1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Về di chúc chung của vợ chồng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

21 550 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 515,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nha

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

Có thể nói, từ trước đến nay, những vấn đề liên quan đến tài sản chung của

vợ chồng luôn là những vấn đề được quan tâm, tìm hiểu và chú ý nhiều nhất Khi hai người nam nữ chưa bước vào hôn nhân, họ là những người có tài sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình Nhưng khi bước vào hôn nhân, điều đó đã khác Nó biểu hiện ở việc: trong thời kì hôn nhân, hai người phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi Lợi ích của họ

vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích gia đình Bên cạnh những vấn đề liên quan đến quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mỗi cá nhân vợ hoặc chồng thì còn có những vấn đề liên quan đến di chúc chung của vợ chồng Đó chính là những vấn đề về quyền lập di chúc chung của vợ chồng, về hiệu lực của di chúc chung đó, về tài sản thừa kế chưa chia Những vấn đề tưởng chừng như đơn giản, không có gì phải bàn cãi hay tranh luận vì chúng đã được thừa nhận về mặt pháp lý lại có nhiều bất cập khi thực sự được đưa ra và áp dụng vào thực tế cuộc sống

Chính vì vậy, việc tìm hiểu những vấn đề về “Di chúc chung của vợ chồng”

là một việc cần thiết, quan trọng Và để có thể hiểu rõ hơn cũng như để nắm được những vấn đề có liên quan đến di chúc chung của vợ chồng, cá nhân em đã chọn

đề tài: “Về di chúc chung của vợ chồng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

Trang 2

II.PHẦN NỘI DUNG

1.Một số lý luận về di chúc chung của vợ chồng

1.1 Lịch sử về di chúc chung của vợ chồng

Trong tục lệ của ta, việc lập di chúc chung của vợ chồng là một việc được thừa nhận Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc chung là hiện tượng phổ biến Bởi

lẽ truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, coi đó như

là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ - chồng Quá trình nghiên cứu các bộ Dân luật của các chế độ trước thì thấy các bộ Dân luật Bắc và Dân luật Trung đều thừa nhận việc lập di chúc chung của vợ chồng Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng cho phép vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung Còn pháp luật hiện hành của Nhà nước ta, thông tư 81-Tòa án nhân dân tối cao ngày 24/7/1981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ chồng Pháp lệnh Thừa

kế 1990 tuy không trực tiếp qui định về di chúc chung của vợ chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được qui định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 Các qui định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với qui định của BLDS 1995

1.2.Nội dung pháp luật điều chỉnh về di chúc chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS quy định về di chúc chung của vợ chồng: “Vợ, chồng có thể

có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”

Về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng, Điều 664

BLDS quy định: “1.Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

Trang 3

chung bất cứ lúc nào 2.Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy

bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.” Với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản, vợ chồng có quyền lập

di chúc chung theo thỏa thuận Do vậy, khi sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì vợ chồng cùng nhất trí thực hiện hoặc đồng ý cho một người thực hiện các hành vi đó Vợ, chồng có quyền lập chung di chúc định đoạt tài sản chung hợp nhất có được trong thời kì hôn nhân hợp pháp cho những người thừa kế được chỉ định Nhưng sau đó, vợ hoặc chồng chết trước, người vợ hoặc người chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc liên quan đến phần tài sản của mình, còn phần di sản của người chồng hoặc người vợ chết trước vẫn giữ nguyên như đã định đoạt trong di chúc chung Việc người vợ hoặc người chồng còn sống

đã thay đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ phần của di chúc tương ứng với phần tài sản riêng của mình sau khi đã xác định di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trước từ khối di sản chung hợp nhất đã dẫn đến hậu quả di chúc chung của vợ chồng không còn tồn tại Việc chia di sản của người chết trước là dựa trên phần di chúc tương ứng với phần tài sản của người chết trước xác định được Theo đó, phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trước có hiệu lực thi hành, chia thừa kế theo phần di chúc của người chết trước tương ứng với di sản của người chết trước cho những người thừa kế được chỉ định Trong trường hợp phân chia tài sản của người chồng hoặc người vợ chết trước, phải xác định được người

vợ hoặc người chồng của người chết trước đó được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS Vì khi vợ, chồng người này lập chung di chúc thì không thể có tên người chồng hoặc người vợ được thừa

kế theo di chúc tai sản của chính mình Bên cạnh đó, nếu khi còn sống mà người chồng hoặc người vợ của người chết trước đã không thay đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ phần di chúc liên quan đến tài sản của mình thì cách chia di sản của người chết trước sẽ không được thực hiện Và khi đó hiệu lực di chúc chung của vợ

Trang 4

trước chết sau Theo đó, hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng được

quy định tại Điều 668 BLDS: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” được thể hiện

2.Thực trạng và những bất cập xung quanh vấn đề di chúc chung của vợ chồng được quy định trong BLDS năm 2005

2.1.Về quyền lập di chúc chung của vợ chồng

Điều 646 BLDS 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Theo đó, di chúc

được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Di chúc không thể là giao dịch dành cho mọi chủ thể hay một cộng đồng chủ thể Mặt khác, vấn đề thừa kế di sản là vấn đề pháp lý liên quan tới thân trạng

và quyền lợi vật chất của một cá nhân, được tiến hành sau khi cá nhân chết Như vậy, Điều 663 qui định di chúc chung của vợ, chồng đã tạo ra sự mâu thuẫn so với Điều 646 nói trên Mặt khác, việc thừa nhận di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý phức tạp khác rất khó xử lý về mặt kỹ thuật pháp lý Ví dụ như xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung, chấm dứt di chúc chung

Tuy vậy, nếu thiên về nguyên tắc củng cố tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình, thì việc qui định về di chúc chung của vợ, chồng là điều cần thiết Bởi trong quan điểm của tục lệ và pháp luật của các chế độ trước, việc thừa nhận quyền lập di chúc chung không chỉ để củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình,

mà việc lập di chúc chung, trước hết, là nhằm tạo ra giải pháp phòng ngừa, tạo ra

sự chế ước đối với người chủ gia đình, theo quan điểm phụ hệ, để bảo vệ quyền thừa kế của những người thân thích khác trong gia đình

2.2.Về nội dung và mục đích

Trang 5

Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung” Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là để định

đoạt tài sản chung của vợ, chồng Nếu vợ, chồng chỉ có tài sản chung thì sẽ chẳng

có vấn đề gì rắc rối Nhưng sẽ phức tạp, nếu vợ, chồng vừa có tài sản chung, vừa

có tài sản riêng, và họ lại muốn định đoạt cả hai loại tài sản này trong cùng một di chúc Trong trường hợp đó, sẽ có nhiều vấn đề pháp lý đặt ra rất khó xử lý, như: việc xác định vấn đề hiệu lực của di chúc chung; phần di chúc định đoạt tài sản riêng có phải là một di chúc riêng; sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa Đây là những vấn đề pháp lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được

Như vậy, nếu qui định trên được thực hiện đúng, thì vợ, chồng không thể dùng di chúc chung để định đoạt tài sản riêng của mình Điều này sẽ dẫn tới hai hệ quả là:

+ Khi vợ, chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ được định đoạt tài sản chung Nếu vợ, chồng muốn định đoạt phần tài sản riêng, thì họ phải lập một tờ di chúc khác Sẽ phức tạp nếu một người có nhiều sản nghiệp khác nhau (tài sản riêng hoặc tài sản với vợ hay chồng hợp pháp khác) Điều này sẽ gây ra trở ngại tâm lý không nhỏ khi người ta muốn lập di chúc chung, vì như thế sẽ tạo ra thêm nhiều khó khăn cho các bên liên quan, như phải lập nhiều tờ di chúc khác nhau, thay vì chỉ cần duy nhất một tờ di chúc

+ Nếu trong di chúc chung vợ - chồng định đoạt cả tài sản chung và tài sản riêng thì di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau Điều này dẫn tới việc, chỉ dựa vào một tờ di chúc, người ta phải chia thừa kế nhiều lần trên cùng sản nghiệp của một người Từ đó sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, như việc xác định người thừa kế bắt buộc, người thừa kế thế vị; sự ra đời của những người mới nằm trong hàng thừa kế, sau khi một bên vợ hoặc chồng chết mà di chúc

Trang 6

chung vẫn chưa phát sinh hiệu lực; cơ sở để xác định giá trị một suất di sản bắt buộc là những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết

Ngoài ra, BLDS 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc chung Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không?

Di chúc vốn là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù Việc cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã

biến loại giao dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm thay đổi bản chất pháp lý của di chúc Pháp luật của các chế độ trước

tuy có thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, nhưng luôn cấm vợ, chồng lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau Điều 572 Bộ Dân luật Sài Gòn qui

định: “ hai người không thể cùng làm chung một chúc thư lưỡng tương đắc lợi”, tức thừa kế lẫn nhau Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán vợ, chồng

lập di chúc chung thừa kế lẫn nhau, chẳng những sẽ không đạt được mục đích tăng cường tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mà có thể còn gây nên nhiều hệ luỵ không thể lường trước được, như: sự thông đồng giữa vợ, chồng lập di chúc giả tạo để che đậy những hành vi trái pháp luật; hoặc làm gia tăng nguy cơ khiến các bên phản bội, lừa dối, giả mạo di chúc, hoặc thậm chí, tạo cơ hội cho các bên thực hiện âm mưu xấu nhằm trục lợi bất chính di sản của nhau

2.3 Về quyền lợi của người thừa kế được chỉ định

Vấn đề thừa kế bắt buộc đối với di sản của cá nhân được qui định rõ tại Điều

699 BLDS 2005 Theo đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên mà không có khả năng lao động) có quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, nếu họ không được hưởng hoặc thực tế được hưởng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật Tình huống đặt ra là, di chúc chung chỉ để lại thừa kế cho một số người mà không dành phần di sản cho những người thừa kế bắt buộc kể trên và cũng không

Trang 7

dành phần di sản cho một bên vợ hoặc chồng, thì những người đó có được chia thừa kế bắt buộc không? Đây chính là những vấn đề chưa được BLDS 2005 làm

rõ, nên chắc chắn sẽ dẫn tới nhiều vướng mắc trong việc thực thi pháp luật Không loại trừ trường hợp người vợ hay người chồng còn sống, vì lý do nào đó, đã khởi kiện đòi hưởng thừa kế bắt buộc từ phần di sản của người kia trong di chúc chung thì cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết

2.4.Về hiệu lực của di chúc

Di chúc chỉ thi hành được kể từ thời điểm mở thừa kế, đó là thời điểm người

để lại di sản chết hoặc được xác định là đã chết theo một bản án tuyên bố người đó chết có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại Điều 668 BLDS, dường như các nhà làm luật chỉ chú tâm vào thời điểm có hiệu lực của di chúc chung đó mà không quan tâm đến tính hiện thực và nguyên tắc pháp luật thừa kế đồng thời không có

sự cá biệt hóa từng chủ thể là vợ hoặc chồng đã cùng lập di chúc chung

Theo quy định tại Điều 668 BLDS thì di chúc do vợ chồng lập chung chỉ có hiệu lực thi hành vào thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ hoặc chồng cùng chết Trên thực tế, đối với một cặp vợ chồng cụ thể nào đó lập chung

di chúc nhưng sau đó hoặc là người vợ chết trước hoặc là người chồng chết trước (sự kiện phổ biến trong cuộc sống) thì việc chia di sản của người chết trước đó là

do những người có quyền thừa kế yêu cầu, khi họ không thể thỏa thuận được hoặc

do tâm lý không thể chờ đợi lâu hơn Bên cạnh đó, di sản thừa kế chưa được chia

do người sau cùng là chồng hoặc vợ chưa chết và do hiệu lực của di chúc vợ chồng lập chung thì hiệu quả sử dụng tài sản do người còn sống quản lý, có thể dẫn đến hậu quả gây lãng phí và có thể giảm sút bởi những lí do không lường trước được Quan hệ thừa kế di sản là quan hệ tài sản mang tính chất ý chí và ý chí của nững người thừa kế là được chia di sản nhưng lại bị ngăn chặn bởi luật định Quy định

về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng là quy định chưa phù hợp với thực tế Và với quy định này, Điều 668 BLDS đã gián tiếp tạo ra những điều

Trang 8

kiện cho những bất ổn trong mối quan hệ giữa những người thừa kế theo di chúc chung của vợ chồng và người quản lý tài sản

Di sản thừa kế có thể bị chiếm đoạt do hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng Bởi vì việc chia di sản chỉ được phép tiến hành sau khi người sau cùng chết nên khi người quản lý di sản còn sống, những người thừa kế theo di chúc không thể yêu cầu xác định khối tài sản của vợ chồng người lập di chúc chung, đặc biệt là khối tài sản của người chồng hoặc người vợ chết trước có bao nhiêu trong khối tài sản chung đó Nếu người chồng hoặc người vợ khi còn sống đã lạm dụng quy định của pháp luật, không khai thác tài sản theo mục đích sinh lợi mà tẩu tán tài sản vì những mục đích không lành mạnh, hoặc chi tiêu hoang phí làm hao tán tài sản chung, cho đến khi người vợ hoặc chồng là người chết sau cùng, tài sản còn rất ít hoặc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì người thừa kế theo di chúc trong trường hợp này đã bị thiệt hại

Nếu có trường hợp, khi còn sống, người chồng hoặc người vợ chết trước có nghĩa vụ tài sản với người khác do có hành vi gây thiệt hại, hoặc do vay tài sản…thì quyền tài sản của những người mà người chồng hoặc vợ chết trước phải

có nghĩa vụ liệu sẽ được giải quyết thế nào khi trên thực tế những người thừa kế chưa được hưởng tài sản Hay nếu như có người vợ hoặc chồng còn sống thì nghĩa

vụ thanh toán từ tài sản của người chết để lại với tư cách là người thừa kế hay người được ủy nhiệm thì điều này chưa được pháp luật quy định

2.5 Về di sản thừa kế chưa chia

Do hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng xác định từ thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm vợ chồng cùng chết, vì vậy người chồng hoặc người vợ còn sống vẫn quản lý, sử dụng tài sản chung Người vợ hoặc chồng còn sống vừa với tư cách là người sở hữu phần tài sản của mình, vừa với tư cách sử dụng tài sản của những người thừa kế theo di chúc, phần tài sản mà người thừa kế theo di chúc được hưởng nhưng chưa được chia Một câu hỏi được đặt ra là: hiệu

Trang 9

lực của di chúc phát sinh từ thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản nhưng do người đó đã lập di chúc với vợ hoặc chồng của mình mà hiệu lực chia tài sản thừa

kế của người chết trước chưa thực hiện được Quy định này không phù hợp với đời sống thực tế và hiệu quả điều chỉnh không thể cao

Di sản thừa kế cũng không thể hiểu là tồn tại ở dạng tĩnh mà phải đặt nó trong mối quan hệ với xã hội sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và di sản phải được khai thác để phát sinh lợi nhuận Trong chừng mực nhất định, di sản thừa kế chưa được chia còn được hiểu như khoản vốn cần sử dụng vào sản xuất, kinh doanh Nếu trong thời gian người vợ hoặc chồng còn sống sử dụng di sản chưa chia của người chồng hoặc vợ chết trước vào sản xuất kinh doanh, thu được lợi nhuận thì đó là di sản thừa kế hay thuộc quyền sở hữu của người vợ hoặc chồng còn sống đó Đây thực sự là một vấn đề cần được quan tâm

3.Một số phương hướng, kiến nghị đưa ra nhằm giải quyết những bất cập về vấn đề di chúc chung của vợ chồng

3.1.Định hướng chung

3.1.1 Cần tách vấn đề di chúc chung của vợ, chồng ra khỏi quy định chung về

di chúc cá nhân và thiết kế thành một mục mới trong BLDS 2005

Tuy di chúc chung của vợ, chồng cũng có những đặc điểm giống như một di chúc thông thường do cá nhân lập ra, nhưng di chúc chung còn có những đặc thù, như: do ý chí của hai cá nhân là vợ – chồng cùng tham gia định đoạt, dựa trên quan

hệ hôn nhân đang còn hiệu lực của hai người đó; dùng để định đoạt khối tài sản chung của vợ, chồng; vợ, chồng có thể thỏa thuận các nội dung của di chúc chung; chỉ được sửa đổi khi có sự đồng của vợ chồng nếu cả hai đều còn sống, và được sửa đổi riêng phần di chúc trong giới hạn phần tài sản của mình trong khối tài sản chung nếu một bên đã chết

Trang 10

Như đã xác định, di chúc chung cũng là một loại di chúc, nên phải tuân thủ các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của di chúc, về thời điểm phát sinh quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức, về thời hiệu khởi kiện thừa kế, về thực hiện việc phân chia tài sản theo di chúc, về quyền thừa kế của những người thừa kế bắt buộc… Ngoài ra, còn có những nội dung khác liên quan đến thời hiệu khởi kiện,

sự bảo toàn giá trị khối di sản là tài sản chung cho đến khi chia di sản theo di chúc chung, quyền thừa kế của những người thừa kế bắt buộc, quyền khởi kiện để xin tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu do được lập không hợp pháp

Bởi vậy, cần quán triệt quan điểm tách quy định về di chúc chung thành một mục riêng nhằm đảm bảo tính đặc thù của các quy định này, đồng thời dự liệu đầy

đủ các nội dung khác nhau của di chúc chung Cụ thể, quy định về di chúc chung

sẽ được thiết kế thành một mục riêng – mục 2 của Chương thừa kế theo di chúc

trong BLDS 2005 Theo đó, Chương thừa kế theo di chúc sẽ có hai mục là: mục 1 quy định chung về di chúc và thừa kế theo di chúc; mục 2 quy định về di chúc

chung của vợ, chồng Bên cạnh đó, các quy định về di chúc chung của vợ chồng phải được quy định sao cho nhất quán với các quy định khác có liên quan

3.1.2 Cần có cách tiếp cận mềm dẻo hơn về vấn đề thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là một vấn đề pháp lý quan trọng nhằm xác định thời điểm phát sinh quyền thừa kế của những người thừa kế theo di chúc chung, cũng như có ảnh hưởng trực tiếp tới việc xác lập quyền thừa kế của những người thừa kế hợp pháp khác của mỗi bên vợ hoặc chồng Bởi vậy, cần thừa nhận cả hai khả năng là vợ, chồng có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung và trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận về vấn đề này trong di chúc chung Mục đích là làm cho quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vừa bảo đảm tính đặc thù của việc thể hiện ý nguyện chung của vợ, chồng, nhưng cũng đảm bảo tính thống nhất với các quy định khác

Ngày đăng: 28/03/2016, 10:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w