Á sừng hiện nay cũng có thể coi là 1 bệnh hoặc 1 biểu hiện của viêm da cơ địa đặc trưng bởi các tổn thương dạng sừng ở các đầu ngón tay, chân, gót, bàn tay, bàn chân… 1.1 Nguyên nhân Với
Trang 1Các trang trong thể loại “Bệnh da liễu”
Trang 2Mục lục
1.1 Nguyên nhân 1
1.2 Triệu chứng 1
1.3 Điều trị 1
1.4 am khảo 2
2 Bạ tạng 3 2.1 Bạch tạng ở người 3
2.1.1 Dấu hiệu và triệu chứng 3
2.2 Chú thích 4
2.3 Liên kết ngoài 4
3 Bệnh Behçet 5 3.1 Dấu hiệu và triệu chứng 5
3.1.1 Da và niêm mạc 5
3.1.2 Hệ thống mắt 5
3.1.3 Đường ruột 5
3.1.4 Phổi 5
3.1.5 Hệ thống cơ xương 5
3.1.6 Hệ thần kinh 5
3.2 Chẩn đoán 5
3.3 Bệnh sinh 6
3.4 Điều trị 6
3.5 Sinh lý bệnh 6
3.6 Dịch tễ học 7
3.7 Lịch sử 7
3.8 Chú thích 7
3.9 Liên kết ngoài 8
4 Bệnh da liễu 9 4.1 Hình thái học 9
4.1.1 Tổn thương sơ cấp 9
4.1.2 Tổn thương thứ cấp 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.2 Chú thích 9
5 Bệnh ghẻ 11 5.1 Chú thích 11
6 Bệnh lây truyền qua đường tình dục 12 6.1 Từ nguyên học 12
6.2 Phân loại 12
6.3 Nguyên nhân 12
6.3.1 Bệnh do vi khuẩn 12
6.3.2 Bệnh do nấm 12
6.3.3 Bệnh do virus 12
6.3.4 Bệnh do ký sinh trùng 13
6.3.5 Xác suất lây truyền 13
6.4 Sinh lý bệnh 13
6.5 Dịch tễ học 13
6.6 Phòng ngừa 14
6.6.1 Vắc xin 14
6.6.2 Bao cao su 14
6.7 Chẩn đoán 14
6.8 Lịch sử 14
6.9 Xem thêm 15
6.10 Chú thích 15
6.11 Liên kết ngoài 16
7 Bệnh vẩy da 17 7.1 Triệu Chứng 17
7.2 Cơ Chế Gây Bệnh 17
7.3 Diễn Biến 17
7.4 Phân loại 18
7.5 Điều Trị 18
7.6 Chú thích 18
8 Bệnh vẩy nến 19 8.1 Nguyên nhân 19
8.2 Nhận diện 19
8.3 Những điều cần tránh của người bị vẩy nến 20
8.4 Điều trị 20
8.4.1 Điều trị tại chỗ 20
8.4.2 Điều trị toàn thân 20
8.5 Đọc thêm 21
8.6 Liên kết ngoài 21
Trang 4MỤC LỤC iii
9.1 Triệu chứng và diễn biến của bệnh 22
9.2 Các thể lâm sàng 22
9.2.1 Eczema tiếp xúc (Contact eczema, contact dermatitis) 22
9.2.2 Eczema thể địa (Atopic dermatitis) 22
9.2.3 Eczema thể đồng tiền (Nummular Eczema) 23
9.2.4 Eczema da dầu (Seborrheic dermatitis) 23
9.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 23
9.3.1 Nguyên nhân ngoại giới 23
9.3.2 Nguyên nhân nội giới 23
9.3.3 Phản ứng dị ứng 23
9.4 Điều trị 23
9.4.1 Dân gian chữa Eczema 23
9.4.2 Đông y chữa Eczema 23
9.4.3 Tây y chữa Eczema 24
9.5 Chú thích 24
10 Cornu cutaneum 25 10.1 am khảo 25
11 Da vẽ nổi 26 11.1 Triệu chứng 26
11.2 Nguyên nhân 26
11.3 Điều trị 26
11.4 Dịch tễ học 26
11.5 Xem thêm 27
11.6 Chú thích 27
11.7 Liên kết ngoài 27
12 Dị ứng 28 12.1 Triệu chứng 28
12.2 Nguyên nhân 28
12.2.1 Dị ứng thực phẩm 28
12.2.2 Dị ứng với các tác nhân không phải là thực phẩm 29
12.2.3 Cơ sở di truyền 29
12.2.4 Giả thuyết về vấn đề vệ sinh 29
12.2.5 Các yếu tố môi trường 29
12.2.6 Phản ứng cấp tính 29
12.2.7 Phản ứng giai đoạn cuối 30
12.3 Chẩn đoán 30
12.3.1 Kiểm tra phản ứng trên da (Skin testing) 30
12.3.2 Xét nghiệm máu 31
Trang 5iv MỤC LỤC
12.4 Điều trị 31
12.4.1 Liệu pháp dùng thuốc 31
12.4.2 Liệu pháp miễn dịch 31
12.5 Dịch tễ học 31
12.6 Chú thích 32
12.7 Liên kết ngoài 33
13 Dị ứng xi măng 34 13.1 Lịch sử bệnh 34
13.2 Triệu chứng 34
13.3 Cơ chế dị ứng xi măng 34
13.4 Điều trị 35
13.4.1 Vệ sinh trong và sau khi tiếp xúc với xi măng 35
13.4.2 Đông tây y kết hợp 35
13.4.3 Tiêm K - cort, tên khác: Triamcinolon, Sivkort, Kafencort 35
13.4.4 Uống thuốc và bôi thuốc tây kết hợp 35
13.5 Phòng ngừa 35
13.6 am khảo 35
13.7 Đọc thêm 36
13.8 Liên kết ngoài 36
14 Herpes đơn dạng 37 14.1 Phân loại 37
14.2 Dấu hiệu và triệu chứng 37
14.2.1 Bệnh liệt Bell 37
14.2.2 Bệnh Alzheimer 37
14.3 Sinh lý bệnh 37
14.4 Phòng chống 37
14.4.1 Phương pháp hàng rào bảo vệ 37
14.4.2 Vắc-xin 38
14.4.3 uốc kháng siêu vi 38
14.4.4 ời kỳ mang thai 38
14.5 Điều trị 38
14.6 Dịch tễ học 38
14.7 Lịch sử 38
14.8 Xã hội và văn hóa 38
14.9 Chú thích 39
14.10 Liên kết ngoài 40
15 Herpes sinh dục 41 15.1 Triệu chứng 41
15.1.1 Biến chứng 41
Trang 6MỤC LỤC v
15.2 Điều trị 41
15.3 Xem thêm 42
15.4 Liên kết ngoài 42
15.5 Chú thích 42
16 Lupus ban đỏ hệ thống 43 16.1 Triệu chứng 43
16.1.1 Biểu hiện về da liễu 43
16.1.2 Biểu hiện về cơ xương 43
16.1.3 Biểu hiện về huyết học 44
16.1.4 Biểu hiện về tim 44
16.1.5 Biểu hiện về phổi 44
16.1.6 Biểu hiện về thận 44
16.1.7 Biểu hiện về thần kinh-tâm thần 44
16.1.8 Biểu hiện hệ thống 45
16.2 Nguyên nhân 45
16.2.1 Yếu tố gen 45
16.2.2 Yếu tố kích hoạt từ môi trường 45
16.2.3 Tương tác thuốc 45
16.2.4 Các dạng lupus không phải là lupus ban đỏ hệ thống 45
16.3 Sinh lý bệnh học 45
16.3.1 Sự lan tỏa bệnh 45
16.3.2 Rối loạn trong quá trình tự hủy tế bào 46
16.3.3 Giảm khả năng thải loại tế bào chết 46
16.3.4 Sự tích tụ tại trung tâm mầm 47
16.3.5 Sự tự miễn chống lại các ribonucleoprotein trong nhân (nRNP) 47
16.3.6 Các cơ chế khác 47
16.4 Chẩn đoán 47
16.4.1 Xét nghiệm 47
16.4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán 48
16.5 Điều trị 49
16.5.1 Các loại thuốc 49
16.5.2 ay đổi lối sống 50
16.5.3 Ghép thận 50
16.6 Phòng bệnh 50
16.6.1 Biến chứng trong thai sản 50
16.7 Tiên lượng 50
16.8 Dịch tễ học 51
16.9 Lịch sử và văn hóa 51
16.9.1 Từ gốc 51
16.9.2 Lịch sử 51
16.10 Chú thích 51
Trang 7vi MỤC LỤC
16.11 Liên kết ngoài 54
17 Mụn cóc 55 17.1 Nguyên nhân gây bệnh 55
17.2 Phân loại 55
17.3 Điều trị chung 55
17.3.1 Dược phẩm 55
17.3.2 ủ thuật 56
17.4 Điều trị cho mụn cóc sinh dục 56
17.4.1 Hiệu quả các liệu pháp trong điều trị mụn cóc sinh dục 57
17.5 Chú thích 57
17.6 Liên kết ngoài 57
18 Trần Hữu Ngoạn 58 18.1 Cuộc đời 58
18.2 Cuộc sống thanh bạch 58
18.3 Gia đình 59
18.4 Tiêm vi khuẩn bệnh phong vào người 59
18.5 Trong nghệ thuật 59
18.6 Công trình nghiên cứu 59
18.7 Ghi chú 59
18.8 Liên kết ngoài 60
19 Viêm da thần kinh 61 19.1 Bệnh nguyên 61
19.2 Biểu hiện lâm sàng 61
19.3 Chẩn đoán và điều trị 61
19.4 Chú thích 61
19.5 am khảo 61
20 Viêm da tiếp xúc 62 20.1 Các triệu chứng 62
20.2 Nguyên nhân 62
20.3 Phân loại 62
20.3.1 Viêm da tiếp xúc kích ứng 62
20.3.2 Viêm da tiếp xúc dị ứng 62
20.3.3 Viêm da Photocontact 64
20.4 Các triệu chứng 64
20.5 Điều trị 64
20.5.1 Tự chăm sóc 64
20.5.2 Chăm sóc y tế 65
20.6 Chẩn đoán 65
20.7 Phòng ngừa 65
Trang 8MỤC LỤC vii
20.8 Tóm tắt 65
20.9 Xem thêm 65
20.10 Chú thích 65
20.11 Liên kết ngoài 66
21 Viêm da tiết bã nhờn 67 21.1 Tỷ lệ hiện mắc và bệnh nguyên 67
21.2 Biểu hiện lâm sàng 67
21.3 Chẩn đoán 67
21.4 Điều trị 67
21.5 am khảo 68
22 Viêm da ứ đọng 69 22.1 Tỷ lệ mới mắc và bệnh nguyên 69
22.2 Triệu chứng 69
22.3 Biểu hiện lâm sàng 69
22.4 Điều trị 69
22.5 Chú thích 69
22.6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 70
22.6.1 Văn bản 70
22.6.2 Hình ảnh 71
22.6.3 Giấy phép nội dung 73
Trang 9Chương 1
Á sừng
Á sừng (Dermatitis plantaris sicca) là thuật ngữ để mô tả
các bệnh khô da, nứt da, bong da ở bàn tay, bàn chân,
đặc biệt ở gót chân thường xuất hiện vào mùa đông
(còn được gọi là viêm da cơ địa mùa đông), diễn biến
dai dẳng, hay tái phát
Á sừng hiện nay cũng có thể coi là 1 bệnh hoặc 1 biểu
hiện của viêm da cơ địa đặc trưng bởi các tổn thương
dạng sừng ở các đầu ngón tay, chân, gót, bàn tay, bàn
chân…
1.1 Nguyên nhân
Với các trường hợpviêm da cơ địa, bệnh được cho là
có yếu tố di truyền và cơ địa da dị ứng tiếp xúc, bệnh
thường khởi phát hoặc tăng năng hơn trong khi gặp
những yếu tố thuận lợi: Mùa đông (khí hậu lạnh, khô),
tiếp xúc với các chất tẩy rửa hàng ngày như xà phòng,
nước xả vải, bột giặt, dầu gội đầu, nước rửa bát, kem
hóa dược bôi da…
1.2 Triệu chứng
Dày sừng ở da đầu ngón chân, tay, gót chân: Nền da
khô, đỏ ở các đầu ngón tay, chân ranh giới không rõ
ràng Các dát đỏ có thể lan rộng ra ở bàn tay, bàn chân,
gót chân Vào mùa hè, thương tổn có thể đỏ, ngứa nổi
mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm
các móng xù xì, lỗ chỗ Vào mùa đông khi độ ẩm trong
không khí thấp, tình trạng nứt nẻ càng nặng thêm,
phần da bệnh dễ bị nứt toác ra, rớm máu, đau đớn, có
thể ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc Nếu tiếp xúc
với bột giặt, các chất tẩy rửa, các loại nước bẩn, xăng,
dầu, khói thuốc, hóa chất… thì bệnh càng nặng thêm
Người bệnh cũng dễ có nguy cơ nhiễm nấm, vi khuẩn
tại các vùng tổn thường Với các trường hợp viêm da
tiếp xúc chủ yếu là các trường hợp viêm da trong công
nghiệp Bệnh thường gặp ở các bà nội trợ, người làm
nông nghiệp, công nhân giặt, công nhân nhà máy xà
phòng, thợ làm tóc hay kỹ thuật viên y tế Các yếu tố
thuận lợi là cọ xát, sang chấn, độ ẩm thấp,…
Bệnh mặc dù ít ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng gây
rất nhiều khó chịu, bức bối cho người bệnh trong côngviệc cũng như sinh hoạt hàng ngày Rất nhiều trườnghợp không thể duy trì nghề nghiệp được do bệnh khitiếp xúc với các yếu tố nguy cơ trên sẽ nhanh chóngtái phát và làm cho tình trang bong tróc, đau đớn nặngnền hơn Những người cố gắng bám việc thường phảichịu hành hạ bởi những cơn đau nẻ, bắn máu làm giảmnăng suất lao động và chất lượng cuộc sống
1.3 Điều trị
Các phương pháp điều trị hiện nay là dùng:
• Các thuốc bôi bạt sừng như acid salycilic hay
bôi các chế phẩm có steroid để giảm viêm nhưGentrizone, Fucicort…,
• Các kem dưỡng da, tăng độ ẩm cho da, làm mềm
mịn da thường được sử dụng để thay thế, hạn chếtác dụng của các corticoid như Explaq
Bên cạnh đó lưu ý các biện pháp hạn chế sự khởi pháthoặc bệnh nặng hơn như:
• Tuyệt đối không bóc vảy da, chà xát kỳ cọ vùng
da thương tổn quá mạnh bằng đá kỳ, bàn chải vìtrà xát mạnh càng làm tổn thương lớp sừng khiếnquá trình bong da sau đó còn mạnh mẽ hơn
• Không tiếp xúc với hóa chất, xà phòng, chất tẩy
rửa, xăng, dầu… Hạn chế giặt quần áo, lau nhà, rửabát Khi chế biến thức ăn, tránh tiếp xúc với mỡ,gia vị như ớt, muối… Nếu nhất thiết phải làm côngviệc này, nên mang găng tay bảo vệ Tuy nhiên,lưu ý: găng tay bằng nhựa dẻo sẽ ít gây phản ứng
dị ứng hơn là găng cao su; không đeo găng trongthời gian dài nhất là khi ra mồ hôi có thể kích thíchbệnh nặng thêm
• Luôn giữ ẩm cho da bằng kem dưỡng ẩm nhất là
vào mùa đông vì thời tiết hanh khô càng làm dathô ráp, nứt nẻ hơn Bôi kem dưỡng ẩm trước khilàm việc hoặc sau khi rửa tay
• Cắt ngắn móng tay, chân và giữ vệ sinh sạch sẽ.
