1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Các trang trong thể loại “thuật ngữ pháp lý”

116 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế nhiều nước chưa thật sự có sự bình đẳng trong trách nhiệm pháp lý, nhất là trong quá trình tố tụng, như tạiViệt Nam, với triết lýNho giáođã ăn sâu từ lâu là: Hình phạt thì k

Trang 1

Các trang trong thể loại “uật ngữ pháp lý”

Trang 2

Mục lục

1.1 Bố cục và yêu cầu 1

1.2 Phương pháp ghi chép 1

1.3 Xem thêm 2

1.4 am khảo 2

2 Bình đẳng trước pháp luật 3 2.1 Khát quát 3

2.2 Một số khía cạnh 3

2.2.1 yền và nghĩa vụ 3

2.2.2 Trách nhiệm pháp lý 4

2.2.3 Nhà nước và công dân 4

2.3 Chú thích 4

3 Bất khả kháng 5 3.1 Ví dụ 5

3.2 Xem thêm 6

3.3 am khảo 6

4 Chế định hợp đồng (Luật dân sự Việt Nam) 7 4.1 Khái yếu 7

4.2 Về thuật ngữ 7

4.3 Đặc điểm 7

4.4 Hình thức 8

4.5 Nội dung cơ bản 9

4.6 Phân loại 10

4.7 ời điểm có hiệu lực 11

4.8 Giao kết hợp đồng 12

4.8.1 Nguyên tắc giao kết 12

4.8.2 Trình tự giao kết 12

4.8.3 Đề nghị giao kết 12

4.8.4 Chấp nhận đề nghị 13

4.8.5 ực hiện giao kết 13

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

4.9 ực hiện hợp đồng 14

4.9.1 Nội dung thực hiện 14

4.9.2 Sửa đổi hợp đồng 14

4.9.3 Chấm dứt hợp đồng 14

4.10 am khảo 14

4.11 Chú thích 15

5 Chế định pháp luật 16 5.1 Đặc điểm 16

5.2 am khảo 16

5.3 Chú thích 16

6 Công vụ 17 6.1 Tính chất, đặc điểm 17

6.2 Công chức ở Việt Nam 17

6.2.1 Số lượng 17

6.3 am khảo 17

7 Cơ quan lập pháp 18 7.1 Các viện 18

7.2 Danh sách tên các cơ quan lập pháp 18

7.3 Xem thêm 19

7.4 am khảo 19

8 Giá trị vốn hóa thị trường 20 8.1 Đánh giá giá trị vốn hóa thị trường 20

8.2 am khảo 20

9 Hoa lợi 21 9.1 Pháp lý 21

9.2 am khảo 21

10 Hòa giải 22 10.1 Các yếu tố của hòa giải 22

10.2 Các loại hòa giải 23

10.2.1 Hòa giải truyền thống 23

10.2.2 Hòa giải chính trị 23

10.2.3 Hòa giải quốc tế 23

10.2.4 Hòa giải theo luật 24

10.3 Hòa giải kiểu Úc 25

10.3.1 Ủy ban giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án 25

10.3.2 Trung tâm Tư pháp Cộng đồng (CJC) 25

10.3.3 Tòa án Đất đai và Môi trường Bang NSW 25

10.3.4 Cơ quan tài phán hành chính (AAT) 26

Trang 4

MỤC LỤC iii

10.3.5 Ủy ban về vấn đề bồi thường cho người lao động (WCC) 26

10.3.6 Trung tâm quan hệ gia đình (FRC) 26

10.3.7 Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh chấp (LEADR) 26

10.4 Hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam 27

10.4.1 uật ngữ 27

10.4.2 Lịch sử phát triển 27

10.4.3 Vai trò của hoà giải ở cơ sở 28

10.4.4 Chủ thể thực hiện hòa giải 28

10.4.5 Phạm vi hòa giải 28

10.5 am khảo 29

10.6 Chú thích 29

11 Hệ thống pháp luật Việt Nam 30 11.1 Tên gọi 30

11.2 Hệ thống văn bản pháp luật 30

11.3 Hệ thống cấu trúc 31

11.4 am khảo 31

11.5 Chú thích 31

12 JASTA 33 12.1 Xem thêm 33

12.2 Nguồn 33

12.3 Liên kết ngoài 33

13 Luật công 34 13.1 Chú thích 34

14 Luật pháp 35 14.1 Lịch sử 35

14.2 Bản chất 35

14.3 uộc tính của luật pháp 36

14.4 Các hệ thống pháp luật 36

14.4.1 Dân luật/Luật châu Âu lục địa 36

14.4.2 ông luật/luật Anh-Mỹ 36

14.4.3 Tập quán pháp 37

14.4.4 Luật tôn giáo 37

14.5 Các bộ phận của luật 37

14.5.1 Luật tư 37

14.5.2 Luật công 37

14.5.3 Luật tố tụng 37

14.5.4 Luật hình sự 38

14.5.5 Luật quốc tế 38

14.6 Triết học luật pháp 38

Trang 5

iv MỤC LỤC

14.7 Xem thêm 38

14.8 Đọc thêm 39

14.9 am khảo 39

14.10 Liên kết ngoài 44

15 Luật tư 45 15.1 Phạm vi 45

15.1.1 So sánh với luật công 45

15.2 Chú thích 45

16 Lãnh thổ vô ủ 46 16.1 Lịch sử 46

16.2 Luật pháp quốc tế 46

16.3 am khảo 46

16.4 Chú thích 47

17 Lý lị tư pháp 48 17.1 uật ngữ 48

17.2 Lịch sử 48

17.3 Nội dung 49

17.4 Nguồn thông tin 49

17.5 Mục đích 49

17.6 Ý nghĩa 49

17.7 Chú thích 50

17.8 Liên kết ngoài 50

18 Ngộ sát 51 18.1 Khái luận 51

18.2 am khảo 51

19 Persona non grata 52 19.1 Ngành ngoại giao 52

19.1.1 Xóa quyền miễn trừ ngoại giao 52

19.2 Ngoài phạm vi ngoại giao 52

19.3 Liên kết ngoài 52

19.4 Chú thích 53

20 Pháp nhân 54 20.1 Đặc điểm 54

20.2 am khảo 54

21 Phố ợ 55 21.1 Tổng quan 55

21.2 am khảo 55

Trang 6

MỤC LỤC v

21.3 Xem thêm 55

22 y phạm pháp luật 56 22.1 am khảo 56

22.2 Liên quan 56

23 y phạm xã hội 57 23.1 Lịch sử 57

23.2 Bài liên quan 57

23.3 Chú thích 57

23.4 am khảo 57

24 yền công tố 58 24.1 Chú thích 58

25 yền được ết 59 25.1 Tổng quan 59

25.2 Hậu quả pháp lý-xã hội 60

25.2.1 Trong Phật giáo 61

25.3 Đặc điểm 62

25.4 Trên thế giới 62

25.4.1 Châu Âu 62

25.4.2 Châu Mỹ 62

25.4.3 Châu Á 62

25.4.4 Việt Nam 62

25.5 am khảo 63

25.6 Chú thích 63

26 Sở hữu 64 26.1 am khảo 64

27 uật ngữ pháp lý 65 27.1 Một số thuật ngữ thông dụng 65

27.2 am khảo 65

28 ể nhân 66 28.1 Xem thêm 66

28.2 am khảo 66

29 ủ phạm 67 29.1 am khảo 67

30 ừa phát lại 68 30.1 Điều kiện hành nghề 68

30.2 Công việc 68

Trang 7

vi MỤC LỤC

30.3 Chú thích 68

30.4 am khảo 68

31 Tiền lệ pháp 69 31.1 uật ngữ 69

31.2 Lịch sử hình thành 71

31.2.1 William I và cuộc chinh phạt nước Anh 71

31.2.2 Tòa án Hoàng gia được thiết lập 72

31.2.3 Tiền lệ pháp ra đời 72

31.2.4 Sự khẳng định 73

31.3 Điều kiện để một bản án trở thành án lệ 74

31.3.1 Phải có vấn đề pháp lý 74

31.3.2 Phải có quan điểm 75

31.3.3 Phải xuất phát từ tranh chấp 75

31.3.4 Phải có thẩm quyền 76

31.3.5 Phải được công bố và hệ thống hóa 76

31.3.6 Phải gắn với nguyên tắc tiền lệ 76

31.4 Học thuyết về tiền lệ 78

31.4.1 Nguyên tắc tôn trọng quyết định của tòa cấp trên 79

31.4.2 Nguyên tắc không buộc phải tuân theo án lệ của hệ thống tòa án khác 79

31.4.3 Nguyên tắc chỉ dựa vào cơ sở pháp lý 79

31.4.4 Nguyên tắc tham khảo đối với phần bình luận 79

31.4.5 Nguyên tắc hiệu lực bất kể thời gian 80

31.5 Việc ghi chép án lệ 80

31.6 ẩm quyền ghi án lệ 80

31.7 Lưu trữ và công bố án lệ 81

31.8 Những giá trị của tiền lệ pháp 81

31.9 Ở Hoa Kỳ 82

31.10 So sánh với Dân luật 83

31.11 am khảo 85

31.12 Chú thích 86

31.13 Liên kết ngoài 87

32 Trát (văn bản) 88 32.1 am khảo 88

32.2 Chú thích 88

33 Trợ giúp pháp lý 89 33.1 Việt Nam 89

33.2 am khảo 89

34 Tuyên truyền viên 90 34.1 Tổng quan 90

Trang 8

MỤC LỤC vii

34.2 Vai trò 90

34.3 Phân loại 90

34.4 Trong văn học 91

34.5 Xem thêm 91

34.6 Chú thích 91

35 Tư cá pháp lý 92 35.1 am khảo 92

35.2 Chú thích 92

36 Tội phạm 93 36.1 Ở Việt Nam 93

36.2 Đặc điểm của tội phạm 93

36.3 Phân loại tội phạm 93

36.4 Ở các quốc gia khác 93

36.5 Tội phạm ở nước Mỹ 93

36.6 Tội phạm ở nước Pháp 93

36.7 Xem thêm 93

36.8 am khảo 93

37 Vi bằng 94 37.1 am khảo 94

37.2 Liên kết ngoài 94

38 Văn bản quy phạm pháp luật 95 38.1 Nhận biết 95

38.2 Lưu ý 95

38.3 Chú thích 96

38.4 Xem thêm 96

39 Vị thành niên 97 39.1 am khảo 97

40 Án lệnh tạm thời 98 40.1 Chú thích 98

41 Án thế vì khai sinh 99 41.1 Áp dụng 99

41.2 Xem thêm 99

41.3 am khảo 99

42 Đăng ký hộ tị 100 42.1 Mục đích 100

42.2 Một số các hoạt động 100

Trang 9

viii MỤC LỤC

42.3 Tại Việt Nam 101

42.3.1 Tổng quan 101

42.3.2 Căn cứ pháp lý 101

42.3.3 Một số nguyên tắc 101

42.3.4 Đăng ký khai sinh, khai tử 101

42.3.5 Đăng ký kết hôn 102

42.4 Chú thích 102

42.5 Liên kết ngoài 102

43 Đạo luật 103 43.1 Chú thích 103

43.2 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 104

43.2.1 Văn bản 104

43.2.2 Hình ảnh 106

43.2.3 Giấy phép nội dung 107

Trang 10

Chương 1

Biên bản

Biên bản là một loạivăn bảnghi chép lại những sự việc

đã xảy ra hoặc đang xảy ra Biên bản không có hiệu lực

pháp lýđể thi hành mà chủ yếu được dùng làm chứng

cứ minh chứng các sự kiện thực tế đã xảy ra Biên bản

có thể là biên bản ghi lại một sự kiện như biên bản cuộc

họp, biên bảnhội nghị… hoặc biên bản ghi lại một hành

vi cụ thể như lập biên bản hành vi vi phạm pháp luật,

biên bản bàn giao tài sản, biên bản giao nhận, biên bản

đồng ý hoặc không đồng ý về một nội dung nào đó

1.1 Bố cục và yêu cầu

Yêu cầu chung của biên bản là phải mô tả lại các sự việc

hiện tượng một cách kịp thời, tại chỗ với đầy đủ, chi

tiết mọi tình tiết khách quan, hoặc các ý kiến của các

bên liên quan, không bình luận thêm bớt thì mới bảo

đảm được vai trò cung cấp thông tin để làm cơ sở cho

các quyết định xử lý, hoặc minh chứng cho các nhận

định kết luận khác Ngoài ra biên bản còn phải tuân

thủ những hình thức nhất định về thể thức, kỹ thuật

trình bày, nội dung và văn phong

Bố cục của biên bản có các yếu tố cơ bản sau:

ốc hiệuvà tiêu ngữ (Để khẳng định giá trị pháp

lý)

• Tên văn bản và trích yếu nội dung (Lập biên bản

về việc gì)

Ngày,tháng,năm,giờ,phútlập hoặc ghi biên bản,

ghiđịa điểmnơi sự kiện, hành vi diễn ra (biên bản

ghi rất cụ thể thời gian giờ phút lập biên bản)

• ành phần tham dự, chủ trì,thư kýghi biên bản

(kiểm tra, xác nhận sự kiện thực tế dự hội họp…)

• Diễn biến sự kiện thực tế (phần nội dung cơ bản,

cần phải ghi lại đầy đủ ý kiến phát biểu các bên,

lập luận các bên, ý kiến của chủ tọa…)

• Phần kết thức (ghi thời gian cụ thể và lý do).

• ủ tục ký xác nhận Biên bản phải bao gồm chữ

ký của thư ký lập biên bản và chữ ký của chủ tọa

hội nghị, cần thiết thì có thểm thêm các chữ ký

của người tham dự Đối với biên bản xử phạt cần

có chữ ký của người lập biên bản xử phạt và chữ

ký của người bị lập biên bản (nếu người bị lập biênbản không ký thì người ghi biên bản phải ghi vào)Yêu cầu của một biên bản:

• Số liệu, sự kiện phải chính xác, cụ thể.

• Ghi chép trung thực, đầy đủ không suy diễn chủ

quan

• Nội dung phải có trọng tâm, trọng điểm.

