1.1 Bạch tạng ở người 1.1.1 Dấu hiệu và triệu chứng Những người mà trong cơ thể hoàn toàn không thể sản xuất ra melanin gọi là bạch tạng toàn phần.. Bằng cách nhìn bằng mắt thì rất khó p
Trang 1Các trang trong thể loại “Bệnh di truyền”
Trang 21 Bạ tạng 1
1.1 Bạch tạng ở người 1
1.1.1 Dấu hiệu và triệu chứng 1
1.2 Chú thích 2
1.3 Liên kết ngoài 2
2 Bệnh di truyền 3 2.1 am khảo 3
3 Bệnh Milroy 4 3.1 Mô tả 4
3.2 Chú thích 4
3.3 Liên kết ngoài 4
4 Bệnh xương dễ gãy 5 4.1 Chú thích 5
4.2 Liên kết ngoài 5
5 Hội ứng Liddle 6 5.1 Bệnh nguyên 6
5.2 Triệu chứng 6
5.3 Chẩn đoán 6
5.4 Chữa trị 7
5.5 am khảo 7
6 Hội ứng Tourette 8 6.1 Mozart và chứng Touree 8
6.2 Chú thích 8
7 Progeria 10 7.1 am khảo 10
7.2 Liên kết ngoài 10
7.3 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 11
7.3.1 Văn bản 11
7.3.2 Hình ảnh 11
Trang 3ii MỤC LỤC
7.3.3 Giấy phép nội dung 11
Trang 4Bạch tạng
Bạ tạng (tiếng Anh: Albinism có nguồn gốc từtiếng
Latin: albus có nghĩa là “trắng”[1]) là một thuật ngữ
dùng chung cho các chứng bẩm sinh do rối loạn quá
trìnhsinh tổng hợprasắc tố melanin, làm cho da, tóc và
mắt của người bệnh có màu nhạt Da của người bị bạch
tạng dễ bị bỏng nắng, do đó dễ bịung thư da Ngoài ra,
bạch tạng còn gây rarối loạn thị giác, giảmthị lựcvà
sợ ánh sáng
Bạch tạng xuất hiện trong hầu hết các sắc dân trên toàn
thế giới với tỷ lệ khoảng 1:20000, nhiều nhất là ởChâu
Phivới hơn 1:10000 Màu da nhạt của ngườichâu Ávà
châu Âulà bạch tạng loại 4 dođột biến sinh họctrên
gen OCA 4, màu tóc vàng và mắt xanh là bạch tạng do
đột biến trên gen OCA 2 và vàigenkhác
Đối vớiđộng vật có vúkể cả con người thì bạch tạng
biểu hiện với mắt, da, tóc hoặc lông có màu nhạt Đối
với các nhóm động vật khác, thì ngoài melenin còn có
các sắc tố khác cho nên biểu hiện của bạch tạng không
giống nhau Trong loàichim, màu xanh dương và xanh
lục là do sự kết hợp màu của các cấu trúclông vũvới sắc
tố melanin Màu vàng, cam và đỏ thường là do sắc tố
caroten Màu xanh dương, xanh lục, ánh bạc hoặc ánh
kim ở các loàibò sát,lưỡng cưvàcálà do sựphản xạ
ánh sángcủapurin Màu vàng, cam và đỏ là do caroten
vàpteridin Tất cả các sắc tố này đều có thể bị mất đi
dođột biến sinh học
1.1 Bạch tạng ở người
1.1.1 Dấu hiệu và triệu chứng
Những người mà trong cơ thể hoàn toàn không thể sản
xuất ra melanin gọi là bạch tạng toàn phần Những
người này thường có da màu hồng, tóc trắng và mắt
màu hồng lẫn xanh dương Đối với người Trung và Bắc
Âu thì bạch tạng toàn phần gây ảnh hưởng nghiêm
trọng, bởi vì màu da, tóc và màu mắt quá nhạt làm giảm
sự hấp thubức xạ mặt trời Bằng cách nhìn bằng mắt thì
rất khó phát hiện một người bị bạch tạng một phần tức
là cơ thể vẫn còn sản xuất được một phần melanin với
những người bình thường, vì vậy có những người bạch
tạng một phần vẫn có màu da nâu và mắt nâu nhạt
Cô gái Papua New Guinea bị bạch tạng.
Hầu hết những người bị bạch tạng có màu mắt và tóc nhạt hơn so với những người cùng huyết thống (bạch
tạng mắt da, oculocutaneous albinism, OCA),[2]ngoài ra còn có trường hợp bạch tạng với bề ngoài bình thường nhưng lại bị những tổn thương thị giác (bạch tạng tại
mắt, ocular albinism, OA).
Màu da
Những người bị bạch tạng có màu da nhạt, vì vậy ở những vùng nhiệt đới rất dễ bị bỏng nắng và dẫn đến ung thư da, các vùng ngoài nhiệt đới ít bị tác hại nhiều
do lượng nắng mặt trời ít Ảnh hưởng của mặt trời đối với mắt không đáng kể.[3] [4][5][6]
Những triệu chứng ảnh hưởng lên thị giác
Trong bạch tạng tại mắt và bạch tạng mắt da toàn phần
có các triệu chứng phức tạp và khác nhau ở mắt Cảm nhận màu sắc bình thường vì bạch tạng không làm ảnh hưởng đến việc hình thànhrhodopsin
Màu mắt nhạt Màu mắt của người bị bạch tạng có thể có màu nâu sẫm, nâu nhạt, xanh lá cây hay xanh
da trời Bạch tạng làm nhạt màu mắt Bạch tạng toàn
Trang 52 CHƯƠNG 1 BẠCH TẠNG
Mắt của người bị bạch tạng toàn phần (OCA1).
phần có thể làm màu mắt chuyển sang xanh nhạt lẫn
hồng như hình trên, nhưng điều này hiếm khi xảy ra
Đáy mắt của người bạch tạng toàn phần (a) và của người bình
thường (b)
Sự nhạy sáng Khi cơ thể không thể hoặc chỉ sản xuất
1 lượng rất ít melanin thì trong mắt sẽ thiếu sự hiện
diện của sắc tố này Điều này dẫn đến tròng đen của
mắt trở nên trong suốt và ánh sáng dễ dàng xuyên
qua, do đó một đặc điểm tiêu biểu của những người bị
bạch tạng là rất nhạy với ánh sáng chói (sợ ánh sáng,
photophobia).
Hệ thống thị giác của con người Hình minh họa các đường
truyền tín hiệu hình ảnh từ võng mạc 2 mắt đến 2 bán cầu não
tương ứng.
Rối loạn thị giác không gian Melanin cũng đóng
một vai trò trong sự phát triển củathần kinh thị giác
ông thường thị giác của con người được điều khiển
bởi cả haibán cầu não- mỗi bán cầu nhận được một
phần hình ảnh của cả haimắtcung cấp từvõng mạc
Bằng cách so sánh hai hình ảnh, mỗi bên của não để
tính toán khoảng cách của các đối tượng và định hình
không gian Ở những người bị bạch tạng, một phần lớn
các dây thần kinh thị giác chuyển tín hiệu lẫn lộn giữa
các bán cầu, dẫn đến mất đi mối tương đồng sinh lý
giữa các phần trên võng mạc mắt, và hình ảnh liên quan
không được bán cầu não tương ứng xử lý
1.2 Chú thích
[1] (tiếng Đức)Friedrich Kluge, Elmar Seebold:
Etymologisches Wörterbuch der deutschen Sprache.
2002 Walter de Gruyter,ISBN 3-11-017473-1
[2] Grønskov K, Ek J, Brondum-Nielsen K:Oculocutaneous albinism.Orphanet J Rare Dis 2007 Nov 2;2:43.PMID 17980020
[3] 'Dự án di truyền Mendel ở người' (trực tuyến)(OMIM)
203200 [4] David L Duffy, Grant W Montgomery, Wei Chen, Zhen Zhen Zhao, Lien Le, Michael R James, Nicholas K Hayward, Nicholas G Martin und Richard A Sturm:
A ree–Single-Nucleotide Polymorphism Haplotype
in Intron 1 of OCA2 Explains Most Human Eye-Color Variation Am J Hum Genet 2007 February; 80(2): 241–
252.PMID 18252222
[5] Shekar SN, Duffy DL, Frudakis T, Sturm RA, Zhao ZZ,
Montgomery GW, Martin NG: Linkage and association
analysis of spectrophotometrically quantified hair color
in Australian adolescents: the effect of OCA2 and HERC2.
J Invest Dermatol 2008 Dec;128(12):2807-14 Epub 2008 Jun 5.PMID 18528436
[6] Soejima M, Tachida H, Ishida T, Sano A, Koda Y: Evidence for recent positive selection at the human AIM1 locus in a European population Mol Biol Evol
2006 Jan;23(1):179-88 Epub 2005 Sep 14.PMID 16162863
1.3 Liên kết ngoài
• (tiếng Đức)NOAH Albinismus Selbsthilfegruppe
e V
• (tiếng Đức)Die Seite rund um die medizinischen Aspekte des Albinismus
• (tiếng Đức) Reportage: Jagd auf Albinos Zeit Campus
• (tiếng Anh)Albinism explained
• (tiếng Anh) GeneReview/NCBI/NIH/UW entry
on Oculocutaneous Albinism Type 2
• (tiếng Anh) GeneReview/NCBI/NIH/UW entry
on Oculocutaneous Albinism Type 4
Trang 6Bệnh di truyền
Bệnh di truyền là những bệnh do cha mẹ truyền cho
con quatế bàosinh dục (trứnghoặctinh trùng) Vì vậy mầm bệnh có từ trong hợp tử (phôi), từ điểm khởi thủy của sự sống trong ổtử cung Trênnhiễm sắc thểcủa tinh trùng hay trứng đã có sẵn các gen bệnh hoặc cũng
có thể do sai lệch bất thường của nhiễm sắc thể Có thể phân loại bệnh di truyền theo chức năng các sản phẩm của gen bị bệnh: bệnh của phân tử không phảienzim, bệnh lý của phân tử enzim gây các bệnh về rối loạn chuyển hoáaxít amin,lipit,gluxit… Cũng cần phân biệt các bệnh di truyền với cácbệnh bẩm sinh
2.1 Tham khảo
Trang 7Chương 3
Bệnh Milroy
Bệnh Milroy là mộtbệnh di truyềnđặc trưng bởi chứng
phù bạch huyết (lymphedema) thường là ở chân, do
các bất thường bẩm sinh ởhệ bạch huyết Sự dẫn lưu
của mạch bạch huyết bị suy giảm dẫn đến ứ đọng dịch
lỏng vàphì đạicác mô mềm.[1][2]Nó cũng được gọi là
hội ứng Nonne-Milroy-Meige và phù bạ huyết di
truyền.[3]
Bệnh đượcSir William Oslerđặt theo tên của William
Milroy, một thầy thuốc người Mỹ, ông đã mô tả 1 ca
bệnh vào năm 1892, mặc dù nó đã đượcRudolf Virchow
mô tả đầu tiên vào năm 1863.[4][5]
3.1 Mô tả
Biểu hiện phổ biến nhất của bệnh Milroy là phù bạch
huyết cả hai chân, và có thể kèm theotràn dịch màng
tinh hoàn(hydrocele).[6]
Bệnh này thường gặp ở phụ nữ và có sự liên quan với
gen FLT4.[7] FLT4 mã hóa cho thụ thểVEGFR-3, liên
quan đến sự phát triển của hệ bạch huyết
3.2 Chú thích
[1] James, William D.; Berger, Timothy G và đồng
nghiệp (2006) Andrews’ Diseases of the Skin: clinical
Dermatology Saunders Elsevier tr 849. ISBN
0-7216-2921-0
[2] David Lowell Strayer; Raphael Rubin (2007) Rubin’s
Pathology: Clinicopathologic Foundations of Medicine
5th Edition Hagerstwon, MD: Lippinco Williams &
Wilkins.ISBN 0-7817-9516-8
[3] Rapini, Ronald P.; Bolognia, Jean L.; Jorizzo, Joseph L
(2007) Dermatology: 2-Volume Set St Louis: Mosby.
ISBN 1-4160-2999-0
[4] synd/1326atWho Named It?
[5] W F Milroy An undescribed variety of herditary
edema New York Medical Journal, 1892, 56: 505-508
[6] “Milroy Disease” United States Library of Medicine
Truy cập tháng 3 năm 2014
[7] Spiegel R, Ghalamkarpour A, Daniel-Spiegel E, Vikkula
M, Shalev SA (2006) “Wide clinical spectrum in a family with hereditary lymphedema type I due to
a novel missense mutation in VEGFR3” Journal of
Human Genetics 51 (10): 846–50. PMID 16924388
doi:10.1007/s10038-006-0031-3
3.3 Liên kết ngoài
• GeneReview/NIH/UW entry on Milroy Disease
4
Trang 8Bệnh xương dễ gãy
Bệnh xương dễ gãy (hay còn gọi là bệnh giòn xương,
bệnh tạo xương bất toàn, bệnh xương thủy tinh, tên
khoa học của bệnh là Osteogenesis Imperfecta - OI) Là
một nhóm bệnh lý bao gồm nhiều thể lâm sàng và
có đặc điểm di truyền Đặc trưng của bệnh là sự tổn
thương thành phần collagen typ I của mô liên kết gây
nên bệnh cảnh lâm sàng không những ở xương mà còn
ởda,dây chằng,củng mạc mắtvàrăngnhư:gãy xương
tự phát, biến dạng xương,lùn, bất thường của răng (tạo
răng bất toàn),giảm thính lực Căn bệnh này chủ yếu
là dodi truyềnbởigentrội hoặc lặn từ phía bố hoặc
mẹ.[1]
Đây là mộtbệnh bẩm sinh, trẻ bị mắc bệnh có tỷ trọng
xương giảm Trong những trường hợp nặng, bệnh biểu
hiện ngay khi chào đời khiến trẻ sơ sinh bị gãy nhiều
xương Phần lớn trẻ bị bệnh chết sau khi sinh một thời
gian ngắn Bệnh có thể biểu hiện muộn ở những trường
hợp nhẹ hơn làm ảnh hưởng tới sự phát triển của khối
cơ làm giảm sức bền cơ
Người ta đã biết 6 thể khuyết tật tạo xương, hầu hết
là di truyền trội trênnhiễm sắc thể thường ể bệnh
mới này là khuyết tật tạo xương thể VII di truyền lặn
trên nhiễm sắc thể thường Cho đến nay vẫn chưa có
phương pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh nhân.[2]
4.1 Chú thích
[1] Bệnh tạo xương bất toàn (Xương thủy tinh)
[2] Hành trình “xương thủy tinh” - Kỳ 1: Vì mẹ là mẹ của
con
4.2 Liên kết ngoài
• Osteogenesis imperfecta (OI) (disease) tại
Encyclopædia Britannica(tiếng Anh)
• GeneReview/NCBI/NIH/UW entry on
Osteogenesis Imperfecta
• synd/1743atWho Named It?
• Osteogenesis Imperfecta Overview NIH Osteoporosis and Related Bone Diseases ~ National Resource Center
• Type V Research, Osteogenesis Imperfecta association
• Bệnh tạo xương bất toàn (Xương thủy tinh) BS Trương Anh Mậu, Khoa CTCH Bệnh viện Nhi đồng 2 21/04/2010
mẫu:Osteochondrodysplasia
Trang 9Chương 5
Hội chứng Liddle
Hội ứng Liddle, còn được gọi là giả cường
aldosteron,[1] là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể
thườngvàtrộiđặc trưng bởi tình trạngtăng huyết áp
xuất hiện sớm, thường xuyên kết hợp với giảm hoạt
tínhrenintrong huyết tương,nhiễm kiềm chuyển hoá
dogiảm kali huyết, vàgiảm aldosteron.[2]Đây là một
trong vài trường hợp mà bệnh được có đặc tính giả
cường aldosteron Tăng huyết áp trong các bệnh nhân
có hội chứng này thường bắt đầu từ lúc sơ sinh Hội
chứng Liddle liên quan đến bất thường chức năngthận,
với đặc điểm tăng tái hấp thunatrivà mấtkaliquaống
thận, và được trị bằng chế độ ăn thấp natri và sử dụng
thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ: amiloride) Hội chứng này
đặc biệt hiếm, với chỉ hơn 30 dòng họ hay ca được báo
cáo trên toàn thế giới trong năm 2008[3]
5.1 Bệnh nguyên
Hội chứng này gây ra bởi tình trạng điều hoà bất
thường của kênh natri (ENaC) do đột biến tại locus
16p13-p12 Đột biến trội ở kênh natri khiến cho kênh
không đáp ứng đúng với tín hiện từ hệ thốngubiquitin
proteasome Do motif PY trên phân tử protein bị biến
mất hay thay đổi làm cho enzyme the E3 ligase (Nedd4)
không nhận ra được kênh Vì thế, có sự tăng hoạt động
kênh natri dẫn đến tăng tái hấp thu natri Hậu quả là
tăng huyết áp do tăng thể tích dịch ngoại bào
5.2 Triệu chứng
Ở trẻ em có hội chứng Liddle thường không có triệu
chứng Hội chứng thường được phát hiện nhờ huyết áp
cao trong các kiểm tra ngẫu nhiên Vì lý do hội chứng
rất hiếm nên chỉ được bác sĩ điều trị xét tới khi tăng
huyết áp ở trẻ em không đáp ứng với các thuốc giảm
huyết áp
Ở người lớn có thể hiện diện các triệu chứng không đặc
hiệu như hạ kali máu, bao gồm cả mệt mỏi, yếu, đánh
trống ngực hay yếu cơ (khó thở, táo bón)
Hội chứng Liddle được di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường.
5.3 Chẩn đoán
Chẩn đoán tăng huyết áp ở bệnh nhi thường cần tới phân tích điện giải máu và nồng độ aldosterone, cũng như các test khác Trong bệnh Liddle điển hình, natri huyết thanh thường cao, kali huyết thanh giảm[4], và bicarbonate huyết thanh tăng Những dấu hiệu tương
tự cũng được phát hiện trong cường aldosteron, một trong vài nguyên nhân hiếm gây tăng huyết áp ở bệnh nhân Cường aldosteron nguyên phát (còn được biết đến với hội chứng Conn), do tăng tiếng aldostreron bắt nguồn từ khối u tuyến thượng thân hay tăng sản tuyến thượng thận Nồng độ aldosterone tăng cao trong cường aldosteron, trong khi bình thường trong hội chứng Liddle
Có thể dùng xét nghiệm về chuỗi gen mã hoá cho kên natri có thể phát hiện các đột biến để chẩn đoán[5] 6
Trang 10Bệnh được chữa trị bằng chế độ ăn thấp natri (ít
muối) và dùng thuốc lợi tiểu giữa kali có tác dụng
block kênh natri trực tiếp Các thuốc lợi tiểu giữa kali
có hiệu quả bao gồmamiloridevàtriamterene; riêng
spironolactonekhông hiệu quả vì tác dụng của nó là
điều hoà aldosterone trong khi hội chứng Liddle không
đáp ứng aldosteron
5.5 Tham khảo
[1] 'Dự án di truyền Mendel ở người' (trực tuyến)(OMIM)
177200
[2] http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/dispomim.cgi?id=
177200
[3] Rossier, B and Schild, L Epithelial Sodium
Channel: Mendelian Versus Essential Hypertension
Hypertension 2008;52;595-600
[4] Brenner and Rector’s e Kidney, 8th ed CHAPTER 40
– Inherited Disorders of the Renal Tubule Section on
Liddle Syndrome Truy cập via MDConsult
[5] Liddle Syndrome, British Hypertension Society, Fact
File 02/2006, http://www.bhsoc.org/bhf_factfiles/
Liddle%20Syndrome%20Final%20Draft.doc
Trang 11Chương 6
Hội chứng Tourette
Hội ứng Tourette (còn được gọi Hội ứng Gilles
de la Tourette, viết tắt GTS hay TS) làhội chứngthần
kinh được thừa hưởng bắt đầu xuất hiện khi còn trẻ,
được nhận ra do nhiềutật máy giậtvận động và ít nhất
một tật phát âm; những tật này thường có lúc tăng lên
có lúc giảm xuống, và có thể được kiểm soát tạm thời
Hội chứng Touree là một phần của các bệnh giật cơ,
bao gồm những tật tạm thời và có thể thay đổi sang tật
khác, tạm thời xảy ra và kết thúc, và kéo dài khó bỏ
Hội chứng này từng được coi hiếm và kỳ lạ, người ta
thường nghĩ đến tật kêu bậy bạ hay kêu những câu
không hợp với hoàn cảnh (coprolalia) Tuy nhiên, triệu
chứng này chỉ xuất hiện trong ít người bị Hội chứng
Touree.[1]Ngày nay, hội chứng này không còn coi là
bệnh hiếm, nhưng có lúc nó không được nhận ra đúng
vì nhiều trường hợp bị phân loại là trường hợp nhẹ và
một số tật máy giật giảm dần ở hầu hết các trẻ em khi
vào tuổi thanh niên (12 - 18 tuổi) Khoảng 0.4% đến
3.8% trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên có thể mắc Hội chứng
Touree; các tật máy giật sẽ xuất hiện nhiều hơn ở độ
tuổi tiểu học và hơn, với các tật thông thường như tật
giật (nháy) mắt, ho, hắng giọng, hít mạnh, phát ra tiếng
động, và các tật ở mặt (méo mặt) Hội chứng Touree
mãn tính ở người trường thành (trên 18 tuổi) thường
hiếm, và Touree không ảnh hưởng xấu đến trí thông
minh và tuổi thọ trung bình của người đó
Những nhân tố di truyền và môi trường được xem
là một trong nhưng nguyên nhân gây Hội chứng
Touree, nhưng chưa ai biết nguyên nhân chính xác
gây nên bệnh này Trong phần nhiều trường hợp, người
bị hội chứng này không cần uống thuốc Chưa có thuốc
để giảm mỗi loại tật máy giật, nhưng có thuốc và phép
chữa một số loại tật Giáo dục người bệnh đóng vai trò
quan trọng trong việc chữa trị, giải thích và giúp họ
giải trừ nỗi lo hay sợ hãi thường là biện pháp chữa trị
hữu hiệu;[2][3] Các hội chứng kèm theo và thường xảy
ra đối với người bệnh làRối Loạn Tăng Động Giảm Chú
ÝvàRối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế Những hội chứng
này thường là nguyên nhân gây thiệt hại về chức năng
cho người bệnh hơn là các tật máy giật xảy ra ở người
gặp hội chứng Touree, cho nên việc xét nghiệm các
hội chứng kèm theo khá là quan trọng để chẩn đoán
bệnh và chữa trị chính xác
Jean-Martin Charcot(1825–1893) đặt tên của hội chứng này theo mộtbác sĩ nội trú của ông,Georges Albert Édouard Brutus Gilles de la Touree(1859–1904) Ông Touree là thầy thuốc và nhàthần kinh họcPháp đã xuất bản bài tường thuật về chín người bịhội chứng
này vào năm 1885
Vì tỷ lệ mắc hội chứng có thể cao đến một trường hợp trong một trăm người do vậy khoảng 530.000 trẻ em
Mỹtuổi đi học có thể bị hội chứng này,[4] [5]
6.1 Mozart và chứng Tourette
Người ta cho rằng nhà soạn nhạc thiên tài người Áo
Mozartbị mắc hội chứng này, từ khi ông còn là 1 đứa trẻ Triệu chứng điển hình của ông là hay bị máy giật, tăng động, phát ngôn những câu kì lạ và những từ vô nghĩa Trong những bức thư ông gửi cho vợ và cha ông,
Leopold, Mozart thường xuyên nhắc đến những từ liên quan đến phân và đại tiện Hơn nữa, ông được cho là
đã viết nhiều bài hát có chủ đề khá tục tĩu, như “Leck mich im arsch” (Hãy liếm mông tôi)
eo những người thân của ông, ông không thể ngồi yên một chỗ, tay chân của ông thường ngọ nguậy liên hồi và làm những việc ngớ ngẩn Ông cũng khó kiểm soát lời nói của mình và hay nhắc đi nhắc lại 1 câu nói của chính mình Các nhà khoa học cho rằng, nhà soạn nhạc còn bị mắc nhiều chứng bệnh tâm thần khác như tự kỉ dạng nhẹ, rối loạn lưỡng cực,… Có thể chứng Touree nói riêng và các chứng bệnh tâm thần nói chung ảnh hưởng lớn đến não bộ của ông, khiến nó hoạt động hiệu quả hơn và luôn đầy sức sáng tạo, tạo nên thành công trong âm nhạc
6.2 Chú thích
[1] Schapiro NA “Dude, you don't have Touree’s":
Touree’s syndrome, beyond the tics Pediatr Nurs 2002
May-Jun;28(3):243-6, 249-53.PMID 12087644
[2] Zinner SH Touree disorder Pediatr Rev.
2000;21(11):372.PMID 11077021
8