1
Trang 102 CHƯƠNG 1 Á SỪNG
• Tuyệt đối không gãi ngứa vì có thể kích thích nổi
nhiều thương tổn hơn, dễ gây nhiễm trùng
• Tránh ăn các loại thức ăn dễ gây dị ứng như tôm,
cua, nhộng, thịt gà…
• ay đổi môi trường sống, môi trường làm việc
nếu thường xuyên phải tiếp xúc với hóa chất
• Tăng cường ăn rau quả tươi, rau xanh, đặc biệt là
rau quả có nhiều vitamin C, E như giá đỗ, cà chua,
các loại đậu, rau ngót, rau bí, bắp cải, cam bưởi, đu
đủ, cà rốt… ực tế cho thấy đại đa số người bệnh
đều là người ít ăn rau quả iếu vitamin nhất là
A, C, D, E… sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lớp sừng
Lưu ý khi dùng Corticoid trong điều trị Bệnh á sừng
Corticoid dùng bôi ngoài da sử dụng điều trị bệnh á
sừng có nhiều loại dưới dạng đơn chất (Gentrizone,
Fucicort) hoặc phối với hoạt chất khác, như với a
salicylic (Diprosalic, Beprosalic) hoặc với calcipotriol
(Daivobet) Corticoid bôi ngoài da có thể dùng điều trị
tấn công bệnh á sừng uốc có ưu điểm làm thương
tổn nhanh được cải thiện, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu,
dễ chấp nhận Bởi vì thuốc làm giảm viêm, giảm đỏ
và giảm bong vảy da nhanh Nhưng sự cải thiện này
duy trì không bền Mặt khác sau khi ngừng thuốc bệnh
sớm bùng phát trở lại, khi đó sử dụng lại corticoid tại
chỗ sẽ không thấy có hiệu quả Nhiều trường hợp dùng
corticoid tại chỗ kéo dài thấy xuất hiện thương tổn
nhiễm trùng da như mụn mủ, viêm nang lông; nhiễm
nấm; mọc lông; giãn mạch và teo da; Dùng corticoid bôi
ngoài da kéo dài sẽ thấy thương tổn không đáp ứng với
thuốc, bệnh không giảm, thậm chí còn tiến triển nặng
thêm
1.4 Tham khảo
• Tài liệu tham khảo PGS TS Trần Lan Anh - Bộ
mônDa liễuTrường Đại học Y Hà Nội
Trang 11Chương 2
Bạch tạng
Bạ tạng (tiếng Anh: Albinism có nguồn gốc từtiếng
Latin: albus có nghĩa là “trắng”[1]) là một thuật ngữ
dùng chung cho các chứng bẩm sinh do rối loạn quá
trìnhsinh tổng hợprasắc tố melanin, làm cho da, tóc và
mắt của người bệnh có màu nhạt Da của người bị bạch
tạng dễ bị bỏng nắng, do đó dễ bịung thư da Ngoài ra,
bạch tạng còn gây rarối loạn thị giác, giảmthị lựcvà
sợ ánh sáng
Bạch tạng xuất hiện trong hầu hết các sắc dân trên toàn
thế giới với tỷ lệ khoảng 1:20000, nhiều nhất là ởChâu
Phivới hơn 1:10000 Màu da nhạt của ngườichâu Ávà
châu Âulà bạch tạng loại 4 dođột biến sinh họctrên
gen OCA 4, màu tóc vàng và mắt xanh là bạch tạng do
đột biến trên gen OCA 2 và vàigenkhác
Đối vớiđộng vật có vúkể cả con người thì bạch tạng
biểu hiện với mắt, da, tóc hoặc lông có màu nhạt Đối
với các nhóm động vật khác, thì ngoài melenin còn có
các sắc tố khác cho nên biểu hiện của bạch tạng không
giống nhau Trong loàichim, màu xanh dương và xanh
lục là do sự kết hợp màu của các cấu trúclông vũvới sắc
tố melanin Màu vàng, cam và đỏ thường là do sắc tố
caroten Màu xanh dương, xanh lục, ánh bạc hoặc ánh
kim ở các loàibò sát,lưỡng cưvàcálà do sựphản xạ
ánh sángcủapurin Màu vàng, cam và đỏ là do caroten
vàpteridin Tất cả các sắc tố này đều có thể bị mất đi
dođột biến sinh học
2.1 Bạch tạng ở người
2.1.1 Dấu hiệu và triệu chứng
Những người mà trong cơ thể hoàn toàn không thể sản
xuất ra melanin gọi là bạch tạng toàn phần Những
người này thường có da màu hồng, tóc trắng và mắt
màu hồng lẫn xanh dương Đối với người Trung và Bắc
Âu thì bạch tạng toàn phần gây ảnh hưởng nghiêm
trọng, bởi vì màu da, tóc và màu mắt quá nhạt làm giảm
sự hấp thubức xạ mặt trời Bằng cách nhìn bằng mắt thì
rất khó phát hiện một người bị bạch tạng một phần tức
là cơ thể vẫn còn sản xuất được một phần melanin với
những người bình thường, vì vậy có những người bạch
tạng một phần vẫn có màu da nâu và mắt nâu nhạt
Cô gái Papua New Guinea bị bạch tạng.
Hầu hết những người bị bạch tạng có màu mắt và tócnhạt hơn so với những người cùng huyết thống (bạch
tạng mắt da, oculocutaneous albinism, OCA),[2]ngoài racòn có trường hợp bạch tạng với bề ngoài bình thườngnhưng lại bị những tổn thương thị giác (bạch tạng tại
mắt, ocular albinism, OA).
Màu da
Những người bị bạch tạng có màu da nhạt, vì vậy ởnhững vùng nhiệt đới rất dễ bị bỏng nắng và dẫn đếnung thư da, các vùng ngoài nhiệt đới ít bị tác hại nhiều
do lượng nắng mặt trời ít Ảnh hưởng của mặt trời đốivới mắt không đáng kể.[3] [4][5][6]
Những triệu chứng ảnh hưởng lên thị giác
Trong bạch tạng tại mắt và bạch tạng mắt da toàn phần
có các triệu chứng phức tạp và khác nhau ở mắt Cảmnhận màu sắc bình thường vì bạch tạng không làm ảnhhưởng đến việc hình thànhrhodopsin
Màu mắt nhạt Màu mắt của người bị bạch tạng cóthể có màu nâu sẫm, nâu nhạt, xanh lá cây hay xanh
da trời Bạch tạng làm nhạt màu mắt Bạch tạng toàn
3
Trang 124 CHƯƠNG 2 BẠCH TẠNG
Mắt của người bị bạch tạng toàn phần (OCA1).
phần có thể làm màu mắt chuyển sang xanh nhạt lẫn
hồng như hình trên, nhưng điều này hiếm khi xảy ra
Đáy mắt của người bạch tạng toàn phần (a) và của người bình
thường (b)
Sự nhạy sáng Khi cơ thể không thể hoặc chỉ sản xuất
1 lượng rất ít melanin thì trong mắt sẽ thiếu sự hiện
diện của sắc tố này Điều này dẫn đến tròng đen của
mắt trở nên trong suốt và ánh sáng dễ dàng xuyên
qua, do đó một đặc điểm tiêu biểu của những người bị
bạch tạng là rất nhạy với ánh sáng chói (sợ ánh sáng,
photophobia).
Hệ thống thị giác của con người Hình minh họa các đường
truyền tín hiệu hình ảnh từ võng mạc 2 mắt đến 2 bán cầu não
tương ứng.
Rối loạn thị giác không gian Melanin cũng đóng
một vai trò trong sự phát triển củathần kinh thị giác
ông thường thị giác của con người được điều khiển
bởi cả haibán cầu não- mỗi bán cầu nhận được một
phần hình ảnh của cả haimắtcung cấp từvõng mạc
Bằng cách so sánh hai hình ảnh, mỗi bên của não để
tính toán khoảng cách của các đối tượng và định hình
không gian Ở những người bị bạch tạng, một phần lớn
các dây thần kinh thị giác chuyển tín hiệu lẫn lộn giữa
các bán cầu, dẫn đến mất đi mối tương đồng sinh lý
giữa các phần trên võng mạc mắt, và hình ảnh liên quan
không được bán cầu não tương ứng xử lý
2.2 Chú thích[1] (tiếng Đức)Friedrich Kluge, Elmar Seebold:
Etymologisches Wörterbuch der deutschen Sprache.
2002 Walter de Gruyter,ISBN 3-11-017473-1[2] Grønskov K, Ek J, Brondum-Nielsen K:Oculocutaneous albinism.Orphanet J Rare Dis 2007 Nov 2;2:43.PMID17980020
[3] 'Dự án di truyền Mendel ở người' (trực tuyến)(OMIM)
203200.[4] David L Duffy, Grant W Montgomery, Wei Chen, ZhenZhen Zhao, Lien Le, Michael R James, Nicholas K.Hayward, Nicholas G Martin und Richard A Sturm:
A ree–Single-Nucleotide Polymorphism Haplotype
in Intron 1 of OCA2 Explains Most Human Eye-ColorVariation Am J Hum Genet 2007 February; 80(2): 241–
252.PMID 18252222[5] Shekar SN, Duffy DL, Frudakis T, Sturm RA, Zhao ZZ,
Montgomery GW, Martin NG: Linkage and association analysis of spectrophotometrically quantified hair color
in Australian adolescents: the effect of OCA2 and HERC2.
J Invest Dermatol 2008 Dec;128(12):2807-14 Epub 2008Jun 5.PMID 18528436
[6] Soejima M, Tachida H, Ishida T, Sano A, Koda Y:Evidence for recent positive selection at the humanAIM1 locus in a European population Mol Biol Evol
2006 Jan;23(1):179-88 Epub 2005 Sep 14.PMID 16162863
• (tiếng Anh)Albinism explained
• (tiếng Anh) GeneReview/NCBI/NIH/UW entry
on Oculocutaneous Albinism Type 2
• (tiếng Anh) GeneReview/NCBI/NIH/UW entry
on Oculocutaneous Albinism Type 4
Trang 13Chương 3
Bệnh Behçet
Bệnh Behçet (hay còn gọi là hội chứng Adamantiades)
(phát âm là / bɛtʃɛt /) là một hình bệnh tự miễn hiếm
gặp gây viêm hệ thống mạch máu đặc biệt là tĩnh mạch,
thường thấy với triệu chứng loét niêm mạc và bên trong
mắt (viêm màng mạch nho, viêm võng mạc, viêm mống
mắt)[1] Là một bệnh hệ thống cho nên nó còn liên quan
đến các cơ quan nội tạng như đường tiêu hóa, phổi, cơ
xương, và thần kinh Hội chứng này có thể gây tử vong
do vỡ phình mạch máu, hoặc gây nên biến chứng thần
kinh nghiêm trọng cho nên cần phải được điều trị.[2]
3.1 Dấu hiệu và triệu chứng
3.1.1 Da và niêm mạc
Bệnh Behçet ảnh hưởng đến mỗi người khác nhau Bốn
triệu chứng phổ biến nhất là đau miệng, đau sinh dục,
viêm bên trong mắt và các vấn đề về da Viêm bên trong
mắt (viêm màng mạch nho, viêm võng mạc, viêm mống
mắt) xảy ra ở hơn phân nửa số người mắc bệnh Behçet
và có thể làm thị lực mờ, đau và đỏ.[3]Đau loét sinh dục
thường phát triển trênâm hộvàbìucó thể gây ra sẹo ở
75% bệnh nhân[2] Ngoài ra, bệnh nhân có thể xuất hiện
các nốt ban đỏ dạng bỏng, nổi mụt, và các tổn thương
tương tự gây mủ trên da[2]
3.1.2 Hệ thống mắt
Bệnh viêm mắt như viêm màng bồ đào sau, viêm màng
bồ đào trước, hoặc viêm mạch võng mạc có thể phát
triển dẫn đến mất thị lực (mù) vĩnh viễn trong 20%
trường hợp.[2]Viêm màng bồ đào trước gây đỏ và đau
mắt, giảm thị lực, còn viêm màng bồ đào sau gây đau
và giảm thị lực, gây hạt lép trường thị giác Một dạng
hiếm trong hội chứng này là viêm mạch võng mạc
3.1.3 Đường ruột
Biểu hiện bao gồm đau bụng, buồn nôn,tiêu chảycó
hoặc không có máu và thường liên quan đến cácvan
ileocecal.[2]
3.1.4 Phổi
Bệnh gây ra các triệu chứng như ho ra máu, viêmmàng phổi, sốt, và trong trường hợp nặng có thể đedọa tính mạng nếu các động mạch phổi bị phình mạchdẫn đến vỡ mạch máu gây ra tử vong do xuất huyếttrong phổi.[2]
3.2 Chẩn đoán
Không có xét nghiệm bệnh lý cụ thể hoặc phương pháp
có sẵn để chẩn đoán bệnh mặc dù các tiêu chuẩn quốc
tế Study Group cho căn bệnh này là rất cụ thể, bao gồmcác tiêu chuẩn lâm sàng.[2][4]Bệnh Behçet gây nên cáctổn thương ở da và niêm mạc với mức độ cao tương tựnhư các triệu chứng củaherpes simplex, cho nên khi códấu hiệu lâm sàng tổn thương răng miệng thì chỉ chẩnđoán là bệnh Behçet khi tất cả các nguyên nhân phổbiến gây nên dấu hiệu này được loại bỏ
Bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Behçet khi bệnhnhân có loét miệng (hình dạng, kích thước hoặc sốlượng vết loét bất kỳ xuất hiện ít nhất 3 lần bất kỳ trongvòng 12 tháng), cùng với 2 trong 4 triệu chứng sau:[4]
• Loét sinh dục (kể cả loét hậu môn và các điểm
trong khu vực bộ phận sinh dục, tinh hoàn bị sưnghay viêm mào tinh hoàn ở nam giới)
5
Trang 146 CHƯƠNG 3 BỆNH BEHÇET
Hình ảnh cộng hưởng từ cho thấy sự tắc mạch của vùng xích
ma bên trái và xoang ngang.
• Da tổn thương (mụn mủ, viêm nang lông, ban đỏ,
mụn trứng cá ở tuổi vị thành niên)
• Viêm mắt (viêm mống mắt, viêm màng bồ đào,
viêm mạch võng mạc, viêm các tế bào trong thủy
tinh thể)
• Mụt trên da có đường kính > 2 mm xuất hiện
trong vòng 24-48 giờ hoặc nhiều hơn sau khi chích
kim.[2][4]
Tuy nhiên có trường hợp không đáp ứng các tiêu chuẩn
trên, do đó chẩn đoán không thể dễ dàng thực hiện Cho
nên bác sĩ có thể dựa vào bất kỳ triệu chứng nào trong
số những dấu hiệu sau đây:
• Loét miệng
• Viêm khớp / đau khớp
• Triệu chứng hệ thống thần kinh
• Viêm dạ dày và/hoặc viêm ruột
• Huyết khối tĩnh mạch sâu
• Viêm tĩnh mạch huyết khối
• Tim mạch có vấn đề
• Viêm trong lồng ngực và phổi
• Vấn đề về thính giác
• Kiệt sức
• ay đổi nhân cách, loạn thần
• Có thành viên trong gia đình mắc bệnh Behçet.
hệ thống miễn dịch bắt đầu có những rối loạn theo kiểunày
3.4 Điều trị
Điều trị hiện nay là mục đích nhằm giảm bớt cáctriệu chứng, giảm viêm, và kiểm soát hệ thống miễndịch Điều trị với thuốc kháng viêm Corticosteroidliều cao (1 mg/kg/ngày) được chỉ định cho những biểuhiện bệnh nặng.[6]Điều trị bằng thuốc ức chế hoại tửkhối u (kháng TNF) cho thấy hứa hẹn trong điều trịviêm màng bồ đào, các triệu chứng viêm da và niêmmạc.[7][8][9]
Dùng Interferon alfa-2a cũng có thể là một điều trị hiệuquả, đặc biệt đối với các vết lở loét sinh dục và miệng[10]
cũng như các tổn thương ở mắt.[11]Azathioprine, khi sửdụng kết hợp với interferon alfa-2b cũng cho kết quảkhả quan,[12]và Colchicine có thể hữu ích trong điềutrị một số vết loét sinh dục, ban đỏ, và viêm khớp.[13]
3.5 Sinh lý bệnh
Kháng nguyên HLA-B51 [14]
Bệnh Behçet phổ biến ở các khu vực xung quanh tuyếnđường tơ lụa cũ ở Trung Đông và Trung Á Vì vậy,
Trang 153.8 CHÚ THÍCH 7
đôi khi được gọi là Bệnh Con đường tơ lụa Một số
lượng lớn các nghiên cứu huyết thanh học cho thấy một
mối liên hệ giữa bệnh Behçet vàkháng nguyên
HLA-B51.[15]Tỷ lệ kháng nguyên B51 trong một số nghiên
cứu trên dân cư ở khu vực từ Trung Đông đến Nam
ĐôngSiberiacho thấy họ có B51 trong huyết thanh cao
gấp 3 lần người dân ở vùng khác Hiện nay, tác nhân
gây bệnh Behçet chưa được xác nhận, nhưng một số
chủng vi khuẩn Streptococcus sanguinis đã được phát
hiện có chứa một kháng nguyên tương đồng.[16]
3.6 Dịch tễ học
Số người mắc bệnh Behçet rất hiếm, nhưng nó lại phổ
biến ở Trung Đông và châu Á, cho thấy một nguyên
nhân đặc hữu có thể là do khu vực nhiệt đới.[17] Một
nghiên cứu đã cho thấy một sự liên quan giữa những
người bị dị ứng thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm sữa
với bệnh Behçet.[18]Uớc tính khoảng 15.000 đến 20.000
người Mỹ đã được chẩn đoán bị bệnh này Ở Anh, có
khoảng 1 trường hợp cho mỗi 100.000 người.[19]Tỷ lệ
nam giới mặc bệnh Behçet nhiều hơn nữ giới trên toàn
cầu.[20]
3.7 Lịch sử
Bệnh Behçet được đặt tên theo Hulusi Behçet
(1889-1948), bác sĩda liễuvà nhà khoa học ngườiổ Nhĩ Kỳ,
người đầu tiên nhận ra hội chứng ở một trong những
bệnh nhân của ông vào năm 1924 và báo cáo nghiên
cứu về bệnh trong tạp chí các bệnh về da vàbệnh hoa
liễunăm 1936.[21][22]Tên bệnh Behçet được chính thức
thông qua tại Đại hội ốc tế về da liễu tại Geneva vào
tháng 9 năm 1947 Các triệu chứng của bệnh này có
thể đã đượcHippocratesmô tả trong thế kỷ thứ 5trước
Công nguyên.[23]
3.8 Chú thích
[1] “Glossary,” Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2009
[2] American College of Physicians (ACP) Medical
Knowledge Self-Assessment Program (MKSAP-15):
Rheumatology “Systemic vasculitis - Behcet disease.”
p 71-73.ISBN 978-1-934465-30-1
[3] “Bệnh Behcet của mắt (Adamatiades),” Truy cập ngày
13 tháng 11 năm 2008
[4] “Criteria for diagnosis of Behçet’s disease International
Study Group for Behçet’s Disease” Lancet 335 (8697):
1078–80 áng 5 năm 1990.PMID 1970380
[5] “Behcet Disease: Overview - eMedicine Dermatology”
Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2009
[6] CMDT (Current Medical Diagnosis & Treatment) 2007,Chapter 20, page 872
[7] Sfikakis PP, eodossiadis PG, Katsiari CG,Kaklamanis P, Markomichelakis NN (2001) “Effect ofinfliximab on sight-threatening panuveitis in Behcet’s
disease” Lancet 358 (9278): 295–6. PMID 11498218.doi:10.1016/S0140-6736(01)05497-6
[8] Sfikakis PP (2002).“Behcet’s disease: a new target foranti-tumor necrosis factor treatment” Ann Rheum Dis.
61 Suppl 2: ii51–3.PMC 1766720.PMID 12379622.[9] Melikoglu M, Fresko I, Mat C, Ozyazgan Y, Gogus F,Yurdakul S, Hamuryudan V, Yazici H (2005) “Short-term trial of etanercept in Behcet’s disease: a double
blind, placebo controlled study” J Rheumatol 32 (1): 98–
105.PMID 15630733.[10] Alpsoy E, Durusoy C, Yilmaz E, Ozgurel Y, Ermis
O, Yazar S, Basaran E (2002) “Interferon alfa-2a
in the treatment of Behcet disease: a randomizedplacebo-controlled and double-blind study”
Arch Dermatol 138 (4): 467–71. PMID 11939808.doi:10.1001/archderm.138.4.467
[11] Koer I, Zierhut M, Eckstein AK, Vonthein R, Ness T,Gunaydin I, Grimbacher B, Blaschke S, Meyer-Riemann
W, Peter HH, Stubiger N (2003).“Human recombinantinterferon alfa-2a for the treatment of Behcet’s diseasewith sight threatening posterior or panuveitis” Br
J Ophthalmol 87 (4): 423–31. PMC 1771623 PMID
12642304.doi:10.1136/bjo.87.4.423.[12] Hamuryudan V, Ozyazgan Y, Fresko Y, Mat C, Yurdakul
S, Yazici H (2002) “Interferon alfa combined withazathioprine for the uveitis of Behcet’s disease: an open
study” Isr Med Assoc J 4 (11 Suppl): 928–30. PMID
12455182.[13] Yurdakul S, Mat C, Tuzun Y, Ozyazgan Y, Hamuryudan
V, Uysal O, Senocak M, Yazici H (2001) “A blind trial of colchicine in Behcet’s syndrome”
double-Arthritis Rheum 44 (11): 2686–92. PMID 11710724.doi:10.1002/1529-0131(200111)44:11<2686::AID-ART448>3.0.CO;2-H
[14] Ohno, S.; M Ohguchi, S Hirose, H Matsuda, A.Wakisaka, M Aizawa (1982) “Close association of HLA-
Bw51 with Behcet’s disease” Archives of Ophthalmology
100 (9): 1455–1458.PMID 6956266.[15] Durrani K, Papaliodis GN (2008) “e genetics
of Adamantiades-Behcet’s disease” Semin Ophthalmol 23 (1): 73–9 PMID 18214795.doi:10.1080/08820530701745264
[16] Yanagihori H, Oyama N, Nakamura K, Mizuki N,Oguma K, Kaneko F (tháng 7 năm 2006) “Role
of IL-12B promoter polymorphism in Behcet’s disease susceptibility: An involvement of
Adamantiades-1 immunoreactivity against Streptococcus Sanguinis
antigen” J Invest Dermatol 126 (7): 1534–40. PMID
16514412.doi:10.1038/sj.jid.5700203.[17] Behcet’s syndrome (Medline Plus)
Trang 168 CHƯƠNG 3 BỆNH BEHÇET
[18] Triolo et al (2002) “Humoral and cell mediated immune
response to cow’s milk proteins in Behçet’s disease.”
Ann Rheum Dis 61(5):459-62.PMID 11959773
[19] Behcet’s disease
[20] Escudier M, Bagan J, Scully C (tháng 3 năm 2006)
“Number VII Behçet’s disease (Adamantiades
syndrome)” Oral Dis 12 (2): 78–84. PMID 16476027
doi:10.1111/j.1601-0825.2005.01144.x
[21] synd/1863atWho Named It?
[22] H Behçet Über rezidivierende, aphtöse, durch ein Virus
verursachte Geschwüre am Mund, am Auge und an den
Genitalien Dermatologische Wochenschri, Hamburg,
1937, 105(36): 1152-1163
[23] Johns Hopkins Vasculitis Center (2004).Johns Hopkins
Vasculitis Center Discusses Behcets Disease Truy cập
ngày 9 tháng 9 năm 2005
3.9 Liên kết ngoài
• Bệnh Behçettrên trangOpen Directory Project
Trang 17Chương 4
Bệnh da liễu
Bệnh da liễu (hợp xưng của “bệnh da” và “bệnh hoa
liễu”), gọi tắt là da liễu là các chứngbệnhảnh hưởng
đến bề mặt của cơ thể:da,lông,tóc,móng, cáccơvà
tuyến liên quan “Hoa liễu” (chữ Hán: ) nghĩa gốc là
“hoa và liễu”, nghĩa bóng là chỉkỹ việnvà kỹ nữ Bệnh
hoa liễu là cách gọi khác củabệnh lây truyền qua đường
tình dục, ý muốn nói đây là bệnh của gái bán dâm Da
liễu thực ra là tên gọi thừa và không chính xác, gọi là
bệnh da hoặc bệnh bì phu (bì phu có nghĩa là da) thì
chính xác hơn
4.1 Hình thái học
4.1.1 Tổn thương sơ cấp
Vết cắn đặc trưng bọ chét Nam Mỹ để lại trên da người
• Chấm: là một vùng da đổi màu so với màu bình
thường, có bờ, không gồ hay lõm so với da xung
quanh nên không sờ được Một số sang thương có
thể giống chấm, nhưng lại gồ (tức là sẩn) khi chiếu
ánh sángnghiêng.[1]
• Đốm: (patch) là chấm có độ lớn từ 5-10mm, sờ
không thấy
• Sẩn: là sang thương nông, rắn, thường dưới 0,5 cm
đường kính Sẩn gồ khỏi bề mặt da xung quanhnên sờ được
• Mảng: là một gồ dạng cao nguyên và chiếm mộtkhoảng da tương đối rộng so với chiều cao của nó.Mảng thường có bờ rõ và thường được tạo thành
do nhiều sẩn tập họp lại như trongbệnh vẩy nếnhayu sùi dạng nấm
• Mụn nước: là một ổ nông chứa dịch, gồ lên và đượcbao bọc
• Mụn mủ: hay còn gọi là nhọt, là một ổ nông ở da,được bao bọc, chứa dịch tiết mưng mủ, có thể cómàu trắng, vàng, vàng xanh hay xuất huyết
• Nứt: là một vết nứt xuất hiện trên da, thường hẹp
nhưng sâu
• Loét: là tổn thương da do mất thượng bì và phầntrên lớp nhú của lớp bì Nó có thể mở rộng vào lớpdưới da và luôn luôn xảy ra trong mô có thay đổi
do tăng lớp sừng khu trú
• Mào: hình thành khi huyết thanh, máu hay dịchtiết mủ khô trên bề mặt da Mào có thể mỏng, dễvụn (chốc khô) hay dày và dính (chốc loét)
• Chai: bề mặt da gây cảm thấy dày và cứng hơn.
• Teo: đề cập đến một sự mất mát của các mô như
biểu bì, da, hoặc dưới da
4.2 Chú thích
[1] Fitzpatrick, omas B.; Klauss Wolff; Wolff, KlausDieter; Johnson, Richard R.; Suurmond, Dick; Richard9
Trang 1810 CHƯƠNG 4 BỆNH DA LIỄU
Suurmond (2005) Fitzpatrick’s color atlas and synopsis of
clinical dermatology New York: McGraw-Hill Medical
Pub Division.ISBN 0-07-144019-4
[2] Cotran, Ramzi S.; Kumar, Vinay; Fausto, Nelson; Nelso
Fausto; Robbins, Stanley L.; Abbas, Abul K (2005)
Robbins and Cotran pathologic basis of disease St Louis,
Mo: Elsevier Saunders.ISBN 0-7216-0187-1
[3] Wolff, Klaus Dieter và đồng nghiệp (2008) Fitzpatrick’s
Dermatology in General Medicine McGraw-Hill
Medical.ISBN 0-07-146690-8
Trang 19Chương 5
Bệnh ghẻ
Bệnh ghẻ (tiếng Latinh: scabere[1]còn được gọi là ghẻ
Na Uy[2]) là bệnh truyền nhiễm, nhiễm trùng trên da
do loài ký sinh trùng cái ghẻ (Sarcoptes scabiei, giống
Hominis) gây ra Chúng thường đào hang rãnh trên da
làm ngứa ngáy khó chịu và nhiễm trùng Bệnh ghẻ đượctìm thấy từ thế kỷ thứ 16 nhưng mãi đến năm 1934 mớitìm được ký sinh trùng gây bệnh ghẻ ở người
ời kỳ ủ bệnh có thể thay đổi từ 2 đến 40 ngày, trungbình từ 10 đến 15 ngày Lúc đầu thấy ngứa ở các kẽ,như kẽ ngón tay, kẽ dưới vú (ở đàn bà), rãnh quy đầu,
kẽ mông ở trẻ em… Ngứa lan dần nhanh chóng ra toànthân và ngứa nhiều về ban đêm
Vòng đời của cái ghẻ [3]
[3] CDC web site > DPDx - Laboratory Identification ofParasites of Public Health Concern > Scabies
11
Trang 20Chương 6
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bệnh lây truyền qua đường tình dục còn gọi là bệnh
hoa liễu, hay nhiễm trùng lây qua đường tình dục là
bệnh có xác suất truyền từ người sang người thông qua
các hành vitình dục, bao gồm cảgiao hợpâm đạo,quan
hệ tình dục bằng miệnghayhậu môn
6.1 Từ nguyên học
“Hoa liễu” (chữ Hán: ) nghĩa gốc là “hoa và liễu”,
nghĩa bóng là chỉ kỹ việnvà kỹ nữ Gọi là bệnh hoa
liễu ý muốn nói đây là bệnh của, hoặc lây truyền từgái
mại dâm
6.2 Phân loại
Cho đến những năm 1990, bệnh lây truyền qua đường
tình dục thường được gọi là bệnh phong tình, hoặc
uyển ngữ thường gọi là bệnh xã hội
Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục là một thuật
ngữ rộng hơn so với bệnh lây truyền qua đường tình
dục.[1] Nhiễm trùng là sự xâm chiếm của các loài ký
sinh trùng mà có thể không gây tác hại gì, trong khi đó
một căn bệnh nhiễm trùng thường dẫn đến suy giảm
chức năng hoặc bất thường Trong cả hai trường hợp
điều kiện không có thể biểu hiện các dấu hiệu hoặc
triệu chứng
6.3 Nguyên nhân
6.3.1 Bệnh do vi khuẩn
• Hạ cam mềm(Haemophilus ducreyi)
• Chlamydia(Chlamydia trachomatis)
• U hạt bẹn(Klebsiella granulomatis)
• Bệnh lậu(Neisseria gonorrhoeae)
• Giang mai(Treponema pallidum)
Ảnh chụp kính hiển vi virus herpes
• Viêm gan siêu vi B(Lưu ý: Bệnh viêm gan A và viêmgan E được truyền qua đường tiêuhóa, viêm gan C hiếm khi lây lanqua đường tình dục,[2] viêm gan
D có thể lây qua đường tình dục(không chắc chắn[3][4][5])
• Herpes sinh dục
• HIV/AIDS
• Bệnh sùi mào gà, bệnh mồng gà hayHPV(HumanPapilloma Virus): các loại HPV gây ra hầu hết cácloại ung thư cổ tử cung, cũng nhưung thư hậumôn,ung thư dương vật,ung thư âm hộhoặc gây
ra mụn cóc ởbộ phận sinh dục
• U mềm lây(Molluscum contagiosum)
12
Trang 216.3.5 Xác suất lây truyền
Các nguy cơ và xác suất lây truyền của các bệnh lây
truyền qua đường tình dục được tóm tắt trong những
hành vi ở bảng dưới đây.[6][7][8][9][10][11][12]
6.4 Sinh lý bệnh
Nhiều bệnh hoa liễu dễ dàng truyền nhiễm thông qua
các màng nhầy của dương vật, âm hộ, trực tràng, đường
tiểu một số đường khác nhưng ít phổ biến hơn (tùy
thuộc vào loại nhiễm trùng): miệng, họng, đường hô
hấp và mắt Màng nhầy khác với làn da ở chỗ chúng
cho phép một số tác nhân gây bệnh vào cơ thể, các tác
nhân gây bệnh cũng có thể đi qua những chỗ da bị rách
hoặc tổn thương Dương vật đặc biệt dễ bị tổn thương
do ma sát trong quá trình quan hệ tình dục.[13]
Mặc dù, màng nhầy cũng có trong miệng như trong
bộ phận sinh dục, nhưng sự truyền nhiễm bệnh thông
qua đường tình dục dễ xảy ra hơn qua đường từ miệng
sang miệng, ví dụ như hôn eo thống kê về tình dục
an toàn, nhiều bệnh nhiễm trùng có thể dễ dàng lây
truyền từ miệng qua bộ phận sinh dục hoặc từ bộ phận
sinh dục qua miệng, việc truyền từ miệng sang miệng
ít xảy ra VớiHIV, chất dịch sinh dục là tác nhân gây
bệnh dễ dàng hơn so với nước bọt.[14]Một số bệnh lây
qua đường tình dục cũng có thể lây truyền qua tiếp xúc
da trực tiếp, ví dụ như:Herpes simplexvàHPV Virus
Herpes dòngKaposi có thể được truyền qua nụ hôn
sâu,hoặc khi nước bọt được sử dụng như một chất bôi
trơn tình dục
Mọi hành vi tình dục có liên quan đến liên hệ với các
chất dịch cơ thể của người khác cần phải rất cẩn thận
vì nó có chứa một số nguy cơ lây truyền các bệnh qua
đường tình dục Hầu hết người ta chỉ chú ý tập trung
vào HIV, tuy nhiên mỗi bệnh hoa liễu đều tiềm ẩn một
mối nguy hiểm riêng
Các chuyên gia y tế cho thấytình dục an toàn, chẳng
hạn như việc sử dụng bao cao su, là phương pháp đáng
tin cậy nhất để giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền
qua đường tình dục trong quá trình hoạt động tình dục,
nhưng tình dục an toàn không có nghĩa là một sự bảo
vệ tuyệt đối
Số người nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục (không bao gồm HIV) trên toàn thế giới, xét trên 100.000 người vào năm 2004 [15]
không có số liệu
< 60 60-120 120-180 180-240 240-300 300-360 360-420 420-480 480-540 540-600 600-1000
> 1000
6.5 Dịch tễ học
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục vẫn chiếm sốlượng cao trên toàn thế giới, nhiều nền văn hóa gâykhó khăn cho bác sĩ trong việc xử lý công khai và thẳngthắn với bệnh nhân về vấn đề tình dục Ngoài ra, pháttriển và lây lan của vi khuẩn kháng thuốc (ví dụ, khángpenicillin gonococci) làm cho một số bệnh khó chữahơn Du lịch được coi là nguyên nhân gây phát tán HIV
từ châu Phi sang châu Âu và châu Mỹ cuối những năm
1970.[16]Năm 1996, Tổ chức Y tế ế giới ước tính rằnghơn 1 triệu người đã bị nhiễm bệnh hằng ngày Khoảng60% các ca nhiễm bệnh ở những người trẻ <25 tuổi,
và trong số này có 30% <20 tuổi Trong độ tuổi từ 14
và 19, bệnh lây truyền qua đường tình dục thường lâycho các bé gái nhiều hơn bé trai với một tỷ lệ gần như02:01 Một con số ước tính khoảng 340.000.000 trườnghợp mới mắc bệnh giang mai, bệnh lậu, chlamydia, vàtrichomonas trên toàn thế giới vào năm 1999.[17][18]
AIDSlà nguyên nhân gây tử vong lớn nhất ngày nay ởchâu Phi khu vực hạ Sahara.[19]Phần lớn các ca nhiễmHIV là do không được bảo vệ trong quan hệ tình dục.Khoảng 1,1 triệu người đang sống với HIV / AIDS tạiHoa Kỳ, và AIDS vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàngđầu ở phụ nữ Mỹ gốc Phi ở độ tuổi từ 25 và 34.[20]Viêmgan siêu vi B cũng được phân loại như là một căn bệnhqua đường tình dục vì nó có thể được truyền qua đườngtình dục Căn bệnh này được tìm thấy trên toàn cầu, với
tỷ lệ cao nhất ở châu Á và châu Phi và thấp hơn ở châu
Mỹ, châu Âu.[21]
Trang 2214 CHƯƠNG 6 BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC
6.6 Phòng ngừa
Phòng ngừa là biện pháp chính trong việc phòng các
bệnh lây qua đường tình dục không chữa được, chẳng
hạn nhưHIVvàHerpes sinh dục Cách hiệu quả nhất
để ngăn ngừa lây truyền bệnh qua đường tình dục là
tránh tiếp xúc trực tiếp với các bộ phận cơ thể hoặc
chất dịch có thể mang mầm bệnh Điều này không ám
chỉ đến việc xem các hoạt động tình dục nhưlàm tình
qua điện thoại,làm tình ảo, hoặcthủ dâmlà biện pháp
để tránh tiếp xúc Việc sử dụngbao cao suthích hợp có
thể làm giảm tiếp xúc và nguy cơ lây bệnh Mặc dùbao
cao sulà hiệu quả trong việc hạn chế tiếp xúc, nhưng
một số bệnh vẫn có thể lây được ngay cả khi dùng bao
cao su.[22]
Lý tưởng nhất là cả hai đối tác sẽ nhận được xét nghiệm
trước khi bắt đầuquan hệ tình dục Nhiều bệnh không
phát hiện được ngay lập tức sau khi tiếp xúc với mầm
bệnh, mà chỉ có thể phát hiện bằng xét nghiệm sau một
thời gian phơi nhiễm nhất định
6.6.1 Vắc xin
Vắc xin có sẵn có thể bảo vệ chống lại virus lây qua
đường tình dục, chẳng hạn nhưviêm gan siêu vi Bvà
một số loạiHPV Tiêm phòng trước khi bắt đầu quan
hệ tình dục để đảm bảo được bảo vệ tối đa
6.6.2 Bao cao su
Bao cao su chỉ có thể bảo vệ như một rào cản khi sử
dụng đúng cách Khu vực không được che chắn bởi
bao cao su vẫn có thể bị lây nhiễm nhiều bệnh Trong
trường hợp bệnhHIV, dương vật che chắn đúng cách
với bao cao su có hiệu quả ngăn lây nhiễm HIV, mặc
dù chất dịch sinh dục có thể lây nhiễm HIV cho vùng
da bị thương về mặt lý thuyết vẫn có thể xảy ra trong
quan hệ tình dục, điều này có thể tránh được chỉ đơn
giản bằng cách không tham gia vào quan hệ tình dục
khi có vết thương chảy máu
Sử dụng bao cao su đúng cá:
• Không mang bao cao su quá chặt ở cuối, và để lại
1,5 cm ở đầu bao dự phòng cho việcxuất tinh
• Không đeo bao cao su quá rộng so với kích cỡ
dương vật
• Không được lật ngược bao cao su để sử dụng.
• Không dùng bao cao su được làm bằng các chất
không phải làcao suhoặcnhựa tổng hợp, loại bao
cao su này không thể bảo vệ chống lạiHIV
6.7 Chẩn đoán
Không phải tất cả các bệnh lây truyền qua đường tìnhdục đều có triệu chứng, hoặc có triệu chứng ngay saukhi mắc bệnh, trong một số trường hợp, người bệnhmang mầm bệnh nhưng hoàn toàn không có bất kì triệuchứng đáng kể nào, điều này tăng nguy cơ lây bệnhcho người khác Một số bệnh lây truyền qua đường tìnhdục không được điều trị sẽ dẫn đến vô sinh, đau mãntính hoặc chết Cần sớm được chẩn đoán bệnh bằng cácphương pháp xét nghiệm để tiến hành điều trị và hạnchế việc lây truyền dịch bệnh
6.8 Lịch sử
Áp phích tuyên truyền bệnh giang mai những năm 1930: Xấu hổ
và sợ hãi vì bệnh giang mai có thể tàn phá cơ thể bạn
Bệnh giang maibùng nổ vào năm 1494 khi quânPhápbao vây phía trong thành phố Napoli nước Ý,[23] từvùng này, dịch bệnh đã càn quét ra toàn châu Âu Jared
Diamond đã mô tả về nó như sau: Ca giang mai đầu tiên
chắc chắn được ghi nhận ở Châu Âu vào năm 1495, mụn
mủ bao bọc từ đầu đến đầu gối, từng mảng thịt rơi vữa trên mặt bệnh nhân, và dẫn đến tử vong trong vòng chưa đến 1 tháng sau.[24]
Trước khi phát minh ra các loại thuốc hiện đại, các bệnh
Trang 236.10 CHÚ THÍCH 15
lây truyền qua đường tình dục nói chung không chữa
được, và việc điều trị được giới hạn trong điều trị các
triệu chứng của bệnh.Bệnh việnđầu tiên cho các bệnh
hoa liễu được thành lập năm 1746 tại Bệnh viện London
Lock.[25]Trong nửa sau của thế kỷ 19, một đạo luật đã
được sử dụng để bắt giữ gáimại dâmbị nghi ngờ nhiễm
bệnh
Với sự phát hiện của thuốckháng sinh, một số lớn các
bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể dễ dàng
được chữa trị Điều này, kết hợp với các chiến dịchy tế
hiệu quả, đã dẫn đến một nhận thức trong công chúng
vào thập niên 1960 và thập niên 1970, các bệnh hoa liễu
không còn là mối đe dọa y tế nghiêm trọng
Trong những năm 1980, lần đầu tiên người ta phát hiện
ra bệnh herpes sinh dục và AIDS, được xem là các
bệnh lây truyền qua đường tình dục không thể được
chữa khỏi bằng y học hiện đại AIDS có một thời kỳ
dài không có triệu chứng, trong thời gian nàyHIVcó
thể nhân rộng và bệnh có thể được truyền cho người
khác, tiếp theo là giai đoạn có triệu chứng và dẫn đến
tử vong.[26]
6.9 Xem thêm
• Tình dục an toàn
6.10 Chú thích
[1] “Sexually transmied diseases (STDs)?”
PLWHA/National AIDS Resource Center Truy
cập ngày 25 tháng 3 năm 2013., Frequently asked
questions (FAQ) About Sexually Transmied Diseases
(STDs), Ethiopian AIDS Resource Center “Sometimes
the terms STI and STD are used interchangeably is
can be confusing and not always accurate, so it helps
first to understand the difference between infection
and disease Infection simply means that agerm—virus,
bacteria, orparasite—that can cause disease or sickness
is present inside a person’s body An infected person
does not necessarily have any symptoms or signs that
the virus or bacteria is actually hurting his or her body;
they do not necessarily feel sick A disease means that
the infection is actually causing the infected person
to feel sick, or to notice something is wrong For this
reason, the term STI—which refers to infection with
any germ that can cause an STD, even if the infected
person has no symptoms—is a much broader term than
STD.”
[2] Workowski K, Berman S (2006).“Sexually transmied
diseases treatment guidelines, 2006.” (PDF) MMWR
Recomm Rep 55 (RR–11): 1–94.PMID 16888612
[3] Wu J, Chen C, Sheen I, Lee S, Tzeng H, Choo
K (1995) “Evidence of transmission of hepatitis D
virus to spouses from sequence analysis of the viral
genome” Hepatology 22 (6): 1656–60.PMID 7489970
doi:10.1002/hep.1840220607
[4] Farci P (2003) “Delta hepatitis: an update” J Hepatol 39
(Suppl 1): S212–9.PMID 14708706.doi:8278(03)00331-3
10.1016/S0168-[5] Shukla N, Poles M (2004) “Hepatitis B virus infection:co-infection with hepatitis C virus, hepatitis D
virus, and human immunodeficiency virus” Clin
Liver Dis 8 (2): 445–60, viii. PMID 15481349.doi:10.1016/j.cld.2004.02.005
[6] Department of Public Health, City & County of SanFrancisco (2011).STD Risks Chart
[7] Varghese B, Maher JE, Peterman TA, BransonBM,Steketee RW (2002) “Reducing the risk of sexualHIV transmission: quantifying the per-act risk for HIV
on the basis of choice of partner, sex act, and condom
use” Sex Transm Dis 29 (1): 38–43.PMID 11773877.doi:10.1097/00007435-200201000-00007
[8] Jin F và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2010).“Per-contactprobability of HIV transmission in homosexualmen in Sydney in the era of HAART” AIDS
24 (6): 907–913. PMC 2852627 PMID 20139750.doi:10.1097/QAD.0b013e3283372d90
[9] Hoare A (2010).models of HIV epidemics in Australiaand Southeast Asia
[10] Burchell A và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2006)
“Modeling the Sexual Transmissibility of HumanPapillomavirus Infection using Stochastic ComputerSimulation and Empirical Data from a CohortStudy of Young Women in Montreal, Canada”
American Journal of Epidemology 169 (3): 534–543.
doi:10.1093/aje/kwj077.[11] Australasian contact tracing manual.Specific infectionswhere contact tracing is generally recommended[12] Bryan C (2011)INFECTIOUS DISEASE CHAPTEREIGHT SEXUALLY TRANSMITTED DISEASES[13] Virus Pathogenesis, Microbiology Bytes[14] Safe Sex Chart, violet blue: open source sex[15] “WHO ước tính dịch bệnh ở các quốc gia” World Health Organization 2004 Truy cập Nov.ngày 1 tháng 11 năm
2009 Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate=(trợ giúp)
[16] Mary-Ann Shafer, Anna-Barbara Moscicki (2006)
“Sexually Transmied Infections, 2006.” tr 1–8.[17] STD Statistics Worldwide
[18] U.S Medicine Information Central[19] UNAIDS,WHO(tháng 12 2007).“2007 AIDS epidemicupdate”(PDF) Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008.Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)[20] "Obama Ends U.S Travel Ban On Visitors, ImmigrantsWith HIV-AIDS".ABC News ngày 30 tháng 10 năm2009
[21] "Hepatitis B" U.S Food and Drug Administration
Trang 2416 CHƯƠNG 6 BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC
[22] Villhauer, Tanya (ngày 20 tháng 5 năm 2005).“Condoms
Preventing HPV?” University of Iowa Student Health
Service/Health Iowa Truy cập ngày 26 tháng 7 năm
2009
[23] Oriel, J.D (1994) e Scars of Venus: A History
of Venereology. London: Springer-Verlag ISBN
354019844X
[24] Diamond, Jared (1997) Guns, Germs and Steel New
York: W.W Norton tr 210.ISBN 848306667X
[25] Archives in London and the M25 area (AIM25)London
Lock Hospital records
[26] Gilbert MT, Rambaut A, Wlasiuk G, Spira TJ, Pitchenik
AE, Worobey M (tháng 11 2007).“e emergence of
HIV/AIDS in the Americas and beyond” Proc Natl.
Acad Sci U.S.A 104 (47): 18566–70. PMC 2141817
PMID 17978186.doi:10.1073/pnas.0705329104 Truy cập
20 tháng 3 năm 2010 Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
Trang 25Chương 7
Bệnh vẩy da
Bệnh vẩy da hay còn gọi là bệnh sần có vẩy là một
thuật ngữ mô tả nhóm bệnh có chung triệu chứng vẩy
trên da bao gồm:bệnh vẩy nến, á vẩy nến, vẩy phấn
hồng, Liken phẳng, các bệnh sẩn có vảy khác và các
bệnh sẩn có vẩy trong các bệnh đã phân loại ở nơi khác
Không chỉ có biểu hiện chung, các bệnh này cơ bản có
chung cơ chế bệnh sinh: Rối loạn đáp ứng miễn dịch
biểu hiện trên da ở nhiều mức độ, thời điểm, và có liên
quan đến yếu tố gia đình hay còn gọi là bệnh tự miễn
Nhìn chung chúng ít nguy hiểm đến tính mạng, không
lây nhưng ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ, khả năng giao
tiếp… làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
từng đám, có màu trắng hồng, ngứa, gãi ra chúng bong
tróc tạo thành các mảng sáp trông như nến do đó có
được gọi là vẩy nến Ở chuyên khoa sâu, vẩy nến còn
được chia thành các thể rất sâu: Vẩy nến thể móng, thểđảo ngược, thể khớp, thể mủ, thể đỏ da toàn thân…căn
cứ vào vị trí và mức độ nặng nhẹ của bệnh
-Chàm (bệnh)(eczema): Còn gọi là viêm da cơ địa, viêm
da dị ứng, biểu hiện đặc trưng là viêm: Sưng do xuất tiếtdưới da, đau rát, đỏ, ngứa rất khó chịu, không sốt Cầnphân biệt viêm da có nhiễm khuẩn thường kèm theosốt và phải điều trị bằng kháng sinh
-Á sừng(viêm da cơ địa mùa đông): Khác với chàm, Ásừng thường xuất hiện ở lòng bàn tay, bàn chân Bêncạnh đặc điểm bong tróc, chúng còn còn làm da căng,nứt nẻ, rất đau rát, thậm chí chảy máu Bệnh thườnggặp vào mùa khô (mùa u, Đông ở Miền Bắc)
-Vẩy phấn trắng: Ít gặp, đặc trưng bởi các đám vảy da
có màu trắng, cạo ra chúng thành dạng bột như phấntrắng
-Vẩy phấn hồng: đám vẩy màu hồng, thường hình bầudục, ngứa thường gặp ở ngực, bụng lưng Bên cạnh yếu
tố tự miễn, vẩy phấn hồng còn có thể do một số chủngvirus herpes nhưng chưa có bằng chứng chứng minhbệnh có thể lây lan
-Vẩy cá: Đặc trưng bởi da khô, các mảng vảy hình góccạnh, cứng, ngứa, thường xuất hiện ở thân mình
7.2 Cơ Chế Gây Bệnh
Đây là một nhóm bệnh tự miễn (rối loạn đáp ứng miễndịch) biểu hiện trên da và ít ảnh hưởng đến các cơ quankhác trong cơ thể do đó ít ảnh hưởng đến sức khỏe Một
số yếu tố góp phần kích hoạt bệnh: Do môi trường ônhiễm, nhiễm khuẩn, virus, tiếp xúc nhiều với ánh sángmặt trời, dùng thuốc hóa dược, stress, đặc biệt yếu tố
di truyền thường được nhắc đến…
Trang 2618 CHƯƠNG 7 BỆNH VẨY DA
nốt, chấm nhỏ, sau đó nhanh chóng lan ra các vùng
khác Bệnh có thể tự thoái lui nhưng rất dễ tái phát trở
lại khi gặp các yếu tố thuận lợi như mô tả ở trên Do
đó người bệnh cần bênh cạnh việc sử dụng thuốc theo
chỉ định, thì chế độ sinh hoạt, ăn uống đóng vai trò rất
quan trọng trong việc kiểm soát các bệnh vẩy da
7.4 Phân loại
Có nhiều cơ sở để phân loại, nhìn chung có thể dựa
vào vị trí mắc bệnh người ta gọi: bệnh vẩy da dầu, vẩy
da tay, ngực… hoặc theo phân loại của y văn: Vẩy nến,
vẩy cá… cũng có thể theo tính chất viêm của bệnh: bệnh
vẩy da cấp tính, mạn tính
7.5 Điều Trị
Tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh mà bác sĩ
sẽ chỉ định các thuốc, đường điều trị phù hợp ông
thường theo thứ tự ưu tiên như sau:
Thuốc bôi ngoài da
Đây là dạng được ưu tiên cho tất cả các thể do tác dụng
nhanh và ít tác dụng phụ toàn thân do đó bệnh nhân
thường được sử dụng Tuy nhiên cần phải theo chỉ định
sát của bác sĩ, các thuốc hay được sử dụng hiện nay là:
- Nhóm kem kháng histamine: Một số biệt dược như
cetirizine, fexofenadine, diphenhydramine, Loratadine
(Claritin)
- Nhóm kem bôi có corticoid: Elotmet, Diprosone
- Nhóm dưỡng da, giữ ẩm: Chitosan (Explaq)
Điều trị nội khoa
Các thuốc ức chế miễn dịch methotrexate,
cyclosporine, Acitretin, corticoid… tuy nhiên cần
rất thận trọng theo chỉ định sát sao, kinh nghiệm điều
trị của bác sĩ chuyên khoa ang trị liệu: Chiếu tia
cực tím vào vùng da có tổn thương, thường dùng cho
những ca nặng không đáp ứng với các liệu pháp điều
trị nội khoa
Vật lý trị liệu
Tắm bùn, tắm nước nóng, suối khoáng cũng được cân
nhắc Tuy nhiên bệnh nhân cần được trải nghiệm từ từ,
tránh dị ứng toàn thân
Nhìn chung, các bệnh vẩy da hiện tại chưa có thuốc đặc
hiệu Mục tiêu điều trị giai đoạn đầu là nhanh chóng
làm sạch tổn thương da, giai đoạn sau duy trình độ ẩm,
tăng tái tạo da, đặc biệt hạn chế bệnh tái phát Với đặc
tính dễ tái phát, phải điều trị lâu dài, thì nhóm thuốcbôi ngoài dưỡng da, giữ ẩm đóng vai trò quan trọngtrong khâu phòng tái phát, giúp bệnh nhân sống hòabình với các bệnh vẩy da
7.6 Chú thích
Trang 27Chương 8
Bệnh vẩy nến
Bệnh vẩy nến chiếm 5% dân số Châu Âu, 2% dân số
Châu Ávà Châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân
đến khám ở các phòng khámDa liễu Bệnh lành tính,
thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh
hưởng đếnthẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó
Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em
Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa
8.1 Nguyên nhân
Vẩy nến ở lưng
Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào
thượng bì Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng
nguyên nhân Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố
sau đây làm nên nguyên nhân sinh bệnh:
1 Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia
đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực
hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc Các nghiên
cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17,DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp
2 Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọtngười ta phân ra được liên cầu khuẩn ở tổn thương
và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm
3 Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên
4 uốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng
một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt
sau khi sử dụngcorticoid
5 Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau cáckích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích
lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa)
8.2 Nhận diện
Vẩy nến ở móng
• Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới
rõ, phía trên có vẩy dày màu trắng Khi chạm vàovùng da bị bệnh thì thấy khô, cứng Khó xác định
19
Trang 2820 CHƯƠNG 8 BỆNH VẨY NẾN
hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất
cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy
gầu nhiều và dày lên so với trước đây
• Vẩy nến ở móng: Móng dày hoặc có nhiều lỗ nhỏ
• Vẩy nến thể đỏ da toàn thân.
• Bệnh này vào mùa khô thì phát triển mạnh hơn,
gây đau đớn cho bệnh nhân khi vùng da nhiễm
bệnh bị va chạm hoặc có hiện tượng chảy máu chỗ
da bị nứt (đôi khi nhầm với bị nứt nẻ da, cũng hay
• Tránhrượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương
kỵ với các thuốc điều trị
• Nênlạc quanvớibệnh tật: do bệnh lành tính và
phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong
việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và
hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp
chữa bệnh mới có hiệu quả hơn Hãy tin tưởng
rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ
có các đột phá mới
• Tránh gây trầy xước da ở vùng này, sẽ gây nhiễm
trùng, vết thương trở lên đau đớn Cẩn thận khi
sử dụng các loại thuốc bôi dưỡng da, cần phải xem
kỹ các loại thuốc bôi dưỡng da có ảnh hưởng đến
• Nếu bệnh gặp ởbàn chânthì nên luôn luôn đigiầy
có bít tất khi đi ra ngoài đường, điều này sẽ giúp
da chân không cảm thấy khô, đồng thời ngăn ngừacác vết nứt ở da bịnhiễm khuẩn
• Hạn chế tiếp xúc với xà phòng (xà bông).
oa các thuốc loại thuốc mỡ Salicylic, có tác dụngbong vẩy, bạt sừng uốc mỡ Corticoid có tác dụngchống viêm rất tốt, thương tổn mất rất nhanh Tuynhiên không nên lạm dụng bôi Corticoid nhiều và dàingày vì sẽ gây biến chứng làm bệnh nặng thêm, cácthương tổn không đáp ứng với thuốc, bệnh không giảmthậm chí còn tiến triển nặng hơn Có thể xuất hiện cácthương tổn nhiễm trùng da như mụn mủ, viêm nanglông, nhiễm nấm, mọc lông, giãn mao mạch và teo da
uốc mỡ có Vitamin A axit có tác dụng bình thườnghóa quá trình sừng hóa của da
8.4.2 Điều trị toàn thân
• Acitretine: (Soriatane)
• Cyclosporin: (Neoral)
• Methotrexate
• Diprosalic
• ang trị liệu: UVB phổ hẹp(UVBTL01)
• ang hóa trị liệu: PUVA
• Sinh học trị liệu.
Các thuốc như Vitamin A axit, Methotrexate,Cyclosporin… Các thuốc này có tác dụng tốt, nhưng cónhiều tác dụng phụ như có thể gây quái thai, hạ bạchcầu, rối loạn chức năng gan, thận… Trị liệu bằng ánhsáng có thể phối hợp các phương pháp trên với chiếutia cực tím có bước sóng khác nhau (UVA, UVB) hoặcphương pháp PUVA đang được áp dụng để điều trịbệnh vẩy nến các thể khác nhau, tuy nhiên có thể cócác tác dụng phụ bao gồm da khô và nhăn, tàn nhang
và làm tăng nguy cơ ung thư da, trong đó có khối u áctính, hình thức nghiêm trọng nhất của ung thư da
Trang 298.6 LIÊN KẾT NGOÀI 21
Phương pháp sinh học (Biotherapy): trong những năm
gần đây người ta đã tổng hợp được nhiều chất sinh
học có tác dụng tốt trong điều trị bệnh vẩy nến như:
Efanecept, Alefacept, Efalizumab,… Nhiều nước như
Mỹ, Anh, Pháp, Uc… đã áp dụng phương pháp này và
đạt kết quả tốt Tuy nhiên phương pháp này vừa đắt
tiền vừa có nhiều tác dụng phụ (nhiễm trùng hô hấp, rối
loạn hệ miễn dịch, phát triển khối u, tăng bạch huyết…)
thậm chí có thể gây tử vong nên chưa được áp dụng
rộng rãi
Các phương pháp hiện đang được áp dụng nêu ở trên
đều có tác dụng điều trị các triệu chứng của bệnh vẩy
nến, tuy nhiên thời gian tái phát bệnh khá nhanh và có
rất nhiều tác dụng phụ không mong muốn
8.5 Đọc thêm
• Baker, Barbara S (2008) From Arsenic to
Biologicals: A 200 Year History of Psoriasis.
Beckenham UK: Garner Press.ISBN
0-9551603-2-4
8.6 Liên kết ngoài
• Bệnh vẩy nếntrên trangOpen Directory Project
• “Guidelines for the assessment and management
of psoriasis” U.S National Guideline
Clearinghouse
• estions and Answers about Psoriasis
- US National Institute of Arthritis and
Musculoskeletal and Skin Diseases
Trang 30Chương 9
Chàm (bệnh)
Chàm (eczema) là tình trạngviêm dasẩn mụn nước do
phản ứng với các tác nhân nội và ngoại sinh
Bệnh Eczema, lấy từ gốc Hy lạp: Eczeo – chỉ những tổn
thương là mụn nước, bệnh được biết từ thế kỷ thứ 2
trước công nguyên với sự hiểu biết là do rối loạn một
số yếu tố ở ngay trong cơ thể Dân gian thường gọi là
chàm tổ đỉa, vì tổn thương tái diễn lâu ngày da sần sủi
kèm theo các lỗ hút sâu rỉ nước vàng như mồm con đỉa
Eczema là một trạng thái viêm lớp nông của da cấp tính
hay mạn tính,[1] tiến triển từng đợt hay tái phát, lâm
sàng biểu hiện bằng đám mảng đỏ da, mụn n ước và
ngứa Nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, do: nội giới,
ngoại giới như ng bao giờ cũng có vai trò thể địa dị ứng
Về mô học có hiện tư ợng xốp bào (Spongiosis) Eczema
là bệnh ngoài da phổ biến, là bệnh da ngứa điển hình,
mạn tính hay tái phát, điều trị còn khó khăn
9.1 Triệu chứng và diễn biến của
bệnh
Bệnh là hiện tượng viêm bì, thượng bì, nguyên nhân
rất phức tạp, thường phát sinh do một quá trình phản
ứng của da trên một cơ địa đặc biệt dễ phản úng với dị
nguyên ở trong cơ thể (hoặc một số rất ít) ở ngoài cơ
thể, với biểu hiện tổn thương trên da là những mảng
hồng ban, mụn nước thành đám, tái đi tái lại nhiều lần
và rất ngứa
Bệnh tiến triển qua các giai đọan: Hồng ban, mụn nước,
chảy nước, đóng vảy tiết, bong vảy và Lichen hóa
Giai đoạn hồng ban
ường bị bỏ qua, bệnh nhân thường bỏ qua không
đi khám bệnh, các thày thuốc cũng thường bỏ qua vì
nhiều khi dấu hiệu này biến mất không để lại dấu hiệu
bệnh lý của bệnh ngoài da, hoặc đây chỉ là dấu hiệu ban
đầu của một bệnh ngoài da khác
Giai đoạn mụn nước
Đây là đặc trưng cơ bản của bệnh, mụn nước thường tập
trung thành từng đám, kích thước to 1 – 2 mm, tương
đối đồng đều, phát triển đùn từ dưới lên hết lớp nàyđển lớp khác, mụn nước tự vỡ (hoặc do gãi) làm chảynước dịch nhày Nếu có bội nhiễm thì tổn thương sưngphù nhiều dịch tiết hoặc có mủ
Giai đoạn đóng vảy tiết
Bong da và lên da non: Dịch nhày và huyết tương đóngkhô lại kèm theo hiện tượng da chết thành mảng bong
ra để lại bện dưới là lớp da non nhẵn bóng như vỏ hànhhơi sẫm màu nền da hơi chai cộm
Giai đoạn Lichen hoá (hằn cổ trâu)
Eczema tiến triển lâu ngày, da càng ngày càng sẫmmàu, tăng nhiễm cộm, bề mặt xù xì thô ráp, sờ nền cứngcộm, các hằn da nổi rõ, ở giữa các hằn da có các sẩn dẹtnhư trong bệnh lichen, quá trình này gọi là liken hoá.Bệnh diễn biến đan xen từng đợt, có thể có chu kỳphát nặng (hoặc tạm lui) theo mùa Các giai đoạn củabệnh thường xen kẽ lồng vào nhau, ngứa là triệu chứngxuyên suốt, xuất hiện sớm nhất và tồn tại dai dẳng
9.2 Các thể lâm sàng
9.2.1 Eczema tiếp xúc (Contact eczema,
contact dermatitis)
Xuất hiện đầu tiên ở vùng tiếp xúc, thường là vùng hở,
có khi in rõ hình vật tiếp xúc (hình quai dép, dây đồng
hồ, kính đeo mắt…) Tổn thương cơ bản là da đỏ xunghuyết, hơi nề, trên bề mặt có mụn nước, có thể có hìnhthái mãn tính khô dày cộm có vảy Dừng tiếp xúc với
dị vật bệnh thuyên giảm, tiếp xúc lại bệnh vượng lên.Làm phản ứng da với chất tiếp xúc cho kết quả dươngtính
9.2.2 Eczema thể địa (Atopic dermatitis)
Đây là thể lâm sàng thường gặp nhất, liên quan nhiềuđến yếu tố tự miễn, theo lứa tuổi lại có biểu hiện lâmsàng khác nhau:
22
Trang 319.4 ĐIỀU TRỊ 23
Eczema thể địa ở tuổi nhũ nhi và sơ sinh: Bệnh thường ở
mặt trán, hai bên cân đối nhau tạo nên tổn thương hình
móng ngựa, hình cánh bướn (Bệnh chàm cánh bướm)
Tổn thương thường là dát đỏ có nhiều mụn nước trên
bề mặt, trợt, chảy dịch, có mủ hoặc đóng vảy tiết
Eczema thể địa ở người lớn: Tổn thương cơ bản là
những đám mảng mụn nước, tiết dịch hoặc đóng vảy
tiết hoặc lichen hoá, vị trí ở bất cứ chỗ nào trên cơ thể,
tính đối xứng hai bên ít hơn (thường là bị cả hai bên cơ
thể, nhưng có nhiều trường hợp tổn thương chỉ khu trú
rõ rệt ở một bên còn vị trí tương ứng ở bên kia hoàn
toàn bình thường) Các tổn thương thường ở các nếp
gấp lớn, bàn tay, bàn chân…
9.2.3 Eczema thể đồng tiền (Nummular
Eczema)
Các đám tổn thương hình tròn hoặc ovan, ban đầu là
đám đỏ tiết dịch, có mụn nước, sẩn, tiết dịch, vảy tiết,
vảy da, lichen hoá có giới hạn rõ ràng, thường khu
trú rõ ràng ở mặt duỗi của chi (mặt trước cẳng chân,
tay, mu bàn chân bàn tay…Có ý kiến cho răng Eczema
đồng tiền là một thể đặc biệt của Eczema vi khuẩn, có
ý kiến lại cho rằng eczema đồng tiền là một phân thể
của eczema thể địa
9.2.4 Eczema da dầu (Seborrheic
dermatitis)
Vị trí thường gặp nhất là đầu, ở mặt thường bị ở lông
mày, quanh mắt, giữa mũi, nếp mũi má,sau tai Tổn
thương là đám mảng đỏ trên có vảy, vảy mỡ, đôi khi
có sẩn trên bề mặt, giới hạn tương đổi rõ, khô Vi thể
có hiện tượng xốp bào
9.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh
sinh
Nguyên nhân phức tạp nhiều khi khó hoặc không phát
hiện đ ược Có thể do:
9.3.1 Nguyên nhân ngoại giới
Các yếu tố vật lý,hoá học, thực vật, sinh vật học đụng
chạm vào da gây cảm ứng thành viêm da, eczema (các
chất này gọi là di nguyên) Ví dụ: ánh sáng, thuốc bôi,
tiêm uống, các hoá chất dùng trong công nghiệp, trong
gia đình (cao su, kền, crôm, xi măng, sơn…) Một số bệnh
ngoài da gây ngứa (nấm, ghẻ…) do chà xát, bôi thuốc
linh tinh… có thể trở thành eczema thứ phát
9.3.2 Nguyên nhân nội giới
Rối loạn chức phận nội tạng, rối loạn thần kinh, rối loạnnội tiết có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếpgây bệnh Eczema
9.3.3 Phản ứng dị ứng
Dù nguyên nhân nội giới hay ngoại giới, cũng đều cóliên quan đến phản ứng đặc biệt của cơ thể dẫn đếnphản ứng dị ứng, bệnh nhân có thể địa dị ứng eoHalpem và Coombs: Phản ứng Eczema được xếp vàokiểu mẫn cảm tế bào trì hoãn trong đó có vai trò của tếbào lympho mang ký ức kháng nguyên
9.4 Điều trị
9.4.1 Dân gian chữa Eczema
ường dùng vỏ cây Hoàng bá (núc nác), giã nát đắp lênvùng da tổn thương, trong bộ đội thời đánh Mỹ cũnglưu truyền bài thuốc chữa ngoài da có tác dụng chữacác bệnh ngoài da và được một số cơ sở điều trị quân y
đã áp dụng và phát triển
9.4.2 Đông y chữa Eczema
Do phong phối hợp với nhiệt và thấp lúc đầu thấy hơi
đỏ và ngứa và sau một thời gian ngắn nổi cục, mụnnước, chảy nước, đóng vẩy, bong vẩy và khỏi
Các bài thuốc Đông y[2]chữa Eczema, chia thành 2 thể:
Thấp nhiệt
Triệu chứng: Da hồng, đỏ ngứa,có mụn nước, loét, chảynước vàng, mùa hanh khô, chảy máu tươi, để lâu ngày
có thể gây viêm họngPháp trị: thanh nhiệt táo thấp Bài thuốc trị Chàm thấpnhiệt[3]: Hoàng cầm: 12; Hoàng bá: 12; bạch tiễn bì: 12;Linh bì: 12; Hoạt thạch: 12; Khổ sâm: 12; Sinh địa: 20Ngân hoa: 20; ổ phục linh: 20; N hoàng bá: 12; Hoàngđằng: 8;
Hoàng cầm: 8; Chi tử: 12; i đầu: 8; Sài hồ: 8; mộcthông: 8; Cam thảo: 2; sinh địa: 8; Trạch tả: 12; Sa tiền:
Trang 3224 CHƯƠNG 9 CHÀM (BỆNH)
8; uyền thoái:6 Kinh giới: 12; X truật: 8; Ngưu bàng:
12; Khổ sâm: 12; N hoàng bá: 8; long đởm thảo: 8
uốc dùng ngoài
uốc ngâm: Dùng Tô mộc, Kinh giới, H đằng sắc đặc
ngâm chỗ tổn thương khi nước còn nóng Hoặc hàng
ngày tắm bằng nước lá tre
Châm cứu
Tuỳ vị trí cơ thể, chọn huyệt tại chỗ và lân cận
Chân: Tam âm giao, Dương lăng tuyền,…Toàn thân:
Trừ phong: Hợp cốc Trừ thấp: Túc tam lý Hoạt huyết:
Huyết hải
Mãn tính
Do phong và huyết táo gây ra: da dày khô, ngứa, nổi
cục, có mụn nước, hay gặp ở đầu,mặt, cổ chân, cổ tay,
khuỷu tay, đầu gối, pháp trị: khu phong dưỡng huyết
nhuận táo chàm mãn tính
Bài thuốc: i đầu: 12; ục địa: 20; Bạch thược: 12;
xuyên khung: 8; Kinh giới: 16; X truật: 12; Khổ sâm: 8;
uyền thoái: 6; Phòng phong: 12 Tiễn bì: 10; Tật lê: 8;
Địa phụ tử: 8; Hoàng bá: 8; Hy thiêm: 12;
uốc dùng ngoài: uốc ngâm: Kinh giới, Hy thiêm
đều 50g nấu nước ngâm rửa làm mềm chỗ da bị xơ
cứng và giảm ngứa nhanh
9.4.3 Tây y chữa Eczema
Phác đồ điều trị[5]được chia thành 3 thể
[5] “uốc nào điều trị bệnh eczema hiệu quả?” Báo Sức
khỏe & Đời sống Truy cập 7 tháng 11 năm 2014
Trang 33Chương 10
Cornu cutaneum
Sừng ở da, còn được biết với tên Latin Cornu cutaneum, là khối u da sừng khác thường với sự xuất
hiện của sừng, hoặc đôi khi xù xì như gỗ hoặc san hô
Về hình thức, đây là một chẩn đoán lâm sàng cho một
“phát triển hình nón ở trên bề mặt của da.”[1] Chúngthường là nhỏ, nhưng có thể, trong trường hợp rất hiếm
là lớn hơn nhiều Mặc dù thường lành tính, chúng cũng
có thể là ác tính hay tiền ác tính.[2]
10.1 Tham khảo
[1] Copcu, Eray; Sivrioglu, Nazan; Culhaci, Nil (2004)
“Cutaneous horns: are these lesions as innocent as theyseem to be?” World Journal of Surgical Oncology 2: 18.
Trang 34Chương 11
Da vẽ nổi
dermatographism,dermographism, dermatographic
urticaria hay skin writing) là một rối loạn chức năng
da thường gặp ở 2-5% dân số và là một trong những
loại phổ biến nhất củamề đay,[1]da người bệnh bị nổi
hằn lên và bị viêm khi vuốt ve, gãi, cọ xát, hoặc tát (mề
đay vật lý).[2]
11.1 Triệu chứng
Các triệu chứng xuất hiện bởi cáctế bào mastở bề mặt
da tự sản xuấthistaminemà không cần sự hiện diện
của bất kỳ loại kháng nguyên nào, làm cho vùng da
chịu ảnh hưởng bị sưng lên
Ảnh tự minh họa của da vẽ nổi
Do lớp màng bao bọc xung quanh tế bào mast bị yếu, do
đó dễ dàng bị phá vỡ nhanh chóng dướiáp lực vật lývà
gây ra một phản ứngdị ứng, thường có thể bị nhầm lẫn
với một phản ứng dị ứng xảy ra do cáckháng nguyên
bên ngoài Những mảng mề đay xuất hiện trong vòng
vài phút, kèm theo cảm giác rát, và ngứa Vùng da bị
tác động kích thích trực tiếp (như cào hoặc trầy xước)
sẽ nổi mề đay và có thể dẫn đến các vùng da khác trên
cơ thể không bị kích thích cũng bị dị ứng, những triệu
chứng này sẽ biến mất trong vòng 15-30 phút mà không
cần điều trị, nhưng trong một số trường hợp, ngứa đỏ
có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày
11.2 Nguyên nhân
Khoa học chưa giải thích được nguyên nhân gây nênchứng vẽ nổi da, bệnh có thể kéo dài nhiều năm màkhông cần chữa trị 95% các trường hợp mãn tính khôngthể giải quyết triệt để được, đôi khi bệnh tự khỏi, đôikhi bị suốt đời Đây không phải là một căn bệnh đe dọacuộc sống và cũng không lây nhiễm
Các triệu chứng có thể bị gây ra bởi stress, quần áoquá chật hoặc cọ xát, đồng hồ, mắt kính, hôn, nóng,lạnh.[3]ường thì bệnh chỉ gây những phiền toái nhỏ,tuy nhiên có một vài trường hợp nghiêm trọng có thểảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân
11.3 Điều trị
• Có thể điều trị bằng thuốc kháng histamine, giúp
ngăn chặn các histamine gây ra phản ứng dịứng.[4][5]
• Không tắm bằng nước nóng hoặc vòi sen có thể
làm giảm các triệu chứng
• Châm cứuvàthảo dượccủaTrung ốctừ lâu đãđược dùng để điều trị mề đay ở châu Á.[6][7][8]
11.4 Dịch tễ học
• Tần suất: Chứng da vẽ nổi là dạng thường gặp
nhất của mề đay vật lý, gặp ở 2-5% dân số, có thểxuất hiện cùng với các dạng mề đay khác Tỷ lệmắc bệnh tăng lên khi mang thai (nhất là mangthai lần thứ hai), tiền mãn kinh, cơ địa dị ứng vàbệnh nhân bịbệnh Behçet
• Chủng tộc: không thấy sự ưu thế vềchủng tộc
• Giới: có nghiên cứu thấy trẻ em gái bị bệnh nhiều
hơn so với trẻ trai
• Tuổi: gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, thường gặp nhất ở
tuổi 20 và 30
26
Trang 3511.7 LIÊN KẾT NGOÀI 27
11.5 Xem thêm
• Dị ứng
11.6 Chú thích
[1] Jedele KB, Michels VV (1991) “Familial
dermographism” Am J Med Genet 39 (2): 201–
3.PMID 2063925.doi:10.1002/ajmg.1320390216
[2] Kontou-Fili K, Borici-Mazi R, Kapp A, Matjevic LJ,
Mitchel FB (1997) “Physical urticaria: classification
and diagnostic guidelines An EAACI position
paper” Allergy 52 (5): 504–13. PMID 9201361
doi:10.1111/j.1398-9995.1997.tb02593.x
[3] Kaplan AP (1984) “Unusual cold-induced disorders:
cold-dependent dermatographism and systemic cold
urticaria” J Allergy Clin Immunol 73 (4): 453–6.PMID
6200525.doi:10.1016/0091-6749(84)90354-3
[4] Wozel G, Sahre EM, Barth J (1990) “[Effectiveness
of combination treatment with H1-(Tavegyl) and
H2-antagonists (Altramet) in chronic/chronically-recurrent
urticaria]” Dermatologische Monatschri (bằng tiếng
Đức) 176 (11): 653–9.PMID 2083605
[5] Negro-Alvarez JM, Miralles-López JC (2001).“Chronic
idiopathic urticaria treatment” ( – Scholar search)
Allergologia et immunopathologia 29 (4): 129–32.PMID
11674926
[6] Jianli Che (2006).“e Effect of Acupuncture on Serum
IgE Level in Patients with Chronic Urticaria” Journal
of Traditional Chinese Medicine 26 (3): 189–190.PMID
17078446
[7] Chung-Jen Chen MD, Hsin-Su Yu MD PhD (1998)
“Acupuncture Treatment of Urticaria” Archives of
Dermatolology 134 (11): 1397–1399. PMID 9828874
doi:10.1001/archderm.134.11.1397
[8] Benjamin Kligler, Roberta A Lee (tháng 4 năm
2004) Integrative medicine: principles for practice
134 McGraw-Hill Professional tr 371–377. ISBN
9780071402392 Đã bỏ qua tham số không rõ |isbn-10=
(trợ giúp);
11.7 Liên kết ngoài
Trang 36Chương 12
Dị ứng
Dị ứng là một rối loạn quá mẫn củahệ miễn dịch Phản
ứng dị ứng xảy ra để chống lại các chất vô hại trong
môi trường được gọi là chất gây dị ứng, các phản ứng
này xảy ra nhanh chóng và có thể dự đoán được
ực tế, dị ứng là một trong bốn hình thức của chứng
quá mẫn cảm và được gọi là quá mẫn loại I (xảy ra tức
thì) Nó kích hoạt quá mức các tế bào bạch cầu mast và
một loạikháng thểđược gọi là IgE, dẫn đến một phản
ứng viêm nặng thông thường bao gồmchàm, phát ban,
sốt, lên cơnhen suyễn,ngộ độc thức ăn,dị ứng xi măng
và phản ứng với nọc độc của côn trùng chích như ong,
muỗi, kiến…
Dị ứng nhẹ rất phổ biến, gây ra các triệu chứng như
viêmkết mạcdị ứng, ngứa và chảy nước mũi Ở một số
người, dị ứng nặng với các chất gây dị ứng trong môi
trường và thức ăn hoặc một số loại thuốc y dược có thể
gâyphản ứng phản vệ(sốc phản vệ) đe dọa đến tính
mạng
Để chẩn đoán chứng dị ứng, người ta phải thực hiện các
thử nghiệm trên da để xem mức độ phản ứng với các
chất gây dị ứng hoặc phân tích máu kiểm sự hiện diện
và nồng độ của kháng thể IgE Điều trị dị ứng bao gồm
tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, sử dụng các
thuốc chống dị ứng,steroid(thuốc kháng viêm) hoặc
các loại thuốc khác
12.1 Triệu chứng
Nhiều chất gây dị ứng là các hạt trong không khí như
bụi hoặc phấn hoa Trong những trường hợp này, các
triệu chứng phát sinh tại các khu vực tiếp xúc với không
khí, chẳng hạn như mũi, mắt và phổi Ví dụ, viêm mũi
dị ứng, nguyên nhân gây kích ứng mũi, hắt hơi, ngứa
và đỏ mắt[1] Hít chất gây dị ứng cũng có thể dẫn đến
các triệu chứng hen, do thu hẹp đường hô hấp (co thắt
phế quản), phổi bị tiết dịch nhầy, khó thở, ho và thở
khò khè.[2]
Ngoài những chất gây dị ứng trong không khí, nguyên
nhân gây phản ứng dị ứng có thể do một số loại thực
phẩm, do côn trùng đốt, hay phản ứng với các thuốc
như aspirin vàthuốc kháng sinhnhư penicillin Các
triệu chứng của dị ứng thực phẩm (ngộ độc thực phẩm)
bao gồm đau bụng, đầy hơi, nôn mửa, tiêu chảy, da phátban, ngứa và sưng Dị ứng thực phẩm hiếm khi gây ra
hô hấp (hen) phản ứng, hay viêm mũi.[3]
Bị côn trùng chích, hay dị ứngthuốc kháng sinh vàmột số loại thuốc nhất định có thể gây ra một phảnứng dị ứng rất nguy hiểm còn gọi là sốc phản vệ, nhiều
cơ quan trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng, bao gồm hệtiêu hóa, hệ thống hô hấp, vàhệ tuần hoàn.[4][5][6]Tùythuộc vào mức độ nghiêm trọng, sốc phản vệ có thể gây
ra các phản ứng ngoài da, co thắt phế quản, phù nề, hạhuyết áphôn mê và tử vong
12.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu bao gồm di truyền, giới tính,chủng tộc, và độ tuổi, trong đó yếu tố di truyền đượcxem là nguyên nhân chú yếu gây nên dị ứng.[7] Tuynhiên, thời gian gần đây tỷ lệ mắc các rối loạn dị ứng
mà không thể được giải thích bằng yếu tố di truyềnđang có chiều hướng gia tăng là do bốn thay đổi chínhtrong môi trường sống hiện nay: tiếp xúc với các bệnhtruyền nhiễm trong thời thơ ấu, ô nhiễm môi trường,các loại chất gây dị ứng, và chế độ ăn uống thay đổi
12.2.1 Dị ứng thực phẩm
Một trong những bệnh dị ứng thực phẩm phổ biến nhất
là nhạy cảm với đậu phộng (lạc) Dị ứng đậu phộng
có thể rất nghiêm trọng, đặc biệt đối với trẻ em ở tuổi
đi học Các loại hạt, bao gồm hồ đào, quả hồ trăn, hạtthông, quả óc chó là các chất gây dị ứng thông thường.Những người mắc bệnh có thể nhạy cảm với một, hoặcnhiều loại hạt cây
Sữa bò, dê, cừu cũng là một thực phẩm phổ biến gây dịứng, và nhiều người bị còn mẫn cảm với các sản phẩmsữa như pho mát Nguyên nhân là do cơ thể không dungnạplactose
Các loại thực phẩm khác có chứa các protein gây dị ứngbao gồm đậu nành, lúa mì, cá (ngừ ), hải sản (cua, ghẹ,tôm, sò, ốc…), trái cây (bơ, sầu riêng…), rau, gia vị (bộtngọt, tiêu), màu tổng hợp và tự nhiên, hóa chất phụ gia
và gà
28
Trang 3712.2 NGUYÊN NHÂN 29
12.2.2 Dị ứng với các tác nhân không phải
là thực phẩm
Nhựa cao su (latex) có thể gây ra phản ứng da, hô
hấp, và hệ thống trung gian IgE Tỷ lệ dị ứng cao su
trong dân số được cho là ít hơn một phần trăm Trong
một nghiên cứu, một trong 800 bệnh nhân phẫu thuật
(0,125%) báo cáo có nhạy cảm với cao su, mặc dù mức
độ nhạy cảm của các nhân viên y tế đối với cao su cao
hơn, từ 7-10%
Phản ứng phổ biến nhất với latex là viêm da tiếp xúc
dị ứng, các phản ứng xuất hiện như da bị khô và tổn
thương vùng tiếp xúc Phản ứng này thường kéo dài
48-96 giờ Ra mồ hôi hoặc cọ xát ở khu vực đeo găng
tay làm các tổn thương trầm trọng thêm, có thể dẫn đến
loét phản ứng
Bệnh nhân bị dị ứng với cao su cũng có thể có nhạy
cảm với quả bơ,kiwi, và hạt dẻ, những bệnh nhân này
thường bị ngứa và nổimề đaycục bộ Chỉ thỉnh thoảng
có những dị ứng thức ăn gây ra các phản ứng hệ thống
12.2.3 Cơ sở di truyền
Có khoảng 70% các cặp song sinh cùng trứng bị các
bệnh dị ứng chung, 40% các cặp song sinh khác trứng
có cùng một loại dị ứng.[8] Cha mẹ mắc các bệnh dị
ứng, thì con cái của họ nguy cơ bị dị ứng cao hơn so
với các trẻ khác.[9]Một số dị ứng, tuy nhiên lại không
cùng kiểu gen; ví dụ cha mẹ bị dị ứng với đậu phộng thì
con có thể bị dị ứng với cỏ phấn hương Có nghĩa là khả
năng phát triển bệnh dị ứng được kế thừa và liên quan
đến một bất thường trong hệ thống miễn dịch, nhưng
các chất gây dị ứng cụ thể thì không có tính kế thừa.[9]
Nguy cơ dị ứng nhạy cảm và phát triển các bệnh dị
ứng khác nhau với từng độ tuổi, một số nghiên cứu
chỉ ra rằng mức độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu và
giảm nhanh chóng trong độ tuổi từ 10 đến 30.[10]Yếu tố
chủng tộc cũng liên quan, người ta cho rằng di truyền là
nguyên nhân gây bệnh hen suyễn ở những người châu
Á, Tây Ban Nha, và những người gốc Phi châu
12.2.4 Giả thuyết về vấn đề vệ sinh
Các bệnh dị ứng là do phản ứng miễn dịch không thích
hợp vớikháng nguyênvô hại của một phản ứng miễn
dịch qua trung gian TH2 Các vi khuẩn và virus trước
hết sẽ gây ra một đáp ứng miễn dịch không qua trung
gian TH1 sau đó mới chuyển sang phản ứng TH2.[11]
Vì cơ thể chúng ta tiến hóa để đối phó với một mức độ
nhất định các tác nhân gây bệnh, cho nên khi một cá
nhân sống trong môi trường vô trùng không tiếp xúc
với các cấp độ gây bệnh, hệ thống miễn dịch sẽ tấn công
các kháng nguyên vô hại và vì thế các đối tượng lành
tính như phấn hoa cũng gây kích hoạt một phản ứng
miễn dịch TH2.[12]
Các giả thuyết về vấn đề vệ sinh hình thành để giảithích các kết quả khi quan sát về dị ứng phấn hoa vàbệnh chàm, người ta thấy rằng các trẻ em ở gia đìnhmột con dễ mắc các bệnh dị ứng này nhiều hơn trẻ em
ở các gia đình đông con Các giả thuyết này đã đượcrộng rãi điều tra dịch tễ học và đã trở thành một khung
lý thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu các rối loạn
dị ứng Nó được sử dụng để giải thích sự gia tăng cácbệnh dị ứng đã được nhìn thấy kể từ khi công nghiệphóa, và tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng cao ở các nước pháttriển.[13]
12.2.5 Các yếu tố môi trường
Các nước công nghiệp tỷ lệ người mắc bệnh cao hơn sovới các nước có truyền thống nông nghiệp, ở các thànhphố, đô thị có tỷ lệ người bị dị ứng cao hơn so với nôngthôn.[14]
Tiếp xúc với các độc tố làm các tế bào bạch cầu trongmáu giảm sản xuất các cytokine kháng viêm như TNF-
α, IFNγ, interleukin-10, và interleukin-12.[15]
Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một số ký sinhtrùng, chẳng hạn như giun đường ruột (ví dụ như giunmóc), có thể tiết ra chất hóa học vào thành ruột sau
đó thẩm thấu vào mạch máu để đàn áp hệ miễn dịch
và ngăn chặn cơ thể tấn công chúng[16] Điều này đưađến một giả thuyết rằng lý thuyết đồng sự tiến hóa củacon người và ký sinh trùng đã dẫn đến một hệ thốngmiễn dịch cân bằng Nếu không có các ký sinh trùngnày, hệ thống miễn dịch trở nên không cân bằng vàquá nhạy cảm[17] Tuy nhiên, các nghiên cứu để hỗ trợ
lý thuyết này là trái ngược nhau, với một số nghiêncứu thực nghiệm tại Trung ốc và Ethiopia cho thấy
sự gia tăng dị ứng ở những người bị nhiễm giun đườngruột[18]
B bắt đầu sản xuất một số lượng lớn một loại kháng thểđược gọi làIgE IgE tiết ra lưu thông trong máu và gắnvào một thụ thể IgE đặc hiệu (một loại thụ thể gọi làFcεRI Fc) trên bề mặt của các loại tế bào miễn dịch gọi
là tế bào mast và basophils, cả hai đều tham gia vào cácphản ứng viêm cấp tính.[19]
Nếu sau đó cơ thể xảy ra tiếp xúc với các chất gây dịứng tương tự, các chất gây dị ứng có thể liên kết vớicác phân tử IgE được tổ chức trên bề mặt của các tếbào mast hoặc basophils Liên kết chéo của các thụ thểIgE và Fc xảy ra khi nhiều hơn một thụ thể IgE phứctạp tương tác với các phân tử gây dị ứng, và kích hoạt
Trang 3830 CHƯƠNG 12 DỊ ỨNG
3
45
6
Ca2+
7
Quá trình gây dị ứng.1 - Kháng nguyên; 2 - Kháng thể IgE; 3
- Thụ thể FcεRI; 4 - Các thể trung gian (histamine, protease,
chemokine, heparine); 5 - Các thể hạt ; 6 - Tế bào mast ; 7
-Các thể trung gian mới thành lập (prostaglandins, leukotrienes,
thromboxanes, PAF)
các tế bào mast và basophils Kích hoạt này trải qua một
quá trình gọi là degranulation, lúc đó từ thể hạt của các
tế bào này phóng thích rahistaminevà các chất hóa
học gây viêm trung gian khác (cytokin, interleukins,
leukotrienes và prostaglandin) vào các mô xung quanh
gây ra một số hiệu ứng có hệ thống, chẳng hạn như giãn
mạch, bài tiết chất nhầy, kích thích thần kinh và sự co
cơ trơn Điều này dẫn đến sổ mũi, ngứa, khó thở, và sốc
phản vệ Tùy thuộc vào các chất gây dị ứng, cá nhân,
và phương thức giới thiệu, các triệu chứng có thể tác
động trên toàn hệ thống (sốc phản vệ kinh điển), hoặc
cục bộ hoá, bệnh suyễn là cục bộ hoá hệ thống hô hấp
và bệnh chàm là cục bộ hóa thể hạ bì[19]
12.2.7 Phản ứng giai đoạn cuối
Sau khi các phản ứng hóa học cấp tính trung gian giảm
dần, phản ứng giai đoạn cuối thường có thể xảy ra Điều
này là do sự di cư của bạch cầu như bạch cầu trung tính,
lympho,bạch cầu ái toanvà các đại thực bào trở lại vị
trí ban đầu Phản ứng thường thấy 2-24 giờ sau khi các
phản ứng ban đầu xuất hiện.[20]
12.3 Chẩn đoán
Trước khi chẩn đoán chắc chắn bệnh nhân bị dị ứng,
cần lưu ý các dấu hiệu phản ứng xuất hiện cũng có thể
do các nguyên nhân khác Khi chẩn đoán các bệnh hen
suyễn, viêm mũi, sốc phản vệ, hoặc các dị ứng khác,
người ta sẽ có một số phương pháp để phát hiện các tác
nhân gây bệnh dị ứng đó
Một máy thử nghiệm dị ứng đang được vận hành trong phòng thí nghiệm miễn dịch học
Kiểm tra phản ứng trên da cánh tay
12.3.1 Kiểm tra phản ứng trên da (Skin
testing)
Để đánh giá sự hiện diện của chất gây dị ứng tức làkháng thể IgE đặc hiệu, thử nghiệm dị ứng da là ưu tiênhơn các xét nghiệm dị ứng trong máu bởi vì nó nhạy
và cụ thể hơn, thao tác đơn giản, và ít tốn kém.[21] Mộtlượng nhỏ các chất gây dị ứng bị nghi ngờ hoặc các chấtchiết xuất (từ phấn hoa, cỏ, protein mite, đậu phộng,…)được tiêm bằng ống chích hoặc dùng 1 miếng kim loạihay nhựa đâm nhẹ vào các ô nhỏ trên da, các ô này đã
Trang 3912.5 DỊCH TỄ HỌC 31
Kiểm tra phản ứng trên da lưng
được đánh dấu bằng bút mực màu (loại mực dùng cho
bút nên được lựa chọn cẩn thận, vì nó cũng có thể gây
ra một phản ứng dị ứng riêng) Nếu bệnh nhân bị dị
ứng với chất nào trong những chất thử thì phản ứng
viêm có thể nhìn thấy (da ửng đỏ) sẽ xuất hiện trong
vòng 30 phút đến một giờ sau.[22]
12.3.2 Xét nghiệm máu
Các phương pháp thử máu cũng phát hiện dị ứng với
các chất cụ thể Loại phương pháp thử nghiệm mức độ
của IgE có tronghuyết thanhcủa bệnh nhân Điều này
có thể được xác định thông qua việc sử dụng phương
pháp phóng xạ miễn dịch và phép đo màu Xét nghiệm
phóng xạ bao gồm các thử nghiệm như phương pháp
thử (Rast), trong đó sử dụng kết nối IgE (anti-IgE) các
kháng thể có gắn nhãn bằng các đồng vị phóng xạ để
xác định số lượng các cấp độ của kháng thể IgE trong
máu.[21]Các phương pháp khác sử dụng công nghệ mới
so sánh màu sắc tại nơi có đồng vị phóng xạ
12.4 Điều trị
Trong thời gian gần đây, đã có những cải tiến rất lớn
trong các thực hành y tế dùng để điều trị chứng dị ứng
Điều trị và phòng bệnh dị ứng chỉ đơn giản là tránh
hoặc giảm tiếp xúc với các chất gây dị ứng Tuy nhiên,
nếu bệnh nhân bị dị ứng với phấn hoa hoặc các chất
truyền dẫn trong không khí thì việc tránh tiếp xúc này
rất khó thực hiện.[23]
12.4.1 Liệu pháp dùng thuốc
Một số thuốc đối kháng được sử dụng để ngăn chặn dị
ứng, hoặc tránh kích hoạt các tế bào và các quá trình
gây dị ứng Chúng bao gồm thuốc kháng histamine,
glucocorticoids,epinephrine(adrenaline), theophylline
và natri cromolyn
12.4.2 Liệu pháp miễn dịch
Bệnh nhân được tiêm các chất gây dị ứng với liều tăngdần Điều này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọnghoặc loại bỏ hoàn toàn quá mẫn Liệu pháp này làm lệchtiến độ sản xuất kháng thểIgG, để ngăn chặn sản xuấtquá mức IgE trong atopys Các nghiên cứu đã chứngminh hiệu quả lâu dài và hiệu quả phòng ngừa của liệupháp miễn dịch trong việc làm giảm sự phát triển của
dị ứng mới[24].Một hình thức thứ hai của miễn dịch liên quan đếnviệc tiêm tĩnh mạch các kháng thể kháng IgE (Anti-IgE) dòng đơn Các kháng thể này sẽ gắn kết với cáckháng thể IgE tự do hoặc IgE đã liên kết với tế bào B.Tuy nhiên, kháng thể Anti-IgE sẽ không gắn kết vớicác IgE đã liên kết với thụ thể Fc trên basophils và các
tế bào mast, vì điều này sẽ kích thích các phản ứng dịứng
Một dạng thứ ba là miễn dịch dưới lưỡi, là một liệupháp đường miệng,lợi dụng sự miễn dịch yếu đối vớicáckháng nguyênkhông gây bệnh như các loại thựcphẩm và vi khuẩn thường trú Liệu pháp này hiện đangchiếm 40% các trị liệu dị ứng ở châu Âu
12.5 Dịch tễ học
Ở thế giới phương Tây, rất nhiều bệnh liên quan đếnviêm nhưbệnh tiểu đườngloại 1, viêm thấp khớp, sốt,hay dị ứng và hen suyễn đã tăng trong vòng 2-3 thập
kỷ qua.[25] Bệnh hen suyễn dị ứng và các rối loạn dịứng khác tăng nhanh trong các quốc gia công nghiệpvào những năm 1960 và 1970, và gia tăng nhiều hơnnữa trong những năm 1980 và 1990, trong khi đó tỷ lệ
dị ứng ở các nước đang phát triển nói chung vẫn cònthấp hơn nhiều.[26]
Mặc dù yếu tố di truyền về cơ bản là nguyên nhân chínhgây bệnh dị ứng, tuy nhiên số người bị dị ứng gia tăngnhanh trong thời gian quá ngắn không thể nào là do
sự thay đổi cơ sở di truyền, chỉ có thể giải thích lý dochính đó là do sự thay đổi môi trường và lối sống.[26]
Một số giả thuyết giải thích về tỷ lệ gia tăng này là dotăng khả năng tiếp xúc lâu năm với các chất gây dị ứng
do thay đổi nhà ở, tăng thời gian ở trong nhà, và nhữngthay đổi trong vệ sinh cùng với những thay đổi chế độ
ăn uống, béo phì và lười tập thể dục đã dẫn đến việc suygiảm kích hoạt cơ chế kiểm soát hệ thống miễn dịch[25].Các giả thuyết vệ sinh cho rằng mức sống cao và điềukiện vệ sinh quá tốt cho thấy nhiều trẻ em khi mới sinh
sẽ giảm nguy cơ nhiễm trùng do vi khuẩn và virus, chonên khi trưởng thành sẽ dẫn đến rối loạn các phản ứngmiễn dịch: bỏ qua phản ứng TH1 mà đi thẳng đến phảnứng TH2 một cách tự do và làm tăng dị ứng.[17][36]
Bằng chứng gần đây đã tập trung sự chú ý về tầmquan trọng của môi trường vi sinh đường ruột, chothấy việc tiếp xúc với thực phẩm và các tác nhân gây
Trang 4032 CHƯƠNG 12 DỊ ỨNG
bệnh ở đường tiêu hóa, chẳng hạn như viêm ganA,
Toxoplasma gondii, và Helicobacter pylori(các bệnh
này có xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển),
có thể làm giảm nguy cơ dị ứng hơn 60%[37], ngoài ra
người ta còn nhận thấy một mối quan hệ giữa việc
tăng nhiễm các ký sinh trùng và sự giảm mắc bệnh hen
suyễn.[38]
12.6 Chú thích
[1] Bope, Edward T.; Rakel, Robert E (2005) Conn’s
Current erapy 2005 Philadelphia, PA: W.B Saunders
[4] Golden DB (2007).“Insect sting anaphylaxis” Immunol
Allergy Clin North Am 27 (2): 261–72, vii.PMC 1961691
PMID 17493502.doi:10.1016/j.iac.2007.03.008
[5] Schafer JA, Mateo N, Parlier GL, Rotschafer JC
(2007) “Penicillin allergy skin testing: what do we do
now?” Pharmacotherapy 27 (4): 542–5.PMID 17381381
doi:10.1592/phco.27.4.542
[6] Tang AW (2003) “A practical guide to anaphylaxis” Am
Fam Physician 68 (7): 1325–32.PMID 14567487
[7] Grammatikos AP (2008) “e genetic and
environmental basis of atopic diseases”
Ann Med. 40 (7): 482–95 PMID 18608118
doi:10.1080/07853890802082096
[8] Galli SJ (2000) “Allergy” Curr Biol 10 (3): R93–5.PMID
10679332.doi:10.1016/S0960-9822(00)00322-5
[9] De Swert LF (1999) “Risk factors for allergy”
Eur J Pediatr 158 (2): 89–94. PMID 10048601
doi:10.1007/s004310051024
[10] Croner S (1992) “Prediction and detection of allergy
development: influence of genetic and environmental
factors” J Pediatr 121 (5 Pt 2): S58–63.PMID 1447635
doi:10.1016/S0022-3476(05)81408-8
[11] Folkerts G, Walzl G, Openshaw PJ Do common
childhood infections 'teach' the immune system not
to be allergic? Immunol Today 2000; 21(3):118-120
PubMed
[12] “e Hygiene Hypothesis » Edward Wille” Truy cập
8 tháng 2 năm 2015
[13] Gibson PG, Henry RL, Shah S, Powell H, Wang H
(tháng 9 năm 2003) “Migration to a western country
increases asthma symptoms but not eosinophilic
airway inflammation”.Pediatr Pulmonol.36 (3): 209–15.
PMID 12910582.doi:10.1002/ppul.10323
[14] Cooper PJ (2004) “Intestinal worms and human
allergy” Parasite Immunol 26 (11-12): 455–67. PMID
15771681.doi:10.1111/j.0141-9838.2004.00728.x.[15] Braun-Fahrländer C, Riedler J, Herz U và đồngnghiệp (2002) “Environmental exposure to endotoxinand its relation to asthma in school-age children”
N Engl J Med 347 (12): 869–77. PMID 12239255.doi:10.1056/NEJMoa020057
[16] Carvalho EM, Bastos LS, Araújo MI (2006) “Worms
and allergy” Parasite Immunol 28 (10): 525–34.PMID
16965288.doi:10.1111/j.1365-3024.2006.00894.x.[17] Yazdanbakhsh M, Kremsner PG, van Ree R (2002)
“Allergy, parasites, and the hygiene hypothesis”
Science 296 (5567): 490–4 PMID 11964470.doi:10.1126/science.296.5567.490
[18] Falcone FH, Pritchard DI (2005) “Parasite role reversal:
worms on trial” Trends Parasitol 21 (4): 157–60.PMID
15780835.doi:10.1016/j.pt.2005.02.002.[19] Janeway, Charles; Paul Travers, Mark Walport, andMark Shlomchik (2001).Immunobiology; Fih Edition.New York and London: Garland Science tr e–book.ISBN 0-8153-4101-6
[20] Grimbaldeston MA, Metz M, Yu M, Tsai M, Galli
SJ (2006) “Effector and potential immunoregulatoryroles of mast cells in IgE-associated acquired immune
responses” Curr Opin Immunol 18 (6): 751–60.PMID
17011762.doi:10.1016/j.coi.2006.09.011.[21] Ten RM, Klein JS, Frigas E (1995).“Allergy skin testing”
() Mayo Clin Proc 70 (8): 783–4.PMID 7630219.[22] Verstege A, Mehl A, Rolinck-Werninghaus C và đồngnghiệp (2005) “e predictive value of the skin pricktest weal size for the outcome of oral food challenges”
Clin Exp Allergy 35 (9): 1220–6. PMID 16164451.doi:10.1111/j.1365-2222.2005.2324.x
[23] Sicherer SH, Leung DY (2007) “Advances in allergicskin disease, anaphylaxis, and hypersensitivity
reactions to foods, drugs, and insects” J Allergy
Clin Immunol 119 (6): 1462–9. PMID 17412401.doi:10.1016/j.jaci.2007.02.013
[24] Ross RN, Nelson HS, Finegold I (2000) “Effectiveness
of specific immunotherapy in the treatment of allergicrhinitis: an analysis of randomized, prospective,single- or double-blind, placebo-controlled studies”
Clinical therapeutics 22 (3): 342–50. PMID 10963288.doi:10.1016/S0149-2918(00)80038-7
[25] Plas-Mills TA, Erwin E, Heymann P, Woodfolk
J (2005) “Is the hygiene hypothesis still a viableexplanation for the increased prevalence of asthma?”
Allergy 60 Suppl 79: 25–31. PMID 15842230.doi:10.1111/j.1398-9995.2005.00854.x
[26] Bloomfield SF, Stanwell-Smith R, Crevel RW, Pickup
J (2006) “Too clean, or not too clean: the hygienehypothesis and home hygiene” Clin Exp Allergy
36 (4): 402–25. PMC 1448690 PMID 16630145.doi:10.1111/j.1365-2222.2006.02463.x