• ủ tục chặt chẽ, thông tin có độ tin cậy cao (nếu

có tang vật, chứng cứ, các phụ lục diễn giải phảigiữ kèm biên bản) Những người có trách nhiệm

ký chứng nhận biên bản, biên bản phải được đọccho mọi người có mặt cùng nghe, sửa chữa lại chokhách quan (nếu có) và ký vào biên bản để cùngchịu trách nhiệm

1.2 Phương pháp ghi chép

Các sự kiện thực tế có tầm quan trọng xảy ra như: đạihội, việc xác nhận một sự kiện pháp lý, việc kiểm trahành chính, khám xét, khám nghiệm, ghi lời cung, lời

tố cáo, khiếu nại, biên bản bàn giao công tác, bàn giaotài sản… thì phải ghi đầy đủ, chính xác và chi tiết mọinội dung và tình tiết nhưng cũng phải ghi các vấn đềtrọng tâm của sự kiện Nếu là lời nói trong cuộc họp, hộinghị quan trọng, lời cung, lời khai… phải ghi nguyênvăn, đầy đủ và yêu cầu người nói nghe lại và xác nhậntừng trang

Trong các sự kiện thông thường khác: như biên bảncuộc họp định kỳ, họp thảo luận nhiều phương án, biệnpháp để lựa chọn, họp tổng bình xét… có thể áp dụngcách ghi tổng hợp: tức là trong biên bản chỉ cần ghinhững nội dung quan trọng một cách đầy đủ nguyênvăn, còn những nội dung thông thường khác có thể ghitóm tắt những ý chính, nhưng luôn luôn phải quán triệtnguyên tắc trung thực, không suy diễn chủ quan.Phần kết thúc văn bản: phải ghi thời gian chấm dứt sựkiện thực tế như: bàn giao xong, hội nghị kết thúc, kiểm1

Trang 11

2 CHƯƠNG 1 BIÊN BẢN

tra, khám nghiệm kết thúc lúc mấy giờ… ngày… Biên

bản đã đọc lại cho mọi người cùng nghe (có bổ sung

sửa chữa nếu có yêu cầu) và xác nhận là biên bản phản

ánh đúng sự kiện và cùng ký xác nhận Trong biên bản

muốn có thủ tục chặt chẽ phải lưu ý việc ký xác nhận,

phải có tối thiểu hai người ký thì các thông tin trong

biên bản mới có độ tin cậy cao ông thường trong các

cuộc họp, hội nghị biên bản phải có thư ký và chủ tọa

ký xác nhận

1.3 Xem thêm

am luậntaisao k có quy trinh cua bien ban moi

ng chi giup e woi

1.4 Tham khảo

Trang 12

Chương 2

Bình đẳng trước pháp luật

Tượng Nữ thần công lý ở Paris

Bình đẳng trước pháp luật hay quyền bình đẳng trước

pháp luật là những nguyên lý củapháp luậtđược thể

hiện qua các quy định cụ thể (cácquy phạm pháp luật)

thiết lập về quyền được đối xử một cách như nhau,

công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật, theo đó,

mọicông dân,nam,nữthuộc các dân tộc, tín ngưỡng,

tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong

một quốc gia đều không bịphân biệt đối xửtrong việc

hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý

theo quy định của pháp luật

BảnTuyên ngôn ốc tế Nhân quyềnđã nêu lên trong

điều 7:

eoLiên Hiệp ốcthì nguyên lý này rất quan trọng

cho những người thiểu số và người nghèo.[1]

2.1 Khát quát

yền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trongtất cả các lĩnh vực của đời sốngxã hộiđặc biệt là cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội nhất làquyền bình đẳng trong lĩnh vựcpháp lý, tư pháp, tốtụng Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay làluật pháp phải được thượng tôn bất kể vị thế giữa người

vi phạm và bị xâm phạm.[2]

yền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệtbởigiới tính,dân tộc,tín ngưỡng,tôn giáo,giàu nghèo,thành phần xã hội,địa vị xã hội… Trong cùng một điềukiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa

vụ như nhau, cótư cách pháp lýnhư nhau Nhưng mức

độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu phụ thuộcrất nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗingười Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việcbảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ mộtcách bình đẳng, công dân cần thực hiện tốt các nghĩa

vụ được Hiến pháp và luật xác định là điều kiện để sửdụng quyền của mình

yền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trongnhững nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều nước.Hiếnpháp Việt Namquy định: Mọi công dân Việt Nam đều

có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Công dânkhông phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyềnbầu cử

và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vàoquốc hội,hộiđồng nhân dântheo quy định của pháp luật Hiến phápxác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới vềmọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vàgia đình.[3]

2.2 Một số khía cạnh

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ

Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ có nghĩa làbình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước Nhànước và xã hội, quyền và nghĩa vụ không tách rời nhau,thể hiện qua việc Mọi công dân đều được hưởng quyền

và phải thực hiện nghĩa vụ của mình: Một số quyền3

Trang 13

4 CHƯƠNG 2 BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT

cơ bản như quyềnbầu cử, ứng cử,sở hữu,thừa kế, các

quyền tự do cơ bản và quyền dân sự, chính trị khác,

nhân quyền, quyền tự do ngôn luận,quyền tự do cư

trú, tự do đi lại,quyền thông tin… Nghĩa vụ lao động

công ích, đóngthuế…

Bình đẳng vềtrách nhiệm pháp lýlà bất kỳ công dân

nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng các chế tài theo

quy định của pháp luật Ví dụ như khi truy cứu trách

nghiệm pháp lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm được

quy định trong pháp luật và chỉ trong giới hạn mà pháp

luật quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp

dụng Việc truy cứu trách nhiệm phải kịp thời, chính

xác, công bằng, hợp lý Khi xét xử thì mọi người phải

bình đẳng trước tòa án

Trên thực tế nhiều nước chưa thật sự có sự bình đẳng

trong trách nhiệm pháp lý, nhất là trong quá trình tố

tụng, như tạiViệt Nam, với triết lýNho giáođã ăn sâu

từ lâu là: Hình phạt thì không tới bậc đại phu, lễ nghi

không tới bậc thứ dân tức là tức là hình luật chẳng thể

phạm đến những kẻ bề trên, cho nên một số ý kiến cho

rằng chỉ khi mọi người đều có ý thức tôn trọng pháp

luật như nhau thì mới gọi là công bằng, mới không có

cái gọi là nhờn luật,[4] mặt khác sự can thiệp của hệ

thốngĐảng Cộng sản Việt Namcác cấp vào pháp luật

đã tạo ra một quy trình bên ngoài pháp luật đồng thời

nhữngbản ántuyên phạt của tòa án nước này trong

nhiều trường hợp chưa được sự đồng tình của xã hội vì

quá cả nể, nhẹ tay với kẻ có quyền thế, địa vị, hoặc tiền

bạc nhưng quá hà khắc đối với người yếu thế, nghèo

khó nên đã nêu lên vấn đề về sự bình đẳng trước pháp

luật.[5]

Chính Nhà nước cũng được xem như mộtpháp nhân:

Các quyết định của chính quyền như vậy cũng phải

tuân thủ nguyên tắc hợp pháp như baochủ thế pháp lý

khác Nguyên tắc này cho phép đóng khung hoạt động

của quyền lực công và đặt hoạt động đó vào khuôn khổ

của nguyên tắc pháp chế, vốn trước tiên dựa trên các

nguyên tắc hiến định

Trong khuôn khổ đó, các cưỡng chế hướng lên Nhà

nước sẽ mạnh mẽ: Các quy định mà Nhà nước đưa ra

và các quyết định mà Nhà nước ban hành phải tuân thủ

toàn thể cácquy phạm pháp luậtcao hơn đang có hiệu

lực (các luật, điều ước quốc tế và các nguyên tắc mang

tính Hiến pháp), không được quyền hưởng bất kì ưu

tiên về mặt tài phán Cáccá nhâncũng như pháp nhân

của luật tư như thế là đối lập tranh cãi với các quyết

định của cơ quan công quyền bằng các đối lập với các

quy phạm mà cơ quan này ban hành Trong khuôn mẫu

này, vai trò của các cơ quan tài phán là vô cùng cần thiết

và sự độc lập của tư pháp là bắt buộc

Trang 14

Chương 3

Bất khả kháng

Bất khả kháng hay điều kiện bất khả kháng (từtiếng

Pháp: force majeure để chỉ “hiệu lực/sức mạnh lớn

hơn”) là một điều khoản phổ biến trong cáchợp đồng,

về cơ bản để giải phóng một hay các bên ra khỏi các

trách nhiệm pháp lýhay các bổn phận khi các sự kiện

hay tình huống bất thường ngoài tầm kiểm soát của các

bên, nhưchiến tranh, đình công, nổi loạn, tội phạm,

thiên tai(nhưlũ lụt,động đất, phun tràonúi lửa),địch

họav.v xảy ra, và việc đó ngăn cản một hay các bên

của hợp đồng trong việc hoàn thành bổn phận và nghĩa

vụ của mình theo hợp đồng Tuy nhiên, bất khả kháng

không nhằm mục tiêu bào chữa cho cácsơ suấthay

hành vi phi pháp của các bên, chẳng hạn như việc

không thực hiện nghĩa vụ là do các hậu quả thông

thường và tự nhiên của các sức mạnh bên ngoài (ví dụ

một trận mưa đã được dự báo làm ngừng một sự kiện

diễn ra ngoài trời), hay khi các hoàn cảnh can thiệp

vào việc thực thi hợp đồng đã được dự tính một cách

rõ ràng

Các hợp đồng có giới hạn về thời gian và các hợp đồng

nhạy cảm khác có thể được thảo ra để hạn chế sự che

chở của điều khoản này khi một hay các bên không

thực hiện các bước hợp lý (hay cảnh báo rõ ràng) để

ngăn chặn hay hạn chế các tác động của sự can thiệp

từ bên ngoài, kể cả khi nó có thể xảy ra lẫn cả khi nó

xảy ra trên thực tế Cũng cần lưu ý rằng bất khả kháng

có thể có hiệu lực để bỏ qua một phần hay toàn bộ các

bổn phận của một hay các bên Ví dụ, một cuộc đình

công có thể ngăn cản việc giao hàng đúng hạn, nhưng

nó không thể ngăn cản việc thanh toán đúng hạn cho

các hàng hóa đã giao Tương tự, việc mất điện trên diện

rộng có thể không là lý do bất khả kháng nếu như hợp

đồng có điều khoản về nguồn điện dự phòng hay các

kế hoạch ứng phó với các sự kiện bất ngờ để đảm bảo

cho sự liên tục của công việc

Tầm quan trọng của điều khoản bất khả kháng trong

hợp đồng, cụ thể là trong các hợp đồng với độ dài thời

gian nào đó, không thể được diễn giải như là sự làm

giảm nhẹ trách nhiệm của một hay các bên theo hợp

đồng (hay tạm thời ngưng các bổn phận đó) Một sự

kiện hay hoàn cảnh nào đó mà có thể coi là bất khả

kháng thì đều có thể là nguồn của nhiều tranh cãi trong

đàm phán hợp đồng và một bên nói chung có thể chống

lại bất kỳ ý định nào của (các) bên kia trong việc thêm

vào một điều gì đó mà nó có thể, về cơ bản, là rủi rocủa bên đó Ví dụ trong một thỏa thuận cung cấpthan,một công ty khai thác mỏ có thể yêu cầu để “rủi rođịachất" được thêm vào như là sự kiện bất khả kháng, tuynhiên công ty khai thác mỏ này nên và cần phải thựchiện khảo sát, phân tích trên diện rộng các dự phòng

về mặt địa chất tại khu vực khai thác than và thậm chí

là không nên đàm phán về hợp đồng cung cấp than nếunhư công ty này không thể nắm rõ các rủi ro mà chúng

có thể là hạn chế về mặt địa chất trong việc cung cấpthan của họ từ lúc này sang lúc khác Kết quả của côngviệc đàm phán như vậy, tất nhiên là phụ thuộc vào khảnăng thương lượng tương đối của các bên và vì thế cónhững trường hợp khi điều khoản bất khả kháng cóthể được một hay các bên sử dụng một cách có hiệuquả nhằm thoát khỏi các trách nhiệm pháp lý đối vớiviệc thi hành không tốt các nội dung của hợp đồng.Trong luật quốc tế, bất khả kháng được hiểu như là sứcmạnh không thể chống lại được hay sự kiện không thểbiết trước, ngoài tầm kiểm soát của quốc gia và làm chonhà nước này về mặt vật chất là không thể hoàn thành

bổn phận quốc tế của mình Bất khả kháng ngăn ngừa

một hành động quốc tế khỏi bị coi là bất hợp pháp mànếu khác đi thì nó có thể là như vậy

Trang 15

6 CHƯƠNG 3 BẤT KHẢ KHÁNG

chính quyền, bao vây, cấm vận, tranh chấp

lao động, bãi công, gián đoạn hoặc hỏng hóc

của hệ thống điện [hoặc dịch vụ điện thoại],

và không có bên nào có quyền chấm dứt thỏa

thuận này theo điều abc (chấm dứt hợp đồng)

trong những hoàn cảnh như vậy.”

“Bất kỳ bên nào đưa ra khẳng định bất khả

kháng như là lý do để biện minh sẽ có trách

nhiệm chứng minh rằng các biện pháp hợp

lý đã được thực hiện (tùy theo hoàn cảnh)

để giảm thiểu sự chậm trễ hay các tổn thất

phát sinh ra từ các sự kiện có thể dự đoán

trước, rằng tất cả các bổn phận không thể

được miễn trách nhiệm đã được thực thi đầy

đủ, và bên kia đã được thông báo kịp thời

về sự kiện có thể xảy ra hay sự kiện xảy ra

trên thực tế và chúng là có thể biện minh cho

khẳng định như vậy, sao các cảnh báo thận

Trang 16

Chương 4

Chế định hợp đồng (Luật dân sự Việt

Nam)

Chế định hợp đồng trong Luật dân sự Việt Nam là tập

hợp các quy phạm pháp luật dân sự quy định về hợp

đồng dân sự Đây là một chế định quan trọng, trung

tâm trongLuật dân sự Việt Nam

4.1 Khái yếu

Trong pháp luật của các nước phát triển phương Tây

(còn gọi là các nước tư sản), chế định hợp đồng được coi

là một chế định hoàn thiện và ít mang dấu ấnchính trị

nhất Trong chế định này, tự do hợp đồng được khẳng

định như một nguyên tắc chủ yếu trong các giao dịch

dân sự,thương mại, toàn bộ chế định hợp đồng được

xây dựng trên nền tảng của tự do, bình đẳng Có thể

nói đó là chế định pháp luật có tính nhất thể hóa cao

trong pháp luật tư sản.[1]Trong hệ thống pháp luật của

các nướcXã hội chủ nghĩa, chế định hợp đồng cũng là

một chế định cơ bản bên cạnh các chế định quyềnsở

hữu, quyền thừa kế….[2]

Ở Việt Nam, các bộ cổ luật đã từng tồn tại trước đây

nhưLuật Hồng Đức,Bộ luật Gia Longkhông có quy

định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế

hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ

thể với nhau.[3]a quá trình phát triển, cùng với sự

phát triển của pháp luật dân sự nói chung, chế định về

hợp đồng dân sự ngày càng được xem là một chế định

có vai trò trung tâm, cơ bản trong pháp luật dân sự

Trong Bộ luật dân sự năm 2005 của nướcCộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam, chế định về hợp đồng dân sự

đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điều

luật (từ Điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45

điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử

dụng đất (từ điều 693 đến điều 732) Điều đó chứng tỏ

chế định hợp đồng dân sự đóng vai trò rất quan trọng

Chế định này tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến

việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự, các hợp đồng

phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi íchvậtchấtgiữa các chủ thể với nhau.[3]

Cần phân biệt thuật ngữ hợp đồng dân sự với thuậtngữ pháp luật về hợp đồng dân sự Đây là hai khái niệmkhông đồng nhất với nhau Hợp đồng dân sự theo nghĩachủ quan là quan hệ xã hội được hình thành từ sự thỏathuận của các bên để để thỏa mãn nhu cầu trao đổitrong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân

sự (nghĩa khách quan) là sự thừa nhận và là yêu cầucủa Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó.[3]

4.3 Đặc điểm

Tính thỏa thuận: Hợp đồng dân sự trước hết phải là

một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựngyếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp

ý chí của các bên Việc giao kết hợp đồng dân sự phảituân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiệnchí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kếthợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức

xã hội Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố

tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất về mặt ý chí.Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng củahợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng

là yếu tố làm nên bản chất củaLuật dân sựso với cácngành luật khác

ỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sựđồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận được thể hiện ở chỗkhông có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận7

Trang 17

8 CHƯƠNG 4 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG (LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM)

nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề

quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi

quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem

xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các

bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện

cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng

nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên Sự đồng tình tự

nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được

gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được

viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết hay hợp đồng

thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp

đồng hay hiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng

đại lý

Về ủ thể tham gia hợp đồng dân sự: Chủ thể giao

kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai

bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp

lý song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao

kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức

là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp

luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu

chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu

về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…);

Mục đí hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng

là để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ

dân sự yền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng có

phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng

dân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1) quy định hợp đồng dân

sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi

hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong

mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một

hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận

khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu

cầu sinh hoạt, tiêu dùng

eo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê

cụ thể các quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên

về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bên hướng

tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và

nghĩa vụ để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt,

tiêu dùng, đó cũng chính là một trong những đặc điểm

cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và các hợp

đồng kinh tế, thương mại Yếu tố này giúp phân biệt

hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế:

1 Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ

thể tham gia là mục đích kinh doanh (nhằm phát

sinh lợi nhuận) trong khi đó hợp đồng dân sự các

bên tham gia nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt,

tiêu dùng

2 Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là các

thương nhân, các công ty, đơn vị kinh doanh (nếu

chủ thể là cá nhân thì phải có đăng ký kinh doanh)

4.4 Hình thức

Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện

ra bên ngoài của những nội dung của nó dưới mộtdạng vật chất hữu hình nhất định eo đó, những điềukhoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thểhiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, haynói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện

để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tùythuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồngcũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau màcác bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trongviệc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thể.Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định

về hình thức hợp đồng dân sự như sau:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kếtbằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi

cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợpđồng đó phải được giao kết bằng một hìnhthức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy địnhhợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản

có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng

ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quyđịnh đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp

có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp phápluật có quy định khác”

Từ quy định trên có thể thấy hình thức của hợp đồngdân sự rất đa dạng, phong phú,[4]tựu trung lại thì hìnhthức của hợp đồng dân sự có mấy dạng sau đây:

• Hình thứcmiệng(bằng lời nói): ông qua hìnhthức này các bên chỉ cần thỏa thuận miệng vớinhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng.Hình thức này thường được áp dụng đối với nhữngtrường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhauhoặc các đối tác lâu năm hoặc là những hợp đồng

mà sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt Ví dụbạn thân cho mượntiền, hay đi mua đồ ởchợ…

• Hình thức viết (bằng văn bản): Các cam kết của

các bên trong hợp đồng sẽ được ghi nhận lại bằngmột văn bản Trong văn bản đó các bên phải ghiđầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng vàcùng ký tên xác nhận vào văn bản, thông thườnghợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bêngiữ một bản

Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễdàng thực hiện quyền của mình và thực hiệnquyền yêu cầu của mình đối với bên kia vìvậy bản hợp đồng đó coi như là một bằngchứng, chứng minh quyền dân sự của mình.Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết

Trang 18

4.5 NỘI DUNG CƠ BẢN 9

bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp

lý vững chắc hơn so với hình thức miệng

vì vậy trong thực tế những giao dịch quan

trọng, có giá trị lớn hoặc những giao dịch có

tính “nhạy cảm” đối với những đối tượng và

người giao kết “nhạy cảm” thì nên thực hiện

bằng hình thức văn bản và tốt nhất là nên có

công chứng nếu có điều kiện

• Hình thức có công chứng, chứng thực: Hình thức

này áp dụng cho những hợp đồng có tính chất

phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của

hợp đồng là những tài sản mà nhà nước quản lý,

kiểm soát thì khi giao kết các bên phải lập thành

văn bản có Công chứng hoặc chứng thực của Cơ

quan quản lý hành chính có thẩm quyền trong

lĩnh vực này Hợp đồng được lập ra theo hình thức

này có giá trị chứng cứ (để chứng minh) cao nhất

Hợp đồng loại này có giá trị chứng cứ cao nhất

chứ không phải có giá trị cao nhất vì các hợp đồng

được lập ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị

pháp lý như nhau

Ví dụ: Hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều

467 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005) quy

định: “Tặng cho bất động sản phải được lập

thành văn bản có công chứng, chứng thực

hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của

pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở

hữu Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu

lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản

không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp

đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm

chuyển giao tài sản”

• Hình thức khác: ngoài những hình thức nói trên,

hợp đồng có thể thực hiện bằng các hình thức khác

như bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ

cơ thể…) miễn là những hành vi đó phải chứa đựng

thông tin cho bên kia hiểu và thoả thuận giao kết

trên thực tế

Cần lưu ý là đối với những hợp đồng dân sự mà pháp

luật bắt buộc phải giao kết theo một hình thức nhất

định (thông thường là hình thức văn bản có Công

chứng, chứng thực) thì các bên phải tuân theo những

hình thức đó, ngoài ra thì các bên có thể tự do lựa chọn

một trong các hình thức nói trên để giao kết, tuy nhiên

đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu

phải lập theo hình thức văn bản có công chứng nhưng

để quyền lợi của mình được bảo đảm thì các bên vẫn có

thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng

4.5 Nội dung cơ bản

Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp

những điều khoản mà các chủ thể tham gia hợp đồng đã

thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền

và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng.Đây cũng chính là điều khoản cần phải có trong mộthợp đồng Ví dụ: Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định

về nội dung của hợp đồng dân sự như sau: “Tuỳ theotừng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về nhữngnội dung sau đây:

• 1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao,

công việc phải làm hoặc không được làm

• 2 Số lượng, chất lượng;

• 3 Giá, phương thức thanh toán;

• 4 ời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp

Những điều khoản cơ bản: Là những điều khoản xác

định nội dung chủ yếu của hợp đồng, là những điềukhoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng.Nếu không thể thỏa thuận được về những điều khoản

đó thì xem như hợp đồng không thể giao kết được Vídụ: điều khoản về đối tượng của hợp đồng, giá cả, địađiểm, cách thức thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ…Ngoài ra có những điều khoản vốn dĩ không phải làđiều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thỏathuận được những điều khoản đó mới giao kết hợpđồng thì những điều khoản này cũng là những điềukhoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết

Những điều khoản thông thường (phổ thông): Là

những điều khoản được pháp luật quy định trước Nếukhi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận trướcnhững điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặcnhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đãquy định Ví dụ: địa điểm giao tài sản là động sản tronghợp đồng mua bán tài sản là tại nơi cư trú của ngườimua nếu trong hợp đồng các bên không thỏa thuận vềđịa điểm giao tài sản nếu như trong hợp đồng có thỏathuận thì thực hiện theo thỏa thuận)

Những điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản mà

các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn và

Trang 19

10 CHƯƠNG 4 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG (LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM)

thỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ

dân sự của các bên

Có một nội dung hay gây nhầm lẫn là việc phân biệt

giữa điều của hợp đồng và điều khoản của hợp đồng

Điều khoản của hợp đồng khác với từng điều của hợp

đồng vì điều khoản của hợp đồng là những nội dung

các bên đã cam kết thỏa thuận, còn từng điều của hợp

đồng là hình thức thể hiện những điều khoản đó Vì

vậy, có thể trong một điều của hợp đồng có thể chứa

đựng nhiều điều khoản nhưng cũng có trường hợp một

điều khoản được ghi nhận trong nhiều điều tùy vào sự

thỏa thuận của các bên nhưng nhìn chung, Trong hợp

đồng thì mỗi điều khoản thường được thể hiện bằng

một điều

Các loại điều khoản trong hợp đồng có thể chuyển hóa

lẫn nhau tùy từng trường hợp và một điều khoản trong

hợp đồng có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điều

khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản

tùy nghi Ví dụ: điều khoản về địa điểm giao hàng sẽ là

điều khoản cơ bản của hợp đồng nếu khi giao kết các

bên có thỏa thuận cụ thể về nơi giao hàng nhưng nó sẽ

là điều khoản thông thường nếu các bên không có thỏa

thuận (vì điều khoản đó sẽ mặc nhiên được thừa nhận

và thực hiện theo quy định của pháp luật), mặt khác

địa điểm giao hàng sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các

bên có thỏa thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa

chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao

hàng

Ngoài ra trong hợp đồng dân sự còn có thể có phụ lục

của hợp đồng Điều 408 của Bộ Luật dân sự của Việt

Nam quy định về phụ lục hợp đồng như sau:

• 1 Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy

định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng Phụ

lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng Nội dung

của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung

của hợp đồng

• 2 Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều

khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp

đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ

trường hợp có thỏa thuận khác Trong trường hợp

các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản

trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như

điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi

4.6 Phân loại

Có nhiều cách thức để phân loại một hợp đồng dân sự

tùy theo các tiêu chí khác nhau Pháp luật Việt Nam

hiện hành đã phân chia các loại hợp đồng dân sự chủ

yếu theo Điều 406 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

• 1 Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều

có nghĩa vụ đối với nhau

• 5 Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng

mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiệnnghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từviệc thực hiện nghĩa vụ đó;

• 6 Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực

hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt một sự kiện nhất định

Ngoài ra còn có thể có Hợp đồng dân sự theo mẫu (Điều407): Là hợp đồng gồm những điều khoản do một bênđưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gianhợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coinhư chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu

mà bên đề nghị đã đưa ra

Bộ luật dân sự Việt Nam cũng quy định các loại hợpđồng dân sự thông dụng sau đây: hợp đồng mua bántài sản (phổ biến là hợp đồng mua bán nhà), hợp đồngtrao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồngvay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tàisản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồnggia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm,hợp đồng uỷ quyền, hứa thưởng và thi có giải.Dưới góc độ khoa học pháp lý và trên thực tế hợp đồngdân sự rất đa dạng và phong phú và có nhiều cách phânloại khác nhau theo từng tiêu chí nhất định:

• Nếu căn cứ vào hình thức của hợp đồng thì hợp

đồng dân sự có thể được phân thành hợp đồngmiệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có côngchứng, hợp đồng mẫu…

• Nếu căn cứ vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ

của các bên trong hợp đồng ta có thể phân thànhhợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ

• Hợp đồng song vụ: là hợp đồng mà trong

đó các bên đều có nghĩa vụ với nhau, cácbên đều được hưởng quyền và phải thực hiệnnghĩa vụ yền dân sự của bên này đối ứngvới nghĩa vụ của bên kia

Trang 20

4.7 THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC 11

• Nếu căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực

của hợp đồng thì ta có thể chia hợp đồng dân sự

thành hai loại là hợp đồng chính và hợp đồng phụ

• Hợp đồng chính: là hợp đồng mà hiệu lực

không phụ thuộc vào hiệu lực của các hợp

đồng khác và khi hợp đồng chính đã tuân

thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy

định thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có

hiệu lực bắt buộc đối với các bên kể từ thời

điểm giao kết

• Hợp đồng phụ: là hợp đồng có hiệu lực phụ

thuộc vào hợp đồng chính Để một hợp đồng

phụ có hiệu lực thì phải tuân thủ các điều

kiện sau đây: Trước hết, hợp đồng phụ phải

tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của

một hợp đồng như điều kiện về chủ thể; nội

dung; hình thức… ứ hai, hợp đồng chính

của hợp đồng phụ đó phải có hiệu lực Sau

khi tuân thủ các điều kiện có hiệu lực nói

trên thì hợp đồng phụ còn phải tùy thuộc vào

hiệu lực của hợp đồng chính Ví dụ: đối với

hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản thì hợp

đồng phụ chỉ có hiệu lực khi hợp đồng cho

vay tài sản tức là hợp đồng chính có hiệu lực

• Nếu căn cứ vào tính chất “có đi, có lại” của các

bên trong hợp đồng ta có thể phân hợp đồng dân

sự thành hai loại là hợp đồng có đền bù và hơp

đồng không có đền bù

• Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong

đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia

một lợi ích sẽ nhận được từ bên bên kia một

lợi ích tương ứng Lợi ích tương ứng ở đây

không đồng nghĩa với lợi ích ngang bằng vì

các lợi ích các bên dành cho nhau không phải

lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng

loại Ví dụ: hợp đồng thuê biểu diễn ca

nhạc-trong đó một bên sẽ nhận được một lợi ích

vật chất là tiền thù lao biểu diễn, catxê… và

một bên sẽ đạt được lợi ích về mặt tinh thần

– đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức âm

nhạc

• Hợp đồng không có đền bù: là những hợp

đồng trong đó một bên nhận được một lợi

ích nhưng không phải giao lại cho bên kia

một lợi ích nào (ví dụ: hợp đồng tặng cho tài

sản)

• Nếu căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực của

hợp đồng ta có thể phân hợp đồng thành hai loại

là hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế

• Hợp đồng ưng thuận: là những hợp đồng

theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa

vụ của các bên sẽ phát sinh ngay sau khi các

bên đã thỏa thuận xong với nhau về những

nội dung chủ yếu của hợp đồng Ví dụ: hợp

đồng mua bán tài sản Trong trường hợp này,

dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện cácnghĩa vụ đã cam kết nhưng về mặt pháp lý

đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đốivới bên kia trong việc thực hiện hợp đồng,nói theo cách khác hợp đồng ưng thuận lànhững hợp đồng mà thời điểm có hiệu lựccủa nó được xác định tại thời điểm giao kết

• Hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau

khi các bên thỏa thuận xong nhưng hiệu lựccủa nó chỉ phát sinh khi các bên chuyển giaocho nhau đối tượng của hợp đồng Ví dụ: hợpđồng cho mượn tài sản Đối với loại hợp đồngnày hiệu lực của nó phụ thuộc vào thời điểmthực tế mà hai bên thực hiện nghĩa vụ vớinhau Trở lại hợp đồng cho mượn tài sản, tathấy mặc dù hai bên đã thỏa thuận bên A sẽcho bên B mượn tài sản và hợp đồng đã thànhlập nhưng thực chất quyền và nghĩa vụ củahai bên chỉ phát sinh khi bên A đã chuyểngiao trên thực tế tài sản cho mượn cho bênB

4.7 Thời điểm có hiệu lực

Về nguyên tắc hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giaokết Tuy nhiên thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân

sự còn được xác định theo sự thỏa thuận hoặc theo sựquy định của pháp luật Vì vậy hợp đồng dân sự đượccoi là có hiệu lực vào một trong các thời điểm sau đây:

• Hợp đồng bằng miệng hoặc bằng các hành vi cụ

thể có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếpthỏa thuận với nhau về những nội dung chủ yếucủa hợp đồng

• Hợp đồng bằng văn bản thường, có hiệu lực tại

thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hợp đồng

• Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng

thực, đăng ký hoặc xin phép có hiệu lực tại thờiđiểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực,đăng ký hoặc cho phép

• Ngoài ra hợp đồng còn có thể có hiệu lực sau thời

điểm nói trên nếu các bên đã tự thỏa thuận vớinhau hoặc trong trường hợp pháp luật đã quy định

cụ thể (ví dụ: Điều 466 Bộ luật dân sự 2005 về hợpđồng tặng cho động sản: “Hợp đồng tặng cho độngsản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản;đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng

ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực

kể từ thời điểm đăng ký")

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ýnghĩa rất quan trọng, xác định được thời điểm có hiệulực của hợp đồng là xác định được thời điểm phát sinh

Trang 21

12 CHƯƠNG 4 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG (LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM)

quyền và nghĩa vụ của các bên với nhau, và đặc biệt là

khi giải quyết các tranh chấp về tài sản trong hợp đồng

mà quy ra thành tiền thì xác định giá trị của tài sản

đó theo thời giá thị trường tại thời điểm hợp đồng có

hiệu lực Đồng thời hiệu lực của hợp đồng cũng là một

trong những căn cứ để xem xét về tính hợp lệ và thời

hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự (ví dụ: khi hợp đồng

được giao kết nhưng chưa có hiệu lực thì các tranh chấp

nếu có sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết tại thời

điểm đó)

Để một hợp đồng có hiệu lực thì bản thân hợp đồng

đó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp

đồng dân sự, các điều kiện đó tùy theo tính chất, đặc

điểm của các hợp đồng mà sẽ có sự khác nhau Tuy

nhiên, tựu trung lại thì có ba điều kiện cơ bản để một

hợp đồng khi đáp ứng các điều kiện đó sẽ có hiệu lực

theo luật định là điều kiện về mặt chủ thể; điều kiện về

mặt nội dung và điều kiện về mặt hình thức

4.8 Giao kết hợp đồng

Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí

với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định

để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân

sự

Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại

Điều 389 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 gồm:

1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không

được trái pháp luật, đạo đức xã hội;

2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác,

trung thực và ngay thẳng

Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận thống nhất

ý chí của các chủ thể tham gia dựa trên nguyên tắc tự

do giao kết và tự nguyện, bình đẳng khi giao kết vì vậy

tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, bị

lừa dối, đe dọa là những hợp đồng không đáp ứng được

nguyên tắc tự nguyện, tự do khi giao kết hay là những

hợp đồng có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội đều

bị coi là vô hiệu

Trình tự giao kết hợp đồng: là một quá trình trong đó

các bên bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi các

ý kiến trong việc cùng nhau đi đến những thỏa thuận

làm phát sinh quyền và nghĩa vụ Về thực chất, đó là

quá trình mà hai bên “mặc cả" với nhau về những điều

khoản trong nội dung của hợp đồng á trình này diễn

ra qua hai giai đoạn được pháp luật dân sự quy định như

sau:

4.8.3 Đề nghị giao kết

Đề nghị giao kết hợp đồng: là việc thể hiện rõ ý địnhgiao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị nàycủa bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể

ực chất, đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bênbiểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày

tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết vớingười đó một hợp đồng dân sự Về mặt hình thức, việc

đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiềucách thức khác nhau như:

1 Người đề nghị có thể gặp trực tiếp (đối mặt) vớingười được đề nghị trao đổi thỏa thuận hoặc cóthể thông qua các đường liên lạc khác như đệnthoại, liên lạc ở trên mạng Internet….Trong nhữngtrường hợp này thời hạn trả lời là một khoảng thờigian do hai bên thỏa thuận ấn định

2 Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự còn có thể đượcthực hiện bằng việc chuyển, gởi công văn, giấy tờqua đường bưu điện….Trong trường hợp này thờihạn trả lời là một khoảng thời gian do bên đề nghị

ấn định

Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõthời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồngvới người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghịtrả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đềnghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệthại phát sinh

ời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều

391 Bộ luật dân sự 2005 được xác định như sau: Do bên

đề nghị ấn định hoặc nếu bên đề nghị không ấn địnhthì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bênđược đề nghị nhận được đề nghị đó Các trường hợpsau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợpđồng:

1 Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được

đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếubên được đề nghị là pháp nhân;

2 Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chínhthức của bên được đề nghị;

3 Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kếthợp đồng thông qua các phương thức khác

ay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 392

Bộ luật dân sự 2005): Lời đề nghị mặc dù chưa phải làmột hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộcđối với người đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị giao kếthợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợpđồng trong các trường hợp sau đây:

1 Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việcthay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng vớithời điểm nhận được đề nghị

Trang 22

4.8 GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 13

2 Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh

trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc

được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện

đó phát sinh

Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề

nghị đó được coi là đề nghị mới

Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 393 Bộ luật

dân sự 2005): Trong trường hợp bên đề nghị giao kết

hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu

rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên

được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên

được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được

đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 394 Bộ luật

dân sự 2005): Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong

các trường hợp:

1 Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;

2 Hết thời hạn trả lời chấp nhận, chậm trả lời chấp

nhận;

3 Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị

có hiệu lực;

4 Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;

5 eo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được

đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả

lời

Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất (Điều 395

Bộ luật dân sự 2005):Khi bên được đề nghị đã chấp nhận

giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi

đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của

bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận

toàn bộ nội dung của đề nghị Chấp nhận giao kết hợp

đồng thực chất là việc bên được đề nghị nhận lời đề

nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với

bên đã đề nghị ời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp

đồng được hiểu như sau: (Điều 397 Bộ luật dân sự 2005):

1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc

trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực

hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết

hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn

trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới

của bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo

chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do

khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về

lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận

giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp

bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp

nhận đó của bên được đề nghị

2 Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cảtrong trường hợp qua điện thoại hoặc qua cácphương tiện khác thì bên được đề nghị phải trảlời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừtrường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời Nếuviệc trả lời được chuyển qua đường bưu điện, thìngày gửi đi theo dấu bưu điện được coi là thời điểmtrả lời, căn cứ vào thời điểm đó để bên đề nghị xácđịnh việc trả lời đề nghị có chậm hay không so vớithời hạn đã ấn định

Trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồngchết: Trongtrường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết (hoặcmất năng lực hành vi dân sự) sau khi bên được đề nghịgiao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồngthì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị Rút lạithông báo chấp nhận giao kết hợp đồng (Điều 400 Bộluật dân sự 2005): Bên được đề nghị giao kết hợp đồng

có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng,nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểmbên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợpđồng

4.8.5 Thực hiện giao kết

Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự: Địa điểm giao kếthợp đồng dân sự do các bên thoả thuận; nếu không cóthoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi

cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa

ra đề nghị giao kết hợp đồng ời điểm giao kết hợpđồng dân sự: Hợp đồng dân sự được giao kết vào thờiđiểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết.Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hếtthời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng,nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giaokết ời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thờiđiểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng

ời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểmbên sau cùng ký vào văn bản

Giải thích hợp đồng:

1 Nếu hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thìkhông chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà cònphải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giảithích điều khoản đó

2 Nếu một điều khoản của hợp đồng có thể đượchiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làmcho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất chocác bên

3 Nếu hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiềunghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phùhợp nhất với tính chất của hợp đồng

4 Nếu hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khóhiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địađiểm giao kết hợp đồng

Trang 23

14 CHƯƠNG 4 CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG (LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM)

5 Nếu hợp đồng thiếu một số điều khoản thì có thể

bổ sung theo tập quán đối với loại hợp đồng đó tại

địa điểm giao kết hợp đồng

6 Nếu các điều khoản trong hợp đồng phải được giải

thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa

của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội

dung hợp đồng

7 Nếu trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí

chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp

đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để

giải thích hợp đồng

8 Nếu trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp

đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải

thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu

thế

4.9 Thực hiện hợp đồng

ực hiện hợp đồng dân sự là việc các bên tiến hành

các hành vi mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực

hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của

bên kia Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự, các bên

phải tuân theo các nguyên tắc như thực hiện đúng hợp

đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại,

thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác ực

hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có

lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau Không

được xâm phạm đến công cộng, lợi ích hợp pháp của

người khác

Khi thực hiện hợp đồng dân sự ngoài việc tuân thủ các

quy tắc đã được quy định thì việc thực hiện hợp đồng

còn phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định đối với

từng loại hợp đồng cụ thể như sau:

• Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải

thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận; chỉ

được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được

bên có quyền đồng ý

• Đối với hợp đồng song vụ: Trong hợp đồng song

vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện

nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của

mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện

với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với

mình, Trong trường hợp các bên không thoả thuận

bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải

đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu

nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa

vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì

nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước Trong hợp

đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được

nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyềnyêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đốivới mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồithường thiệt hại

4.9.2 Sửa đổi hợp đồng

Sửa đổi hợp đồng dân sự là việc các bên đã tham giagiao kết hợp đồng bằng ý chí tự nguyện của mình thỏathuận với nhau để phủ nhận (làm thay đổi) một số điềukhoản trong nội dung của hợp đồng đã giao kết Sau khihợp đồng đã được sửa đổi, các bên thực hiện hợp đồngtheo những phần không bị sửa đổi trong nội dung củahợp đồng trước đó cùng với những nội dung mới đượcsửa đổi đồng thời cùng nhau giải quyết những hậu quảkhác của việc sửa đổi hợp đồng Điều 423 Bộ luật dân

sự 2005 quy định về việc sửa đổi hợp đồng dân sự nhưsau:

1 Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng

và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác

2 Trong trường hợp hợp đồng được lập thànhvăn bản, được công chứng, chứng thực, đăng

ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồngcũng phải tuân theo hình thức đó

4.10 Tham khảo

• Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2005

• Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học

Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm2003

• Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường

Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhândân, năm 2008

Trang 24

4.11 CHÚ THÍCH 15

• Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản

án, Đổ Văn Đại, Nhà xuất bản chính trị ốc gia,

năm 2009

4.11 Chú thích

[1] Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại

học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm

2008, trang 179

[2] Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại

học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm

2008, trang 411

[3] Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2003,

trang 331

[4] không giống với những quy định chặt chẽ của pháp luật

về hình thức của hợp đồng kinh tế - phải theo những

khuôn mẩu nhất định

Trang 25

Chương 5

Chế định pháp luật

Chế định pháp luật hay định ế pháp luật hoặc ế

định là tập hợp một nhómquy phạm pháp luậtcó đặc

điểm giống nhau để điều chỉnh nhómquan hệ xã hội

tương ứng trong phạm vi mộtngành luậthoặc nhiều

ngành luật Chế định có thể được hiểu theo nghĩa rộng

hoặc nghĩa hẹp Nghĩa chung và rộng là các yếu tố cấu

thành cơ cấu pháp lý của thực tạixã hội, nghĩa hẹp là

tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp

5.1 Đặc điểm

Cơ cấu bên trong của pháp luật có đặc điểm ở tính đa

dạng của các chế định, trong đó có chế định liên ngành,

nghĩa là có quan hệ đến một số ngành luật Các chế định

pháp luật liên ngành được hình thành và hoạt động

không giống nhau.Hiến pháplà cơ sở pháp lý của tất

cả các chế định pháp luật Việc xác định đúng tính chất

chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội từ đó đề ra những

quy phạm tương ứng có ý nghĩa quan trọng, đó là cơ

sở pháp lý để tạo ra cơ cấp pháp lý của một ngành luật

Không thể xây dựng được một văn bản pháp luật tốt

cũng như một ngành luật hoàn chỉnh nếu không xác

định rõ giới hạn và nội dung của các chế định pháp

luật.[1]Nhiều chế định hợp lại sẽ cấu thành ngành luật,

các ngành luật hợp lại sẽ tạo thành một hệ thống pháp

luật

Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định

có một đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên

hệ nội tại và thống nhất với nhau, chúng không tồn

tại một cách biệt lập Việc xác định ranh giới giữa các

chế định nhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống

quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã

hội Và phải đặt các chế định trong mối liên hệ qua lại

trong một chỉnh thể thống nhất của pháp luật cũng như

một ngành luật Mỗi chế định pháp luật dùng mang đặc

điểm riêng những nó cũng phải tuân theo các quy luật

vật động khách quan, chịu sự ảnh hưởng và tác động

của chế định khác trong hệ thống pháp luật.[2]

5.2 Tham khảo

• Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật,TrườngĐại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhândân,Hà Nội, năm2008

• Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật,TrườngĐại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhândân,Hà Nội, năm2003

5.3 Chú thích

[1] Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật,Trường Đạihọc Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân,HàNội, năm2008, trang 402

[2] Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật,Trường Đạihọc Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân,HàNội, năm2008, trang 403

16

Trang 26

Chương 6

Công vụ

Công vụ là một hoạt động docông chứcnhân danhnhà

nướcthực hiện theo quy định của pháp luật và được

pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và

xã hội

6.1 Tính chất, đặc điểm

Một số đặc điểm và tính chất của công vụ:

• Mục đích của công vụ là phục vụ nhân dân và xã

hội

• Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc thực hiện

chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý

mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thực hiện

chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của

xã hội không vì mục đích lợi nhuận

• Chủ thể thực thi công vụ là công chức.

• Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính

quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động

của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà

nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân

dân Các hoạt động này đều do công chức, nhân

danh nhà nước tiến hành Nó bao gồm các hoạt

động nhân danh quyền lực và các hoạt động của

các tổ chức được nhà nước uỷ quyền Ở các nước

trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người ta ít

nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ

nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân

danh nhà nước mà thôi Bởi lẽ, pháp luật là công

cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành

• Công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm

vụ, thẩm quyền của nhà nước và tuân theo pháp

Sau năm 1975 số lượng đối tượng hưởng lương là trên

1 triệu người Đợt cải cách năm 1985, tổng số ngườihưởng lương khoảng hơn 2 triệu người Đến năm 2001tổng số người hưởng lương đạt hơn 5,1 triệu người, tổngquỹ chi là 26,443 ngàn tỉ đồng.[1]

6.3 Tham khảo

[1] Hơn 6,5 triệu người hưởng lương từ ngân sách, laodong,21/11/2016

17

Trang 27

Chương 7

Cơ quan lập pháp

Cơ quan lập pháp là kiểuhội đồng thảo luậnđại diện

có quyền thông qua cácluật Đây là một trong ba cơ

quan chính gồmlập pháp,hành phápvàtư phápcủa

thể chế chính trịtam quyền phân lập

Lập pháp có nhiều tên gọi khác nhau, phổ biến nhất

là nghị viện và quốc hội (lưỡng viện), mặc dù những

tên này có nhiều nghĩa đặc trưng khác nữa Tronghệ

thống nghị việncủa chính phủ, cơ quan lập pháp là cơ

quan tối cao chính thức vàchỉ địnhcơ quanhành pháp

Ởhệ thống tổng thống, cơ quan lập pháp được xem là

phân nhánh quyền lực tương đương và độc lập với cơ

quan hành pháp Ngoài việcban hànhluật ra, cơ quan

lập pháp còn có quyền tăngthuế, thông quangân sách

và các khoản chi tiêu khác

7.1 Các viện

ành phần chính của một cơ quan lập pháp là có một

hay nhiều viện, nơi diễn ra các cuộc tranh luận vàbỏ

phiếuthông qua cácdự luật Cơ quan lập pháp có một

viện thì được gọi là lập phápđộc viện Lập pháplưỡng

việncó hai viện riêng rẽ, thường được gọi là thượng

viện và hạ viện Mỗi viện có chức năng, quyền hạn và

cách thức tuyển chọn thành viên khác nhau Ít phổ biến

hơn nhiều là lập pháp tam viện, hình thức tồn tại trong

những năm cuối của chính quyền thiểu số da trắng ở

Nam Phi

Ở hầu hết các hệ thống nghị viện, hạ viện là viện

có nhiều quyền lực hơn trong khi thượng viện chỉ có

nhiệm vụ cố vấn và xem xét

Tuy nhiên, tronghệ thống tổng thống yền hạn của

hai viện thường là như nhau và bình đẳng với nhau

Trong các chính quyềnliên bang, chúng ta thường thấy

thượng viện đại diện cho các tiểu bang hợp thành Vì

mục đích này, thượng viện có thể hoặc gồm các đại biểu

của chính quyền bang, như trường hợp củaĐứcvà ở

Hoa Kỳ trướcthế kỷ 20, hoặc được bầu ra theo công

thức cấp cho các bang có dân số ít hơn một số đại diện

ngang bằng như trong trường hợp củaÚcvà Hoa Kỳ

7.2 Danh sách tên các cơ quan lập pháp

Các quốc gia có lưỡng viện lập pháp Các quốc gia có độc viện lập pháp Các quốc gia không có cơ quan lập pháp.

Cấp quốc gia

Nghị viện(Parliament)

ốc hội(ốc hội lưỡng viện - Congress)

Hội đồng nghị viên(Diet assembly)

ốc hội(National Assembly)

Nghị viện Althing—Iceland

Hội đồng lập pháp cộng hòa (Bồ Đào Nha)

Hội đồng lập pháp Albania—Albania

Hội đồng nghị viên liên bang(Bundestag) —Đức

Cortes Generales—Tây Ban Nha

Nghị viện(Eduskunta) —Phần Lan

Hội đồng Liên Bang (Federal Assembly) — Nga,

ụy Sĩ

Nghị viện quốc gia(Folketing) —Đan Mạch

Hội đồng lập pháp(Knesset) —Israel

Nghị viện quốc gia(Majles Al-Ummah) —Kuwait

18

Trang 28

7.4 THAM KHẢO 19

Nghị viện quốc gia(Riksdag) —ụy Điển

Staten-Generaal—Hà Lan

Nghị viện quốc gia(Stortinget) —Na Uy

Tòa lập pháp(Legislative Yuan) —Đài Loan

7.3 Xem thêm

Danh sách các cơ quan lập pháp quốc gia

7.4 Tham khảo

Trang 29

Chương 8

Giá trị vốn hóa thị trường

Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo quy mô của

mộtdoanh nghiệp, là tổng giá trị thị trường của doanh

nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại

toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại.[1]

Vốn hóa tổng của cácthị trường chứng khoánhoặc các

khu vực kinh tếcó thể được so sánh với cácchỉ số kinh

tếkhác Tổng giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các

công ty giao dịch công khai trên toàn thế giới vào tháng

1 năm 2007 là US$51.2 nghìn tỷ USD[2] và tăng lên ở

mức cao 57,5 nghìn tỷ USD vào tháng 5 năm 2008.[3]

8.1 Đánh giá giá trị vốn hóa thị

trường

Giá trị vốn hóa thị trường đại diện cho sự đồng thuận

của công chúng về giá trị củavốn chủ sở hữucủa một

công ty Trong một công ty đại chúng, quyền sở hữu

được tự do mua và bán thông qua mua, bán cổ phiếu,

cung cấp một cơ chế thị trường (phát hiện giá), mà

quyết định giá cổ phiếu của công ty Giá trị vốn hóa

thị trường tương đương với giá thị trường của cổ phiếu

nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành Khi

tính giá trị vốn hoá thị trường người ta chỉ tính đến các

cổ phiếu phổ thông chứ không tính đến cổ phiếu ưu

đãi, vì chỉ cổ phiếu phổ thông mới đem lại cho người

sở hữu quyền tham gia điều hành công ty Tổng giá trị

cổ phần còn bao gồm cả các quyền mua cổ phiếu chưa

thực hiện và trái phiếu, cổ phiếu chuyển đổi

y mô và tốc độ tăng của giá trị vốn hoá thị trường là

thước đo quan trọng, đánh giá thành công hay thất bại

của một công ty niêm yết Tuy vậy, giá trị vốn hóa thị

trường còn có thể tăng giảm do nguyên nhân không

liên quan gì đến kết quả hoạt động, ví dụ như việc

mua lại một công ty khác, bán bớt một số bộ phận của

tập đoàn, hay mua lại chính cổ phiếu công ty trên thị

trường chứng khoán Giá trị vốn hóa thị trường phản

ánh giá cổ phiếu của một công ty, trong khi giá này có

thể thay đổi theo kì vọng của các nhà đầu tư, vì vậy,

chỉ số này không phản ánh hoàn toàn chính xác giá trị

20

Trang 30

Chương 9

Hoa lợi

Hoa lợi thu được từ cây trồng

Hoa lợi hay sản lượng nông nghiệp là các sản vật tự

nhiên dotài sảnmang lại, là thành quả thu hoạch được

từ sự tác động trực tiếp của con người lên tài sản đó

nhằm thúc đẩy việc sản sinh lọi ích vật chất của tài

sản, phù hợp với các quy luật tự nhiên như mùa màng,

thời tiết… nó không đơn thuần chỉ về sản lượngnông

nghiệpthu được trên một đơn vịdiện tíchmà nó còn

chỉ những sản lượng dự kiến thu được do gieo trồng

trong vụ mùa tiếp theo Đây là những vật có giá trịtiền

tệdo tài sản sinh ra (tài sản gốc)

Về mặt pháp lý, ởPhápcó học thuyết pháp lý cho rằng

mối qua hệ giữa hoa lợi và tài sản gốc là mối quan hệ

giữa vật chính và vật phụ Hoa lợi có thể được tiêu dùng

hoặc được tích lũy và trở thành tài sảnđầu tưhoặc tài

sản gốc mới, đến lượt mình, cũng sinh lợi Chỉ được gọi

là hoa lợi, lợi tức nhũng tài sản sinh ra từ tài sản gốc

mà không làm giảm sút (nhận thấy được) chất liệu củatài sản gốc Một tài sản có thể được gọi là hoa lợi trongmột quan hệ và là sản phẩm trong một quan hệ khác

Ví dụ như vườn cây ăn trái nếu trái cây được thu hoạchthì gọi là hoa lợi nhưng nếu hạ cây xuống lấy gỗ thì gọi

là sản phẩm vì tài sản gốc không còn và không thể chothu hoặc vụ trái cây tiếp theo

Ở Việt Nam, pháp luật có quy định các khoản tiền thuđược từ việc cho thuê nhà trong thời kỳ hôn nhân làhoa lợi, là thu nhập hợp pháp thuộc tài sản chung của

vợ chồng và vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngangnhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sảnchung.[1]

9.2 Tham khảo

• Bình luận khoa học về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam,Nguyễn Ngọc Điện, Nhà xuất bản Trẻ,

thành phố Hồ Chí Minh, năm2001

Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2005

• Pipes, Richard, Russia under the Old Regime

(Charles Scribner’s Sons, NY 1974) p 8

• Durant, Will, e History of Civilization: Vol IX

e Age of Voltaire p 47

• Les origines supposées du plafonnement des

rendements en blé sur le site Agriculture etEnvironnement [archive]

Site officiel des statistiques de la FAO[1] “Chia hoa lợi”.anh Niên Online Truy cập 13 tháng 6năm 2014

21

Trang 31

Chương 10

Hòa giải

Những nhân viên tình nguyện làm công tác hòa giải

Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm

dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa.[1]Hòa

giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai

hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp,

thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba

(không phải là bên tranh chấp) Hòa giải còn được hiểu

ở góc độ rộng hơn là một quá trình, trong đó bên thứ

ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng

giải quyết vấn đề của họ.[2]Hòa giải cũng được coi là sự

tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên

cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng

Hòa giải có ý nghĩa lớn, nó là cho những tranh chấp,

xung đột, mâu thuẫn, xích mích được giập tắt họăc

không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp cho

các bên tránh được một sự xung đột được giải quyết

bằng bạo lực hoặc chiến tranh Giúp các bên hiểu biết

lẫn nhau, giữ gìn cục diện ổn định… Chính vì vai trò to

lớn này nên trong quy địnhpháp luật, các nước thường

đặt ra vấn đề hòa giải trong giải quyết các tranh chấp

Và ở góc độ quốc tế, hòa giải cũng là một trong nhữngnguyên tắc hàng đầu trong việc giải quyết tranh chấpquốc tế được quy định tại Hiến Chương Liên Hiệp quốc

10.1 Các yếu tố của hòa giải

Một hành vi hay hoạt động được xem là hòa giải thìphải có các yếu tố sau:

• Là một quá trình hoạt độngxã hộivới đặc trưngnhận biết là hành vi hoặc một tập hợp cách hành

vi với mục đích thuyết phục

• Trong mối quan hệ về hòa giải ít phải có ba bên

chủ thể, trong đó hai bên (hoặc các bên) có tranhchấp, xung đột, xích mích hay mâu thuẫn với nhau

và bên thứ ba đóng vai trò trung gian, độc lập vớihai bên, giải quyết vấn đề của hai bên (hoặc cácbên) Các bên có thể là cá nhân, tổ chức,quốc gia,

tổ chức quốc tế…

• Hoạt động này phải có tính chất thuyết phục, giúp

đỡ hai bên đi đến điểm chung chứ không phải là

sự áp đặt hay đơn thuần là các hành vi mang tínhmôi giới Nói chung, tất cả các hành vi trong quátrình hòa giải đều mang tính tự nguyện

• Mục đích của việc hoà giải là nhằm làm cho hai

bên tự nguyện chấp dứt xung đột hoặc đưa haibên ngồi lại với nhau để thương lượng, giải quyếtvấn đề hoặc đi tới những điểm mà hai bên có thểthoả thuận được

• Việc hòa giải được coi là kết thúc khi:

1 Vụ tranh chấp, xung đôt, mâu thuẫn, xích mích đó

22

Trang 32

10.2 CÁC LOẠI HÒA GIẢI 23

4 Các bên hoặc một bên tranh chấp bác bỏ các kết

luận, khuyến nghị đó (hòa giải không thành)

Bên thứ ba đóng vai trò trung gian, hoà toàn độc lập

với hai bên, không có quyền áp đặt, thiên vị, hay hành

động như một người môi giới, giúp hai bên ngồi lại với

nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những

điểm mà họ có thể thoả thuận được.[3]

10.2 Các loại hòa giải

Tùy theo phạm vi tiếp cận và cách tiếp cận khác nhau,

hòa giải có thể được chia làm nhiều loại khác nhau

Là một truyền thống văn hóa của các nước để giải quyết

các xung đột trong cộng đồng,quốc gia,dân tộcbằng

các phương pháp hòa giải eo đó Các tranh chấp từ

tranh chấp cá nhân, tranh chấp tronggia đình, tranh

chấp trong cộng đồng, tranh chấp giữa các địa phương

hay các tranh chấp khác trên phạm vi toàn quốc sẽ được

giải quyết một cách êm thấm thông qua việc hòa giải

ỞViệt Nam, việc hòa giải là một hoạt động xuất phát từ

truyền thống đoàn kết, hoà hiếu của dân tộc như: “Dĩ

hòa vi quý" “Hoà cả làng”, “Một điều nhịn, chín điều

lành”, “Chín bỏ làm mười"… hay thói quen của cộng

đồng trong việc giải quyết tranh chấp là không muốn

đưa các tranh chấp ra trước các cơ quan tài phán để

phán xử như: “Vô phúc đáo tụng đình”, vì không muốn

“Chuyện bé xé ra to”, “Vạch áo cho người xem lưng”

mà chủ yếu là "đóng cửa bảo nhau”

Là việc hòa giải những xung đột, mâu thuẫn, bất đồng

giữa các bộ phận trong cộng đồng, những nhómchính

trị,đảngphái chính trị, hội đoàn… mà có yếu tố nhà

nước và thường liên quan đến các lợi ích có tính chính

trị uật ngữ thông dụng trênbáo chíchỉ về loại hình

này là hòa giải, hòa hợp dân tộc Một số sự kiện nổi bật

hiện nay là vấn đề của tiến trình hòa giải những rạn

nứt trong nội bộ dân tộc ởái Lanhiện nay sau cuộc

khủng hoảng chính trị bắt nguồn từ năm 2006.[4][5]Và

ở Việt Nam hiện nay vấn đề hòa giải dân tộc cũng được

đặt ra và tốn nhiều giấy mực của báo chí trong thời gian

gần đây

Với một lượng kiều hối chuyển về nước ngày càng

nhiều,[6][7][8][9][10]vàViệt kiềungày càng đóng vai trò

quan trọng hơn trong việc làm cầu nối để hàng hóa

nội địa vươn tới hải ngoại và ngược lại, Nhà nước Việt

Nam đã nhanh chóng đặt ra vấn đề hòa giải dân tộc để

huy động sức mạnh và sự đóng góp của lực lượng “Việt

kiều yêu nước”.[11]Tuy vậy, tiến trình hòa giải dân tộc

ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do còn nhiều bấtđồng trong cách suy nghĩ và các vấn đềlịch sửđể lại

10.2.3 Hòa giải quốc tế

Trong pháp luật quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực

công pháp quốc tế, Hòa giải cũng được coi là một trongnhững biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp giữacácquốc gia Các bên tranh chấp có thể tiến hành hòagiải với sự giúp đỡ của bên thứ ba (cá nhân, quốc gia,

tổ chức quốc tế) dưới hình thức môi giới hòa giải vàtrung gian hòa giải Trong công pháp quốc tế, nguyêntắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế có vaitrò nền tảng cho hòa giải quốc tế Điều 33 Hiến chươngLiên Hiệp quốc quy định: “Các bên tranh chấp quốc

tế, trước tiên phải cố gắng giải quyết tranh chấp bằngcác biện pháp như: Đàm phán, điều tra, trung gian, hòagiải, trọng tài, tòa án hoặc thông qua các cơ quan hay

tổ chức quốc tế khu vực hoặc bằng các biện pháp hòabình khác do các bên đã chọn.”

Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp hòabình nói trên để giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp

và có hiệu quả nhất Cùng với sự phát triển các quátrình hội nhập khu vực và quốc tế, trong những nămgần đây, cộng đồng quốc tế quan tâm nhiều đến biệnpháp thông qua tổ chức quốc tế ở khu vực để phối hợpgiải quyết các tranh chấp quốc tế, trong đó phải kể đếnvai trò của các tổ chức như Liên minhChâu âu(EU),

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) và LiênHiệp quốc (UN).[12]

Trong các biện pháp giải quyết tranh chấp theo Luậtpháp quốc tế, biện pháp hòa giải cũng được tiến hànhbởi sự tham gia của bên thứ ba Tuy nhiên trong thực

tế, khác với bên trung gian hay môi giới, vai trò củabên hòa giải thể hiện qua việc tham gia tích cực trongcác cuộc đàm phán giữa các bên tranh chấp Hơn nữa,người hòa giải có thể đưa ra các kiến nghị cùng cáchgiải quyết của mình và soạn các dự thảo để các bênthảo luật (sang kiến hòa bình)

Với tư cách tham gia tích cực vào đàm phán giữa cácbên tranh chấp, bên hòa giải có phạm vi quyền hạn vànghĩa vụ rộng lớn hơn, thể hiện việc tham gia đàm phán

từ đầu cho đến khi kết thúc, thậm chí có thể điều khiển

cả cuộc đàm phán, đưa ra kiến nghị họăc đề nghị thayđổi yêu sách của các bên tranh chấp nhằm làm cho cácbên tranh chấp xích lại gần nhau hơn

Nhiệm vụ của bên hòa giải là dung hòa yêu sách củagiữa các bên tranh chấp và hòa giải giữa các bên nhưngkiến nghị của họ không có tính chất bắt buộc đối với cácbên tranh chấp nhưng những kiến nghị của họ không

có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp Hoạtđộng hòa giải được tiến hành theo đề nghị của các bêntranh chấp hoặc theo sang kiến của bên thứ ba Bên thứ

ba có thể là một hoặc một số quốc gia, cá nhân họăc tổchức quốc tế không tham gia vào vụ tranh chấp

Trang 33

24 CHƯƠNG 10 HÒA GIẢI

Nhiều điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương

cũng quy định hòa giải là một trong những biện pháp

mà thành viên ký kết điều ước có thể sử dụng khi tranh

chấp nảy sinh trong quá trình giải thích hoặc thực hiện

các điều ước quốc tế đó Chẳng hạn, Công ước Viên năm

1969 về Luật Điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc

gia, Công ước Luật biển năm 1982…

Trong quá trình hòa giải quốc tế, chúng ta có thể thấy

vai trò to lớn của các tổ chức quốc tế, vai trò của các

bên trung gian Trong tiến trình hòa giảiTrung Đông

giữaIsraelvàPalestinvai trò của nhóm “Bộ Tứ" (Liên

Hiệp ốc, Liên Minh châu Âu, Hoa Kỳ và Nga là rất

quan trọng, có ảnh hưởng to lớn trong việc kêu gọi,

thúc giục các bên đàm phán Ngoài ra thì cuộc đàm

phán sáu bên giữa các nước về tiến trình hòa giải trên

bán đảoTriều Tiên, các nước trung gian nhưMỹ,Nga,

Trung ốc,Nhật Bảncó tiếng nói quan trọng trong

việc khẳng định lập trường, thái độ củaCộng hòa dân

chủ nhân dân Triều TiênvàHàn ốc

Là các loại hình hòa giải được pháp luật các nước quy

định, theo đó việc hòa giải là một khâu trong trình tự,

thủ tục tiến hành tố tụng, hoặc thiết lập một thể chế

hòa giải ở địa phương

Ở Việt Nam hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp

dân sự,kinh tế,lao động(tranh chấp lao động), các vụ

án hôn nhân -gia đìnhtại toà án nhân dân hay tại một

tổ chức, hay tại Hội đồng trọng tài đều thông qua khâu

hòa giải như một thủ tục bắt buộc Khi hòa giải thành,

toà án, trọng tài sẽ ra quyết định công nhận kết quả

hòa giả mà không cần phải tiến hành xét xử Các bên

tranh chấp cũng có thể tự tổ chức hòa giải tranh chấp

ngoài phạm vi tố tụng của toà án và trọng tài

Pháp luật của Việt Nam cũng quy định về công tác

hòa giải những xích mích, tranh chấp nhỏ trong nội

bộ nhân dân bằng công tác hòa giải ở đơn vị cơ sở Việc

giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn trong nội bộ nhân

dân ở các khu vực dân cư do các tổ hòa giải cơ sở thực

hiện theo quy định của pháp luật

Điều 172 của "Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ

nghĩa Việt Nam năm 1992” quy định: "Ở cơ sở, thành

lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết

những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân

dân theo quy định của pháp luật” Ngày 25.12.1998, Uỷ

ban ường vụ ốc hội đã thông qua Pháp lệnh về

tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở và sau này, năm

2012 đã ban hànhLuật Hòa giải ở cơ sởđể thay thế Tựu

trung lại, pháp luật Việt Nam quy định có các dạng hòa

giải sau:

• Hoà giải được tiến hành ở Tòa án nhân dân, theo

đó Tòa án nhân dân trong quá trình tiến thành tố

tụng phải thực hiện nguyên tắc hoà giải Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2004 đã khẳng định trong Điều

10 về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự:

“Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạođiều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận vớinhau về việc giải quyết vụ việc dân sự"

Bộ luật cũng quy định cụ thể việc hòa giảiđược thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm,phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khibắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ

án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồithường thiệt hại đến tài sản nhà nước hoặcnhững vụ án dân sự phát sinh từ giao dịchtrái pháp luật hoặc đạo đức xã hội

Bản chất của quan hệ dân sự là được thiết lậptrên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạtcủa đương sự, do đó việc giải quyết các tranhchấp phát sinh từ các quan hệ này được thựchiện theo những biện pháp nhất định, khônggiống với tố tụng hình sự hay tố tụng hànhchính, mà hòa giải là một biện pháp quantrọng và là nguyên tắc bắt buộc tòa án phảithực hiện (Những vấn đề cơ bản của Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2004, Vụ Công tác Lậppháp – Văn phòng ốc hội, Nhà xuất bản

Tư pháp, năm 2004)

• Hoà giải được tiến hành tại các cơ quan quản lý

lao động theo quy định của Bộ Luật lao động Đây

là một nguyên tắc trong việc giải quyết tranh chấplao động theo quy định tại Điều 158 của Bộ LuậtLao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2002 eo đó, các tranh chấp vềlao động có thể yêu cầu Hoà giải viên, Hội đồnghoà giải, Hội đồng trọng tài giải quyết trước khikhởi kiện ra Toà án lao động eo quy định củapháp luật lao động, hệ thống các cơ quan có thẩmquyền giải quyết tranh chấp về lao động bao gồm:

1 Hội đồng hòa giải cơ sở: Hội đồng này được thànhlập tại cácdoanh nghiệpsử dụng thường xuyên từ

10 lao động trở lên, nó có thẩm quyền hòa giải mọitranh chấp giữa người lao động, tập thể người laođộng với người sử dụng lao động Hội đồng hòagiải cơ sở gồm số người dại diện ngang nhau củabên người sử dụng lao động, số lượng do hai bênthỏa thuận Nhiệm kỳ của Hội đồng là hai năm.Đại diện của mỗi bên luân phiên làm chủ tịch vàthư ký hội đồng Hội đồng làm việc theo nguyêntắc thỏa thuận và nhất trí

2 Hòa giải viên lao động: Là một người do cơ quanlao động cấp huyện cử ra, có nhiệm vụ giải quyếttranh chấp lao động ở những nơi chưa thành lậpHội đồng hòa giải lao động cơ sở, giải quyết cáctranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người

sử dụng lao động, tranh chấp về thực hiện hợpđồng dạy nghề và phí dạy nghề

Trang 34

10.3 HÒA GIẢI KIỂU ÚC 25

3 Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh: Là hội đồng

do cơ quan lao động cấp tỉnh lập ra và cử đại

diện làm chủ tịch, có nhiệm vụ giải quyết tranh

chấp lao động tập thể đã qua hòa giải cơ sở nhưng

không thành Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh

được thành lập theo số lẽ và tối đa không quá 09

thành viên, gồm các thành viên chuyên trách và

kiêm chức (kiêm nhiệm) là đại diện của cơ quan lao

động, đại diện của công đoàn, đại diện của những

người sử dụng lao động và một số luật gia, nhà

hoạt động xã hội có uy tín ở địa phương Nhiệm

kỳ của Hội đồng này là 03 năm Hội đồng làm việc

theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số bằng

cách bỏ phiếu kín

4 Tòa án nhân dân: Tòa Lao động của Tòa án nhân

dân trực tiếp giải quyết các vụ án lao động Cũng

như các tòa hình sự, dân sự, Tòa Lao động là một

tòa chuyên trách trong tổ chức hệ thống tòa án

nhân dân

• Hòa giải tại Ủy ban nhân dân: Đây là việc hòa giải

tại Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các tranh chấp

về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2003

và Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ năm

2004 về thi hành Luật Đất đai, đây là loại hòa giải

mang tính chất bắt buộc trước khi thực hiện các

thủ tục hành chính kế tiếp.[13]

• Hoà giải ở cơ sở: Là hòa giải được tổ chức ở cơ

sở (xóm, ấp, tổ dân phố…), đây là loại hòa giải tự

nguyện theo Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động

hòa giải ở cơ sở

Cũng theo quy định của pháp luật hiện hành, các bên

không được phép hòa giải một số vụ việc liên quan đến

huỷ bỏ việc kết hôn trái pháp luật, đòi bồi thường thiệt

hại tài sản của nhà nước, những việc phát sinh từ giao

dịch trái pháp luật, những việc xác định công dân mất

tích hoặc đã chết, những việc khiếu nại cơ quan hộ tịch

về việc từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu

sửa đổi những điểm ghi trong giấy tờ về hộ tịch, những

việc khiếu nại về danh sách cử tri và những việc khác

theo quy định của pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam rất khuyến khích việc hòa giải

ở cơ sở

10.3 Hòa giải kiểu Úc

ỞÚccó nhiều thiết chế (tổ chức) tham gia vào việc hòa

giải tại nước này tạo nên một sự đa dạng trong việc hòa

(NSW) được thành lập trên cơ sở Chính sách ADR (dịch

vụ giải quyết tranh chấp ngoài tòa án) của Hiệp hội luật

sư Nhiệm vụ của Uỷ ban là tham mưu chính sách ADRcho Hiệp hội luật sư, bao gồm trung gian hoà giải, trọngtài, đánh giá trung lập tại giai đoạn đầu của giải quyếttranh chấp và hoà giải Uỷ ban là đầu mối liên lạc giữacác tổ chức ADR, bao gồm các uỷ ban ADR của các hiệphội luật sư và đoàn luật sư của các tiểu bang và vùnglãnh thổ cũng như NADRAC

10.3.2 Trung tâm Tư pháp Cộng đồng

(CJC)

Trung tâm Tư pháp cộng đồng (Community JusticeCenter- CJC) là văn phòng quản lý các Trung tâm Tưpháp, được thành lập theo Luật ốc hội của Bang NewSouth Wales năm 1983 CJC trực thuộc sự quản lý của

Bộ Tư pháp Tiểu bang NSW, cung cấp các dịch vụ trunggian hoà giải và quản lý xung đột cho người dân NSW.Phạm vi hoạt động của CJC bao gồmg cung cấp cácdịch vụ hoà giải và các dịch vụ giải quyết tranh chấpcho người dân ở bang NSW

Phạm vi hòa giải bao gồm các tranh chấp láng giềng,tranh chấp gia đình, tranh chấp giữa các doanh nghiệp,các vụ việc dân sự, các khiếu nại nhỏ, tranh chấp laođộng, tranh chấp giữa các cộng đồng hoặc trong phạm

vi cộng đồng CJC là một điển hình tốt có lịch sử tồntại lâu năm về các chương trình hoà giải cơ sở hiệu quả

và bền vững được thành lập theo pháp luật

10.3.3 Tòa án Đất đai và Môi trường Bang

NSW

Tòa án Đất đai và Môi trường của Bang New SouthWales là tòa án chuyên biệt về hoạch định đất đai vàmôi trường với thẩm quyền rất lớn Tòa chịu tráchnhiệm giải thích và thực thi luật pháp về môi trường

ở bang New South Wales, Australia

Các quy trình ADR được Toà án đất đai và môi trường

sử dụng để giải quyết các mâu thuẫn trong nhữnglĩnh vực sau: quản lý quy hoạch vùng và chính quyềnđịa phương; quy hoạch thành phố, thị trấn hoặc môitrường; khoa học môi trường, bảo vệ môi trường vàđánh giá môi trường; luật pháp và định giá đất; kiếntrúc, kỹ thuật, khảo sát và xây dựng; và quản lý tàinguyên hoặc quản lý đất đai của nhà nước Liên bang.Tại Toà án đất đai và môi trường của Bang NSW, đoàncông tác đã tìm hiểu về vai trò của hoạt động trunggian hoà giải trong cá tranh chấp về môi trường và đấtđai cũng như các thủ tục, quy trình hành chính để tiến

Trang 35

26 CHƯƠNG 10 HÒA GIẢI

hành các quy trình hoà giải đó Ngoài ra, đoàn cũng

thảo luận với các cán bộ Toà án về những khó khăn,

thách thức trong việc sử dụng ADR nhằm giải quyết

các xung đột về môi trường và đất đai

Cơ quan tài phán hành chính (Administrative

Decisions Tribunal – ATT) là cơ quan độc lập có chức

năng rà soát các quyết định hành chính do các Bộ

trưởng, cơ quan Nhà nước và các Toà án khác thuộc

Chính quyền liên bang Australia ban hành AAT còn

có thể xem xét các quyết định hành chính được ban

hành bởi các cơ quan Nhà nước và các tổ chức phi

Chính phủ của các tiểu bang, nhưng những trường

hợp này rất hạn chế

Đạo luật AAT sửa đổi năm 2005 có hiệu lực từ ngày

16/5/2005 đã mở rộng phạm vi thẩm quyền của AAT

đối với các quy trình ADR bao gồm:

• u xếp gặp gỡ (conferencing – tổ chức cho các

bên gặp nhau, tự xác định tranh chấp và giải

quyết)

• Trung gian hoà giải (mediation – hỗ trợ cho các

bên trong việc xác định rõ tranh chấp, xây dựng

phương án, và đi đến thoả thuận chung

• Không tư vấn về nội dung tranh chấp mà chỉ về

quy trình giải quyết tranh chấp), đề xuất trung

lập (neutral evaluation – đưa ra gợi ý về cách giải

quyết tranh chấp, nhưng các bên không bắt buộc

phải tuân theo)

• Đánh giá và đề xuất trung lập (case appraisal –

đưa ra ý kiến đánh giá trung lập các tình tiết của

vụ tranh chấp và đề xuất giải pháp, nhưng các bên

không bắt buộc phải tuân theo);

• Hoà giải (conciliation – hỗ trợ cho các bên trong

việc xác định rõ tranh chấp, xây dựng phương án,

và quyết định cách giải quyết

Mỗi conciliator (hòa giải viên) có vai trò lớn hơn so với

mediator (người trung gian hòa giải) vì conciliator có

quyền áp đặt quy trình hoà giải, đề xuất cách giải quyết

đối với các bên) và các thủ tục và hoạt động khác theo

quy định của pháp luật

người lao động (WCC)

Ủy ban về vấn đề bồi thường cho người lao động (WCC)

chịu trách nhiệm giải quyết và xem xét các tranh chấp

liên quan tơí các khiếu nại về bồi thường cho người lao

động Ví dụ bồi thường theo tuần cho khoản thiệt hại

về thu nhập, thanh toán chi phí y tế và bồi thường thiệt

hại về sức khoẻ, đau yếu/ thương tật vĩnh viễn

Các trọng tài viên của Uỷ ban được đào tạo bài bản đểtiến hành các phiên xét xử tại Hội đồng trọng tài mộtcách công bằng cho tất cả các bên, bao gồm việc sửdụng cả các quy trình hoà giải, thương lượng và hoàgiải – trọng tài kết hợp Trong mỗi một công đoạn củacác quy trình đó, các trọng tài viên đều khuyến khích và

hỗ trợ các bên đạt được thoả thuận Trong trường hợpcác bên không đạt được thoả thuận, Hội đồng trọng tài

sẽ ra quyết định có tính ràng buộc

Uỷ ban cung cấp các dịch vụ miễn phí cho các bên; cáctranh chấp được trình lên Uỷ ban mà không phải nộpbất cứ một khoản phí nào Về cơ bản, người sử dụng laođộng sẽ thanh toán mọi chi phí pháp lý liên quan tớicác tranh chấp về tiền bồi thường cho người lao động.Trường hợp duy nhất mà người lao động phải trả phípháp lý, đó là khi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấpcủa người đó không có cơ sở chính đáng, hoặc được kếtluận là không có cơ sở hoặc không trung thực

10.3.6 Trung tâm quan hệ gia đình (FRC)

Trung tâm tư vấn quan hệ gia đình là nơi cungt nguồnthông tin và tư vấn đáng tin cậy cho các gia đình ở cácgiai đoạn khác nhau của đời sống 64 trung tâm tư vấnquan hệ gia đình đã được thành lập trên khắp Australia

và được Chính phủ liên bang tài trợ kinh phí hoạt động.Trong trường hợp các gia đình đổ vỡ, chia tay, Trungtâm sẽ cung cấp thông tin tư vấn và giải quyết tranhchấp (như là trung gian hoà giải) để giúp các thành viên

đi đến thống nhất mà không phải ra toà Trung tâmcũng thường xuyên tổ chức các buổi họp cá nhân, theonhóm để giúp các gia đình đang bị đổ vỡ đi đến thoảthuận chung về con cái và tài sản của họ mà không phải

ra Toà giải quyết

10.3.7 Hiệp hội các nhà Giải quyết Tranh

chấp (LEADR)

Hiệp hội các nhà giải quyết tranh chấp LEADR là một

tổ chức phi lợi nhuận lớn, được thành lập năm 1989,hoạt động theo cơ chế thành viên nhằm mục đích nângcao chất lượng dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài Toà

án (ADR) Đây là tổ chức liên lục địa Úc - Á, có vănphòng tại Australia,New Zealand,Indonesia,Malaysia,

Ấn Độ, ái Lan và Nhật Bản LEADR là ví dụ điển hình

về mô hình tổ chức tập thể tự quản với chức năng côngnhận hoà giải viên

Tổ chức này có chức năng đảm bảo các dịch vụ giảiquyết tranh chấp bằng ADR có chất lượng cao trongkhu vực thông qua các hoạt động đào tạo và công nhậnhoà giải viên và trọng tài; thúc đẩy đào tạo và nghiêncứu về ADR; cấp nhật các thông tin về ADR trong nước

và quốc tế cho các thành viên; cung cấp các dịch vụ đàotạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn một cách liêntục cho các hoà giải viên chuyên nghiệp; tạo điều kiện

Trang 36

10.4 HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TẠI VIỆT NAM 27

tiếp cận đơn giản và có hiệu quả với các hoà giải viên

chuyên nghiệp; hỗ trợ các tổ chức trong việc phát triển

các quy trình giải quyết tranh chấp bằng ADR có hiệu

quả

LEADR có quyền công nhận tư cách hoà giải viên theo

Tiêu chuẩn ốc gia về Hoà giải có hiệu lực vào ngày

1/1/2008 Sau hơn 10 năm kinh nghiệm quản lý hệ

thống công nhận hoà giải viên của mình và sự hiểu

biết sâu sắc về các Tiêu chuẩn quốc gia của Úc về Hoà

giải viên mới được ban hành trên đây, LEADR cung cấp

một quy trình công nhận hoà giải viên chuyên nghiệp

và có uy tín

LEADR đánh giá kinh nghiệm và chất lượng đào tạo

của các cá nhân để quyết định các yêu cầu đào tạo bổ

sung, trên cơ sở đó đánh giá dựa trên năng lực về kỹ

năng của hoà giải viên Việc được LEADR công nhận

sẽ là một sự đảm bảo về chất lượng dịch vụ cho các

khách hàng của các hoà giải viên

Các thành viên của LEADR – một tổ chức về ADR lớn

nhất Nam bán cầu – được hưởng nhiều lợi ích như được

bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và bảo hiểm trách

nhiệm cộng cộng với chi phí thấp; có cơ hội được làm

việc với các nhà giải quyết tranh chấp chuyên nghiệp

khác trong khu vực; được tạo cơ hội tiếp tục phát triển

chuyên nghiệp; thụ hưởng các hoạt động đào tạo, nâng

cao năng lực do LEADR tổ chức; được sử dụng các chức

danh của LEADR; được hưởng các tư cách thành viên

khác phù hợp với kinh nghiệm của mình v.v…

10.4 Hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam

Hòa giải ở cơ sở là một hình thức hòa giải tại cộng đồng

dân cư do các tổ chức tự quản ở địa phương (tổ hòa giải)

tiến hành nhằm hòa giải những tranh chấp, xích mích

nhỏ trong cộng đồng dân cư

Hoà giải ở cơ sở được hiểu là quá trình hoà giải viên vận

dụng pháp luật, đạo đức xã hội, bằng tấm gương của

mình để giải thích, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các

bên tranh chấp tự nguyện giải quyết với nhau những vi

phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm xoá bỏ mâu

thuẫn, bất đồng và đạt được những thoả thuận phù hợp

với đạo đức xã hội, góp phần xây dựng tinh thần đoàn

kết trong nội bộ nhân dân, tương thân, tương ái, giữ

gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cộng

đồng dân cư, chủ động phòng ngừa và hạn chế những

hành vi vi phạm pháp luật ở cơ sở.[14]

eo quy định của pháp luật Việt Nam thì hoà giải ở

cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên

tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết

với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấpnhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng

cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốtđẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa,hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xãhội trong cộng đồng dân cư.[15][16]

uật ngữ “Cơ sở" được hiểu là thôn phốthôn, xóm,

bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các

chợcố định,chung cư, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí

Nó không được hiểu là một cấp chính quyền thấp nhấtnhư cấp xã

uật ngữ “các bên” được hiểu có thể là các thành viêntrong một hộ gia đình, các hộ gia đình với nhau hoặccác cá nhân với nhau

10.4.2 Lịch sử phát triển

Sau khi nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoàra đời đãban hành các văn bản pháp luật về hoà giải như: SắcLệnh số 13/SL ngày 24 tháng 01 năm 1946 và Sắc Lệnh

số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946, trong đó có quyđịnh Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ hoà giải tất cả các vụviệc về dân sự, thương mại và phạt vi cảnh Cùng vớichế định hoà giải của Ban Tư pháp xã, còn có chế địnhhoà giải của Toà án Sơ cấp (trước năm 1950) và của Toà

án nhân dân huyện (sau năm 1950)

Từ năm 1961, tổ hoà giải được thành lập ở thôn, xómhoặc liên thôn xóm Trong thời kỳ này nhiệm vụ quản

lý công tác hoà giải được chuyển giao cho Toà án nhândân tối cao thực hiện vìChính phủViệt Nam dân chủcộng hòa không có Bộ Tư pháp

Đến năm 1964, tổ hoà giải thành lập ở cơ sở là một tổchức xã hội, không phân xử mà chỉ giải thích, thuyếtphục để giúp đỡ các bên tự nguyện giải quyết các xíchmích, tranh chấp một cách có tình, có lý Nghị quyếtHội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8khoá VII đã chỉ rõ: “Coi trọng vai trò hoà giải của chínhquyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở

cơ sở"

Đến thời kỳ nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNamthì hòa giải ở cơ sở được ghi nhận trong nhiều vănbản pháp luật

Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã lần đầu thể chế hoáhoạt động hoà giải ở cơ sở: "Ở cơ sở thành lập các tổchức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc

vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dântheo quy định của pháp luật”

Chế định hoà giải ở cơ sở tiếp tục được Hiến pháp 1992ghi nhận tại Điều 127: "Ở cơ sở thành lập các tổ chứcthích hợp của nhân dân để giải quyết những việc viphạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theoquy định của pháp luật”

Bộ Luật dân sự nước công hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1995 đã coi việc hoà giải để giải quyết các

Trang 37

28 CHƯƠNG 10 HÒA GIẢI

tranh chấp dân sự là một trong những nguyên tắc cơ

bản của pháp luật dân sự Việt Nam: “Trong quan hệ

dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định

của pháp luật được khuyến khích Không ai được dung

vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong việc giải quyết

các tranh chấp dân sự" (Điều 11)

Và đến ngày 25 tháng 12 năm 1998, Uỷ ban thường vụ

ốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 về

tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở Tiếp đến, ngày

18 tháng 10 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định

số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của

Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở

Đây là hai văn bản có hiệu lực pháp lý cao quy định

đầy đủ, đồng bộ và toàn diện các vấn đề về tổ chức và

hoạt động hoà giải ở cơ sở Chế định về hòa giải ở cơ

sở chính thức được ra đời

Bên cạnh đó, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999

cũng quy định một trong những nhiệm vụ của Mặt trận

tổ quốc các cấp là: “am gia hoạt động hoà giải ở cơ

sở theo quy định của pháp luật về hoà giải” (khoản 3

Điều 7) Một số văn bản quy phạm pháp luật khác cũng

có những quy định liên quan đến hoà giải ở cơ sở như:

Luật hôn nhân và gia định năm 2000, Luật Đất đai năm

2003

Năm 2012, ốc hội Việt Nam ban hành Luật Hòa giải

ở cơ sở, đánh dấu sự hoàn thiện tương đối về mặt thể

chế đối với công tác hòa giải ở cơ sở

Hòa giải ở cơ sở có vai trò rất to lớn[17]

• Đóng vai quan trọng trong việc củng cố mối quan

hệ trong cộng đồng dân cư, góp phần “xây dựng

tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ

nhau, xây dựng xã hội bình yên, tăng cường tình

đoàn kết trong nhân dân”

• Trực tiếp giải quyết những việc vi phạm pháp luật

và tranh chấp nhỏ trong nhân dân qua đó góp

phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng

ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm ở cộng đồng

dân cư thông qua việc phát hiện và giải quyết tận

gốc những mâu thuẫn, tranh chấp góp phần ổn

định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư

• Góp phần hạn chế đơn thư, khiếu kiện trong nhân

dân, giảm bớt tình trạng gửi đơn kiện cáo lên Toà

án, cơ quan hành chính cấp trên, giúp cho các cơ

quan nhà nước giảm bớt việc giải quyết đơn thư

khiếu kiện không cần thiết dẫn đến tình trạng quá

tải, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của cơ quan nhà

nước và công dân

• Góp phần truyền bá pháp luật trong nhân dân,

hình thành trong mỗi cá nhân ý thức chấp hành

pháp luật

10.4.4 Chủ thể thực hiện hòa giải

Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt độngcủa Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác củanhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụmdân cư khác

Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dânđược thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố cũngnhư các cụm dân cư khác (chung cư, chợ tập trung, tụđiểm vui chơi, giải trí) để thực hiện hoặc tổ chức thựchiện việc hoà giải tranh chấp nhỏ trong dân cư

Tổ hoà giải có Tổ trưởng và các tổ viên Những thànhviên này được cộng đồng dân cư bầu qua cuộc họp (Cáccuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 sốngười trong diện họp tham dự) (có thể biểu quyết côngkhai hoặc bỏ phiếu kin) của các chủ hộ hoặc được tínhkết quả qua phiếu lấy ý kiến của chủ hộ

Người được bầu là tổ viên Tổ hoà giải phải được quánửa số người tham gia bầu tán thành Sau đó một quyếtđịnh công nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

sẽ làm họ chính thức trở thành một Hòa giải viên

10.4.5 Phạm vi hòa giải

Nhìn chung thì việc hoà giải ở cơ sở được tiến hành đốivới việc tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư eoquy định hiện hành thì việc hòa giải được thực hiện đốivới những vụ việc sau đây (Điều 3 Pháp lệnh về tổ chức

và hoạt động hòa giải ở cơ sở):

• Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong

gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống,tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích míchgiữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sửdụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt,công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinhchung…

• Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ

dân sự như tranh chấp phát sinh từ các quan hệ

về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân

sự, thừa kế, quyền sử dụng đất

• Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ

hôn nhân gia đình như: thực hiện quyền và nghĩa

vụ của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ

và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấpdưỡng

• Tranh chấp phát sinh từ những việc vi phạm pháp

luật mà theo quy định của pháp luật, những việc

vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháphình sự hoặc biện pháp hành chính như trộm cắpvặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng,

Trang 38

• Giáo trình Luật ốc tế, Trường Đại học Luật Hà

Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2004

• Những vấn đề cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2004, Vụ Công tác Lập pháp – Văn phòng

ốc hội, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2004

• Hướng dẫn quản lý công tác hoà giải ở cơ sở, Dự

án hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển Hệ thống

pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Nhà xuất bản

tư pháp, năm 2006

• Cẩm nang bồi dưỡng nghiệp vụ cho hoà giải viên,

Dự án hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển Hệ

thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Nhà xuất

bản tư pháp, năm 2006

• Đánh giá năng lực cán bộ tư pháp cấp tỉnh về công

tác quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở, Dự

án hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển Hệ thống

pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Nhà xuất bản

tư pháp, năm 2005

• Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ

sung năm 2001)

• Bộ Luật dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 2005

• Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

• Luật Đất đai năm 2003

• Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng

12 năm 1998, Uỷ ban thường vụ ốc hội về tổ

chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở

• Nghị định số 160/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày

18 tháng 10 năm 1999 quy định chi tiết một số điều

của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở

cơ sở

10.6 Chú thích

[1] Từ điển tiếng Việt của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội

phát hành năm 1995

[2] eo Hiệp hội hoà giải Hoa kỳ

[3] Từ điển thuật ngữ của Tổ chức Lao động ốc tế

-ILO/EASMAT

[4] “BAODATVIET.VN ủ tướng ái khó lòng hòa giải

dân tộc” Báo Đất Việt Truy cập 24 tháng 9 năm 2015

[5] “ủ tướng ái Lan kêu gọi hòa giải dân tộc” Báo Công

an Nhân dân Điện tử Truy cập 8 tháng 6 năm 2014.[6] Tính riêng trong 14 năm (từ 1991-2004) Việt Nam đãnhận được 15 tỉ 243 triệu USD từ Kiều hối, bằng 59%tổng vốn FDI thực hiện và lớn hơn cả tổng số vốnODA giải ngân của giai đoạn 1993-2004 Lượng kiều hốichuyển về năm 2005 mới đạt gần 4 tỷ USD, thì năm 2006tăng lên 5,2 tỷ USD và năm 2007 dự báo con số thống

kê được đạt trên 6 tỷ USD Năm 2008, Việt Nam đứngthứ 10 trên thế giới về kiều hối nhận được, với ít nhất7,2 tỷ USD Năm 2009, tuy tình hình kinh tế suy thoáitoàn cầu nhưng Việt Nam vẫn nhận được khoảng 6 tỷUSD

[7] “VietNamNet”.VietNamNet Truy cập 7 tháng 2 năm2015

[8] “Minh bạch hóa kiều hối về Việt Nam”.Báo điện tử DânTrí 25 tháng 12 năm 2009 Truy cập 8 tháng 6 năm 2014.[9] “RFI” Truy cập 7 tháng 2 năm 2015

[10] “ngân hàng acb” Truy cập 8 tháng 6 năm 2014.[11] Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từng phát biểu rằngnhà nước phải chìa tay ra trước để đón nhận, đồng thờimột bộ phận người Việt ở nước ngoài vẫn còn mặc cảmcũng phải chủ động hòa nhập

[12] Giáo trình Luật ốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội,Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2004, trang 48[13] http://phapluattp.vn/20130825102822768p1063c1016/khong-hoa-giai-chu-tich-phuong-bi-kien.htm[14] Cẩm nang bồi dưỡng nghiệp vụ cho hoà giải viên, Dự

án hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển Hệ thống phápluật Việt Nam đến năm 2010, Nhà xuất bản Tư pháp,năm 2006

[15] Điều 1 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơsở

[16] Điều 2 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP của Chính phủngày 18 tháng 10 năm 1999

[17] “Cổng thông tin điện tử Bộ Tư Pháp” Truy cập 24 tháng

9 năm 2015

Trang 39

Chương 11

Hệ thống pháp luật Việt Nam

Hiến pháp, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất trong hệ thống

pháp luật

Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể cácquy phạm

pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của

pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với

nhau, được phân định thành cácngành luật, các chế

định pháp luậtvà được thể hiện trong các văn bản do

cơ quannhà nước Việt Namcó thẩm quyền ban hành

theo những hình thức, thủ tục nhất định để điều chỉnh

các quan hệ xã hội phát sinh trên lãnh thổViệt Nam

Hiện nay, Việt Namcóhệ thống pháp luậtphức tạp

nhấtthế giới[1][2], hệ thống này được đặc trưng bởi sự

đồ sộ, rườm rà, rắc rối nhưng lại có quá nhiều kẻ hở

và lỗ hổng, một hệ thống quy định chồng chéo, mâu

thuẫn, thiếu đồng bộ gây cản trở và đè nặng lên người

dân, doanh nghiệp, một hệ thống pháp luật thiếu tính

thực tiễn, không có tính khả thi, thiếu sự minh bạch và

không đi vào cuộc sống do quá trình xây dựng phápluật thiếu tư duy, tầm nhìn[3][4], đầy cục bộ, thiếu côngbằng và thể hiện lợi ích nhóm[5][6]

11.1 Tên gọi

Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểmkhác nhau, trong đó, có quan điểm cho rằng, hệ thốngpháp luật bao gồm hai bộ phận làcông phápvàtư pháp,quan điểm khác cho rằng cần phải phân biệt hai kháiniệm: Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thựcđịnh và quan điểm chỉ có một khái niệm hệ thống phápluật, không thể phân biệt rõ nét hai khái niệm hệ thốngpháp luật và hệ thống pháp luật thực định eo quanđiểm này, hệ thống pháp luật có nội dung rất rộng, baogồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và nhữngnguồn khác nữa của pháp luật tồn tại trên thực tế màdựa trên cơ sở đó tính hiện thực của pháp luật được bảođảm và pháp luật phát huy hiệu lực

eo quan điểm này hệ thống pháp luật là một kháiniệm chung bao gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấutrúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật (hệthống nguồn của pháp luật)

11.2 Hệ thống văn bản pháp luật

Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam bao gồm:[7]

Hiến pháp– Doốc hộiban hành

Luật hoặcBộ luật– Do ốc hội thông qua và

Chủ tịch nướcký quyết định ban hành Có thể kểmột số Bộ luật như:Bộ luật dân sự,Bộ luật hình

sự,Bộ luật tố tụng dân sự,Bộ luật tố tụng hình sự,

Bộ luật lao động,Bộ luật hàng hải

Văn bản dưới luậtgồm:

Nghị quyết của ốc hội

Ủy ban thường vụ ốc hội:Pháp lệnh, Nghịquyết

Chủ tịch nước:Lệnh,yết định

30

Trang 40

Chánh án Toà án nhân dân tối cao: ông tư.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

ông tư

Bộ trưởng, ủ trưởng cơ quan ngang bộ:

ông tư

Tổng Kiểm toán Nhà nước: yết định

• Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ

ốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan

trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

ông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án

nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm

sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, ủ

trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm

sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, ủ

trưởng cơ quan ngang bộ

• Văn bản quy phạm pháp luật củaHội đồng nhân

dân,Uỷ ban nhân dân Bao gồm:[8]

• Hội đồng nhân dân: Nghị quyết.

• Ủy ban nhân dân: yết định.

Ngành luật(tập hợp các quy phạm pháp luật có

đặc tính chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội

trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội)

Ở Việt Nam có những ngành luật sau đây:[10]

• Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật,TrườngĐại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhândân,Hà Nội, năm2003

• Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công

an nhân dân,Hà Nộinăm2003

• Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công

an nhân dân,Hà Nộinăm2003

• Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam,Trường Đạihọc Luật Hà Nội, Nhà Xuất bản Công an nhân dân,

11.5 Chú thích

[1] Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường[2] Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường[3] Tổng kết, đánh giá của Tòa án nhân dân Tối cao ViệtNam

[4] Đánh giá của Bộ Tư pháp Việt Nam[5] Sở Tư pháp ành phố Hồ Chí Minh[6] Sở Tư pháp ành phố Hồ Chí Minh[7] Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2008 (Luật số 17/2008/QH ngày 03/6/2008)[8] Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 (Luậtsố: 31/2004/QH 11 ngày 03/12/2004)

[9] Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đạihọc Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, HàNội, năm 2008, trang 401-404

Ngày đăng: 05/10/2017, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm