Tình hình nghiên cứu đề tài Về mặt đời sống xã hội, chung sống như vợ chồng được nghiên cứu một cách khá toàn diện nhưng còn thiếu tập trung, thường mỗi một bài nghiên cứu của một tổ ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2Cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Lan – Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - nguồn động viên tinh thần lớn lao và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn này Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Chung sống như vợ chồng – Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4CHỒNG
23
1.2.1 Các trường hợp chung sống như vợ chồng 23 1.2.2 Cách thức xử lý các trường hợp chung sống như vợ chồng theo
Trang 6Bộ luật dân sự BLDS
Luật Hôn nhân và gia đình Luật HN&GĐ
Năng lực hành vi dân sự NLHVDS
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, gia đình đã hình thành và phát triển trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ thuở bình minh dựng nước Vai trò của gia đình Việt Nam cùng sức sống mãnh liệt của nó được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước
Tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật HN&GĐ vào ngày 10/10/1959,
Bác Hồ đã nói : “… Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình…”[16].
Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình như vậy nên ngay từ những ngày giành được độc lập, hôn nhân – gia đình đã là một chế định không thể thiếu và luôn được quan tâm xây dựng, hoàn thiện
Biểu hiện đầu tiên của gia đình trong mối tương quan với nhà nước và xã hội
là việc tiến hành đăng ký kết hôn Đăng ký kết hôn không chỉ là một sự kiện quan trọng trong đời người mà còn là một sự kiện pháp lý, đánh dấu sự ra đời của một tế bào xã hội mới; đồng thời thể hiện được sự giám sát của Nhà nước đối với việc tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng
Tuy nhiên, thực tế ngày nay, ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều những cặp chung sống như vợ chồng mà không tiến hành đăng ký kết hôn Với số lượng gia tăng nhanh chóng, gồm nhiều nhóm chủ thể khác nhau từ già tới trẻ, từ nam, nữ tới
cả những người chuyển giới thì mức độ nghiêm trọng của vấn đề cũng ngày càng tăng lên và khó kiểm soát; tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng xấu tới bản thân những người chung sống, với gia đình họ và toàn xã hội
Trong khi đó, khung pháp lý cho việc chung sống như vợ chồng ở nước ta còn rất sơ sài, ít ỏi, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của xã hội Chính điều này làm cho việc giải quyết và bảo đảm quyền lợi cho các bên chung sống như vợ chồng, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em – những người yếu thế trong quan hệ không được đảm bảo
Trang 8Do vậy, đề tài “Chung sống như vợ chồng – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” được lựa chọn để tìm hiểu và nghiên cứu nhằm góp phần đưa ra một cái nhìn
tổng quan về sự phát triển cũng như chiều hướng diễn biến của thực trạng này; đồng thời đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ một cách toàn diện hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về mặt đời sống xã hội, chung sống như vợ chồng được nghiên cứu một cách khá toàn diện nhưng còn thiếu tập trung, thường mỗi một bài nghiên cứu của một tổ chức, cá nhân cụ thể chỉ nghiên cứu về một nhóm đối tượng nhất định như: chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ dưới góc độ “sống thử”; chung sống như
vợ chồng giữa những người đồng giới, chuyển giới của các tổ chức bảo vệ quyền lợi cho đối tượng này;…
Về mặt pháp luật, ta có thể kể tới một số mảng lớn như sau:
Nhóm giáo trình, sách bình luận thường không đi sâu vào vấn đề chung sống như vợ chồng mà chỉ tập trung vào các khía cạnh chính của hôn nhân – gia đình là kết hôn, ly hôn
Một số các bài viết trên tạp chí đã đề cập tới hiện tượng này như: Cần có hướng dẫn thống nhất về thụ lý yêu cầu ly hôn hay không công nhận vợ chồng và thủ tục giải quyết - Đoàn Đức Lương - Kiểm sát; Những vướng mắc trong việc thụ
lý giải quyết ly hôn với những trường hợp chung sống như vợ chồng không có đăng
ký kết hôn - Đào Mai Hường - Tòa án nhân dân; Vấn đề chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn theo pháp luật về hôn nhân và gia đình - Bùi Huyền - Dân chủ và Pháp luật; Hoàn thiện các quy định về chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn theo tinh thần của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 - Cao Vũ
Minh, Trương Tư Phước - Nghề Luật;…
Về luận văn, luận án, đề tài khoa học thì số lượng càng ít ỏi hơn, chỉ có duy
nhất một công trình là luận văn tốt nghiệp của Lê Thị Thu Trang về Vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng dưới góc độ bảo vệ phụ nữ và trẻ em
Trang 9Như vậy, có thể thấy, dưới cả hai góc độ là xã hội và pháp luật, dù không nhiều nhưng cũng đã xuất hiện các công trình khoa học nghiên cứu về chung sống như vợ chồng Nhưng, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện,
cụ thể về vấn đề này Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn cần thiết và cấp bách
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến việc chung sống như vợ chồng và tiến trình phát triển của nó
- Tìm hiểu một cách có hệ thống và hoàn chỉnh những quy định pháp luật hiện hành về chung sống như vợ chồng
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan đến việc chung sống như vợ chồng
- Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng thực thi pháp luật như trên, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Dưới góc độ phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu về một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chung sống như vợ chồng; quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản hướng dẫn luật này
Ngoài ra, tác giả còn tham khảo thêm những số liệu thực tế về chung sống như vợ chồng trong nhiều giai đoạn khác nhau để bài viết thêm tính thuyết phục
5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ vấn đề lý luận về việc chung sống như vợ chồng; quy định của pháp luật hiện hành về việc giải quyết hiện tượng này; nêu và phân tích các hạn chế của pháp luật; nghiên cứu thực tiễn các vấn đề liên quan đến việc chung sống như vợ chồng Từ đó, tác giả nêu lên những đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
Trang 106 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở là các phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lenin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về hôn nhân gia đình,
luận văn được thực hiện thông qua các phương pháp như sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu một cách có lô-gic để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để nghiên cứu, xem xét pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ về việc chung sống như vợ chồng là liên hệ với pháp luật của một
số quốc gia khác trên thế giới;
- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; từ đó, phân tích và tổng hợp số liệu để rút ra các nhận định phù hợp để làm cơ
sở thực tiễn cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật
7 Điểm mới của luận văn
Luận văn đã đưa ra được các khái niệm về chung sống như vợ chồng; phân nhóm các trường hợp chung sống Đánh giá khách quan các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề chung sống như vợ chồng Qua đó nêu lên được các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có nội dung chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề pháp lý về chung sống như vợ chồng
Chương 2: Thực trạng chung sống như vợ chồng và một số giải pháp
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của việc chung sống như vợ chồng
1.1.1.1 Khái niệm chung sống như vợ chồng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, “chung” được hiểu là cùng với nhau làm gì đó [29], như vậy, “chung sống” là cùng sống với nhau “Vợ chồng”
là danh từ chỉ vợ và chồng nói chung [30] Từ đây, gộp nghĩa của hai từ lại ta có thể hiểu, “chung sống như vợ chồng” là việc cùng sống với nhau và coi nhau như vợ chồng mặc dù chưa đăng ký kết hôn
Trên thực tế, có nhiều khái niệm chung sống như vợ chồng khác nhau được đưa ra:
Dưới góc nhìn của những nhà xã hội, văn hóa, chung sống như vợ chồng là việc sống thử - chung sống phi hôn nhân, theo đó các cặp nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng không tổ chức hôn lễ cũng như đăng ký kết hôn[26]
Trên phương diện pháp luật, theo ý kiến của Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội, chung sống như vợ chồng với nhau là việc nam nữ công khai quan hệ, chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn hoặc không đủ các điều kiện để kết hôn
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, hai quan điểm kể trên đều chưa bao quát được toàn bộ các trường hợp chung sống như vợ chồng và đặc điểm của nó
Bởi, thứ nhất, về mặt chủ thể, ở cả hai khái niệm đều chỉ nói tới nhóm chủ thể duy nhất là nam – nữ Nhưng trong thực tế, ta không thấy hiếm gặp các trường hợp chung sống như vợ chồng giữa nam – nam; nữ - nữ; người chuyển giới nhưng chưa tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính, mặc dù ở cả phương diện sinh học
và pháp luật đều đang mang một giới tính nhưng lại chung sống với người cùng giới tính đó của mình Ví dụ như những trường hợp vì không có đủ khả năng tài chính,
lo sợ các vấn đề y tế mà không tiến hành phẫu thuật chuyển giới, nhìn bề ngoài và
Trang 12trên giấy tờ là nam nhưng vẫn yêu và sống chung với một nam giới khác Ngoài ra, đối với người chuyển giới còn có trường hợp người đó đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính, nghĩa là về mặt hình hài người đó hoàn toàn khác biệt với giới tính ghi trong các giấy tờ tùy thân mà pháp luật quy định Khi đó, việc chung sống giữa họ
sẽ được thực hiện với một người khác giới tính hiện có của mình Như vậy, hai khái niệm đã làm hẹp phạm vi chủ thể cần có
Thứ hai là về hành vi chung sống Ta chia thành hai nhóm là tổ chức chung sống công khai, có thể tổ chức lễ cưới hoặc không, có thể có đời sống tình dục hoặc không, cùng tiến hành chăm sóc, yêu thương lẫn nhau Hoặc là việc chung sống lén lút, không công khai, cũng có thể có đời sống tình dục hoặc không và vẫn coi nhau như vợ chồng mà chăm sóc nhau Như vậy, một khái niệm hoàn chỉnh phải nêu bật lên được cả hai nhóm hành vi là công khai và không công khai Tuy nhiên, đọc hai khái niệm nêu trên, ta không thấy xuất hiện yếu tố hành vi chung sống
Thứ ba là về hậu quả của hành vi Đây là một yếu tố quan trọng, giúp ta phân biệt được chung sống như vợ chồng với một vài các hiện tượng khác như ngoại tình, cặp bồ Ta có thể kể tới một số hậu quả trên thực tế như: có con chung, có tài sản chung,… Tuy nhiên, trên góc độ thực tế, có thể nhận định rằng, việc có con chung hay tài sản chung… là điều tất yếu xảy ra với những cặp chung sống như vợ chồng Và vì vậy, theo ý kiến của tác giả, không nhất thiết phải đề cập tới phương diện này trong khái niệm
Từ ba phân tích kể trên, tựu chung lại, ta chưa có được một khái niệm hoàn chỉnh cho chung sống như vợ chồng Hiện nay, mặc dù trên nhiều lĩnh vực, phương diện, có nhiều nhà nghiên cứu hay các luật sư, thẩm phán đã đưa ra quan điểm nhưng hầu như vẫn chưa có một khái niệm nào là thực sự đầy đủ và bao hàm toàn
bộ các trường hợp cũng như biểu hiện của nó trên thực tế
Luật HN&GĐ trực tiếp điều chỉnh quan hệ về hôn nhân, gia đình, trong đó bao gồm cả việc chung sống như vợ chồng Nhưng thời kì trước năm 1945, chưa có văn bản pháp luật nào đề cập tới vấn đề này; trong Luật HN&GĐ 1959, 1986 và
2000 cũng không đưa ra một khái niệm chính thức mà chỉ đưa ra các dấu hiệu nhận
Trang 13biết trong các thông tư, nghị định dưới luật khác nhau Hiện nay, Luật HN&GĐ
2014, tại khoản 7 điều 3, lần đầu tiên, chung sống như vợ chồng được chính thức
đưa vào văn bản Luật Chung sống như vợ chồng được định nghĩa như sau: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”
Đây là khái niệm chính thống và sẽ là cơ sở pháp lý cho người dân, người thực thi và áp dụng pháp luật áp dụng Tuy nhiên, căn cứ vào ba tiêu chí phân tích như trên, khái niệm mà Luật HN&GĐ đưa ra vẫn chưa hoàn chỉnh và còn nhiều thiếu sót
Chung sống như vợ chồng mà pháp luật thừa nhận chỉ tồn tại giữa nam và
nữ Nhưng cần lưu ý rằng, việc xác định giới tính là nam hay nữ sẽ được căn cứ vào các giấy tờ tùy thân như chứng minh thư, giấy khai sinh, hộ khẩu,… chứ không phải căn cứ vào ngoại hình hay bản chất con người thật Điều này đã vô tình làm thiếu đi một nhóm các chủ thể khác Đồng thời cũng là sự bất bình đẳng với những người đồng giới, chuyển giới
Về hành vi, ở đây luật có đưa ra cụm từ “tổ chức cuộc sống chung” Để hiểu một cách đầy đủ nghĩa của cụm từ này thì ta cần hiểu là việc cùng chung sống dưới một mái nhà một cách công khai hoặc không công khai, thường xuyên, có quan hệ tình dục với nhau hoặc không, quan hệ được họ hàng, làng xóm biết và họ coi hai người là vợ chồng
Cụm từ “coi nhau là vợ chồng” cũng là cụm từ có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Ta có thể tạm hiểu đây là cách thức mà hai bên chung sống, đối xử với nhau và xuất phát từ đây sẽ phát sinh ra hậu quả của hành vi như đã trình bày ở trên Hai bên “coi nhau là vợ chồng” nên đối xử với nhau trên cơ sở bình đẳng, họ trao cho nhau những quyền và gánh vác các nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho các cặp đôi đã đăng ký kết hôn như việc tôn trọng, yêu thương, vun đắp cuộc sống gia đình
Tuy nhiên, một khái niệm thì cần phải ngắn gọn, không quá dài dòng nhưng vẫn đủ bao trọn, vì vậy, thiết nghĩ, Luật HN&GĐ nên có sự sửa đổi để hoàn thiện
Trang 14hơn về mặt chủ thể của quan hệ; đối với hành vi và hậu quả, có thể tiếp tục sử dụng cụm từ “coi nhau là vợ chồng” và “tổ chức cuộc sống chung” nhưng cần có các văn bản dưới Luật cụ thể hóa một cách rõ ràng hai cụm từ này.
Một lần nữa, cần khẳng định rằng, luật thực định đã đưa ra một khái niệm chưa hoàn chỉnh, chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống ngày nay Khái niệm mà Luật HN&GĐ quy định không chỉ chưa bao quát được toàn bộ các nhóm chủ thể
mà còn thiếu những thông tin cần thiết, cụ thể để nhận biết quan hệ này
Tại khoản 3 điều 42 của dự thảo sửa đổi Luật dân sự 2005 về quyền nhân
thân trong hôn nhân và gia đình có quy định: “Trường hợp hai cá nhân không vi phạm điều cấm trong Luật hôn nhân và gia đình có thỏa thuận về việc chung sống với nhau như vợ chồng thì quyền, nghĩa vụ của họ được xác định theo thỏa thuận”
Như vậy, dự thảo Bộ luật dân sự (BLDS) đã mở rộng phạm vi chủ thể của chung sống như vợ chồng Không giới hạn chỉ có nam – nữ mà dự thảo sử dụng cụm từ
“cá nhân”, đồng thời việc chung sống giữa những người đồng giới hay chuyển giới hiện nay cũng không vi phạm điều cấm trong Luật HN&GĐ nên có thể nói, nhà làm luật đã “có ý” thừa nhận và tạo cở sở giải quyết các trường hợp chung sống giữa nam – nam, nữ - nữ, người chuyển giới với người cùng giới tính khi chưa phẫu thuật chuyển đổi hoặc người chuyển giới với người khác giới tính khi đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính Việc quy định như vậy là phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ được quyền lợi cho mọi cá nhân
Ngoài ra, do mang bản chất của một quan hệ dân sự nên như dự thảo quy định, quan hệ chung sống như vợ chồng giữa các cá nhân được thực hiện theo thỏa thuận Quy định như trên là đảm bảo được quyền lợi của các bên, bởi pháp luật không thể can thiệp quá sâu vào việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ khi mà mục đích của mỗi bên là khác nhau và pháp luật không thể xác định được mục đích của chủ thể ở đây là gì để bảo vệ Vì vậy, việc hai bên có thể tự quy định các quyền và nghĩa vụ cho mình và cho đối phương sẽ là giải pháp triệt để và bao quát nhất Rõ ràng, nếu dự thảo với điều luật này được thông qua thì đây sẽ là
Trang 15một điểm mới tích cực, tạo ảnh hưởng không nhỏ tới việc điều chỉnh quan hệ chung sống như vợ chồng ở nước ta
Căn cứ vào một loạt các phân tích kể trên, tác giả xin mạnh dạn đưa ra khái
niệm chung sống như vợ chồng như sau: Chung sống như vợ chồng là việc hai cá nhân thoả thuận công khai hoặc không công khai tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng
1.1.1.2 Đặc điểm của chung sống như vợ chồng
Đặc điểm thứ nhất: Hai bên nam, nữ không bị ràng buộc về mặt pháp luật
Có thể coi đây là đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của việc chung sống như vợ chồng
Hai bên chủ thể tham gia chung sống như vợ chồng, vì mang bản chất của quan hệ vợ chồng nên sẽ bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố như tình cảm, tiền bạc, con cái,… Nhưng, do nó không phải là quan hệ vợ chồng thực sự, không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận và vì vậy, về mặt pháp luật là không chịu
sự ràng buộc Nghĩa là hai bên có thể tiếp tục chung sống hoặc ngừng chung sống
mà không cần thông báo cho bên thứ ba là cơ quan nhà nước có thẩm quyền Họ cũng có thể tự thương lượng để giải quyết các vấn đề tài sản, con cái hay phân chia các quyền lợi khác Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho
vợ, chồng trong hôn nhân hợp pháp thì chủ thể trong chung sống như vợ chồng cũng không được hưởng
Đặc điểm thứ hai: Chủ thể của quan hệ chung sống như vợ chồng khá đa
Trang 16Về độ tuổi cũng rất đa dạng Đó có thể là những người trẻ, còn ngồi trên ghế nhà trường, chưa đủ 18 tuổi; là những sinh viên, người đi làm; là những người đã trung tuổi, về hưu hay thậm chí là cả những người ở độ tuổi cao niên Không có một quy chuẩn nào về độ tuổi của những người chung sống như vợ chồng với nhau phải nằm trong độ tuổi từ bao nhiêu tới bao nhiêu Các chủ thể này cũng có thể vi phạm hoặc không vi phạm các điều kiện kết hôn, các điều cấm của pháp luật Đây chính là yếu tố để có thể chia chung sống như vợ chồng thành hai nhóm là không trái pháp luật và trái pháp luật
Đặc điểm thứ ba: Chủ thể tham gia chung sống như vợ chồng nhằm nhiều
mục đích khác nhau
Mục đích cho mỗi sự lựa chọn của con người đều xuất phát từ nội tâm và suy nghĩ của người đó nên có thể thấy, đây là một đặc điểm rất khó khái quát Tuy nhiên, nhìn chung, nếu chọn kết hôn là điểm đến thì có nghĩa là, ở một chừng mực nào đó, hai bên chủ thể mong muốn và có chung một mục đích là xây dựng một gia đình Nhưng ở đây, các cặp đôi lại lựa chọn chung sống như vợ chồng thay vì kết hôn thì nghĩa là mục đích của họ không đồng nhất, không cùng hướng tới một mục đích chung là xây dựng gia đình
Ngày nay, khi mà con người sống ngày càng cơ hội, coi trọng đồng tiền thì vật chất chính là đích đến của nhiều những cô gái, chàng trai Họ đến với nhau không vì tình cảm mà chỉ vì những xa hoa phù phiếm mà đối phương có thể đem lại Hoặc vì những mục đích như để tiến thân trong công việc, để thỏa mãn dục vọng, để làm hài lòng cha mẹ, để thỏa mãn nhu cầu tình cảm,…
1.1.2 Sơ lược pháp luật điều chỉnh việc chung sống như vợ chồng
Thời kì trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Thời kì phong kiến:
Thời kì phong kiến chưa hình thành quan điểm chung sống như vợ chồng Không có bất kì khái niệm hay những thuật ngữ tương tự để chỉ vấn đề này Với con người thời kì phong kiến, hôn nhân là việc đại sự cả đời, có thể không cần phải xuất phát từ tình yêu nam nữ nhằm mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc mà
Trang 17chỉ nhằm duy trì nòi giống, lưu truyền việc thờ phụng tổ tiên Mặt khác, do ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc với Khổng Tử, Đạo Tử mà các cá nhân, đặc biệt là người phụ nữ luôn đề cao vai trò của người chồng, người cha trong gia đình, người phụ nữ cả đời chỉ chuyên chính một chồng nên cũng không xuất hiện nhiều các trường hợp chung sống như vợ chồng Có lẽ vì thế mà pháp luật thời kì này cũng không có các quy định cụ thể điều chỉnh chung sống như vợ chồng
Hai bộ luật tiêu biểu cho thời kỳ phong kiến nước ta là Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) và Quốc Triều hình luật (Luật Hồng Đức) Cả hai bộ luật đều chia việc kết hôn thành hai giai đoạn là lễ đính hôn (ước hôn) và lễ kết hôn (giá thú) Trong đó, về tinh thần, cả hai bộ luật đều cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý
từ sau lễ đính hôn Ví dụ điều 315 Luật Hồng Đức quy định: “Gả con gái đã nhận
đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng… Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn”
Tất cả các trường hợp chung sống như vợ chồng không tiến hành ước hôn (theo luật Hồng Đức) hoặc giá thú trước sự chứng kiến của bà con hàng xóm đều không được công nhận là hôn nhân hợp pháp
Mặc dù không được đề cập tới nhưng qua các quy định của hai bộ luật này,
ta thấy bóng dáng của một trường hợp tương tự như chung sống như vợ chồng Đó
là tội thông gian của người vợ Thông gian được hiểu là có quan hệ tình dục với người khác mà không phải chồng hợp pháp của mình Điều 401 Bộ luật Hồng Đức
có quy định vợ cả hoặc vợ lẽ thông gian đều bị phạt tội lưu hoặc tử, điền sản của họ phải chuyển sang cho người chồng Cũng tương tự như vậy, điều 322 Bộ luật Gia Long quy định là phạt người vợ thông gian và người gian phu 100 trượng, cho phép người chồng được tự ý gả bán vợ cho người khác, nếu sự thông gian dẫn đến có con thì đứa bé sẽ được xác định là con của hai người thông gian với nhau và người gian phu phải nuôi dưỡng đứa bé nếu bị bắt quả tang, hoặc do người vợ nuôi dưỡng nếu lỗi của người này được chứng minh Hơn nữa, theo tập quán thời bấy giờ, người
Trang 18phụ nữ không đoan chính có quan hệ bất chính với đàn ông, có con ngoài giá thú rất
bị kỳ thị và bị trừng trị rất nặng như cạo đầu bôi vôi, thả bè trôi sông, đuổi ra khỏi làng,…
- Pháp luật thời kì pháp thuộc:
Dưới thời kì thực dân Pháp đô hộ nước ta, để dễ bề cai trị, Pháp đã chia đất nước ta thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ với ba bộ luật khác nhau Trong đó,
ở mỗi kỳ đều có những bộ Luật riêng biệt Trong lĩnh vực hôn nhân, mọi quy định được ghi tại bộ dân luật: ở miền Bắc có Bộ Dân luật Bắc kỳ (1931); miền Trung có
Bộ Dân luật Trung kỳ (1936) và miền Nam có Tập Dân luật Giản Yếu Nam kỳ (1939) Tập Dân luật Giản Yếu Nam Kỳ không có quy định nào về hôn nhân mà lại
áp dụng các án lệ có sẵn trên thực tế để giải quyết Do đó, trong phần viết này tôi chỉ xin trình bày về Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật trung kỳ
Hôn nhân thời kỳ này chỉ được công nhận sau khi có sự đăng ký với hương
hộ và được cấp chứng thư giá thú (Căn cứ vào điều 91 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ) Ngoài ra, các trường hợp khác đều không được công nhận là vợ chồng, và vì vậy, các quy định áp dụng cho các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đều không được áp dụng cho những đối tượng này
Pháp luật cũng không có bất kỳ quy phạm trực tiếp nào điều chỉnh vấn đề chung sống như vợ chồng Các quan điểm về vấn đề này cũng không được đề cập tới Trong luật chỉ tồn tại một số hình thức của chung sống như: Khoản 5 điều 83
“Khi người đàn bà trước đã có chính thức giá thú làm chánh thất, kế thất, hay thứ thất của một người khác mà chưa đoạn hôn”, khoản 8 điều 83 “Khi đã có vợ chính thức trước chưa đoạn hôn mà lại lấy người vợ chính khác”
Ở cả hai trường hợp này đều bị toà án xử vô hiệu Nghĩa là giữa họ không tồn tại các quyền và nghĩa vụ nhân thân cũng như tài sản Tuy nhiên, ở cả hai bộ luật này đều có quy định cụ thể để giải quyết các trường hợp con ngoài giá thú Thuật ngữ này được Bộ Dân luật Bắc kỳ gọi là “con hoang”, Bộ Dân luật Trung kỳ gọi là “con biệt tình” Hai khái niệm này là hoàn toàn như nhau, dùng để chỉ những đứa con sinh ra mà cha mẹ chúng không có hôn thú với nhau; nghĩa là cha mẹ
Trang 19chúng chỉ chung sống như vợ chồng, ngoại tình,… Nhưng không giống như quan hệ nhân thân hay tài sản, kể cả cha mẹ chúng chỉ chung sống như vợ chồng mà không
có giá thú thì vẫn có thể yêu cầu xác định mối quan hệ cha mẹ con; trừ trường hợp
là con loạn luân hay ngoại tình của người mẹ Trong trường hợp họ đã trót đăng ký
sự khai nhận đứa con loạn luân hay ngoại tình đó thì sự khai nhận coi như vô hiệu (Điều 168 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 171 Bộ Dân luật Trung kỳ)
Như vậy, rõ ràng, pháp luật thời kỳ này đã có sự tiến bộ rất đáng kể khi nhìn nhận về quan hệ cũng như vị trí của người con Tuy nhiên, vì bỏ qua những đứa trẻ loạn luân và ngoại tình trong mối quan hệ cha mẹ con đã không đảm bảo được quyền lợi cho chúng
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959:
Về nguyên tắc, Luật này không thừa nhận nam nữ chung sống như vợ chồng
Điều 11 có quy định về hình thức kết hôn được pháp luật công nhận là: “Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn Mọi hình thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật”
Tuy nhiên, trên thực tế, đây là thời kì mà đất nước ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn, miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa lao động, kiến thiết đất nước vừa chi viện cho chiến trường miền Nam nên có thể thấy, việc mọi người tiến hành kết hôn vẫn chỉ theo thông lệ, phong tục cũ mà chưa tiến hành tuân theo quy định của pháp luật Hay nếu có muốn tuân theo thì đôi khi cũng không có điều kiện để thực hiện: thiếu cơ sở vật chất, cán bộ,… Mà theo pháp luật, nếu hôn nhân không được công nhận, khi xảy ra các tranh chấp hay vấn đề phát sinh sẽ không được pháp luật bảo hộ Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của các bên, nhà nước ban hành thông tư số
112/NCPL ngày 19/8/1972 của Toà án nhân dân (TAND) tối cao hướng dẫn: “Nếu các điều kiện khác đều được thỏa mãn nhưng chỉ riêng hôn nhân chưa được đăng
ký thì tòa án nhân dân coi đó là hôn nhân thực tế” Đồng thời, Thông tư 112/NCPL
Trang 20còn đưa ra trường hợp: Nam nữ chung sống tạm bợ công khai để phân biệt và hướng dẫn các Tòa án giải quyết trong từng trường hợp cụ thể
Việc ghi nhận như vậy của pháp luật về trường hợp này là một bước tiến quan trọng trong pháp luật quốc gia Bởi nó không chỉ mang ý nghĩa với riêng vấn
đề hôn nhân, gia đình mà còn là sự ghi nhận và bảo vệ của pháp luật đối với những quyền con người, mà cụ thể ở đây là quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em Điều 22
Luật HN&GĐ năm 1959 quy định:“Người con ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Tòa án nhân dân Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên Người thay mặt cũng có quyền xin nhận cha hoặc mẹ thay cho đứa trẻ chưa thành niên”
Điều 23: “Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Tòa án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi và nghĩa vụ như con chính thức.”
Nói tóm lại, như những dẫn chứng đã nêu ra ở trên, pháp luật nước ta thời kì này nhìn chung là thừa nhận trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng là hôn nhân thực tế
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986:
Kế thừa tinh thần của Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ 1986 cũng chỉ công nhận những trường hợp nam nữ có đăng ký kết hôn là vợ chồng hợp pháp Về hôn nhân thực tế, luật thời kỳ này không có văn bản luật hay dưới luật nào chính thức công nhận mà chỉ là sự thừa nhận gián tiếp thông qua việc giải quyết chung sống như vợ chồng giữa những người không đăng ký kết hôn theo nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 - Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ 1986
Cụ thể, tại mục 2 của văn bản có quy định: “Trong thực tế vẫn có không ít trường hợp kết hôn không có đăng ký Việc này tuy có vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không phải là việc kết hôn trái pháp luật, nếu việc kết hôn không trái các điều 5, 6, 7 Trong những trường hợp này, nếu có một hoặc hai bên xin ly hôn, Tòa
án không hủy việc kết hôn theo điều 9 mà xử như việc ly hôn theo điều 40”
Trang 21Các điều 5, 6, 7 là các quy định về độ tuổi kết hôn; sự tự do trong hôn nhân
và các trường hợp cấm kết hôn Trường hợp tiến hành đăng ký kết hôn mà vi phạm các điều này thì gọi là kết hôn trái pháp luật và sẽ bị tòa án tuyên bố hủy việc kết hôn Ngược lại, việc không đăng ký mà không vi phạm sẽ được coi là hôn nhân thực tế Khi xảy ra tranh chấp và kiện ra tòa thì tòa án sẽ xử ly hôn và giải quyết theo các quy định chung về con cái, tài sản mà luật áp dụng cho vợ chồng hợp pháp
Tại kết luận của TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành tòa án năm 1995: để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, nhất là đối với phụ nữ, Tòa
án nhân dân tối cao tiếp tục thừa nhận “hôn nhân thực tế” đối với những cặp chung sống như vợ chồng với nhau không đăng ký kết hôn đã chung sống với nhau hàng chục năm có tài sản hoặc có con chung
Xét thấy, quy định ở hai văn bản kể trên là Nghị quyết số 01 của Hội đồng thẩm phán và kết luận của Chánh án TAND tối cao là có khác nhau về cách thức giải quyết Tuy nhiên, sự khác nhau này không được xem là mâu thuẫn giữa hai văn bản
Mặc dù trong Nghị quyết không hướng dẫn cụ thể về thời điểm chung sống, nhưng phải hiểu rằng Tòa án chỉ thụ lý giải quyết như việc xin ly hôn theo điều 40 Luật HN&GĐ 1986 nếu những cặp nam nữ chung sống với nhau không đăng ký kết hôn trước ngày luật này có hiệu lực, chứ không phải kể từ ngày Luật HN&GĐ có hiệu lực trở về sau Vì, nếu hướng dẫn cho cả về sau thì vô hình chung, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn trái pháp luật (vì Luật 1986 chỉ công nhận hôn nhân hợp pháp khi đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký) Về kết luận của Chánh án TAND tối cao, do thời điểm tổ chức hội nghị là năm 1996 nên theo tinh thần hướng dẫn trong kết luận này, tòa án cũng chỉ có thể thụ lý giải quyết như việc xin ly hôn theo điều 40 Luật HN&GĐ khi có đơn xin ly hôn của các cặp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn trước ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực
Nói tóm lại, Luật HN&GĐ 1986 không trực tiếp mà gián tiếp thừa nhận một hình thức chung sống như vợ chồng duy nhất là hôn nhân thực tế thông qua các văn
Trang 22bản dưới luật khác nhau Về cách thức giải quyết, mặc dù có sự nhìn nhận khác nhau nhưng tựu chung lại, đối với những cặp nam nữ chung sống với nhau sau ngày Luật HN&GĐ 1986 có hiệu lực mà không đăng ký kết hôn nếu có đơn xin ly hôn thì tòa án không thụ lý để giải quyết theo điều 40 Luật HN&GĐ về ly hôn mà chỉ thụ lý để giải quyết việc nuôi con và chia tài sản chung (nếu có yêu cầu) theo quy định tại điều 9 Luật HN&GĐ và các quy định tương ứng của BLDS
Việc quy định như vậy đã phần nào đảm bảo được quyền lợi cũng như nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ, đặc biệt là người phụ nữ và trẻ em
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:
Như đã trình bày ở trên, trong hai văn bản Luật HN&GĐ trước đó, chung sống như vợ chồng tuy không được quy định trong văn bản luật nhưng lại được đưa
ra xem xét và có những quy định cụ thể tại văn bản dưới luật điều chỉnh Nhưng, cho đến luật năm 2000, do xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng một cách toàn diện về cả kinh tế, xã hội, trình độ nhận thức,…cũng như những hệ lụy xấu mà tình trạng chung sống như vợ chồng không được công nhận đem lại nên nó đã bị phủ
nhận một cách tuyệt đối Cụ thể tại khoản 1 điều 11: “ Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là
vợ chồng” Luật này chỉ thừa nhận và bảo hộ cho các cuộc hôn nhân có đăng kí và
tuân thủ quy định của pháp luật Đã không còn tồn tại khái niệm “hôn nhân thực tế” nữa
Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp quan hệ hôn nhân được xác lập
từ trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực pháp luật bởi vậy vấn đề tồn tại trước đó là một điểm cần lưu ý và giải quyết Do đó, tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN&GĐ (Nghị quyết số 35/2000/QH10), Nghị quyết số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật HN&GĐ và Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 25/09/2001 về việc hướng dẫn áp dụng các quy
Trang 23định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của BLHS
những hướng dẫn cụ thể việc giải quyết về mặt pháp luật đối với những trường hợp
vi phạm việc đăng ký kết hôn từ trước ngày 01/01/2001 Theo đó chia thành hai nhóm như sau: Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn sẽ không bị “buộc” phải đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; Trong trường hợp kể từ ngày 03/01/1987 các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn thì “buộc phải đăng ký kết hôn” và đăng ký “trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003”
Trong trường hợp thứ nhất, khi có tranh chấp dẫn tới ly hôn thì Tòa án thụ lý
và giải quyết theo Luật HN&GĐ 2000 Mặc dù những cặp này không buộc phải đăng ký kết hôn nhưng giả sử họ vẫn tiến hành đăng ký thì quan hệ giữa họ, các quyền và nghĩa vụ nhân thân, con cái, tài sản được xác lập và công nhận từ thời điểm họ tiến hành sống chung chứ không phải tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
Trường hợp thứ hai, nếu trong khoảng thời gian 2 năm buộc phải đăng ký kết hôn mà xảy ra ly hôn thì tòa án coi họ là vợ chồng và giải quyết theo thủ tục chung; nếu sau thời hạn 2 năm đó mà không tiến hành đăng ký thì tòa án không công nhận
họ là vợ chồng, chỉ giải quyết về con cái và tài sản theo duy nhất điều 17 Luật HN&GĐ 2000 Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định
về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn
Còn đối với những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
kể từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu giải quyết vấn đề ly hôn tòa án sẽ giải quyết theo khoản 2, 3 Điều 17 của Luật HN&GĐ 2000 về tài sản và con chung Quyền lợi
Trang 24của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn Đối với tài sản thì áp dụng quy định về tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó, tài sản chung chia theo thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được xét theo công sức đóng góp, xây dựng của mỗi cá nhân
Như vậy, tại Luật HN&GĐ 2000, nhà nước ta kiên quyết xóa bỏ hôn nhân thực tế và chỉ đưa ra các quy định để giải quyết vấn đề này Mặt khác, pháp luật cũng hướng tới xây dựng quy chế pháp lý cho các cặp hôn nhân hợp pháp chứ hoàn toàn bỏ qua các cặp chung sống như vợ chồng
Và mới đây nhất, ngày 01/01/2015 Luật HN&GĐ mới đã chính thức có hiệu lực với những quy chế cụ thể hơn về việc thế nào là chung sống như vợ chồng cũng như cách thức giải quyết vấn đề này; điều đó cho thấy quan điểm của những nhà lập pháp về chung sống như vợ chồng đã có cái nhìn rộng mở và bao quát hơn trước thực tế xã hội Điều đó sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần tiếp theo của Luận văn
1.1.3 Pháp luật một số quốc gia về chung sống như vợ chồng
Pháp luật Vương quốc Anh về chung sống như vợ chồng
Ở Anh, chung sống như vợ chồng được gọi với tên gọi là “Cohabitant” (sự chung sống cùng nhau)
Theo thống kê hàng năm của Phòng thống kê Quốc gia Anh về hôn nhân và gia đình, kể từ năm 1996 cho tới nay, số lượng những cặp đôi cùng giới và khác giới chung sống như vợ chồng ở Anh có xu hướng tăng nhanh Các cặp khác giới chung sống như vợ chồng tăng từ 1,5 triệu đôi năm 1996 thành khoảng 2,9 triệu đôi năm 2013; các cặp đôi cùng giới chung sống như vợ chồng còn tăng tới mức độ
“chóng mặt” hơn là tăng 450%, từ 16.000 đôi thành 89.000 đôi Trong khi đó thì hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn lại có xu hướng giảm nhẹ, từ 12,6 triệu cặp nay giảm 3% còn 12,3 triệu cặp [31]
Chính vì những số lượng đáng quan ngại như vậy mà hiện nay, chung sống như vợ chồng ở Anh không chỉ còn được điều chỉnh bởi Luật HN&GĐ Anh 1996
mà còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về Tài sản, Thuế, Nhà ở, Thừa
Trang 25kế, Bảo trợ xã hội,…và các án lệ - nguồn quan trọng bậc nhất trong hệ thống pháp luật Anh
Theo đó, pháp luật Anh ghi nhận rằng những cặp đôi chung sống như vợ chồng không được hưởng nhiều quyền và gánh vác nhiều nghĩa vụ như những cặp
vợ chồng hợp pháp Về các quyền và nghĩa vụ nhân thân, giữa hai bên chủ thể không hình thành quan hệ vợ chồng, vì vậy không được hưởng những quyền này Quan hệ chung sống như vợ chồng ở Anh được nhìn nhận dưới góc độ thực tế hơn
là góc độ pháp lý
Tài sản hình thành được trong thời gian sống chung, nếu có thỏa thuận có thể hợp thành tài sản chung, còn nếu không có thỏa thuận gì khác thì sẽ được coi là tài sản riêng và do đó, lương hưu cũng như thuế đều được hưởng và đóng riêng Ngoài
ra, không kể thời gian hai bên chung sống với nhau là bao lâu, có con hay không có con thì trong trường hợp một người chết trước cũng không hình thành quan hệ thừa
kế với người còn sống kia
Tuy nhiên, các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em là con của những người chung sống như vợ chồng sinh ra thì đều được quy định như những trẻ em của các cặp kết hôn
Các quy phạm pháp luật này chỉ áp dụng đối với chủ thể chung sống là nam-
nữ Do không công nhận hôn nhân đồng giới nên cũng như Việt Nam, Anh bỏ ngỏ các trường hợp chung sống cùng giới hay giữa người chuyển giới với người khác
Án lệ của Anh cũng không có nhiều vụ việc liên quan đến đồng giới; đối với Tòa án Anh, đây còn là một vấn đề mới mẻ và khá “e dè”
Tuy nhiên, vào 17/07/2013, ở Anh cũng như xứ Wales và Scotland đã công nhận hôn nhân đồng giới Vì vậy, trong một bộ quy tắc riêng dành cho chung sống như vợ chồng (Cobihatant Rules) mà Anh đang trong quá trình chờ Thượng viện thông qua thì các quy định được áp dụng cho đầy đủ các nhóm chủ thể
Pháp luật Liên bang Mỹ về chung sống như vợ chồng
Cũng là một quốc gia đại diện cho dòng họ Common Law giống như Anh nhưng pháp luật của Mỹ nói chung và pháp luật điều chỉnh quan hệ chung sống như
Trang 26vợ chồng nói riêng lại có nhiều điểm khác với pháp luật ở Anh Ở Mỹ, pháp luật coi hôn nhân là một loại hợp đồng dân sự được kí kết giữa nam và nữ nhưng được tiến hành với thể thức trang trọng hơn, mang đậm tính tôn giáo và văn hóa Do đó, chung sống như vợ chồng ở Mỹ cũng được coi là một hình thức chung sống dựa trên hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai bên Và, vì coi nó là hợp đồng dân sự nên pháp luật Mỹ thừa nhận sự tồn tại của tình trạng này dưới tên gọi “common-law marriage”
Chung sống như vợ chồng tại Mỹ không được pháp luật hôn nhân gia đình điều chỉnh mà được điều chỉnh tương tự như một chế định về hợp đồng Mọi quyền
và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản giữa các cặp này không được pháp luật quy định hay điều chỉnh như các cặp hôn nhân hợp pháp Pháp luật chỉ công nhận các quyền
và nghĩa vụ hai bên trao cho nhau dựa trên thỏa thuận giữa họ Mặt khác, về quan
hệ cha mẹ con, pháp luật Mỹ cũng thừa nhận quan hệ này là một quan hệ nhân thân không thể tách rời Vì vậy, quan hệ này được điều chỉnh tương tự quan hệ cha mẹ con trong hôn nhân hợp pháp
Tuy nhiên, tại một số bang của Mỹ như Ohio, Texas, Washington,…Tòa án lại thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ chung sống như vợ chồng và gọi đó là “hôn nhân thực tế” nhưng phải đáp ứng một số điều kiện là: thời gian chung sống của các bên phải lâu dài; giữa họ đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau; thậm chí có bang còn quy định phải được những người xung quanh công nhận và các bên phải có nguyện vọng được kết hôn với nhau [32]
Như vậy, ở mỗi bang khác nhau lại có sự nhìn nhận khác nhau về vấn đề này Nhưng nhìn chung, ở các bang công nhận chung sống như vợ chồng mà đồng thời công nhận hôn nhân đồng giới thì việc công nhận áp dụng cho cả đồng giới và khác giới; cũng như vậy, ở các bang không công nhận hôn nhân đồng giới thì nếu chung sống như vợ chồng được công nhận cũng chỉ áp dụng với nam – nữ Tuy nhiên, với các nhà lập pháp Mỹ thì vấn đề chung sống giữa những người đồng giới chưa được nhìn nhận một cách cụ thể và toàn diện
Trang 27 Pháp luật Cộng hòa Pháp về chung sống như vợ chồng
Dưới góc độ của nhà làm luật và luật pháp Pháp, chung sống như vợ chồng đồng thời mang hai tính chất là tính thực tế và tính thỏa thuận theo hợp đồng
Điều 515 BLDS đưa ra một khái niệm cụ thể: “Quan hệ chung sống như vợ chồng là một sự liên kết thực tế, được xác định bởi một cuộc sống chung có tính ổn định và liên tục, giữa hai người cùng giới hay khác giới sống cặp với nhau”
Nhìn khái niệm này, ta thấy rằng pháp luật Pháp đã thừa nhận một cách cụ thể về chủ thể trong quan hệ Các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề chung sống như vợ chồng sẽ được áp dụng cho cả các cặp nam-nữ, đồng giới hay chuyển giới Đây là một đặc điểm khác so với pháp luật Anh hiện hành cũng như pháp luật Mỹ Trong khi ở cả Anh và Mỹ mới đang đặt ra vấn đề và tiến tới công nhận, áp dụng quy định pháp luật để giải quyết chung sống như vợ chồng giữa người đồng giới, chuyển giới thì pháp luật Pháp đã làm được điều này
Trước thực trạng phát triển nhanh chóng của quan hệ chung sống như vợ chồng, pháp luật Pháp đã thông qua con đường lập pháp hay án lệ, cố gắng áp dụng đối với những người chung sống như vợ chồng một quy phạm pháp luật trước đây chỉ dành riêng cho các cặp vợ chồng hợp pháp như thuế thu nhập, quyền tiếp tục thuê nhà ở,…
Tuy nhiên, cũng giống như ở các quốc gia khác, Pháp không thừa nhận quan
hệ nhân thân giữa những người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết
hôn Điều 194 BLDS Pháp đã khẳng định điều này: “Không ai có thể được đòi hỏi danh nghĩa vợ, chồng và các hệ quả dân sự của hôn nhân nếu không xuất trình chứng thư kết hôn được ghi vào sổ hộ tịch, trừ các trường hợp quy định tại điều 46, phần các chứng thư hộ tịch.”
Ngoài ra, không chỉ mang tính thực tế và được giải quyết thông qua các án
lệ, pháp luật Pháp còn xác định chung sống như vợ chồng có thể tồn tại dưới hình
thức thỏa ước dân sự Điều 515, khoản 1 quy định: “Thỏa ước dân sự về sự đoàn kết
là một hợp đồng được giao kết bởi hai thể nhân trưởng thành, khác giới hoặc cùng giới nhằm tổ chức cuộc sống chung của họ” [11] Từ đây, người Pháp đã xây dựng
Trang 28được một khuôn khổ cho các quan hệ nhân thân và tài sản giữa hai người tham gia thỏa ước, nhưng chủ yếu căn cứ vào hợp đồng giữa hai người lập ra khi chung sống
Nói tóm lại, với những quy định của mình, pháp luật Pháp tỏ ra là một hệ thống pháp luật tân tiến và đã tạo ra được sự bình đẳng giới giữa tất cả các chủ thể
Pháp luật một số nước châu Á về chung sống như vợ chồng
Không giống như Anh và Mỹ, đại diện của hai châu lục phát triển bậc nhất trên thế giới, các nước châu Á do phong tục tập quán lâu đời cùng sự toàn cầu hóa chưa thực sự tác động mạnh mẽ tới nên các nét văn hóa, đặc biệt là văn hóa hôn nhân vẫn còn được gìn giữ và lưu truyền Chính vì lẽ đó mà tình trạng chung sống như vợ chồng ở các nước này tuy có và gia tăng trong thời gian gần đây nhưng nó không diễn ra quá nhanh và khó kiểm soát như ở các quốc gia Âu Mỹ
Tại Nepal, việc chung sống chỉ được chấp nhận sau khi hoàn thành các thủ tục đăng ký cũng như tiến hành làm lễ theo phong tục tập quán của địa phương Nghĩa là pháp luật và xã hội chỉ công nhận hôn nhân hợp pháp Ngoài ra, chung sống như vợ chồng không được định nghĩa và đưa ra trong bất kì một văn bản pháp luật nào Chủ thể tham gia chung sống như vợ chồng không được công nhận và được bảo vệ trong quan hệ
Cũng tương tự như tại Nepal, ở Bangladesh, chung sống như vợ chồng không được pháp luật công nhận và bảo vệ Pháp luật hôn nhân tại quốc gia này chỉ
có các quy định về nam – nữ kết hôn và chung sống với nhau Ở các vùng nông thôn, việc chung sống như vợ chồng hoặc thậm chí cả việc hai người đã kết hôn, sau
đó ly hôn mà chưa kết hôn lại chung sống với nhau còn bị xử phạt theo hệ thống salishi – một hệ thống pháp luật cổ theo phong tục xưa của người Bangladesh
Tại Indonesia, một đạo luật về Hồi giáo được đưa ra năm 2005 có quy định rằng chung sống như vợ chồng sẽ bị phạt tới 2 năm tù giam Như vậy nghĩa là nước này cấm việc chung sống như vợ chồng được diễn ra vì nó không chỉ gây ra các hậu quả xấu cho xã hội mà còn làm hư hại các giá trị tâm linh của người theo đạo Hồi
Tại Nhật Bản, một dấu mốc đánh dấu về hiện tượng chung sống như vợ chồng là vụ án được thụ lý ở Tòa án tối cao Nhật Bản ngày 26 tháng 1 năm 1915
Trang 29Kể từ đó trở đi, vụ án này trở thành một án lệ để thẩm phán Nhật Bản giải quyết các
vụ việc liên quan Nhưng cho tới hiện nay, pháp luật Nhật Bản cũng chưa cụ thể hóa vấn đề này vào bất kì văn bản pháp luật nào mà chỉ coi án lệ là nguồn để giải quyết tranh chấp giữa những người chung sống như vợ chồng khi nó phát sinh trên thực tế[33]
1.2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG 1.2.1 Các trường hợp chung sống như vợ chồng
Dựa trên tinh thần của Luật HN&GĐ 2014 cũng như đối chiếu với những quy định của pháp luật có liên quan, ta có thể chia chung sống như vợ chồng thành hai dạng là: chung sống như vợ chồng không trái pháp luật và chung sống như vợ chồng trái pháp luật
1.2.1.1 Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật
Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là việc nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi, ý chí tự nguyện và không thuộc vào các trường hợp cấm kết hôn do pháp luật quy định
Những trường hợp chung sống như vợ chồng không vi phạm pháp luật bao gồm:
Trường hợp thứ nhất: Nam và nữ chung sống với nhau mặc dù có đủ điều
kiện đăng ký kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn Pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ này nhưng đây cũng không thuộc các hành vi bị cấm Nguyên nhân cho việc lựa chọn lối sống như vậy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và
sẽ được phân tích cụ thể ở phần tiếp theo; tuy nhiên, nhìn chung nguyên nhân sâu
xa là do chính tâm lý và lối sống, cách nghĩ của những cặp nam nữ này
Ví dụ: Nguyễn Thị N là sinh viên năm nhất của một trường đại học ở Hà Nội
Do mới từ quê lên, chưa hiểu biết nhiều nên sau một thời gian ngắn học tập, N quen
L, một sinh viên khóa trên cùng trường Sau khoảng 5 tháng hẹn hò, hai người chính thức yêu nhau và dọn về sống chung Lý do mà hai người đưa ra là vì muốn
có nhiều thời gian ở bên người yêu, muốn được chăm sóc, yêu thương nhau nhiều
Trang 30hơn Đồng thời còn có thể chia sẻ các loại tiền nhà, nước, điện,… Cả hai chưa muốn đăng ký kết hôn mà chỉ sống chung với nhau vì nghĩ còn quá trẻ nên chưa muốn bị ràng buộc quá sớm
Trường hợp thứ hai: Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ khi một bên
hoặc cả hai bên mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS)
Theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) 2014 có quy định về điều kiện kết hôn, trong đó nam nữ phải không thuộc các trường hợp mất NLHVDS Tuy nhiên, đối với chung sống như vợ chồng, trong tất cả các văn bản luật điều chỉnh hoặc có liên quan, không một văn bản nào đề cập tới trường hợp này
Theo quy định tại Điều 22 BLDS năm 2005 thì mất NLHVDS được hiểu là:
“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định…” Cần lưu ý một vấn đề, một người chỉ bị coi là mất
NLHVDS khi có quyết định của Toà án tuyên người đó mất NLHVDS Với thực tế
ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy chỉ khi có việc cần xử lý liên quan tới người mất NLHVDS như định đoạt tài sản, ly hôn,…thì người thân hay người có quyền và lợi ích liên quan mới yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất NLHVDS Như vậy, việc chung sống giữa những người mất NLHVDS với nhau hay với một người bình thường khác trên thực tế rất khó xác định Ta không thể căn cứ vào việc người đó bị tâm thần hay mắc bệnh khác dẫn đến không làm chủ được hành vi của mình, mất khả năng kiểm soát,…mà xác định người đó mất NLHVDS Khi chưa hoặc không
có quyết định của Tòa án thì người đó vẫn được xác định là có NLHVDS Vì vậy, việc chung sống này được coi như việc chung sống giữa nam – nữ bình thường Họ
có thể không kiểm soát được hành vi của mình, bị Tòa tuyên mất NLHVDS,…nhưng về phương diện sinh học, họ vẫn là một con người phát triển và
có các nhu cầu sinh lý bình thường Vì vậy, không coi những trường hợp này là
Trang 31chung sống như vợ chồng trái pháp luật sẽ đảm bảo được quyền lợi của những người mất NLHVDS
Trường hợp thứ ba: Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới
tính Về nguyên tắc, pháp luật hiện hành không công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới (Khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ 2014) Tuy nhiên, đây không phải
là điều luật cấm Vì vậy, trên thực tế ta thấy nhiều cặp đôi đồng tính vẫn chung sống với nhau, thậm chí là tổ chức đám cưới một cách công khai Việc Luật hiện hành có
sự nới lỏng hơn với quan hệ của người đồng tính so với Luật 2000 là một bước tiến lớn, phù hợp với khách quan cuộc sống Bởi, theo Luật HN&GĐ cũ, mặc dù cấm kết hôn và chung sống giữa người đồng tính nhưng việc này vẫn diễn ra một cách thường xuyên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng nhiều các biện pháp khác nhau nhưng vẫn không thể giải quyết triệt để Mặt khác, hôn nhân đồng giới là một vấn đề nhạy cảm cao Do đó, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân giữa họ cũng cần phải được xem xét kỹ lưỡng, có bước đi phù hợp Chính vì vậy mà giải pháp phù hợp nhất cho việc giải quyết vấn đề này là Nhà nước ta, một mặt, không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới nhưng mặt khác, cũng không cấm họ được chung sống như vợ chồng với nhau
1.2.1.2 Chung sống như vợ chồng trái pháp luật
Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là việc nam nữ chung sống với nhau nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn; đồng thời, việc chung sống này vi phạm các quy định cấm của pháp luật Điều 5 Luật HN&GĐ 2014 không quy định về chung sống như vợ chồng trái pháp luật, tuy nhiên, dựa trên điều luật này cùng các văn bản hướng dẫn khác có liên quan, ta chia chung sống như vợ chồng trái pháp luật thành các trường hợp cụ thể sau:
Trường hợp thứ nhất, chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên
dưới tuổi luật định
Theo khoản 3 Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 thì: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này” Mặt khác, Điểm b, khoản 2, điều 5 Luật HN&GĐ
Trang 32năm 2014 quy định cấm hành vi “tảo hôn” Do đó, có thể khẳng định, chung sống như vợ chồng dưới tuổi luật định không đăng ký kết hôn là chung sống như vợ chồng trái pháp luật
Mặc dù có thể hành vi chung sống như vợ chồng giữa những người mà một trong hai bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi là tự nguyện nhưng nó cũng sẽ gây ra những hậu quả không chỉ đối với bản thân, gia đình họ mà còn gây hậu quả đối với
xã hội Trước hết, trên cơ sở khoa học, phải đạt đến độ tuổi nhất định để tâm, sinh
lý phát triển toàn diện thì nam và nữ mới có thể thực hiện tốt chức năng sinh sản để duy trì nòi giống Do đó nếu chung sống như vợ chồng trong trường hợp này sẽ dẫn đến những ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của cả nam và nữ cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển bình thưởng của cả thế hệ sau Ngoài ra, đối với xã hội, chung sống như vợ chồng giữa những người mà một trong hai bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi sẽ làm cho chất lượng dân số thấp đi, tình trạng đói nghèo gia tăng và kéo theo nó là hàng loạt những hệ luỵ khác
Trường hợp thứ hai: Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mà một bên
hoặc cả hai bên đang có vợ có chồng (điểm c, khoản 2, điều 5 Luật HN&GĐ 2014) Vậy hiểu thế nào là một người đang có vợ, có chồng? Trước hết phải khẳng định khi một người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì được coi là đang có
vợ, có chồng Bên cạnh đó, việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà trước đây theo hướng dẫn của Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Thông
tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì cũng được coi là đang
có vợ, có chồng khi đáp ứng được những điều kiện nhất định Tuy nhiên, hiện nay Nghị quyết số 35/2000/QH10 đã hết hiệu lực; đồng thời Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ không đề cập tới vấn đề này Do đó, việc có áp dụng tương tự
để xử lý những trường hợp này trên thực tế hay không cần có hướng dẫn cụ thể
Trường hợp thứ ba là những trường hợp thuộc điểm d, khoản 2, điều 5,
“chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa
Trang 33người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con
rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”
Thứ nhất, đối với những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có
họ trong phạm vi ba đời, pháp luật quy định như vậy nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của thế hệ sau, đồng thời đó cũng là sự phù hợp với đạo đức, truyền thống, lễ nghĩa của người Việt Nam Về mặt khoa học, theo các chuyên gia y tế và sinh học, con cái của những cặp hôn nhân cận huyết có nguy cơ mắc các bệnh tật di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá, còi cọc, down hoặc kém phát triển về trí não Nguy cơ mắc các bệnh này của những đứa trẻ có cha mẹ cận huyết thống cao gấp 10 lần so với những đứa trẻ khác Như vậy, từ những trường hợp chung sống giữa những người có quan hệ huyết thống gần với nhau đã làm ảnh hưởng tới nòi giống, gây suy giảm chất lượng dân số ở nước ta
Thứ hai, với những trường hợp còn lại, mặc dù xét về mặt thực tế, những
người này không hề có quan hệ huyết thống với nhau, nhưng giữa họ lại tồn tại quan hệ cha mẹ - con và có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng… Đây không phải là quan hệ máu mủ ruột già nhưng luôn được xã hội đề cao và coi trọng, vì vậy việc pháp luật quy định để bảo vệ quan hệ này là hoàn toàn hợp lý
Ngoài ra, hiện nay với sự phát triển tân tiến của khoa học, trường hợp sinh con bằng phương pháp khoa học bên cạnh những mặt tích cực của nó còn tiềm ẩn nhiều “nguy cơ” có thể dẫn đến hôn nhân cận huyết Một trong những nguyên tắc
của việc sinh con theo phương pháp khoa học đó là nguyên tắc “vô danh” Có
nghĩa là người nhận tinh trùng, noãn, hoặc phôi không được biết danh tính cũng như
lý lịch của người cho và ngược lại người cho cũng không được biết các thông tin của người nhận Một người có thể cho tinh trùng nhiều người sẽ dẫn đến nhiều đứa trẻ sinh ra có cùng cha Nếu sau này chúng lớn lên lại vô tình chung sống với nhau
sẽ dẫn tới tình trạng hôn nhân cận huyết; hoặc như trường hợp con ngoài giá thú cũng vậy Trên phương diện pháp lý thì giữa những người này không hề có quan hệ
về mặt huyết thống nhưng trên thực tế thì lại tồn tại quan hệ này Nếu những người này vô tình chung sống với nhau thì rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý Do đó, hi
Trang 34vọng khi Luật hộ tịch có hiệu lực ngày 01/01/2016 sẽ cùng phối hợp để có cơ chế giải quyết vấn đề này Và khi đó, nếu về mặt thực tế chứng minh được những người
đó có quan hệ huyết thống nhưng lại chung sống với nhau như vợ chồng thì trường hợp đó cũng bị coi là chung sống trái pháp luật
Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là nhóm duy nhất có chế tài xử lý
Do đó, ta nhận thấy đây là các trường hợp nghiêm trọng hơn cả, ảnh hưởng không chỉ tới trật tự xã hội mà còn ảnh hưởng tới cả đạo đức và phong tục của người Việt Nam
Sở dĩ pháp luật quan tâm hơn hẳn và có khung pháp lý cụ thể cho những trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật là vì tính nghiêm trọng và tầm ảnh hưởng của nó Chung sống như vợ chồng trái pháp luật có ảnh hưởng tới lợi ích của người thứ ba là những người trong mối quan hệ hợp pháp được pháp luật bảo
vê, nhà nước và xã hội Lợi ích của người vợ/chồng hợp pháp nay bị xâm hại một cách trắng trợn Những người này sẽ phải chịu những tổn thương về mặt tinh thần,
họ sẽ mất dần đi niềm tin vào hôn nhân, vào giá trị tốt đẹp của gia đình, vào sự công bằng của pháp luật Đối với nhà nước, do những người này mất niềm tin vào pháp luật nên họ cũng đồng thời mất niềm tin vào sự quản lý của nhà nước Đồng thời, các giá trị truyền thống như quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ con, quan hệ huyết thống giữa những người có họ hàng với nhau nay cũng bị xâm phạm
1.2.2 Cách thức xử lý các trường hợp chung sống như vợ chồng theo Luật HN&GĐ
1.2.2.1 Quyền yêu cầu
Quyền yêu cầu ở đây được hiểu là người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
và xử lý các trường hợp chung sống như vợ chồng Theo nguyên tắc của Luật TTDS, Tòa án chỉ xét xử khi có đơn khởi kiện của cá nhân, của các tổ chức hoặc quyết định khởi tố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Luật HN&GĐ hiện hành chỉ quy định về việc thụ lý đơn yêu cầu ly hôn và hậu quả pháp lý đối với trường hợp không đăng ký kết hôn (Điều 53 Luật HN&GĐ) chứ chưa có quy định chủ thể nào có quyền yêu cầu giải quyết các trường hợp này
Trang 35Đối với trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật, mặc dù không có quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này nhưng theo ý kiến của tác giả, đây thuộc về quyền tự do của cá nhân, nó không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ cá nhân, tổ chức hay nhà nước Do đó, cũng không một ai có quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc chung sống của họ Vì vậy, thiết nghĩ, khi không có tranh chấp thì không ai có quyền yêu cầu; nếu xảy ra tranh chấp mà hai bên không thể tự thương lượng, thỏa thuận được thì nên quy định rằng hai cá nhân chung sống như vợ chồng đều có quyền yêu cầu chấm dứt việc chung sống
Trường hợp thứ hai là chung sống như vợ chồng trái pháp luật Như đã nhận định từ trước, đây là việc chung sống có tính chất và mức độ ảnh hưởng lớn, xâm hại tới quyền lợi của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Vì vậy mà quyền yêu cầu không nên chỉ được gói gọn cho hai bên tham gia chung sống mà nên chăng ta
mở rộng phạm vi này ra tương tự như Điều 10 Luật HN&GĐ về các chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Xét thấy, cả kết hôn trái pháp luật và chung sống như vợ chồng trái pháp luật, mặc dù có đặc điểm cũng như các quy định
về trường hợp cụ thể, cách thức xử lý là khác nhau nhưng đều có điểm chung là không chỉ ảnh hưởng tới hai cá nhân kết hôn mà còn ảnh hưởng tới gia đình hai bên, tới xã hội, tới nhà nước Do đó, theo tác giả, người có quyền yêu cầu xử lý chung sống như vợ chồng có thể quy định giống như người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật; bao gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người chung sống như vợ chồng; Cơ quan quản lý nhà nước
về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ
Bên cạnh đó, do không có quy định về chủ thể có quyền yêu cầu nên ta khó xác định được trình tự tiến hành giải quyết của một vụ việc Tòa án đã nhận đơn và chấp nhận thụ lý thì sẽ áp dụng theo quy định của Luật Tố tụng dân sự và theo trình
tự thụ lý-hòa giải-chuẩn bị xét xử-mở phiên tòa xét xử? Nhưng liệu Tòa án có thể từ chối thụ lý với lý do là không có quy định pháp luật? Theo tác giả, Tòa án không thể viện dẫn rằng vì không có điều khoản quy định chủ thể có quyền yêu cầu nên
Trang 36không thụ lý Bởi như vậy là hết sức mâu thuẫn với các quy định về giải quyết quan
hệ nhân thân, tài sản, con cái giữa những người này được quy định trong Luật HN&GĐ Nếu Tòa án không giải quyết thì làm sao các quy định này có thể được thực thi trên thực tế
Ngoài ra, có một vướng mắc còn tồn tại ở đây là liệu chung sống như vợ chồng giữa những người đồng giới, người chuyển giới thì họ có quyền yêu cầu để giải quyết vấn đề liên quan tới tài sản, con cái hay không?
1.2.2.2 Hậu quả pháp lý
Khoản 2 điều 53 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này” Như vậy, ta xét việc ly hôn giữa những người chung sống như vợ chồng dưới
ba khía cạnh như sau:
Đối với quan hệ nhân thân
Điều 14 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.”
Như vậy, giữa hai người này không tồn tại quan hệ nhân thân Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định từ điều 17 tới điều 23 Luật HN&GĐ 2014
Vợ chồng hợp pháp sẽ bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ (điều 17), sẽ được
tự do lựa chọn nơi cư trú (điều 20), được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín (điều 21), được tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (điều 22),…đồng thời được pháp luật bảo vệ các quyền và nghĩa vụ này Giữa hai bên chung sống như vợ chồng, do không được pháp luật công nhận nên không phát sinh và được pháp luật bảo vệ các quyền và nghĩa vụ nhân thân kể trên Và chính vì không có cơ chế bảo
vệ đối với chung sống như vợ chồng mà quyền lợi của các bên có thể dễ dàng bị xâm phạm
Trang 37Do đó, khi phát sinh tranh chấp giữa các bên trong quan hệ chung sống và họ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng chứ không công nhận ly hôn giữa hai bên Đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật thì Tòa án không tuyên bố xử hủy quan hệ này; còn đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật, tòa án sẽ tuyên bố buộc chấm dứt hành vi chung sống trái pháp luật
Tuy nhiên, do tinh thần của Luật hiện hành, không chỉ quan hệ nhân thân mà
cả tài sản, con cái đều chỉ áp dụng cho chung sống như vợ chồng giữa nam – nữ khi
họ có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký Đối với các trường hợp chung sống giữa những người cùng giới, chuyển giới thì không có bất kì quy phạm pháp luật nào điều chỉnh
BLDS 2005 hiện đang trong quá trình sửa đổi và lấy ý kiến, trong đó, như đã
đề cập ở những phần trên, chung sống như vợ chồng đang được nhìn nhận dưới góc
độ của một hợp đồng dân sự Nếu được thông qua đây sẽ được coi là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh Đồng thời cũng sẽ bao trọn được các nhóm chủ thể khác nhau của quan hệ
Đối với quan hệ tài sản
Điều 16 Luật HN&GĐ 2014 quy định về vấn đề này như sau:
“1 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”
Như vậy, trước hết cần khẳng định rằng, việc nhà làm luật ưu tiên giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của các bên nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo thỏa thuận giữa các bên là hợp lý Bởi, như đã nhận định, đây trước hết là quan hệ dân sự và vì vậy cần tôn trọng sự thỏa
Trang 38thuận này Tuy nhiên, quy định của Điều luật không đặt ra tình huống nếu thỏa thuận giữa các bên vô hiệu thì giải quyết ra sao? Có hay không đồng nhất việc thỏa thuận vô hiệu với không có thỏa thuận?
Trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau thì đối chiếu với các quy định tại BLDS, tài sản của những người chung sống như vợ chồng trong thời gian chung sống cùng nhau không thuộc sở hữu chung hợp nhất Tài sản do người nào tạo ra sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của người đó; tài sản được hai người cùng tạo ra thuộc sở hữu chung theo phần giữa họ, Tòa án khi phân chia phải căn cứ vào sự đóng góp của mỗi bên Tuy nhiên, trên thực tế xử lý, các Tòa gặp phải rất nhiều khó khăn và mỗi Tòa lại có cách thức xử lý riêng
Thứ nhất, để xác định tài sản có phải là sở hữu chung theo phần hay không ta thường dựa trên mốc thời gian mà hai bên tiến hành chung sống (tương tự như tài sản chung hợp nhất giữa vợ và chồng được xác định là tài sản trong thời kỳ hôn nhân); nhưng việc xác định mốc thời gian này là không hề đơn giản Có thể tài sản
họ tạo lập ra trong thời kỳ chung sống nhưng do không có điều gì làm căn cứ, phía bên kia cũng không thể chứng minh được bằng các loại giấy tờ gì nên họ đã gian lận
về thời điểm chung sống để tài sản là của riêng họ, do họ tạo dựng trước khi chung sống Hậu quả là người kia chịu thiệt thòi, đặc biệt là người phụ nữ, người mà trong gia đình không được coi là “trụ cột” Cũng như vậy, người có tài sản riêng phải chứng minh được tài sản đó là của mình Nếu không chứng minh được thì tài sản đó được coi là tài sản chung và đem chia
Thứ hai, “công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” Vậy, công việc khác có liên quan
phải hiểu là gì, hiểu như thế nào? Và, “lao động có thu nhập” được tính chính xác là thu nhập bao nhiêu? Điều luật quy định như vậy là hoàn toàn chưa rõ ràng, do đó có thể làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người phụ nữ Ngoài ra, cũng liên quan tới vấn
đề này, nếu xảy ra tranh chấp thì ta sẽ lấy tài sản nào để chia và bù trừ cho lao động
có thu nhập đó? Là tài sản riêng của người đàn ông hay tài sản chung của cả hai
Trang 39người? Rất nhiều câu hỏi ở đây còn bỏ ngỏ và cần có các quy định pháp luật cụ thể
để giải quyết triệt để
Chính vì quyền sở hữu ở đây là tách bạch nên các nghĩa vụ tài sản sẽ do một người có quyền xác lập Ngay cả trong trường hợp nghĩa vụ tài sản được xác lập nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, thì nghĩa vụ cũng chỉ ràng buộc chính người xác lập giao dịch Đối với tài sản là di sản một trong hai người tham gia quan hệ chung sống để lại sau khi chết thì về nguyên tắc, pháp luật không thừa nhận quyền thừa kế của người chung sống như vợ chồng đối với di sản của người chết trước Tuy nhiên, một khi quan hệ đã đặt cơ sở cho sự thành lập và phát triển của một gia đình thực sự, có cha mẹ và con và không có tranh chấp thì người còn sống thường được những người khác trong gia đình coi như là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của người chết, bên cạnh con cái và cha mẹ của người chết
Quy định của pháp luật đã đồng thời đảm bảo được sự tôn trọng thỏa thuận giữa các bên và lồng ghép bình đẳng giới Pháp luật nghiêng về bảo vệ quyền lợi bà
mẹ và trẻ em – những người yếu thế trong quan hệ Việc quy định như vậy có phần tương tự như quy định chia tài sản trong hôn nhân khi cũng nghiêng về phía bảo vệ người phụ nữ Quy định như vậy là phù hợp với thực tế khách quan nhưng còn thiếu
cụ thể Vì vậy kiến nghị các văn bản dưới Luật tiếp theo đây cần có sự bổ sung nhanh chóng để tạo ra sự thống nhất giữa các Tòa khi giải quyết
Đối với quan hệ giữa cha, mẹ, con
Chủ trương của các nhà làm luật từ trước tới nay đều là quan hệ cha mẹ con không bị ảnh hưởng bởi việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ giữa cha và
mẹ Đồng thời, quan hệ này cũng không phụ thuộc vào tính chất quan hệ giữa cha
và mẹ, nghĩa là dù cha mẹ có kết hôn hay không kết hôn thì vẫn tồn tại những quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con Tinh thần này tiếp tục được duy trì tới ngày
hôm nay và được cụ thể hóa bằng điều 15 Luật HN&GĐ 2014: “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này và quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con” Như vậy, những người
chung sống như vợ chồng nếu có con với nhau thì các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật