Ở Việt Nam theo quy định tại điều 1 luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em 2004 “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.” Điểm khác biệt giữa các định n
Trang 1Lời nói đầu
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về trẻ em Đấy là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi
họ tộc và mỗi gia đình…
Vì vậy nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên và nhi đồng là trách nhiệm của toàn xã hội Tại điều 25, Liên hợp quốc đã thông báo rằng: “Trẻ
em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt, tất cả trẻ em trong hay ngoài giá thú đều được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau”
Nhiều thập kỷ qua, việc chăm sóc trẻ em ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
đã được quan tâm ở những mức độ khác nhau, song do các yếu tố chủ quan và khách quan như thiên tai, mất mùa, chiến tranh, hoặc do trình độ dân trí thấp… trẻ
em vẫn còn phải gánh chịu những nỗi đau, những thiệt thòi, trẻ em vẫn bị đói rét và vẫn bị giết hại trong những cuộc chiến, thậm chí vẫn bị bắt buộc cầm súng ra trận, hoặc phải tự lao động nuôi thân quá sớm, hoặc bị mua bán, xâm hại…
Việt Nam ta là một trong những nước đi đầu trong việc phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em Nước ta cũng là nước tích cực thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc về xóa đói giảm nghèo, từ đấy tạo điều kiện chăm lo tốt hơn những trẻ em vốn sinh ra trong những gia đình nghèo khó
Song vẫn còn nhiều vấn đề cần có sự quan tâm của cả xã hội, của mỗi gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em – những mầm non tương lai của đất nước
Chính vì vậy, nhóm em xin chọn đề tài: “ Các quyền cơ bản của trẻ em – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Trong quá trình tìm hiểu tư liệu chắc chắn không khỏi nhầm lẫn và thiếu sót Vì vậy chúng em rất mong thày ( cô) thông cảm
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2I Cơ sở lý luận về quyền trẻ em
1 Khái niệm trẻ em và một số khái niệm liên quan:
1.1 Khái niệm trẻ em
Trẻ em là gì ? đó là một câu hỏi khó khi chúng ta đề cập đến nó dưới các góc góc độ khác nhau thì sẽ cho những định nghĩa khác
Theo như từ điển xã hội học thì “ trẻ em là nhóm ở trong quá trình xã hội hóa những kĩ năng và tri thức để có thể tham gia các hoạt động độc lập, nói đúng hơn đó là giai đoạn đầu tiên của xã hội hóa ”
Dưới góc độ pháp lí thì : Theo quan điểm của ủy ban quyền con người được
cụ thể hóa ỏ điều 1 của công ước về quyền trẻ em năm 1989 thì “ trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng quy định tuổi trưởng thành sớm hơn” Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau thì giới hạn tuổi cũng có sự khác
biệt tùy thuộc vào tình hình mỗi quốc gia Ở Việt Nam theo quy định tại điều 1 luật
bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em 2004 “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.”
Điểm khác biệt giữa các định nghĩa về trẻ em là ở chỗ dưới góc độ pháp lý thì tiếp cận trẻ em với tư cách chủ thể có địa vị pháp lí Điều đó có nghĩa là trẻ em
là những người có quyền, có bổn phận và là đối tượng bảo vệ của của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.2 Định nghĩa quyền trẻ em:
Trước hết để hiểu rõ về quyền trẻ em thì chúng ta cần phải biết quyền là gì?
Quyền là những đòi hỏi cơ bản của một con người phải được hưởng hoặc được làm.quyền được công nhận về mặt pháp lí, nó quy định trách nhiệm, nghĩa vụ buộc người khác phải tôn trọng, bảo vệ và đáp ứng
Chúng ta có thể nhận thấy, quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng ngày nay trở thành vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế Trẻ em ở tất cả các nước trên thế giới vẫn còn sống trong những điều kiện khó khăn và chúng cần được quan tâm đặc biệt
Trang 3Quyền trẻ em là tất cả những gì cần có để trẻ em được sống và phất triển một cánh toàn diện và lành mạnh và an toàn Về mặt bản chất quyền trẻ em là
quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp nhu cầu và đặc trưng phát triển và tính cánh cuộc sổng của trẻ em
Trẻ em là chủ thể của hiện tại và là những người xây dựng tương lai Đó là những đối tượng dễ bị tổn thương và có ảnh hưởng lâu dài về cả mặt sức khỏa cũng như tâm lí Việc nghi nhận quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trể em không chỉ là đối tượng tiếp thu thụ động với người lớn mà trở thành chủ thể có quyền, có khả năng tạo dựng cuộc sống phù hợp dảm bảo lợi ích được phát triển một cách toàn diện của trẻ em Việc quy định quyền của trẻ em còn là cơ sở đề các nhà làm luật xây dựng các biện pháp để đảm bảo việc trẻ em được hưởng đúng các quyền đó
2 Nội dung về các quyền cơ bản của trẻ em:
Trên thế giới, trước khi Liên hợp quốc được thành lập, các quốc gia đã thông
qua Tuyên ngôn Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em khẳng định trẻ em cần được chăm
sóc đặc biệt Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: "Tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam
nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo"
Tuy nhiên, tại Việt Nam có thể nhận thấy “ quyền trẻ em” với tư cách là một
khái niệm mới vể mặt chủ thể vì khái niệm này lần đầu tiên được dùng tại đại hội đảng lần thứ IX Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em Bằng chứng là Việt Nam sớm có Luật quốc gia cam kết thực hiện Công ước quyền trẻ em (Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004) theo Luật pháp Việt Nam thì Quyền trẻ em
và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước
Luật đã quy định trẻ em có 10 quyền cơ bản của trẻ em từ điều 10 đến điều
20 của luật BVCS&GDTE gồm các quyền như sau : Quyền được khai sinh và có
quốc tịch ; Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng ;Quyền sống chung với cha mẹ ; Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự ; Quyền được chăm sóc sức khoẻ ; Quyền được học tậpQuyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch ; Quyền được phát triển năng khiếu; Quyền có tài sản; Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
2 1 Quyền được khai sinh và có quốc tịch
Trang 4Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ
em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Theo quy định của pháp luật thì
“Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh" (Điều 29 Bộ Luật Dân sự năm 2005)
Đăng ký khai sinh nhằm xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người mà được pháp luật công nhận và làm căn cứ pháp lý chứng minh đó là một cá nhân, một chủ thể riêng biệt trong xã hội Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của một cá nhân Mọi
hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em thuộc trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ của trẻ em
Khoản 2 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ
em chưa xác định được cha, mẹ nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha, mẹ theo quy định của pháp luật”
Việc xác định cha, mẹ, con và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện theo Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật về hộ tịch
2 2 Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng
Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cụ thể hóa quy định tại
Hiến pháp năm 1992 về một trong các quyền cơ bản của trẻ em Đó là “quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”.
Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần
ở mức cao nhất có thể có, với mức sống ngày càng được nâng cao là quyền của trẻ
em và mục tiêu phấn đấu chung của gia đình, Nhà nước và xã hội Điều 65 Hiến
pháp năm 1992 ghi nhận "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
2.3 Quyền sống chung với cha mẹ
Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha
Trang 5mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em” Theo quy định của pháp luật thì cha mẹ
có nghĩa vụ và quyền sống chung với con Như vậy, cả cha mẹ và con chưa thành niên đều có quyền sống chung, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em
Quy định này hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa thêm các quy định tại Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành Theo các quy định đó thì: Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em,
kể cả trong trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi, thì việc giao nhận con nuôi phải tuân theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ
em đó Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ và trẻ em, trừ trường hợp người có thẩm quyền thực hiện pháp luật quyết định để bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em
2 4 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự
Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự” Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về các quyền này của công dân như sau: Khoản 1 Điều 32 quy định "Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể"; Điều 37 quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, trẻ em còn nhỏ tuổi và thường được coi là người phụ thuộc, nên trong quan
hệ của gia đình và xã hội, vẫn còn nhiều cha mẹ, anh chị em và người lớn hay coi thường trẻ em, gọi là “trẻ con”, mắng chửi trẻ em đến mức không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ em Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm làm thay đổi quan niệm và hành vi đối xử với trẻ em theo hướng tôn trọng quyền này của trẻ em
2 5 Quyền được chăm sóc sức khoẻ
Khoản 1 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ
em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ” Khoản 1 Điều 1 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định “Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường và được phục vụ về chuyên môn y tế”
Trang 62 6 Quyền được học tập
Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ
em có quyền được học tập” Pháp luật nước ta đã khẳng định "Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân" Mọi công dân không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành
Khoản 2 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ
em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” Theo quy định của pháp luật, giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ
em từ sáu tuổi đến mười bốn tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5) Vì vậy " Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập" (Khoản 2 Điều 11 Luật giáo dục năm 2005) Đến năm 2002, đã có 100 % số tỉnh, thành phố hoàn thành giáo dục phổ cập bậc tiểu học và 19 tỉnh, thành phố đạt trình
độ giáo dục phổ cập bậc trung học cơ sở
2 7 Quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao
Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” Vui chơi giải trí là nhu cầu của con người, song đối với trẻ em thì được pháp luật thừa nhận là một quyền, điều này xuất phát
từ đặc điểm của trẻ em và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Quyền vui chơi giải trí lành mạnh không những là nhu cầu mà còn là điều kiện để trẻ em phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần Vì vậy, thực hiện quyền vui chơi, giải trí của trẻ em chính là chuẩn bị tâm lý, sự năng động, sự thích nghi trong một xã hội công nghiệp với hoạt động trí óc là chủ yếu
2 8 Quyền được phát triển năng khiếu
Điều 18 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển” Quy định này là sự khẳng định chủ trương, chính sách và việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn nhằm phát huy tốt nhất năng lực, sở trường của trẻ em ngay từ nhỏ để hướng dẫn, bồi dưỡng và đào tạo để trở thành nhân tài phục vụ đất nước
2 9 Quyền có tài sản
Trang 7Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật” Khoản 1 Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định "Con có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác"
2.10 Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, hoạt động xã hội
Khoản 1 Điều 20 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em “Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm” Quy định này xuất phát từ
quan niệm trẻ em là những công dân có đầy tiềm năng, có hiểu biết, có quan điểm riêng, có cách làm sáng tạo, có ý chí và bản lĩnh xây dựng xã hội tương lai tốt đẹp hơn
Khoản 2 Điều 20 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ
em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình”.
Hoạt động xã hội là nhu cầu trẻ em nói riêng và của mọi công dân nói chung, để trẻ em thực hiện được quyền này và thực hiện có hiệu qủa thì xã hội, nhất là Đoàn thanh niên, Hội đồng đội, nhà trường, nhà văn hóa, nhà thiếu nhi phải đứng ra tổ chức các phong trào cho trẻ em thông qua các tổ chức xã hội của chính trẻ em như Đội thiếu niên, sao nhi đồng, các câu lạc bộ của trẻ em
II Thực tiễn quyền trẻ em hiện nay
1 Thành tựu đạt được
Hiện nay ở nước ta cũng đã ban hành khá nhiều văn bản luật và dưới luật qui định về quyền trẻ em Điều này góp phần quan trọng vào các thành tựu trong việc thực hiện quyền trẻ em Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quyền trẻ em đã tập trung vào nguyên tắc bình đẳng quyền và phúc lợi của trẻ em với quan điểm bình đẳng, không phân biệt đối xử, chú trọng đến quyền được tiếp cận thông tin, giáo dục, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột lao động, chống mại dâm, buôn bán trẻ em Đề cao vai trò, trách nhiệm của gia đình và bước đầu có chính sách hỗ trợ đối với các gia đình khó khăn để đảm bảo thực quyền quyền trẻ em Có thể nói, các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan
Trang 8đến quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền trẻ em đồng thời đánh dấu bước đáng kể của hệ thống pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam
Bên cạnh đó, một hệ thống các thiết chế được thành lập để huy động các lực lượng, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cá nhân cho các chương trình hành động vì trẻ em
Mặt khác, do các tác độnh của các hành động thực hiện luật làm hình thành những động thái tích cực về mặt xã hội tác động đến đời sống tinh thần của trẻ em Hiện nay, các bậc phụ huynh đã lắng nghe và tôn trọng ý kiến của con em mình hơn, trẻ em đã mạnh dạn hơn trong việc bày tỏ quan điểm của mình và tham gia các hoạt động xã hội, bày tỏ ý kiến trên phương tiện thông tin đại chúng Trên toàn quốc hiện nay đã có 653 báo và tạp chí phần lớn đều có chuyên mục dành riêng cho trẻ em, trong đó có 15 tờ báo dành riêng cho trẻ em
Kết quả của các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã hiện thực thành nhiều công trình như nhà thiếu nhi, nhà trẻ, trường học, bệnh viện nhiều phong trào và chương trình mang lại thành quả thiết thực như ánh mắt trẻ em, tháng hành động vì trẻ em
Nhiều mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã được xây dựng và mở rộng như mô hình mái ấm, nhà tình thương
Có thể thấy được, sau khi phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em cùng với việc xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói riêng và việc hình thành hệ thống các thiết chế đã tạo ra khuôn khổ pháp lý, môi trường thuận lợi đối với việc thực hiện quyền trẻ em
2 Hạn chế
Thực tế, hiện nay phần lớn các bậc phụ huynh chưa nhận thức được đầy đủ việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ( có khoảng 80 % gia đình biết có Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em) Các bậc phụ huynh cần nhận thức được mình là người đầu tiên chịu trách nhiệm về con cái và cần dành điều kiện tốt cho
sự phát triển của trẻ em Vậy mà nhiều gia đình vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
Trang 9của việc thực hiện quyền trẻ em Như khi con ốm đau, bệnh tật cha mẹ không đưa con đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh kịp thời, việc chăm lo học tập cho trẻ em trong gia đình còn chênh lệch giữa các vùng, các dân tộc Nhiều gia đình có trẻ em
đi lang thang, lao động làm thuê và dính vào các tệ nạn xã hội
Trên thực tế, trẻ em Việt Nam, đặc biệt là trẻ em nông thôn, vùng sâu vùng
xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn phải đối mặt với nhiều nguy cơ trong cuộc sống Trẻ
em, đặc biệt là các em gái, đang là nạn nhân trực tiếp và không có khả năng tự bảo
vệ trước nạn bạo lực gia đình và bạo lực học đường, những vấn đề đang ngày càng nhức nhối và thách thức trong xã hội Việt Nam hiện nay
Đối với quyền sống còn là một trong những quyền tối quan trọng của trẻ em
là quyền là làm nảy sinh các quyền khác của trẻ em Nhưng thực tế hiện nay tình trạng vứt bỏ trẻ sơ sinh là khá nhiều Thậm chí những đứa trẻ còn chưa hoàn thiện hết hình hài cũng bị phá bỏ Ngoài ra tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi khá nhiều, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi còn cao (31,1% và 32%) hầu hết tập trung ở các đối tượng trẻ em khó khăn, trẻ em miền núi Việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi còn nhiều khó khăn và có những vấn đề chưa hợp lý
Đối với quyền được bảo vệ Trẻ em dân tộc thiểu số chưa được hưởng đầy
đủ sự chăm sóc y tế, học tập, vui chơi giải trí trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em lang thang phần lớn chưa được chăm sóc, giáo dục
Đối với quyền tham gia, bày tỏ ý kiến và tôn trọng ý kiến của trẻ em chưa được thực hiện đầy đủ Về phương diện xã hội, quyền tham gia của trẻ em mới chỉ mang tính chất phong trào hoặc theo yêu cầu của người lớn Các em chưa được nói lên những suy nghĩ, bày tỏ quan điểm của mình, các em vẫn bị người lớn cho rằng còn trẻ con, chưa biết nhiều nên không hề được đề cao, coi trọng
Trang 10Đối với quyền phát triển, hiện nay mới có khoảng 50% trẻ em mầm non đến trường, 558 xã chưa có giáo dục mầm non Vẫn còn trên 10% trẻ em chưa biết chữ, giáo dục trung học cơ sở mới đạt được trên 80%, giáo dục cho trẻ em khuyết tật mới triển khai ở 39 tỉnh, 49 huyện Quyền vui chơi, giải trí của trẻ em còn nhiều hạn chế Cả nước trung bình mới có 51% cấp huyện và 10% cấp xã có điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em Nhiều trung tâm vui chơi, giải trí, nhà thiếu nhi cơ sở vật chất còn nghèo nàn, xuống cấp không đảm bảo tiêu chuẩn Nhiều nơi còn chưa có trường lớp mầm non ( 588 xã) Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu, vẫn còn các lớp học tranh, tre, nứa, lá, trang thiết bị lạc hậu, chương trình học tập, sách giáo khoa không đồng bộ, phương pháp chính sách giáo dục trẻ em chậm đổi mới, đội ngũ giáo viên miền núi còn thiếu chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục
Nhiều trẻ em cũng chưa được tiếp cận và hưởng thụ đúng mức những điều kiện vệ sinh, nước sạch, môi trường cũng như chất lượng giáo dục và y tế Đói nghèo đang đẩy nhiều em nhỏ ra khỏi gia đình và trường học, và đẩy các em ra đường kiếm sống, đối mặt với hàng loạt nguy cơ về ma túy, mại dâm, tệ nạn xã hội Điều đó cho thấy quyền cơ bản của trẻ em được chăm sóc y tế và tồn tại, được bảo vệ khỏi bạo lực ra đình, được học hành và được sống trong môi trường thân thiện vẫn chưa được bảo đảm Những nguy cơ đối với các em trong cuộc sống nhiều khi chưa được người lớn và những người có trách nhiệm nhận thức một cách đầy đủ
III.Kết luận
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về
trẻ em Đấy là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc và mỗi gia đình…
Nước ta, mặc dù đã có nhiều chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em, tuy nhiên vẫn chưa có thể yên tâm về những việc đã làm được mà phải thấy hết những mặt còn tồn tại Vẫn còn không ít trẻ em sống trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn mọi bề, chưa được ăn no mặc ấm, chưa được đi học, phải lao động quá sức mình, thậm chí
có nơi có lúc còn xảy ra tình trạng bạo hành hay buôn bán trẻ em