của vụ án và để đảm bảo rằng các hoạt động tố tụng diễn ra đúng, cácquyền của bị can, bị cáo được tôn trọng và bảo vệ

Thẩm phán trong mô hình tố tụng thẩm vấn là người chỉ đạo toàn bộ quátrình tố tụng, Thẩm phán không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện

cả chức năng điều tra, chức năng buộc tội và một phần nào đó của chức năng bàochữa Đồng thời Thẩm phán cũng là người giữ vai trò chủ động Thẩm phán làngười đưa ra quyết định điều tra khi xảy ra vụ án và là người tìm ra sự thật trên

cơ sở các sự việc và chứng cứ Như vậy, trong tố tụng thẩm vấn vai trò củaThẩm phán được đề cao và giữ vai trò quyết định, do đó các chức năng buộc tội

và bào chữa khá mờ nhạt, vai trò của công tố viên buộc tội và luật sư bào chữathể hiện một cách thụ động Sự thật của vụ án chỉ có thể tìm ra trong quá trìnhthẩm vấn, điều tra Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn không phải là cuộc đấu trígiữa hai bên buộc tội và gỡ tội mà thực chất là sự tiếp tục của việc điều tra thẩmđịnh chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án Thẩm phán sẽ thực hiệnviệc thẩm vấn các nhân chứng một cách tích cực chứ không phai là Công tố viên

Trang 23

hay Luật sư bào chữa Do vậy nhìn chung phiên tòa trong tố tụng thẩm vấnthường diễn ra trong thời gian ngắn hơn so với tố tụng tranh tụng.

Đối với các vụ án phức tạp thì sau giai đoạn điều tra sơ bộ còn có giaiđoạn thẩm cứu do một Thẩm phán điều tra đảm nhiệm Đây là một Thẩm phánđộc lập, không tham gia vào giai đoạn điều tra sơ bộ ban đầu và có nhiệm vụ xácđịnh sự thật Do đó mọi chứng cứ đều do một Thẩm phán điều tra độc lập vàkhách quan tập hợp, cho dù đó là chứng cứ cho phép kết tội bị can hoặc chophép chứng minh sự vô tội của bị can Mặc dù ở một số nước Châu Âu, chứcdanh Thẩm phán điều tra đã được bãi bỏ và nhiệm vụ đó trước giai đoạn xét xửđược giao cho cơ quan công tố và cơ quan điều tra, tuy nhiên Thẩm phán vẫnđóng vai trò tích cực và chủ động trong công cuộc tìm kiếm sự thật

Hiện nay một số nước trên thế giới vẫn đang vận hành tốt mô hình tốtụng này tại quốc gia mình như Pháp, Đức, Bỉ và nhiều nước Châu Âu khác Tuynhiên, tố tụng thẩm vấn hiện nay ở các quốc gia đã khác xa so với thời điểm banđầu Điển hình như Đức đã bãi bỏ Thẩm phán điều tra; Pháp đã áp dụng nhiềuthủ tục mang tính tranh tụng và thêm cả cơ chế hội đồng xét xử là Bồi thẩm đoàn

ở phiên tòa đại hình, đối với phiên tòa đại hình, hồ sơ vụ án không được sử dụngnữa mà thay bằng việc bên buộc tội và bên bị cáo có trách nhiệm chứng minh,thẩm tra trực tiếp nhân chứng tại tòa, hội đồng xét xử không được đọc trước hồ

sơ vụ án Ở Italia đã chuyển đổi hệ thống tố tụng theo mô hình tố tụng tranh tụng[41]

Tóm lại, trong mô hình tố tụng thẩm vấn thì vai trò của Thẩm phán được

đề cao trong suốt quá trình tố tụng Thẩm phán không chỉ thể hiện quyền năngtại phiên tòa hay tại giai đoạn xét xử mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia tíchcực trong giai đoạn điều tra, thẩm tra chứng cứ Chính vì vậy mà Thẩm phán có

Trang 24

vai trò quan trọng, giữ vai trò trung tâm tích cực, chủ động trong toàn bộ quátrình tố tụng, khác với sự ảnh hưởng gián tiếp của Thẩm phán trong quá trình tốtụng ở mô hình tố tụng tranh tụng.

1.2.3 Vai trò của Thẩm phán trong mô hình tố tụng đan xen.

Mô hình tố tụng đan xen (pha trộn) là mô hình tố tụng có sự kết hợp lẫnnhau các yếu tố đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụngtranh tụng Có nhiều phương án đan xen khác nhau, tuy nhiên phương án tối ưunhất là kết hợp được những yếu tố tích cực của hai mô hình tố tụng tranh tụng và

tố tụng thẩm vấn Việc đan xen (pha trộn) diễn ra ở các giai đoạn hay tiến trìnhcủa tố tụng hình sự chứ không chỉ ở một phần hay giai đoạn nào đó Sự đan xentrong từng giai đoạn cụ thể hay trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự có thểthiên về phía các yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn hoặc mô hình tranh tụngphụ thuộc vào từng quốc gia

Mô hình tố tụng đan xen có những dấu hiệu đặc trưng như sau: Mô hìnhđan xen hình thành trên sự kết hợp các yếu tố tích cực của hai mô hình thẩm vấn

và tranh tụng; sự kết hợp này do tác động của những yếu tố như lịch sử, chính trị

- xã hội, văn hóa….; sự đan xen giữa các yếu tố tích cực, đặc trưng của hai môhình tố tụng thẩm vấn và tranh tụng là không giống nhau ở mỗi quốc gia, có thểthiên về các yếu tố của thẩm vấn ở giai đoạn này hoặc thiên về yếu tố tranh tụng

ở giai đoạn khác

Trong mô hình tố tụng này, ở giai đoạn trước khi xét xử (khởi tố và điềutra) các hoạt động tố tụng hầu như được tiến hành bí mật, hạn chế sự tham giacủa những người có liên quan, bị can hầu như bị tách khỏi quá trình tố tụng Tuynhiên, ở giai đoạn xét xử, phiên tòa được tiến hành một cách công khai, quyềnbình đẳng trước phiên tòa và quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo, các bên

Trang 25

buộc tội và bên bào chữa có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc đưa ranhững chứng cứ và những yêu cầu Trong giai đoạn này thì tòa án mà đại diện làThẩm phán đóng vai trò là người trọng tài đảm bảo cho các bên thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình

Quốc gia theo mô hình tố tụng đan xen có thể kể đến như Pháp, Đức,Bỉ… Ở Pháp hoạt động tố tụng hình sự chia thành hai giai đoạn: giai đoạn trướctòa án và giai đoạn xét xử của tòa án Ở giai đoạn trước tòa án thì hoạt động điềutra là hoạt động của cảnh sát tư pháp do Viện công tố đứng đầu và hoạt động này

có cả Thẩm phán điều tra Hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự của Pháp phatrộn giữa các yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tranh tụng [38] Ởgiai đoạn này quyền của bị can và vai trò của người bào chữa hạn chế Bí mậtcủa hoạt động điều tra và những thông tin thu thập được là một nguyên tắc củaluật tố tụng hình sự Pháp Giai đoạn tố tụng này ở Pháp mang nhiều dấu ấn của

mô hình tố tụng thẩm vấn Việc xét xử tại tòa án có Bồi thẩm đoàn tham gia, tuynhiên vai trò là hạn chế Tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa (Thẩm phán) là ngườithẩm vấn bị cáo và những người làm chứng sau đó mới đến các bên Thẩm phángiữ vai trò tích cực, chủ động hơn Tại phiên tòa có sự phân chia rõ ràng các thủtục tố tụng như thẩm vấn, tranh luận Việc thẩm tra chứng cứ của các bên buộctội được tiến hành trước sau đó đến chứng cứ của các bên bào chữa Tóm lại,trong mô hình tố tụng hình sự của Pháp, các yếu tố tranh tụng đã thể hiện khôngchỉ ở phiên tòa mà còn ở cả giai đoạn điều tra sơ bộ, mặc dù vẫn còn mờ nhạt, vàcác cơ quan cảnh sát, Viện công tố, Thẩm phán điều tra vẫn còn có quyền hạnlớn hơn so với bên bào chữa, chưa có sự bình đẳng thực sự giữa các bên Xétmột cách tổng quát thì mô hình tố tụng hình sự của Pháp là mô hình tố tụng đanxen thiên về thẩm vấn

Trang 26

Từ những phân tích về những đặc điểm cơ bản của các mô hình tố tụngtrên thế giới cho thấy mỗi mô hình tố tụng đều có những ưu điểm và nhượcđiểm: Nếu mô hình tố tụng thẩm vấn thể hiện ưu điểm ở chỗ đảm bảo được công

lý, thể hiện được vai trò chủ động, tích cực của Thẩm phán; thời gian giải quyết

vụ án diễn ra nhanh hơn, đỡ tốn kém hơn góp phần tích cực hơn trong hoạt độngphòng chống tội phạm và giữ gìn an ninh trật tự xã hội… thì mô hình tranh tụng

đề cao tính trung lập của Thẩm phán (Tòa án) như là một vị trọng tài; đảm bảoquyền tranh tụng trước tòa của các bên đương sự; quy trình xét xử thể hiện tínhcông bằng cao, các quyền cơ bản của công dân được tôn trọng ở mức cao hơn.Tuy nhiên hai mô hình này cũng tồn tại những nhược điểm Cụ thể: trong môhình tố tụng tranh tụng việc con người bị phán xét như thế nào dường như quantrọng hơn việc xem họ đã làm gì trên thực tế và bên nào đưa ra được chứng cứhợp lý hơn thì sẽ là người chiến thắng, trong khi đó Bồi thẩm đoàn là nhữngngười quyết định việc bị cáo có tội hay không có tội lại là những người hiểu biết

ít về pháp luật và sẽ nghiêng về bên nào có lý lẽ thuyết phục hơn, nên mô hình tốtụng này sự thật khách quan của vụ án nhiều khi không được đảm bảo; thủ tục tốtụng phức tạp, thời gian mở phiên tòa kéo dài… Còn trong mô hình tố tụng thẩmvấn nhược điểm lớn nhất đó là quyền của các bên thường không được tôn trọngđầy đủ, bởi vì họ không có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ; việc tìm ra sự thậtcủa vụ án thuộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, do đó không tránh khỏiviệc thiếu khách quan, thiên vị; việc tranh tụng giữa các bên bị hạn chế…

Mỗi mô hình tố tụng đều có những ưu nhược điểm riêng, do đó việc lựachọn mô hình tố tụng nào cho phù hợp với mỗi quốc gia là một vấn đề hết sứcquan trọng Việc lựa chọn mô hình tố tụng có sự kết hợp giữa các ưu điểm củahai mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn dường như là lựa chọn tối ưu

Trang 27

nhất Vậy Việt Nam hiện nay thuộc mô hình tố tụng nào? Theo quy định củapháp luật Việt Nam, trình tự tố tụng được bắt đầu từ việc khởi tố vụ án, khởi tố

bị can, sau đó là giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và kết thúc quá trình tố tụng làđưa bản án đã có hiệu lực pháp luật vào thi hành Quá trình tố tụng có đan xengiữa yếu tố tranh tụng và yếu tố thẩm vấn, trong đó việc thẩm vấn, xét hỏi làchính, tranh tụng cọ xát các quan điểm giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội còn

mờ nhạt Nhưng như vậy có thể thấy Việt Nam thiên về mô hình tố tụng đan xen

Do vậy, trong quá trình xét xử vụ án, đặc biệt là tại phiên tòa, Thẩm phán làngười có trách nhiệm chính trong việc xét hỏi và tìm ra sự thật khách quan của

Trang 28

tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến,luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai tròtrung gian [27, tr 808].

“Tranh tụng” và “tranh luận” có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhaunhưng tranh tụng không đồng nhất với tranh luận Mối quan hệ giữa tranh tụng

và tranh luận là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái toàn thể và bộ phận.Tranh tụng là một quá trình còn tranh luận chỉ là một thủ tục độc lập của phiêntòa hình sự (phần thể hiện tập trung nhất của quá trình tranh tụng) Trong thủ tụctranh luận, các bên buộc tội, bào chữa thông qua trình bày ý kiến của mình đưa

ra những đánh giá về hành vi của bị cáo Như vậy, tranh luận tại phiên tòa sơthẩm chỉ là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng đã được khởi động và bắt đầu từtrước đó rất nhiều Vấn đề tranh tụng đã xuất hiện từ khá lâu trong lịch sử tốtụng, mặc dù không khẳng định vấn đề tranh tụng trong khi xét xử các vụ án,nhưng các quy định pháp luật trước đây đã có những quy định mang yếu tố tranhtụng:

Trước khi BLTTHS 2003 được ban hành, lịch sử tố tụng hình sự Việt Namtrải qua nhiều thời kỳ khác nhau gắn liền với lịch sử lập pháp và sự phát triểncủa đất nước qua các thời kỳ:

- Giai đoạn 1946 – 1959:

Năm 1945, sau cuộc cách mạng tháng 8 thành công, nhà nước Việt Namdân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới cho cách mạng ViệtNam Trong thời kỳ này, việc cần thiết đầu tiên là thành lập bộ máy nhà nước đểđảm bảo phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng và điều hành đất nước bước vào thời

kỳ mới Cùng với các cơ quan nhà nước khác thì hệ thống Tòa án cũng đã đượcthành lập Từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS các quy phạm pháp

Trang 29

luật về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự được quy định rải rác trong các Sắclệnh, Thông tư liên ngành và luật Các quy định này còn mang tính khái quát,chưa quy định chi tiết về trình tự, thủ tục tại phiên toà Đồng thời, trong các vănbản pháp luật và trong quá trình tố tụng đã thể hiện được vai trò của Thẩm phán

Tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định về tổ chức các tòa án vàngạch Thẩm phán, theo đó hệ thống tòa án gồm có: tòa án sơ cấp (tòa án quận),tòa án đệ nhị cấp (tòa án tỉnh) và tòa thượng thẩm Thẩm phán được phân thànhhai ngạch: ngạch Sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán Sơ cấp làm việc ở toà

Sơ cấp Thẩm phán Đệ nhị cấp làm việc ở các toà Đệ nhị cấp và toà Thượngthẩm Các Thẩm phán Đệ nhị cấp chia ra làm hai chức vị: các Thẩm phán xử án

và các Thẩm phán buộc tội

Tại Điều 10 của Sắc lệnh có quy định về việc xử án ở Tòa sơ cấp như sau:

“Mỗi tuần lễ, ít ra phải có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên toà, Thẩm phán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản

án từ.

Thẩm phán sơ cấp có thể ngày nào cũng xử kiện, dù là ngày chủ nhật hay

là ngày lễ cũng được Lại có thể, nếu cần đến, mở phiên toà ngoài trụ sở ngoài toà án, ở các nơi xa cách Toà”

Đối với tòa án đệ nhị cấp thì xử các việc về dân sự và thương sự “do Chánh án xử một mình Những khi xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm nhân dân góp ý kiến” (Điều 17).

“Khi xử các việc đại hình, Toà đệ nhị cấp gồm có năm vị cùng ngồi xử và đều có quyền quyết nghị: 1- Chánh án Toà đệ nhị cấp ghế Chánh án 2- Hai Thẩm phán làm Phụ thẩm chuyên môn, chọn trong các Thẩm phán đệ nhị cấp hay sơ cấp trong quản hạt, ….3- Hai Phụ thẩm nhân dân….” (Điều 28).

Trang 30

Điều 31 Sắc lệnh quy định: "Sau khi nghe các bị can, các người làm chứng, cáo trạng của ông biện lý và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án hai thẩm phán và hai phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử để cùng xét xử về tất cơ các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp gim tội Nghị án xong, toà lại họp và ông Chánh án tuyên đọc công khai bản án"

Tại Tòa thượng thẩm: “Khi phúc lại các án tiểu hình và đại hình, ngoài ông Chánh án và hai Hội thẩm, phải có thêm hai Phụ thẩm nhân dân có quyền quyết nghị…” (Điều 38).

Tại Điều 44 của Sắc lệnh này có quy định về quyền bào chữa của bị can

như sau: “Trong việc đại hình, nếu trước Toà Thượng thẩm một bị can không có

ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một Luật sự để bào chữa cho hắn” và tại Điều

46 có quy định: “Các Luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Toà án trừ những Toà sơ cấp”

Tại Điều 17 sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về ấn định thẩm quyền các

Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong toà quy định: “Ông Chánh án chủ toạ những phiên toà công khai ông có nhiệm vụ điều khiển cuộc thẩm vấn

và bảo vệ trật tự phiên toà” và tại Điều 26 Sắc lệnh trên quy định: “Ông công

tố uỷ viên Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố bó buộc phải có mặt tại các phiên toà hình và hộ Khi ra phiên toà, ông Công tố uỷ viên cũng như bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo, có quyền yêu cầu Toà thi hành mọi phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật Khi cuộc thẩm vấn ở phiên toà xong rồi, ông Công tố uỷ viên thay mặt xã hội buộc tội bị can Bao giờ ông Công tố uỷ viên cũng nói sau dân sự nguyên cáo Bên bị can được nói sau cùng, trước khi Toà

Trang 31

tuyên án Toà không bắt buộc phải xử theo lời yêu cầu của ông Công tố uỷ viên”.

Như vậy, mặc dù lần đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án,song Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 và sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 đãquy định rất cụ thể các ngạch Thẩm phán và việc xét xử các vụ việc của Tòa áncác cấp Mặc dù không quy định cụ thể vấn đề tranh tụng giữa các bên khi tiếnhành xét xử các vụ án, song những quy định về quyền bào chữa của bị can,quyền được mời Luật sư và quyền bào chữa của Luật sư đã thể hiện được nhữngdấu hiệu của việc tranh tụng trong quá trình xét xử các vụ án và vai trò của Thẩmphán Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 1946 ngày 09/11/1946 đã ghi nhận quyền bàochữa của bị cáo và các nguyên tắc khi Thẩm phán tiến hành xét xử vụ án

Tại Điều thứ 67 Hiến pháp có quy định: “… Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn Luật sư” và “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều thứ 69);

“Các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm” (Điều thứ 64) Đây là

những quy định mang tính tiền đề đầu tiên để tạo điều kiện cho Thẩm phán thựchiện các quyền và trách nhiệm của mình khi tiến hành giải quyết các vụ án

Như vậy, các quy định pháp luật trong giai đoạn này về trình tự tố tụng,

về vai trò của người Thẩm phán khi điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiêntòa mang tính manh mún, thiếu chi tiết cụ thể Thực tiễn xét xử mang nặng tínhchất thời chiến, tạm thời, chịu nhiều ảnh hưởng về hình thức và khuôn mẫu củacác phiên toà trong chế độ cũ

Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án năm 1960 ra đời đã đánh dấubước phát triển mới trong lịch sử tố tụng Việt Nam Trong thời kỳ này, đội ngũThẩm phán được xây dựng theo chế độ bầu cử, thể hiện tính tự do, dân chủ cao

Trang 32

Đồng thời, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng được quyđịnh cụ thể, rõ ràng hơn Chức năng xét xử các vụ án hình sự tách khỏi chứcnăng buộc tội và cơ quan công tố được tách ra khỏi chính phủ Đây là những quyđịnh hết sức quan trọng để đảm bảo trình tự, thủ tục xét xử tại phiên tòa, đặc biệt

là thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự và vai trò của người Thẩm phán khiđiều khiển phiên tòa Tại Điều 1 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 quy

định: “…Mục đích của việc xét xử là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và quyền lợi hợp pháp của nhân dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi” Chính vì vậy

mà khi tiến hành xét xử các vụ án vai trò của Thẩm phán được thể hiện để nhằmhướng tới mục đích quan trọng này Để trở thành Thẩm phán phải hội tụ đủ cácyếu tố như phải từ 23 tuổi trở lên, có lập trường cách mạng và nắm vững chínhsách của Đảng, nhà nước, có đạo đức, có quan hệ tốt với nhân dân Nhiệm kỳcủa Thẩm phán cấp tỉnh là 4 năm, cấp huyện là 3 năm

- Giai đoạn 1960 đến 1980: Năm 1964, căn cứ vào các quy định của phápluật và tham khảo, học tập pháp luật tố tụng hình sự của Liên Xô (cũ), Toà ánnhân dân Tối cao đã hệ thống lại các quy định của pháp luật tố tụng lúc bấy giờthành Bản đề án về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó có quy địnhtương đối cụ thể về thủ tục tiến hành tố tụng tại phiên toà của Toà án nhân Bản đề ánnày đã trở thành một tài liệu hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật tố tụng tạiphiên toà cho tòa án các cấp Tuy nhiên bản đề án này qua nhiều năm thực hiện

đã cho thấy một số nhược điểm như: Thẩm phán chưa nắm vững yêu cầu củaviệc xét xử, vi phạm nguyên tắc xét xử, coi nhẹ việc thẩm vấn tranh luận tạiphiên tòa…do đó dẫn đến việc xét xử trong một số trường hợp thiếu khách quan

Trang 33

Chính vì vậy, đến năm 1974, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Bảnhướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm ban hành kèm theo Thông tư số 16 ngày27/9/1974 Tại phần thứ 4 về trình tự tố tụng xét xử tại phiên toà của Toà án

nhân dân quy định: “Tại phiên toà Toà án nhân dân kiểm tra toàn bộ chứng

cứ, nghe tranh cãi và cuối cùng quyết định việc xử lý vụ án” Thông tư đã

hướng dẫn chi tiết việc xét xử tại phiên tòa, đã đưa ra hướng dẫn có tínhnguyên tắc trong hoạt động xét xử nói chung và xét hỏi tại phiên toà nói riêng

như sau: “Việc xét hỏi tại phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án Do đó, Hội dồng xét xử phải xét hỏi một cách khách quan Cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà hoặc cho rằng việc xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải xác nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra” Như vậy, Thông tư này đã quy

định cụ thể vai trò, trách nhiệm của Hội đồng xét xử, đặc biệt là vai trò điềukhiển phiên tòa của Thẩm phán khi tiến hành xét xử vụ án

Đến năm 1980, Quốc hội thông qua bản hiến pháp mới và năm 1981 Luật

tổ chức tòa án nhân dân mới thay thế luật cũ và chế độ bầu cử Thẩm phán tiếptục được duy trì Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1981tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ của tòa án và vị trí, vai trò quantrọng của Thẩm phán khi tiến hành xét xử Hiến pháp 1980 quy định: “Khi xét

xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”(Điều 131) Đồng thời, “…Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Tổ chứcluật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”.Đây là những tiền đề quan trọng để thực hiện việc tranh tụng công khai tạiphiên tòa

- Giai đoạn 1980 đến trước khi ban hành BLTTHS 2003:

Trang 34

Qua nhiều năm chuẩn bị, ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên cuả nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua Bộ luật tố tụng hình sự

1988 đã đánh dấu một bước phát triển mới của khoa học Luật tố tụng hình sựViệt Nam, đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của đất nước Đồng thời, bộluật đã thể chế hóa được những nguyên tắc cơ bản, những quy định của Hiếnpháp và Luật tổ chức tòa án nhân dân… Một số nguyên tắc đã được quy địnhtrong bộ luật như: nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án (Điều 11),nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 12); nguyên tắc bảođảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 20) Đồng thời BLTTHS đã quy định

cụ thể các quyền tố tụng của bị can, bị cáo, người bào chữa và các điều kiện khácbảo đảm quyền bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội trước toà án trongquá trình xét xử Thủ tục giải quyết vụ án hình sự được quy định cụ thể Đặc biệtviệc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa được quy định tại hai chương là chươngXIX và chương XX của BLTTHS Vai trò của người Thẩm phán được thể hiệnngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án Để đảm bảoviệc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa được tiến hành một cách khách quan, côngbằng và để đưa ra được một phán quyết đúng đắn, chính xác và có tính thuyếtphục cao thì đòi hỏi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải nghiêncứu kỹ hồ sơ vụ án Tại Điều 151 BLTTHS 1988 quy định về thời hạn chuẩn bị

xét xử như sau: “1- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên toà.2- Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày đối với tội ít nghiêm trọng, ba tháng đối với tội nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Đưa vụ án ra xét xử; b) Trả hồ

Trang 35

sơ để điều tra bổ sung; c) Tạm đình chỉ vụ án; d) Đình chỉ vụ án….” Như vậy,

đây là giai đoạn quan trọng để Thẩm phán đưa những quyết định về việc giảiquyết vụ án

Sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ và đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thìThẩm phán phân công giải quyết vụ án phải lên kế hoạch xét hỏi Việc xét hỏicông khai tại phiên tòa sẽ là tiền đề quan trọng để tiến hành việc tranh luận

“Thẩm phán chủ toạ phiên toà điều khiển và giữ kỷ luật phiên toà” (Điều 160).

Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên đọc bản cáo

trạng (Điều 181) Trình tự xét hỏi được tiến hành như sau: “…Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các hội thẩm nhân dân, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa Những người tham gia phiên toà cũng có quyền

đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định…” Việc

xét hỏi được tiến hành trước đối với bị cáo, sau đó đến người bị hại và nhữngngười tham gia tố tụng khác Việc xét hỏi nhằm làm rõ các tình tiết khách quancủa vụ án, nhằm tìm ra những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo.Khi việc xét hỏi được tiến hành xong sẽ chuyển sang giai đoạn tranh luận tạiphiên tòa Việc tranh luận tại phiên tòa diễn ra như sau: kiểm sát viên trình bàylời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạnghoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rúttoàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không cótội Sau đó bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì ngườinày bào chữa cho bị cáo Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa Những ngườitham gia tố tụng khác được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình

“Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng chỉ

Trang 36

được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án” (Điều 192).

Thời gian tranh luận tùy thuộc vào từng vụ án, do đó Hội đồng xét xử cũngnhư Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể định trước được thời gian tranh luận

và cũng không được hạn chế thời gian tranh luận Tuy nhiên trong quá trìnhtranh luận, chủ toạ phiên toà có quyền nhắc nhở người tham gia tranh luận để họkhông nói về những vấn đề không liên quan đến vụ án Điều 192 BLTTHS 1988quy định chỉ được đối đáp một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý là

bó hẹp quyền tranh luận của các bên Bởi vì, có những vấn đề phức tạp trong vụ

án cần phải làm rõ thông qua tranh luận thì việc tranh luận nhiều lần để tìm ratình tiết khách quan của vụ án là cần thiết

Sau khi tranh luận xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ, thì hội đồng xét xử

có thể quyết định trở lại xét hỏi, xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận (Điều 193BLTTHS 1988)

Tóm lại, việc tranh luận tại phiên tòa là một hình thức để Hội đồng xét xửxác định sự thật khách quan của vụ án để từ đó đi đến phán quyết có sức thuyếtphục nhất Thông qua việc đối đáp tranh luận tại phiên tòa người ta có thể đánhgiá được trình độ, năng lực của Kiểm sát viên, người bào chữa và quan trọng hơn

đó là khả năng điều khiển tranh luận của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa BLTTHSnăm 1988 lần đầu tiên đã quy định rất chặt chẽ, cụ thể trình tự, thủ tục tranh luậntại phiên toà hình sự sơ thẩm Tuy nhiên qua quá trình thực hiện đã bộc lộ nhữnghạn chế cần phải khắc phục

2.1.2 Quy định của BLTTHS 2003 về vai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng tại phiên tòa.

Trang 37

BLTTHS năm 1988 là kết quả tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 hoạt động

tư pháp hình sự Bước đầu Bộ luật đã thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV Đây là bộ luật đầutiên pháp điển hoá các quy định của pháp luật trước đó về trình tự, thủ tục tốtụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự; về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng; về quyền, nghĩa vụ tố tụngcủa những người tham gia tố tụng Bộ luật đã phát huy tác dụng tích cực trongcuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được

mục đích và nhiệm vụ đặt ra là " phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội , bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân " BLTTHS

đã ba lần được sửa đổi, bổ sung (7/1990, 12/1992 và 6/2000) để đáp ứng kịp thờiyêu cầu của thực tiễn

Tuy nhiên, sau 15 năm áp dụng, bên cạnh những kết quả đạt được, nhiềuquy định của BLTTHS hiện hành nói chung đã bộc lộ bất cập BLTTHS năm

1988 hầu như kế thừa pháp luật TTHS trước đó về thẩm quyền của những ngườitiến hành tố tụng Trong BLTTHS chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyềnhạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; hầu như các quyền hạn chủ yếuliên quan đến thủ tục điều tra, truy tố đều thuộc Thủ trưởng Cơ quan điều tra,Viện trưởng Viện kiểm sát; Ngoài ra, việc phân định chưa rõ ràng giữa chứcnăng quản lý hành chính và chức năng tố tụng của những người tiến hành tố tụngnhư Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởngViện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Toà án v.v Bên cạnh đó, những quyđịnh về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa còn nhiều điều bất hợp lý như:

Trang 38

Thẩm phán chủ toạ phiên toà khi xét hỏi bị cáo chủ yếu là tìm cách buộc tội theocáo trạng, việc đối đáp, tranh luận tại phiên tòa bị hạn chế… Điều đó ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơquan tiến hành tố tụng, không bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, của xã hội,các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không đáp ứng được những nhu cầucủa công cuộc đổi mới hiện nay Những hạn chế và tồn tại trên xuất phát từ việc

BLTTHS 1988 được dự thảo và ban hành trong điều kiện khi cơ chế quản lý cũ

tồn tại, nền dân chủ chưa cao, mối quan hệ giữa nước ta với các quốc gia kháctrên thế giới còn hạn chế, tư duy kinh tế và tư duy pháp lý chưa được đổi mớinên mặc dù BLTTHS đã được sửa đổi tới ba lần (1990, 1992, 2000), nhiều vănbản pháp luật tố tụng hình sự cũ đã được sửa đổi hoặc thay thế bằng các văn bảnmới nhưng nó vẫn tỏ ra lạc hậu không phù hợp và không đáp ứng được nhữngnhu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống phápluật, luật tố tụng hình sự nói chung và ban hành BLTTHS mới nói riêng là nhiệm

vụ cấp bách được đề ra Đặc biệt là BLTTHS mới phải là Bộ luật thể chế hóađược các quan điểm của Đảng, Nhà nước, ghi nhận các nguyên tắc tiến bộ, thểhiện được vai trò, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng nhất là vai tròcủa người Thẩm phán

Nếu như vào thời điểm năm 1988 khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sựđầu tiên của nước ta, chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết khách quancủa nguyên tắc tranh tụng…thì năm 2003 khi chúng ta thông qua BLTTHS sửađổi là thời điểm thích hợp nhất để ghi nhận tranh tụng là nguyên tắc cơ bản củaBLTTHS nước ta… Trong gần 15 năm, kể từ khi ban hành BLTTHS 1988, khoahọc pháp lý tố tụng hình sự ở nước ta đã có những bước phát triển nhất định,trong đó có mảng lý luận về nguyên tắc tranh tụng[39]

Trang 39

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 đã quy định: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên

cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn… để ra những bản án quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn do luật định Các

cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình

tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh luận dân chủ tại phiên tòa”.

Tiếp đó, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã có Công văn số 13ngày 14/11/2002 và TANDTC đã có Kết luận số 290 ngày 05/11/2002 gửi các

địa phương về vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, cụ thể: “chủ tọa phiên tòa chỉ hỏi

có tính chất nêu vấn đề, còn những câu hỏi có tính chất buộc tội hay gỡ tội thì dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa Hội đồng xét xử không được khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà Kiểm sát viên và người bào chữa và những người tham gia tố tụng nêu ra Các bên tranh luận có quyền đưa ra các yêu cầu và đề nghị bên kia giải thích những vấn đề chưa rõ, Kiểm sát viên có quyền thay đổi lời luận tội tại phiên tòa” Như vậy, theo hướng dẫn này, để đảm

bảo việc tranh tụng Hội đồng xét xử không phải là người xét hỏi chính mà phảiđóng vai trò như là người “trọng tài” và độc lập để đưa ra phán quyết về vụ án

Thể chế quan điểm này của Đảng, BLTTHS năm 2003 (được thông quangày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI) là một bước phát triển mớitrong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luậtTTHS nói riêng Việc sửa đổi bổ sung BLTTHS lần này được tiến hành tương

Trang 40

đối đồng bộ, toàn diện và về cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ởnước ta theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ Chính trị và Ban chấphành Trung ương Đảng Về thủ tục tố tụng, BLTTHS 2003 đã bổ sung một sốquy định trong thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà theo hướng nâng caohơn trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng Đồng thời mở rộng và quyđịnh rõ hơn quyền của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác trong việc tranh luận, trình bày ý kiến, đưa ra yêu cầu của mình về việcluận tội của Kiểm sát viên nhằm mục đích bảo đảm cho việc tranh luận đối đáptại phiên toà được dân chủ, bình đẳng, công khai, giúp Toà án tìm ra được sự thậtkhách quan của vụ án.

Như đã trình bày ở phần trên, tranh tụng trong tố tụng hình sự là cả một quátrình, bắt đầu từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc xét xử vụ án Do đóvai trò của Thẩm phán trong việc tranh tụng được thể hiện ngay từ khi Tòa ánthụ lý hồ sơ vụ án Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia tranhtụng, BLTTHS 2003 đã có những quy định mới, mở rộng quyền của nhữngngười bào chữa, cụ thể : Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bịcan theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 58 của Bộ luật Đặc biệt trong cáctrường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang thì người bàochữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Ngoài ra, người bàochữa còn được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung

bị can và có thể được hỏi người tạm giữ, bị can nếu điều tra viên đồng ý cũngnhư được có mặt trong các hoạt động điều tra khác; được đọc, ghi chép và saochụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kếtthúc điều tra Đồng thời theo quy định tại Điều 19 của BLTTHS năm 2003 thìngười bào chữa còn được bảo đảm quyền bình đẳng trong việc đưa ra các tài

Ngày đăng: 17/08/2018, 13:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w