1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Các trang trong thể loại “quy hoạch đô thị”

92 490 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dâ

Trang 1

Các trang trong thể loại “y hoạch đô thị”

Trang 2

1 y hoạ đô thị 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Đặc điểm quy hoạch đô thị Việt Nam sau năm 1954 1

1.3 y hoạch xây dựng đô thị tại Việt Nam 2

1.4 am khảo 3

1.5 Liên kết ngoài 3

2 Camillo Sitte 4 2.1 Các nguyên lý về quy hoạch đô thị 4

2.1.1 ảng trường 4

2.1.2 Đường phố 4

2.1.3 Công viên 4

2.2 Sách đã xuất bản 4

2.3 am khảo 4

3 Chùm đô thị 5 3.1 am khảo 5

3.2 Xem thêm 5

4 Công trình hạ tầng kỹ thuật 6 4.1 am khảo 6

5 Công trình hạ tầng xã hội 7 5.1 Ý nghĩa 7

5.2 Xem thêm 7

5.3 am khảo 7

6 Đại đô thị 8 6.1 Những đại đô thị lớn nhất 8

6.2 Xem thêm 9

6.3 am khảo 9

6.4 Liên kết ngoài 9

7 Đô thị 10 7.1 Các định nghĩa 10

Trang 3

ii MỤC LỤC

7.1.1 Việt Nam 10

7.1.2 Úc 11

7.1.3 Canada 11

7.1.4 Trung ốc 11

7.1.5 Pháp 11

7.1.6 ụy Sĩ 11

7.1.7 Nhật Bản 11

7.1.8 New Zealand 11

7.1.9 Ba Lan 11

7.1.10 Hoa Kỳ 11

7.2 Đô thị và nông thôn dưới khía cạnh xã hội học 12

7.2.1 Khái niệm đô thị dưới khía cạnh xã hội học 12

7.2.2 Xã hội học đô thị 12

7.3 Xem thêm 12

7.4 am khảo 13

7.5 Liên kết ngoài 13

8 Đô thị hóa 14 8.1 Các quá trình 14

8.2 Tác động 14

8.3 Ảnh hưởng 14

8.3.1 Tích cực 14

8.3.2 Tiêu cực 15

8.4 Top 12 tỉnh thành có tốc độ đô thị hóa cao (tính đến 31/12/2016) 15

8.5 Xem thêm 15

8.6 am khảo 15

9 Đô thị nhỏ gọn 16 9.1 Khái niệm 16

9.2 Ưu điểm 16

9.3 Đánh giá 16

9.4 Một số ví dụ thành công về đô thị nhỏ gọn trên thế giới 17

9.5 am khảo 17

10 Đô thị tại Bình Dương 18 10.1 Lịch sử 18

10.2 Đô thị hóa 19

10.3 Các đô thị 19

10.4 Xem thêm 19

10.5 Chú thích 19

11 Đô thị tại Bình Phước 20 11.1 á trình hình thành 20

Trang 4

11.1.3 ời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam 22

11.2 Các đô thị 23

11.3 Chú thích 23

11.4 am khảo 23

12 Đô thị tại Đồng Nai 24 12.1 á trình hình thành 24

12.2 Các đô thị 24

12.3 Xem thêm 24

12.4 Chú thích 25

12.5 am khảo 25

13 Đô thị tại Hà Tĩnh 26 13.1 á trình hình thành 26

13.2 Các đô thị 26

13.3 Chú thích 26

13.4 am khảo 27

14 Đô thị tại ảng Ninh 28 14.1 á trình hình thành 28

14.2 Các đô thị 29

14.3 Xem thêm 29

14.4 Chú thích 29

14.5 am khảo 30

15 Đô thị tại Tây Ninh 31 15.1 á trình hình thành 31

15.2 Các đô thị 31

15.3 Xem thêm 31

15.4 Chú thích 32

15.5 am khảo 32

16 Đô thị vệ tinh 33 16.1 am khảo 33

17 Đô thị Việt Nam 34 17.1 Phân loại đô thị 34

17.2 Đô thị loại đặc biệt 35

17.3 Đô thị loại I 36

17.4 Đô thị loại II 36

17.5 Đô thị loại III 36

17.6 Đô thị loại IV 37

Trang 5

iv MỤC LỤC

17.7 Đô thị loại V 37

17.8 Xem thêm 37

17.9 Chú thích 37

17.10 am khảo 38

18 Hiệp hội Trung tâm Các ành phố ốc tế 39 18.1 am khảo 39

18.2 Liên kết ngoài 39

19 Hội đồng khu tự quản 40 19.1 Hiến chương khu tự quản 40

19.2 Xem thêm 40

19.3 am khảo 40

20 Khu dân cư tồi tàn 41 20.1 Đặc điểm 41

20.2 Một số nơi 41

20.3 Chú thích 41

21 Kiến trúc nhân tạo 43 21.1 Phát triển 43

21.2 Dự án thực tế tương tự 43

21.3 Xem thêm 44

21.4 am khảo 44

21.5 Liên kết ngoài 45

22 Kinh tế học đô thị 46 22.1 am khảo 46

23 Rem Koolhaas 47 23.1 am khảo 47

23.2 Liên kết ngoài 47

24 Lâm thành Liễu Châu 48 24.1 iết kế 48

24.2 Chú thích 48

25 Phố ma 49 25.1 Những lý do bị bỏ hoang 49

25.2 Các phố ma hồi sinh 51

25.3 Xem thêm 51

25.4 Ghi chú 51

25.5 am khảo 51

25.6 Liên kết ngoài 51

Trang 6

26.2 Không gian quảng trường 52

26.3 Các cách giới hạn không gian quảng trường 52

26.4 Phân loại quảng trường 53

26.4.1 ảng trường thị chính 53

26.4.2 ảng trường kỷ niệm 53

26.4.3 ảng trường giao thông 53

26.4.4 ảng trường thương nghiệp 53

26.4.5 ảng trường tôn giáo 53

26.4.6 ảng trường nghỉ ngơi, biểu diễn văn hoá… 53

26.5 Xem thêm 54

26.6 am khảo 54

27 y hoạ i tiết 55 27.1 Các hệ thống quy hoạch vùng tại châu Âu 55

27.2 y hoạch chi tiết châu Âu 55

27.3 Xem thêm 56

27.4 am khảo 56

27.5 Liên kết ngoài 56

28 Siêu đô thị 57 28.1 Lịch sử 57

28.2 Các thành phố lớn nhất 57

28.2.1 Sự phát triển 57

28.3 Chú thích 58

29 Sự tiếp cận 59 29.1 Tiếp cận trong lĩnh vực Người Khuyết Tật 59

29.2 Đối tượng có nhu cầu tiếp cận 60

29.3 Lịch sử vận động xoá bỏ rào cản tiếp cận 60

29.4 Các cuộc vận động xoá bỏ rào cản tiếp cận trên thế giới 60

29.4.1 Hoạt động vận động xoá bỏ rào cản tiếp cận ở Việt Nam 61

29.5 Giao thông tiếp cận 61

29.5.1 y hoạch và lập kế hoạch Giao thông tiếp cận 61

29.5.2 Phương tiện giao thông tiếp cận 62

29.6 Công trình tiếp cận 63

29.6.1 Nền tảng pháp lý công trình tiếp cận 63

29.6.2 Các loại công trình dân dụng cần được tiếp cận 63

29.7 Bình đẳng tiếp cận trong giáo dục và giải trí 63

29.8 Xem thêm 64

29.9 Nguồn tham khảo 64

Trang 7

vi MỤC LỤC

30.1 Đặc điểm chính 65

30.2 Nguyên lý 65

30.3 Công trình đô thị tiêu biểu 65

30.4 am khảo 65

31 ành phố vườn 66 31.1 Nguyên tắc xây dựng thành phố vườn 66

31.2 Tổ chức không gian kiến trúc trong thành phố vườn 66

31.3 Ảnh hưởng của mô hình ành phố vườn 66

31.4 ành phố vườn của thế giới 67

31.5 Sự phát triển của khái niệm thành phố vườn 67

31.6 am khảo 67

31.7 Liên kết ngoài 67

31.8 Chú thích 67

32 iết kế đô thị 68 32.1 Nội dung 68

32.2 Sản phẩm 68

32.3 Phân biệt với quy hoạch cảnh quan 68

32.4 am khảo 68

33 Vùng đô thị 70 33.1 Vùng đô thị tại nước Đức 70

33.2 Vùng đô thị Việt Nam 70

33.3 Xem thêm 70

33.4 am khảo 70

34 Vùng đô thị ành phố Hồ Chí Minh 71 34.1 Giao thông 71

34.2 y hoạch dự kiến 71

34.3 Xem thêm 72

34.4 Liên kết ngoài 72

34.5 am khảo 72

35 Xã hội học đô thị 73 35.1 Lịch sử hình thành Xã hội học đô thị 73

35.2 Khái niệm đô thị dưới khía cạnh xã hội học 74

35.3 Lĩnh vực nghiên cứu của Xã hội học đô thị 74

35.4 Đặc trưng Xã hội đô thị Việt Nam 75

35.4.1 á trình phát triển đô thị ở Việt Nam 75

35.5 Nội dung nghiên cứu 75

35.6 Vấn đề XH đô thị ở ĐT nước ta hiện nay 75

Trang 8

35.7 Xem thêm 75

35.8 am khảo 76

35.9 Chú thích 76

35.10 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 77

35.10.1 Văn bản 77

35.10.2 Hình ảnh 78

35.10.3 Giấy phép nội dung 84

Trang 9

Chương 1

Quy hoạch đô thị

Quy hoạch vùng ven đô có mật độ dân cư thấp ở Cincinnati , Hoa

Kỳ

1.1 Khái niệm

y hoạ đô thị là một khái niệm hay được dùng để

chỉ các hoạt động kiểm soát hay tổ chức môi trường

sống đô thị Các hoạt động này có thể bao gồm: ban

hành luật, quy định kiểm soát phát triển; xây dựng và

vận hành các bộ máy quản lý đô thị; đề ra các tiêu chí,

lập và phê duyệt quy hoạch; thực hiện các chương trình

đầu tư phát triển đô thị; nghiên cứu đô thị; đào tạo bộ

máy nhân lực; trao đổi tranh luận về các vấn đề đô thị…

Điều cần chú ý là trong các bối cảnh khác nhau, các

hoạt động này thường không có mục đích, nội dung hay

phương pháp thực hiện giống nhau Nguyên nhân là đô

thị thường có các vấn đề khác nhau trong mỗi giai đoạn

phát triển Việc nhìn nhận, đánh giá, giải quyết các vấn

đề đô thị không chỉ phụ thuộc vào năng lực các bộ máy

chuyên môn mà còn lệ thuộc nhiều và chủ trương của

bộ máy cầm quyền và khả năng đáp ứng của nền kinh

tế Trong mỗi giai đoạn phát triển, bộ máy cầm quyền

thường chỉ chú trọng kiểm soát hay thúc đẩy một số

hoạt động quy hoạch đô thị mà họ cho là quan trọng

Trong khi đó, nghiên cứu và đào tạo nhân lực trong các

ngành liên quan quy hoạch đô thị thường được coi là

lĩnh vực tách biệt với thực tế hành nghề Kết quả là luôn

có nhiều quan điểm về nội dung và cách thức thực hiện

quy hoạch đô thị

1.2 Đặc điểm quy hoạch đô thị Việt Nam sau năm 1954

TạiViệt Nam, quy hoạch đô thị chủ yếu đóng vai trò

là công cụ phục vụ các kế hoạch và chương trình pháttriển của các cơ quan nhà nước

Vì lẽ đó, nội dung quy hoạch đô thị chỉ được gói gọntrong tổ chức, xây dựng không gian đô thị y hoạch

đô thị được gọi là y hoạch xây dựng đô thị Kiến trúc

sư quy hoạch tạiViệt Namthường chỉ làm các công việccủa kiến trúc sư: nghĩa là thiết kế, tổ chức xây dựng cáckhông gian đô thị sao cho đẹp mắt, phù hợp nhất vớithực tế Cơ sở các đồ án quy hoạch thường là những chỉthị, quyết định, các chủ trương đầu tư quy hoạch đượcphê duyệt bởi lãnh đạo các bộ ngành và cơ quan chínhquyền Hiện trạng phát triển đô thị chỉ có ý nghĩa cụthể hóa các chủ trương quy hoạch đã được hoạch địnhbởi các cơ quan nhà nước y chuẩn quy hoạch chỉmang tính tham khảo bởi mỗi đồ án quy hoạch đượcphép áp dụng các chỉ tiêu quy hoạch khác nhau, theo

sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền

Đặc điểm này khiến nhiều cơ quan bộ ngành, quản lýnhà nước trở thành các nhà quy hoạch vì họ được phép

ra các văn bản, quy định, yêu cầu; thiết lập các dự án,

kế hoạch phát triển; định đoạt nội dung đầu tư sử dụngcủa các lô đất đô thị - làm nền tảng cho các quy hoạch

cụ thể - trong khi họ gần như không bị chi phối bởi luậtquy hoạch cũng như không phải xin phép Hội đồngnhân dân các cấp Vì thế, không có cơ quan nào có khảnăng kiểm soát hay chịu trách nhiệm về chất lượng quyhoạch y hoạch thường được lập một cách khôngnhất quán, thiếu cơ sở, và không hiệu quả trong việcgiải quyết các vấn đề đô thị

Trong giai đoạn 1954-1986, các hoạt động kinh tế tưnhân bị hạn chế tối đa tại miền Bắc Việt Nam, quyhoạch chủ yếu nhằm đáp ứng kế hoạch phát triển củacác bộ ngành Nội dung quy hoạch hầu như chỉ baogồm chuẩn bị quỹ đất cho các dự án nhà nước và tổchức mạng lưới giao thông kết nối các cơ sở kinh tế vănhóa Tư liệu xây dựng gần như nằm hoàn toàn trong sự

1

Trang 10

sản xuất để tiết kiệm chi phí đầu tư; Một số quy hoạch

bài bản theo mô hìnhLiên Xômới bắt đầu được lập,

khởi đầu bằng nghiên cứu, lập quy hoạch chung các

thành phố Tuy nhiên chưa có quy hoạch chung nào

được triển khai chi tiết đến mức có thể áp dụng để quản

lý đầu tư xây dựng, phát triển đô thị

Sau năm 1986, nhà nước mở rộng ưu ái cho các dự án

đầu tư vốn nước ngoài, ưu tiên phát triển các khu công

nghiệp tập trung các dự án khách sạn, khu đô thị mới

1.3 Quy hoạch xây dựng đô thị tại

Việt Nam

y hoạ xây dựng đô thị là bộ môn khoa học kỹ

thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về tổ chức không

gian sống cho cácđô thịvà các khu vực đô thị Nó là

nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức năng,

khống chếhình thái kiến trúctrong đô thị trên cơ sở

cácđiều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm,

vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể

hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có

hại phát sinh trong quá trìnhđô thị hóa, tận dụng tối

đa mọi nguồn lực, và hướng tới sựphát triển bền vững

Cáckhông gian đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật,

công trình hạ tầng xã hộiđô thị cần được quy hoạch

phù hợp với phát triển tổng thểkinh tế-xã hội-môi

trường, an ninh - quốc phòng

Những hoạt động cụ thể liên quan đến ngành quy

hoạ đô thị là:

• Đầu tư và phát triểnbất động sản: Ở đây việc đầu

tư và phát triển bất động sản phải tuân theo quy

luật phát triển chung của xã hội-kinh tế riêng từng

• Đầu tư hạ tầng kỹ thuật.

• Phát triển và bảo tồn cácdi sản kiến trúcvàthiên

nhiên

• Phát triển bền vững của nhân loại.

Bộ khung pháp lý o các đồ án y hoạ đô thị ở

Việt Nam gồm:

Luật y hoạch Đô thị 2009

từng loại quy hoạch đô thị do Bộ Xây dựng banhành

• Nghị định38/2010/NĐ-CPvề quản lý không gian,kiến trúc, cảnh quan đô thị - kèm theo ông tư19/2010/TT-BXDhướng dẫn lập quy chế quản lýquy hoạch, kiến trúc đô thị do Bộ Xây dựng banhành

• Nghị định39/2010/NĐ-CPvề quản lý không gianxây dựng ngầm đô thị - kèm theo ông tư11/2010/TT-BXDhướng dẫn về quản lý cơ sở dữliệu công trình ngầm đô thị do Bộ Xây dựng banhành

Hệ thống đồ án y hoạ đô thị ở Việt Nam tuân theo y định của Luật y Hoạ, Nghị định 37/2010, ông tư 10/2010/TT-BXD, bao gồm:

y hoạch chung xây dựngvới tỷ lệ từ 1/10.000đến 1/25.000

y hoạch phân khu xây dựngvới tỷ lệ từ 1/2.000đến 1/5.000

y hoạch chi tiết xây dựngvới tỷ lệ 1/500

y hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật

án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xãnông thôn mới do Bộ Xây dựng ban hành

Nội dung thiết kế đô thịlà một phần trong nộidung lập các đồ ány hoạch chi tiếttrong đồ án

y hoạch chung và đồ án y hoạch phân khu.Tuy nhiên trong một vài trường hợp nó có thể làmột đồ án độc lập, kinh phí được tính khi iết kế

đô thị của một số khu vực đô thị có yêu cầu phảilập thành đồ án riêng (tối đa là 60% của quy hoạchchung tương ứng) - ông tư 17/2010/TT-BXD

Cơ sở của quy hoạch đô thị là hệ thống các tiêu chuẩn

và các nguyên tắc tổ chức xây dựng đô thị Dựa vào

hệ thống các nguyên tắc này, theo điều kiện thực tế vàchính sách, mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn;

Trang 11

1.5 LIÊN KẾT NGOÀI 3

nhóm bốn đối tượng tác động chính đến kết quả đồ án

quy hoạch là:các nhà quy hoạch,các nhà quản lý,các

nhà đầu tưvànhững người trực tiếp chịu ảnh hưởng

của quy hoạchđề xuất ra các giải pháp, mục đích, thời

gian và nguồn lực cụ thể để thực hiện

Hiện nay ở Việt Nam việc lập các đồ án quy hoạch chưa

được tổ chức thực hiện còn chưa theo đúng nguyên tắc

do điều kiện về kinh phí, trang thiết bị, năng lực chuyên

môn còn hạn chế và sự can thiệp tùy tiện của nhiều tổ

chức cơ quan tới quá trình lập đồ án y hoạch, cũng

như các yếu tố khác Khung luật pháp cho việc thực

hiện quy hoạch hiện nay còn thiếu hụt trong khi công

tác quản lý và thực thi quy hoạch lại khá lỏng lẻo Các

đồ án y hoạch hiện nay đang là công cụ cho việc hợp

thức hóa một số chuyển đổi đất sai mục đích hoặc chưa

đủ các cơ sở nghiên cứu đánh giá một cách chính xác

và khoa học

y hoạ đô thị tại Tp Hồ Chí Minh

ành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông chiến

lược hàng đầu của vùng nam Bộ và Tây Nguyên ành

phố có một hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt

và một hệ thống đường bộ gồm các ốc lộ 1, ốc lộ

22, ốc lộ 3 và hàng chục con đường khác, nối liền

ành phố Hồ Chí Minhvới các địa phương Nam Bộ,

cả nước và quốc tế

Vai trò, vị trí với nhiều lợi thế so sánh về kinh tế, khí

hậu và việc làm tất yếu dẫn đến sức ép rất lớn về tăng

dân số, tiếp theo là nhu cầu mở rộng ành phố Hồ Chí

Minh về không gian phát triển và xây dựng mới ngày

càng trở nên cấp bách

Nhìn xuyên suốt 30 năm qua, tiến trình đô thị hóa của

thành phố vừa tự phát, vừa tự giác, hay nói cách khác

vừa xây dựng theo quy hoạch, vừa hợp thức hóa xây

dựng bằng quy hoạch

y hoạch thành phố Hồ Chí Minhtính tới thời điểm

2010 có khoảng trên dưới 600 dự án quy hoạch tại 13

quận huyện

1.4 Tham khảo

1.5 Liên kết ngoài

Trang chủ Bộ Xây dựng cung cấp thông tin về các

văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực Kiến trúc

- y hoạch - Online

Trang 12

Camillo Sitte

Camillo Sitte (17 tháng 4 năm 1843 - 16 tháng 11 năm

1903) là người đại diện cho nềnquy hoạch đô thịhữu cơ

có tiếng vang nhất định ở nhiều nướcchâu Âuvào cuối

thế kỷ XIX Ông đã chỉ trích thẳng thừng “chủ nghĩa cổ

điển” và “hình dáng quy tắc” thường thấy đương thời,

thay vào đó là một cơ cấu đô thị có sự hài hoà và linh

hoạt như một cơ thể sống Camillo Sie nhiệt liệt cổ

động cho kiểu mặt bằng đô thị không quy tắc, uốn lượn

tự do như các đô thị châu Âu thời Trung cổ Ông nhấn

mạnh vai trò của điểm nhìn, tầm nhìn, đối tượng quan

sát và hiệu quả nghệ thuật chỉ xuất hiện khi cảnh quan

đô thị luôn luôn biến hoá, thay đổi

2.1 Các nguyên lý về quy hoạch đô

thị

2.1.1 Quảng trường

• Các tòa nhà bao quanh quảng trường công cộng

(đường phố không chạy quanh quảng trường)

• Các tòa nhà và đài tưởng niệm bố trí dọc theo 1

cạnh của quảng trường, không nằm ở giữa

• ảng trường không mang hình dạng cứng nhắc

(mặt bằng tự do, ngẫu hứng)

• Trung tâm quảng trường mở

• Đường chạy vào từ các góc

• Trong quảng trường nên tránh sử dụng nhiều

phương tiện đi lại

• Từ bất cứ điểm nào trên quảng trường, trong một

thời điểm chỉ có thể nhìn được ra 1 hướng

Các quảng trường phá cách làm tôn thêm nét tự nhiên

kích thích sự sảng khoái và làm tăng sinh động, ấn

tượng Điều này sẽ dễ dàng cho phép bố trí các đài

tưởng niệm vào quảng trường

2.1.2 Đường phố

Đường phố lý tưởng phải tạo thành một đường gấp

khúc khép kín Con người sẽ cảm thấy dễ chịu khi tầm

nhìn không vượt đi quá xa Một nguyên lý như thế đốilập với cách bố trí những con đường thẳng tắp kiểutruyền thống, trừ các thành phố có địa hình đồi (nhưSan Francisco), khi việc lên xuống dốc gây rào cản chotầm nhìn Đôi khi đồi quá dốc khiến cho đường phảigiật cấp và cảm giác bao trùm bởi các tỉ lệ nhàm chántrở nên hoàn hảo

2.1.3 Công viên

Công viênlà các vườn ẩn, nối liền nhau, kín gió bởicác mặt tiền khép kín của các tòa nhà cao tầng Cáccông viên ngày nay thường bị vây bởi các con phố, làmgiảm cảm giác bao bọc, ngoại trù các đường phố phântán rời xa công viên tùy vào diện tích công viên, độche phủ của cây và địa hình, ví dụ Golden Gate Park ởSan Francisco, công viên Balboa ở San Diego và CentralPark ở New York

2.2 Sách đã xuất bản

• City Planning According to Artistic Principles, 1889

• e Birth of Modern City Planning Dover

Publications, 2006,

• Gesamtausgabe Schrien und Projekte Hrsg.

v Klaus Semsroth, Michael Mönninger undChristine Crasemann-Collins 6 Bände Böhlau,Wien 2003–2007

2.3 Tham khảo

Trang 13

Chương 3

Chùm đô thị

Chùm đô thị hay liên đô thị[1]là thuật ngữ trong ngành

đô thị họcvàquy hoạch đô thịdùng để chỉ mộttập hợp

đô thịgần nhau, ảnh hưởng lẫn nhau bởi quá trìnhđôthị hóavà trở nên gần nhau không chỉ vì khoảng cáchđịa lýmà còn vì sự phát triển của hệ thốngcơ sở hạtầngkết nối các đô thị này với nhau Nói chung, mộtchùm đô thị gồm một hoặc vàithành phốlớn làm cực

và nhiều thành phố nhỏ haythị trấnlớn làm vệ tinh.Chùm đô thị có mộtthị trường lao độngchung theonghĩa là người dân sinh sống ở đô thị này có thể làmviệc ở đô thị kia trong cùng vùng

3.1 Tham khảo

[1] “Nông thôn và vấn đề định cư"

Conurbation â€" Dictionary Definition of conurbation

| Encyclopedia.com: FREE Online Dictionary

3.2 Xem thêm

Vùng đô thị

5

Trang 14

Công trình hạ tầng kỹ thuật

Công trình hạ tầng kỹ thuật là các cơ sở hạ tầng dành

cho dịch vụ công cộng, ví dụgiao thông,thông tin liên

lạc,điện,nước,rác…

Các công trình này thường do các tập đoàn của chính

phủ hoặc của tư nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở

hữu công

Ví dụ về các công trình hạ tầng kĩ thuật:

• Hệ thống điện chiếu sáng và sinh hoạt

• Hệ thống lọc và phân phối nước sinh hoạt

• Hệ thống xử lý nước thải

• Hệ thống xử lý rác thải

• Hệ thống phân phốikhí đốt

• Giao thông công cộng

• Các hệ thống truyền thông, chẳng hạn truyền

hình cápvàđiện thoại

• Hệ thống đường sá, bao gồm cả đường thu phí

4.1 Tham khảo

Trang 15

Chương 5

Công trình hạ tầng xã hội

Hệ thống công trình hạ tầng xã hội bao gồm cáccông

trìnhnhưy tế,văn hóa,giáo dục,thể thao,thương mại,

dịch vụ công cộng,cây xanh,công viên, mặt nước và

các công trình khác

5.1 Ý nghĩa

Được xây dựng để phục vụcộng đồng, có ý nghĩaxã

hộihơn làkinh tế, nhằmnâng cao đời sốngcộng đồng

Trang 16

Đại đô thị

Một thí dụ về một đại đô thị là Vùng đô thị San Diego-Tijuana

Các thành phố cùng với nhau tạo nên một đại đô thị lưỡng quốc

giữa México và Hoa Kỳ

Trong nghiên cứu về các khu định cư của con người,

một đại đô thị (tiếng Anh: urban agglomeration) là một

khu vực thành phố hay thị trấn được mở rộng, bao gồm

khu đô thịcủa một nơi được gọi là trung tâm (nơi trung

tâm này thường là một khu tự quản) và bất cứ những

khu vực ngoại ô nào được nối liền nhau quakhu đô thị

liên tục này Tại Pháp, Viện ống kê PhápINSEEdịch

từ này thành “Unité urbaine” có nghĩa là khu đô thị nối

tiếp nhau Tuy nhiên, vì có sự khác biệt trong các định

nghĩa rằng những gì tạo nên và không tạo nên một "đại

đô thị" cũng như các tính chất đa dạng và giới hạn của

các phương pháp tính toán dựa theo địa lý hoặc thống

kê nên có thể rất mơ hồ để so sánh các đại đô thị khác

nhau trên khắp thế giới Chẳng hạn như, không rõ là

một khu vực có nên được xem là một khu vực vệ tinh

hay một phần của một đại đô thị hay bản thân chính

nó là một thực thể riêng biệt

uật ngữ đại đô thị (urban agglomeration) cũng có

thể có mối liên hệ đếnvùng đại đô thị(Conurbation)

là thuật ngữ chi tiết hơn để chỉ các chùm đô thị lớn

mà trong đó các vùng ảnh hưởng gồm có những thành

phố hay thị trấn cá biệt được kết nối lại với nhau vì sự

phát triển đô thị xảy ra liên tục không ngừng, thậm chí

lan sang các vùng,banghay quốc gia khác nhau, thí

dụ nhưLille-Kortrijktại Pháp và Bỉ Mỗi thành phố

hay thị trấn trong một vùng đại đô thị có thể tiếp tục

hoạt động như một điểm hội tụ độc lập, thiết yếu cho

cả vùng đại đô thị

6.1 Những đại đô thị lớn nhất

uật ngữ "đại đô thị" rất thích hợp để định nghĩa dân

số của những siêu-thành phố lớn nhưTokyo, ànhphố Mexico, vàSeoul Các thành phố thí dụ là nhữngsiêu-thành phố đã mở rộng đủ để nuốt chửng các khudân cư khác Mặc dù về mặc hành chính thì những khudân cư đó có thể là có chính quyền riêng biệt nhưngngười dân ở đó có thể nói rằng họ đến từ thành phốtrung tâm Có vô số danh sách khác nhau về dân số đại

đô thị Hai trong số đó được trình bày dưới đây

eo một danh sách (01-01-2010), đại đô thị lớn nhất

trên thế giới là như sau:

(ông tin trên được lấy từ: CityPopulation )

Một danh sách khác về căn bản cho thấy một số đại đôthị (so sánh với danh sách trên) có dân số nhỏ hơn vàonăm 2010 Danh sách này sử dụng phương pháp ướctính dân số dựa theo các khu vực hành chính bên trongranh giới của một khu vực có nhiều đô thị nối kết liêntiếp nhau Sự khác biệt chính giữa hai con số về dân sốtrong hai danh sách là danh sách thứ nhất lấy dân sốvùng đô thịthay cho dân số đại đô thị, thí dụ như NewYork, Mexico City, Mumbai và Delhi mà có thể thấy cócác con số về dân số cao hơn so với danh sách thứ hai

ở dưới đây

10 đại đô thị lớn nhất tính theo dân số là:

Vùng đại Tokyo có trên 35 triệu người.

Trang 17

United Nations World Urbanization Prospects,

the 2009 Revision, Web Site of the United

Nations Population Division: Data on Urban

Trang 18

Đô thị

Các thành phố có ít nhất 1 triệu dân vào năm 2006

Một đô thị hay thành phố là một khu vực có mật độ gia

tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so

với các khu vực xung quanh nó Đô thị là một trung

tâm dân cư đông đúc, có thể làthành phố,thị xãhay

thị trấnnhưng thuật từ này thông thường không mở

rộng đến các khu định cưnông thônnhưlàng,xã,ấp

haybản

Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá

trìnhđô thị hóa Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp

ích cho việc phân tíchmật độ dân số, sự mở rộng đô thị,

và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành

thị

Không như một đô thị, mộtvùng đô thịkhông chỉ bao

gồm đô thị mà còn bao gồm cácthành phố vệ tinhcộng

vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh

tế xã hội với thành phố đô thị cốt lõi, tiêu biểu là mối

quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng

ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lõi là thị

trường lao động chính ật vậy, các đô thị thường kết

hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân

số trong một vùng đô thị lớn hơn

Cácvùng đô thịthường thường được định nghĩa bằng

việc sử dụng cácquận(như ởHoa Kỳ) hoặc các đơn vị

chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng ận có chiều

hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch

Các kinh tế gia thường thích làm việc với các thống kê

xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị Các đô thị

được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính

toán việc sử dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và

mật độ dân cư (theo Dumlao & Felizmenio 1976)

7.1 Các định nghĩa

Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc giakhác nhau ông thường mật độ dân số tối thiểu cầnthiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người trênmộtcây số vuônghay 1000 người trên mộtdặm vuôngAnh[1] Các quốc giachâu Âuđịnh nghĩa đô thị dựa trên

cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép

có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét.Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống

kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị.Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất

và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa

là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không cóhành nghềnông nghiệphay đánh cá

7.1.1 Việt Nam

Tại Việt Nam hiện có sáu loại hình đô thị: loại đặc biệt,loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V

eo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP[2], một đơn vị hànhchính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêuchuẩn cơ bản như sau:

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm

vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựngtập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số laođộng

5 Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạtầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹthuật)

Trang 19

7.1 CÁC ĐỊNH NGHĨA 11

6 Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô

thị

Các đô thị ở Việt Nam

Đô thị loại đặc biệt(2 thành phố):Hà Nội,ành

phố Hồ Chí Minh

Đô thị loại 1(17 thành phố):Mỹ o;Biên Hòa;

anh Hóa;Hạ Long;Việt Trì;ái Nguyên;Nam

Định;Vũng Tàu;Buôn Ma uột;y Nhơn;Nha

Trang;Đà Lạt;Vinh;Huế;Cần ơ;Đà Nẵng;Hải

Phòng

Đô thị loại 2(25 huyện, thành phố):Trà Vinh;Tam

Kỳ; Phú ốc;Đồng Hới; Uông Bí; Bắc Giang;

Bắc Ninh;Ninh Bình;Bạc Liêu;Bà Rịa;ái Bình;

Rạch Giá;Cà Mau;Long Xuyên;Phan Rang - áp

Chàm;Tuy Hòa;Phan iết;Pleiku;ủ Dầu Một;

Hải Dương;Vĩnh Yên;Lào Cai;Châu Đốc;Cẩm

Phả,ảng Ngãi

Đô thị loại 3(42 thị trấn, thị xã, thành phố): 1thị

trấn:Tĩnh Gia, 12thị xã:Long Khánh;Gia Nghĩa;

Đồng Xoài;Chí Linh;Ngã Bảy;Cửa Lò;Sầm Sơn;

Bỉm Sơn;Hà Tiên;Phúc Yên;Phú ọ;Sơn Tâyvà

Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các “trung tâm

thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân

cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư

phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông.[3]

7.1.3 Canada

TạiCanada, một đô thị là một vùng có trên 400 người

trên một cây số vuông và tổng số dân phải trên 1.000

người Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi

2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô

thị duy nhất Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh

hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố)

hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang.[4]

7.1.4 Trung Quốc

TạiTrung ốc, một đô thị là một khu thành thị, thành

phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên

một cây số vuông Đối với các khu thành thị có mật độ

dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ

dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông

đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành

thị.[5]

7.1.5 Pháp

TạiPháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùngphát triển do xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị"

(unité urbaine)[6]- gần giống như cách định nghĩa của

đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine) Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine củaINSEElà “urban area” trong tiếng Anh,[7]

đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự vớiđịnh nghĩa vềvùng đô thịcủa mình

7.1.6 Thụy Sĩ

Tại ụy Sĩ chỉ có những đơn vị hành chánh được gọi

là thành phố, hoặc là nó có hơn 10 ngàn dân hoặc dướithời Trung cổ nó được ban cho quyền được gọi là thànhphố

7.1.7 Nhật Bản

TạiNhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là cácvùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc Điềukiện cần thiết là đô thị phải có mật độ dân số trên 4.000người trên một cây số vuông

7.1.8 New Zealand

Cục thống kê New Zealand định nghĩa đô thị NewZealand cho các mục đích thống kê Chúng là các khuđịnh cư có dân số trên 1000 người

7.1.9 Ba Lan

TạiBa Lan, định nghĩa chính thức về "đô thị" đơn giản

là ám chỉ đến các địa phương có danh xưng là thị trấn,thành phố Vùng “nông thôn” là những vùng nằm ngoàiranh giới của các thị trấn này Sự phân biệt đơn giản này

có thể gây nhầm lẫn trong một số trường hợp vì một

số địa phương có danh xưng làng xã có thể có dân sốđông hơn các thị trấn nhỏ.[8]

7.1.10 Hoa Kỳ

TạiHoa Kỳ, có hai loại khu đô thị uật từ urbanized

area dùng để chỉ một khu đô thị có từ 50.000 dân trở

lên Các khu đô thị dưới 50.000 dân được gọi là urban

cluster Cụm từ Urbanized areas được sử dụng lần đầu

tiên tại Hoa Kỳ trong cuộc điều tra dân số năm 1950trong khi cụm từ urban cluster được thêm vào trongcuộc điều tra dân số năm 2000 Có khoảng 1371 khu đôthị trên 10.000 người tạiHoa Kỳ

Cục điều tra dân số Hoa Kỳđịnh nghĩa một khu đô thịnhư “những cụm thống kê cốt lõi có mật độ dân số ítnhất là 1.000 người trên mộtdặm vuông Anhhay 386

Trang 20

số vuông.”

Khái niệm về khu đô thị được Cục điều tra dân số

Hoa Kỳ định nghĩa thường được dùng như thước đo

chính xác hơn diện tích của một thành phố vì trong

các thành phố khác nhau cũng như tiểu bang khác

nhau, đường phân giới giữa các ranh giới thành phố

và khu đô thị của thành phố đó thường không như

nhau í dụ, thành phốGreenville, Nam Carolinacó

dân số thành phố dưới 60.000 nhưng khu đô thị có trên

300.000 người trong khi đóGreensboro, Bắc Carolina

có dân số thành phố trên 200.000 nhưng dân số khu đô

thị khoảng 270.000 Điều đó có nghĩa là Greenville thật

sự “lớn hơn” theo một số ý nghĩa và mục đích nào đó

nhưng không phải theo một số ý nghĩa và mục đích

khác, thí dụ như thuế, bầu cử địa phương

Khoảng 70% dân số Hoa Kỳ sống bên trong ranh giới

của các khu đô thị (210 trong số 300 triệu người) Tổng

cộng thì các khu đô thị này chiếm khoảng 2% diện tích

Hoa Kỳ Phần lớn cư dân đô thị là những người sống ở

ngoại ô Cư dân sống trong thành phố trung tâm cốt lõi

chiếm khoảng 30% dân số khu đô thị (khoảng 60 trong

Dưới khía cạnhxã hội học, đô thị và nông thôn là hai

khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có

tính đối lập nhau Các nhà xã hội học đã đưa ra rất

nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn

Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sở các lĩnh vực hoạt

động sống củaxã hộinhư lĩnh vựccông nghiệp,nông

nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông,

vận tải,dịch vụ,… hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu

của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa,giáo dục,

chính trị,gia đình,… hoặc theo các nhóm, cácgiai cấp,

tầng lớp xã hội, hay theo bình diệnlãnh thổ

Cũng có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để

phân biệt giữa đô thị và nông thôn theo sự khác biệt

giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Như về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự

khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức độ và cách thu

nhập về dịch vụ, v.v… Về mặt xã hội thì đó là sự khác

biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ

dân số, nhà ở, v.v… Về mặt môi trường thì chủ yếu ở

đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm, v.v…

Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn

đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng

thị và nông thôn cần được xem xét như một cơ cấu xãhội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằmtrong mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được chấpnhận, là việc coi đô thị và nông thôn như các hệ hệthống xã hội được phân biệt theo ba đặc trưng cơ bảnsau:

1 Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị

đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài

ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản,thợ thủ công, viên chức, trí thức, v.v… Còn đối vớinông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân,ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớpnhư địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp,buôn bán nhỏ, v.v…

2 Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng

là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnhvực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuấttinh thần, v.v… Còn đối với nông thôn thì đặctrưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài

ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp baogồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà

có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp

3 Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối

với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sốngvăn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệtrất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khuvực đô thị Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh

để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn:

từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinhthần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mựccho hành vi,… đến khía cạnh dân số, lối sống giađình, sinh hoạt kinh tế,… ngay cả đến hệ thốngđường sá, năng lượng, nhà ở đều nói lên đây là haicộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách

biệt nhau Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội

đô thị và nông thôn.

Trang 21

[1] Urbanized Area:A central place and adjacent territory

that contain at least 50,000 people and an overall density

of 1,000 per square mile

[2] Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009

của Chính phủ

[3] “1216.0 - Australian Standard Geographical

Classification (ASGC), 2001” Australian Bureau

of Statistics Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007

[4] “urban area (ua), 2001 census - Geographic Units”

Statistics Canada Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2007

[5] Scenario Analysis on Urbanization and Rural-Urban

Migration in China

[6] (tiếng Pháp)“Nomenclatures Définitions Méthodes

-Unité urbaine”(HTML) Truy cập ngày 20 tháng 7 năm

2007

[7] (tiếng Pháp)“Nomenclatures Définitions Méthodes

-Aire urbaine”(HTML) Truy cập ngày 7 tháng 7 năm

World Urban AreasAll identified world urbanized

areas 500,000+ and others: Population & Density

Author seeks advice on any that appear to be

missing: wcox@demographia.com

City Mayors - e World’s Largest Urban Areas

Projected for 2020

Trang 22

Đô thị hóa

Đô thị hóa là sự mở rộng củađô thị, tính theo tỉ lệphần

trămgiữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số

dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng

có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo

thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi

là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên

là tốc độ đô thị hóa.

Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị

thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất

lượng cuộc sống,…

Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc)

thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều

so với cácnước đang phát triển(nhưViệt Nam) (khoảng

~35%) Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định

nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp

các nước đang phát triển

Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia

tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện

tích) ban đầu của đô thị Do đó, sự tăng trưởng của đô

thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng

theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5

năm)

8.1 Các quá trình

eo khái niệm của ngànhđịa lý, đô thị hóa đồng nghĩa

với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc

thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực

theo thời gian Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm:

• Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có ông

thường quá trình này không phải là tác nhân

mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của

thành phố thường thấp hơn nông thôn

• Sự chuyển dịch dân cư từnông thônrathành thị

hoặc như là sự nhập cư đến đô thị

• Sự kết hợp của các yếu tố trên.

• ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa (Do quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho đời sống nhân

dân ngày càng được nâng cao dẫn tới sự mở rộngcác khu công nghiệp mới, khu đô thị mới)

8.2 Tác động

Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đếnsinh tháivàkinh tếkhu vực.Đô thị học sinh tháicũng quan sát thấydưới tác động đô thị hóa, tâm lý và lối sống của ngườidân thay đổi Sự gia tăng quá mức của không gian đôthị so với thông thường được gọi là “sự bành trướng đô

thị" (urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô

thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậmchí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chốngđối xu thế đô thị hóa cho rằng nó làm gia tăngkhoảngcách giao thông, tăng chi phí đầu tư các cơ sởhạ tầng

kĩ thuật và có tác động xấu đến sựphân hóa xã hộido

cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăncủa khu vực trong đô thị

8.3 Ảnh hưởng

Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đôthị á trình này còn làm thay đổi nhu cầu sử dụngđất đô thị và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xãhội của vùng và quốc gia

8.3.1 Tích cực

Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinhtế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thayđổi sự phân bố dân cư Các đô thị không chỉ là nơi tạo

ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động màcòn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng,

là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao,

cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tưmạnh trong nước và nước ngoài

Trang 23

8.6 THAM KHẢO 15

8.3.2 Tiêu cực

Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao

động chuyển đến thành phố ành thị phải chịu áp

lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi

trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn

xã hội ví dụ như thiếu việc làm sẽ nảy sinh ra nhiều

vấn đè như nghèo đói lạc hậu,mù chữ,tệ nạn như trộm

hóa cao hơn cả nước Nếu xét thêm top 14 tỉnh thành

có dân số thành thị cao nhất nước thì sẽ xảy ra 2 điều

kiện sau:

1 TỉnhĐồng Naicó dân số thành thị đạt 905.666 người

(xếp thứ 4) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 32,09 % (thấp

hơn cả nước 0,99%)

2 TỉnhAn Giangcó dân số thành thị đạt 650.214 người

(xếp thứ 9) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 68,43% (xếp thứ

2 sau TP.HCM)

2 tỉnh có dân số thành thị thấp nhưng tốc độ đô thị hóa

cao hơn cả nước:

1 TỉnhKon Tumcó dân số thành thị 160.211 người (xếp

thứ 48) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 33,27 % (cao hơn

nước 0,19%)

2 TỉnhNinh uậncó dân số thành thị 209.374 người

(xếp thứ 35) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 35,54 % (cao

hơn nước 2,46%)

Dưới đây là danh sách 12 tỉnh thành vừa có tốc độ đô

thị hóa cao và vừa có dân số thành thị cao nhất nước

8.5 Xem thêm

ành bang

Chùm đô thị

Đô thị hóa ngược

Phân công lao động

Đô thị hóa theo quốc gia

Các nhân tố đóng góp vào sự đô thị hóa:

Cách mạng Nông nghiệp Anh

Cách mạng công nghiệp

Công nghiệp hóa

Di cư nông thôn

Trang 24

Đô thị nhỏ gọn

Đô thị nhỏ gọn hay còn có tên gọi khác là đô thi nén

(Compact City) là tên gọi do Dantzig và Saaty đưa ra

từ năm 1973 và được thông dụng tại châu Âu, trong khi

tại Bắc Mỹ tên gọi “tăng trưởng thông minh” (Smart

Growth) được ưa chuộng hơn[1]

9.1 Khái niệm

"Đô thị nhỏ gọn là đô thị có mật độ định cư cao, diện

tích nhỏ nên chủ yếu phát triển về chiều cao và không

gian phía trên, ít phụ thuộc vào xe ô tô cá nhân, có ranh

giới rõ ràng với các khu vực xung quanh, có khả năng

tự cung cấp đầy đủ dịch vụ, sử dụng hỗn hợp đất đai

một cách đa dạng tức là phát triển các khu vực đô thị

đa chức năng (cư trú, làm việc, học hành, mua sắm và

giải trí), để tạo điều kiện cho phần lớn người dân hàng

ngày có thể đến các nơi cần thiết chỉ bằng đi bộ, xe đạp

và giao thông công cộng”.[2]

9.2 Ưu điểm

eo quan điểm phát triển bền vững, đô thị nhỏ gọn có

nhiều ưu điểm như:

- Về môi trường, giảm phát thải KNK do ít xe ô tô hơn,

tiêu thụ năng lượng tiết kiệm hơn nhờ hệ thống kết cấu

hạ tầng được tập trung gọn;

- Về kinh tế, sử dụng tài nguyên đất và nước hợp lý

hơn; tiết kiệm chi phí đi lại, chi phí đầu tư và quản lý

hạ tầng;

- Về xã hội, tạo cộng đồng gần gũi gắn kết với nhau

hơn, thuận lợi cho việc lan truyền kiến thức, phát huy

tư duy sáng tạo và đổi mới

9.3 Đánh giá

• Giám đốc Ngân hàng ế giới tại Việt Nam

Victoria Kwakwa đưa ra khuyến nghị trong bài

báo Đô thị hóa ở Việt Nam đứng trước ngã ba

đường[3]: “Với nguy cơ BĐKH thì Việt Nam nên

chuyển hướng tập trung phát triển thành phố gọn,

mật độ cao, tiết kiệm năng lượng mà vẫn đảm bảonhu cầu nhà ở và việc làm cho mọi người”

• Ông Dean Cira chuyên gia của Ngân hàng ế

giới, người phụ trách thực hiện Báo cáo rất công

phu về "Đánh giá Đô thị hóa ở Việt Nam” [4]khi trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ Cuối tuần(14/4/2012)[5] đã nhận xét: “Dường như các đôthị ở Việt Nam đang phát triển theo chiều rộngthay vì theo chiều sâu Chẳng hạn Hà Nội đã trởthành một trong những thành phố rộng nhất thếgiới…Khi mở rộng như vậy, chính quyền sẽ phảiđầu tư rất nhiều vào các đô thị vệ tinh trong khinhu cầu chính nằm ở Hà Nội”

• Ông Frank Schwartze, Phó Giám đốc Chương

trình Nghiên cứu Siêu đô thị, Đại học Kỹ thuật

Cobus, Đức khuyến nghị trong hội thảo: "Ứng phó với biến đổi khí hậu và Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong công trình xây dựng của

Bộ Xây dựng”, tổ chức ở Hà Nội vào tháng 4/2010:

“Các đô thị kiểu như TPHCM là đô thị có cấu trúc

hạ tầng phức tạp, nhiều kênh rạch nên gặp không

ít khó khăn để lồng ghép bảo vệ môi trường vớiphát triển đô thị vào dự án Vì thế, phát triển đôthị tại những nơi như vậy phải tính đến độ nén.Tức là thành phố nên phát triển theo chiều cao,chiều thẳng đứng với những toà nhà, khu chung

cư cao tầng chứ không nên phát triển dàn trải theochiều ngang với những chung cư năm tầng, bảytầng hay trên 10 tầng như hiện nay Yếu tố nén ởđây không phải nói đến việc tất cả các khu đô thịtại TPHCM, mà chỉ nên nén ở mức độ vừa phải,thay vì những tòa nhà chọc trời Đó cũng là cách

để tiết kiệm quỹ đất xây dựng vốn đã không đủđáp ứng nhu cầu nhà ở của cư dân TPHCM hiệnnay.”

• TS Phạm Sỹ Liêm - Viện trưởng Viện Nghiên cứu

Đô thị và Phát triển Hạ tầng viết trong nghiên cứu:

"Đô thị nhỏ gọn là hình thái đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu” như sau: "…Trong giai đoạn phát

triển mới này, tôi nghĩ rằng hình mẫu đô thị nhỏgọn rất nên được các đô thị lớn và cực lớn của nước

ta (đô thị loại 1 và loại đặc biệt) nghiên cứu vận

Trang 25

9.5 THAM KHẢO 17

dụng vì nó là hình thái đô thị bền vững trong bối

cảnh nước ta đất chật người đông nhưng lại thuộc

số các quốc gia phải chịu hậu quả nặng nề nhất

của biến đổi khí hậu toàn cầu….”

9.4 Một số ví dụ thành công về đô

thị nhỏ gọn trên thế giới

Có thể kể ra nhiều ví dụ thành công về đô thị nhỏ gọn

tại các nước như:

Portland, Hoa kỳ: diện tích: 376,5 km2 (trong đó

diện tích đất liền 347,9 km2, diện tích mặt nước:

28,6 km2); dân số (năm 2009): 582.130 người; mật

độ: 1655,31 người/km2; thành phố có 3 quận

Freiburg, Đức: diện tích: 153,07 km2; dân số:

217.547 người; mật độ: 1.421 người/km2; thành

phố có 41 quận

• ủ đôCanberra, Australia: diện tích: 805,6 km2,

dân số (năm 2006): 388.072 người, mật độ: 481,7

người/km2

Hồng Kông, Trung ốc: diện tích: 1103 km2,

dân số (năm 2009): 7.055.071 người; mật độ: 6076,4

người/km; Hồng Kông có 18 quận

Singapore: diện tích: 692,7 km2, dân số (năm

2000): 4.117.700 người, mật độ: 6.389 người/km2

9.5 Tham khảo

[1] Phạm Sĩ Liêm, Bùi Mạnh Tiến (2012), Sức sống đô thị

nhỏ gọn, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 12/2012

[2] Dantzig và Saaty (1973), Compact city: A plan for a

livable Urban Environment, San Francisco

[3] “Đô thị hóa ở Việt Nam đứng trước ngã ba đường

-VietNamNet”.VietNamNet Truy cập 14 tháng 2 năm

2015

[4] Ngân hàng thế giới (2011), Đánh giá đô thị hóa ở Việt

Nam Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật, tháng 11 năm 2011

[5] “ông báo”.Tuổi Trẻ Online Truy cập 4 tháng 10 năm

2015

Trang 26

Đô thị tại Bình Dương

Đô thị tại Bình Dương là nhữngđô thị Việt Namtại

tỉnhBình Dương, được các cơ quan nhà nước ở Việt

Namcó thẩm quyền ra quyết định thành lập Hiện tại

Bình Dương có bốn loạiđô thịvới tổng số là 9 đô thị,

gồm: 1 đô thị loại II, 2 đô thị loại III, 2 đô thị loại IV, 4

đô thị loại V

Các đô thị đầu tiên tại Bình Dương bắt đầu được manh

nha hình thành từ đầuthế kỷ 20, khitỉnh ủ Dầu Một

được thành lập cùng các tỉnh khác ởNam Kỳngày 1

tháng 1 năm 1900, sau Nghị định ngày 20 tháng 12 năm

1899 củaToàn quyền Đông Dương Tỉnh lỵ tỉnh ủ

Dầu Một ban đầu được đặt tại làng Phú Cường tổng

Bình Điền quận Châu ành của tỉnh Trong suốt nửa

đầu thế kỷ 20, các trung tâm hành chính của tỉnh ủ

Dầu Một gồm tỉnh lỵ và các quận lỵ thuộc tỉnh, dần

dần đô thị hóađể hình thành các đô thị hành chính

SauCách mạng áng Tám, tỉnh ủ Dầu Một lại bị

Pháp chiếm đóng Chính quyền Pháp ở Đông Dương

ban hành các yết định ngày 31-1-1946 và ngày

2-3-1949 thành lập và điều chỉnhquận Châu ànhtỉnh

ủ Dầu Một, bao gồm cả tỉnh lỵ ủ Dầu Một tại xã

Phú Cường Đến thờiViệt Nam Cộng Hòatỉnh ủ Dầu

Một được đổi thành tỉnh Bình Dương, tỉnh lỵ đổi là tên

là Phú Cường áng 5 năm 1973, chính phủ Việt Nam

Cộng Hòa xếp loại hành chính các tỉnh và quận trên

toàn quốc (Miền Nam Việt Nam): tỉnh Bình Dương loại

B trong đó quận Châu ành là quận loại A áng

8 năm đó đổi tỉnh lỵ từ xãPhú Cường về xã Chánh

Hiệp.[1]

Năm 1976, 2 tỉnh Bình Dương vàBình Phướcnhập lại

thành tỉnh Sông Bé, các quận theo hành chính Việt

Nam Cộng hòa được đổi thành các huyện và được sáp

nhập lại Đến 11-3-1977thị xã ủ Dầu Mộtđược hình

thành trên cơ sở sáp nhập 5 xã còn lại của huyện Châu

ành với tỉnh lỵ tỉnh Bình Dương cũ[2] ị xã ủ

Dầu Một là thị xã đầu tiên của tỉnh Sông Bé cũng như

tỉnh Bình Dương

Ngày 01-08-1994, thành lập thị trấn Mỹ Phước thuộc

huyện Bến Cát (nay là phường Mỹ Phước, thị xã Bến

Cát)

Ngày 29-09-1994, thành lập thị trấn Dầu Tiếng thuộchuyện Bến Cát (từ năm 1999 thuộc huyện Dầu Tiếng),thành lập thị trấn Uyên Hưng thuộc huyện Tân Uyên(nay là phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên), thànhlập 3 thị trấn: Dĩ An, An ạnh, Lái iêu thuộc huyện

uận An (nay là phường Dĩ An, thị xã Dĩ An và cácphường An ạnh, Lái iêu, thị xã uận An).Ngày 01-01-1997, tỉnh Bình Dương được tái lập với thủphủ là thị xã ủ Dầu Một; đồng thời tiếp nhận 4 xã:Minh Hòa, Minh Tân, Minh ạnh, Trừ Văn ố thuộchuyện Bình Long của tỉnh Bình Phước (nay là thị xãBình Long và huyện Hớn ản) về huyện Bến Cát (nay

3 xã Minh Hòa, Minh Tân, Minh ạnh thuộc huyệnDầu Tiếng); thị trấn Phước Vĩnh và 5 xã: An Bình, AnLinh, Phước Sang, Tân Hiệp, Vĩnh Hòa thuộc huyệnĐồng Phú của tỉnh Bình Phước về huyện Tân Uyên(nay 6 đơn vị hành chính này thuộc huyện Phú Giáo).Đến đầuthế kỷ 21, việc phân loại các đô thị Việt Namđược tiến hành[3][4] Các đô thị Việt Nam được chiathành sáu loại gồm: loại đô thị đặc biệt và các đô thị

từ loại I đến loại V Các đô thị tại Bình Dương cũngđược phân cấp và quyết định công nhận cấp đô thị phùhợp bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nướcCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày13 tháng 01năm2011, eo Nghị quyết số

04/NQ-CP củaChính phủ, thị xã uận An và thị xã Dĩ Anđược thành lập, từ việc nâng cấp lên đô thị của 2 huyệncùng tên[5]

Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghịquyết số 11/NQ-CP thành lập thành phố ủ Dầu Một,nâng cấp từ thị xã ủ Dầu Một

Ngày29 tháng 12năm2013, Chính phủ ban hành Nghịquyết số 136/NQ-CP thành lập thị xã Tân Uyên và thị

xã Bến Cát; đồng thời thành lập thị trấn Bàu Bàng thuộchuyện Bàu Bàng (đổi tên từ huyện Bến Cát cũ) và thịtrấn Tân Lợi thuộc huyện Bắc Tân Uyên (đổi tên từhuyện Tân Uyên cũ)[6]

Trang 27

10.5 CHÚ THÍCH 19

10.2 Đô thị hóa

Bắt đầu từ giai đoạnđổi mớiở Việt Nam, đặc biệt là

sau khi tái lập tỉnh, tốc độ đô thị hóa tại tỉnh Bình

Dương tăng nhanh đáng kể nhờ chuyển dịch cơ cấu

kinh tế từnông nghiệpsangcông nghiệpvà dịch vụ

Tỷ lệ cơ cấukinh tếtỉnh Bình Dương năm 2010 là: công

nghiệp – xây dựng63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm

nghiệp 4,4%[7] Hiện với 28 khu công nghiệp và cụm

công nghiệp tập trung, Bình Dương thu hút lượng lớn

nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế công nghiệp,

xây dựng và dịch vụ Tính đến năm 2011: toàn tỉnh có

1.691.400 người, mật độ dân số 628 người/km²[8] Tỷ

lệ tăng dân số tự nhiên của Bình Dương là 14,2 ‰[9]

Trong đó dân số sống ở đô thị tại Bình Dương là gần

1.084.200 người[10], dân số sống tại nông thôn ở Bình

Dương đạt 607.200 người[11] Trong khi khoảng cuối

thập kỷ 1980-1990, khi mà Bình Dương chưa tái lập, còn

nằm trong địa bàn tỉnh Sông Bé (gồm cả Bình Dương

và Bình Phước), thì dân số toàn tỉnh Sông Bé mới là

khoảng 734.200 người, trên diện tích 9.859 km², đạt mật

độ dân số trung bình 74 người/km² Tỉnh Sông Bé lúc

đó là tỉnh trồng cây công nghiệp: với diện tích rừng

cao sulớn nhất cả nước, công nghiệp chế biến cao su

là chủ yếu.[12] Vào thời điểm tái lập tỉnh 01-01-1997,

Bình Dương có diện tích là 2.718,5 km², dân số 646.317

“y hoạch chung xây dựng đô thị ủ Dầu Một

đến năm 2020” | CỔNG THÔNG TIN VIỆN QUY

HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BÌNH DƯƠNG

2 Phát triển đô thị Bình Dương đến năm 2020:Trở

thành thành phố trực thuộc Trung ương có bản

sắc riêng

3 QUYẾT ĐỊNH PHÊ DUYỆT ĐIỀU CHỈNH QUY

HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ

HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020, BỔ

SUNG QUY HOẠCH ĐẾN NĂM 2025

[1] Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành

chính (1945-2002), Nguyễn ang Ân

[2] yết định 55-CP của Hội đồng Chính phủ nước Cộng

hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam eo Việt Nam thay

đổi địa danh và địa giới hành chính (1945-2002), Nguyễn

ang Ân

[3] Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm

2001 của Chính phủ

[4] Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009của Chính phủ

[5] Nghị quyết số 4/NQ-CP của Chính phủ, văn bản bổsung

[6] Nghị quyết số 136/NQ-CP của Chính phủVề việc điềuchỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát để thành lậpthị xã Bến Cát; điều chỉnh địa giới hành chính huyệnTân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và thành lập 16phường thuộc thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên, thị xã

uận An và thành phố ủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương[7] Nghị quyết số: 24/2010/NQ-HĐND7 kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội năm 2011

[8] Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theođịa phương, eo tổng cục thống kê

[9] Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, eoTổng cục thống kê Việt Nam

[10] Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, eoTổng cục thống kê Việt Nam

[11] Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương,

eo Tổng cục thống kê Việt Nam

[12] theo Đất nước Việt Nam, mục Sông Bé,Nguyễn KhắcViện và nhóm tác giả, VietNamTourism, năm 1989,trang 362-364

[13] Tái lập tỉnh Bình Dương từ tỉnh Sông Bé, đăng ngày14/01/2015

[14] kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009

[15] ành phố ủ Dầu Một được công nhận đô thị loại II |Báo anh Niên

Trang 28

Đô thị tại Bình Phước

Đô thị tại Bình Phước là nhữngđô thị tại tỉnhBình

Phước, được các cơ quan nhà nước ởViệt Namcó thẩm

quyền ra quyết định thành lập Mặc dù cấpxã ở Việt

Nam là cấp hành chính tại khu vực Nông thôn Việt

Nam, nhưng tại Bình Phước có 2 xã là các xã huyện

lỵ nên được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Phước công

nhận làđô thịloại V ngày 29-8-2011, đó là các xã: Phú

Nghĩa (huyệnBù Gia Mập) và Tân Khai (huyệnHớn

ản), tiền đề cho việc thành lập các thị trấn cùng tên

Hiện tạiBình Phướccó ba loại đô thị: loại III, loại IV và

loại V Trong đó có 10 đô thị, gồm: 1 đô thị loại III, 2 đô

thị loại IV

11.1 Quá trình hình thành

11.1.1 Thời kỳ khai mở

Lịch sử khai phá vùng đất Bình Phước gắn với tiến

trình khai phá vùng Đông Nam Bộ, rộng ra là cả vùng

đất phía nam của Tổ quốc ời kỳ này, vùng đất Bình

Phước là “ngoại vi” của các trung tâm hành chính - kinh

tế như Đồng Nai, ủ Dầu Một, Sài Gòn - Gia Định…,

do vậy đô thị cũng chưa có điều kiện phát triển Tuy

nhiên, vùng đất Bình Phước cũng là nơi lưu giữ dấu

tích của nền văn minh cổ của Việt Nam và các quốc gia

trong khu vực, từ các dấu tích cổ sử với các di chỉ gắn

liền với nền văn hóa Đông Sơn ở phía bắc Việt Nam, đến

các di chỉ thuộc nền văn minh Phù Nam, Chân Lạp

Đến thế kỷ XVI - XVII, công cuộc khai phá của người

Kinh và các cộng đồng dân cư khác đã diễn ra nhanh

chóng ở vùng Đông Nam Bộ, trong đó có vùng đất Bình

Phước

Nếu coi sự xác lập đơn vị hành chính là sự kiện đánh

dấu cột mốc của việc hình thành các đô thị, thì thời

điểm năm 1698, khi ống suất Nguyễn Hữu Cảnh

được triều đình sai vào kinh lược miền Nam, lập ra

phủ Gia Định được coi là điểm khởi đầu của các đô thị

vùng đất Nam Bộ, trong đó có Bình Phước Ghi nhận

sự kiện này, sách Gia Định thành thông chí của Trịnh

Hoài Đức ghi rõ: “Mùa xuân năm Mậu Dần, đời vua

Hiển Tông Hiển Minh hoàng đế sai ống suất chương

cơ Lễ ành Hầu, Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược

Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập

xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh TrấnBiên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinhPhiên Trấn Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục

để quản trị Khi ấy, đất đai mở rộng cả ngàn dặm, dân

số nhiều hơn bốn vạn hộ, lại chiêu mộ những lưu dân

từ Bố Chánh trở về nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường,

ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếmruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập bộ tịchđinh điền”[1]

Trong vòng nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều đình nhàNguyễn, quy luật “tạo thị” tại vùng đất Nam Bộ đã diễn

ra nhanh chóng, xét dưới góc độ “di dân, lập ấp”, tạodựng các đơn vị hành chính tại các vùng đất mới Năm

1802, triều Nguyễn đổi tên các đơn vị hành chính cũ,theo đó phủ Gia Định được đổi là trấn Gia Định, có nămđơn vị hành chính: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấnĐịnh Tường, trấn Vĩnh anh và trấn Hà Tiên Năm

1808, triều Nguyễn cải “trấn Gia Định” thành “Gia Địnhthành” và bổ nhiệm chức Tổng trấn, cai quản toàn bộvùng đất Nam Bộ Sự kiện thành lập “Gia Định thành”

là một bước tiến quan trọng cho việc xác nhận về mặthành chính của trung tâm đô thị hình thành ở vùng đấtNam Bộ eo các nghiên cứu, vùng đất Bình Phướcngày nay, vào nửa đầu thế kỷ XIX (1808 - 1855), thuộchai huyện Bình An và Phước Bình, phủ Phước Long,trấn Biên Hòa[2], Gia Định thành[3][4]

Nếu xét dưới góc độ “đô thị học” thì vùng đất BìnhPhước lúc đó chỉ là vùng “ngoại vi” của Gia Định thành,chưa tham gia quá trình đô thị hóa Tuy nhiên, sự giatăng về dân cư và việc xác lập đơn vị hành chính cũng

là tiền đề cần thiết cho việc “tạo thị” đối với các vùngđất mới

Về dân cư trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời điểm đó,đến nay chưa có số liệu thật chính xác, song có thểkhẳng định, trên địa bàn Bình Phước tồn tại cộng đồng

đa dân tộc, bao gồm các cư dân tại chỗ và các cư dânnhập cư Người dân tại chỗ Bình Phước bao gồm ngườiXtiêng, Khmer, Mnông, trong đó phần lớn là ngườiXtiêng Người dân nhập cư là người Kinh, người Hoa…Nếu các dân tộc tại chỗ gắn bó với rừng, khai thác cácnguồn lợi của tài nguyên rừng, trồng rẫy và một sốnghề thủ công có tính “tự cấp tự túc”, thì cộng đồngngười Kinh và người Hoa đến vùng đất mới để khai phá,

Trang 29

11.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 21

sản xuất nông nghiệp, đồng thời phát triển thủ công

nghiệp, thương mại Trước khi người Pháp đặt ách đô

hộ, cộng đồng người Kinh và người Hoa ở Bình Phước

chỉ khoảng vài ngàn người, điều này cho thấy các hoạt

động kinh tế phi nông nghiệp ở đây cũng chưa phát

triển

11.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc (1862 - 1945)

Công cuộc xâm lăng và khai thác thuộc địa của thực

dân Pháp ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX trở đi là

nguyên nhân hình thành nên các đô thị hiện đại ở Việt

Nam, trong đó phải kể đến các đô thị lớn như Hà Nội,

Sài Gòn, Nam Định, Hải Phòng, Huế, Đồng Nai, Cần

ơ, v.v Vùng Đông Nam Kỳ cũng đặt trong tiến trình

đô thị hóa, song chỉ tập trung ở các trung tâm hành

chính, chính trị, kinh tế lớn 12 ời kỳ này, vùng đất

Bình Phước đã có chuyển biến nhất định về kinh tế - xã

hội do tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực

dân Pháp, song quá trình này diễn ra muộn và chậm

hơn so với các trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội

như Sài Gòn - ủ Dầu Một - Biên Hòa Xét dưới góc

độ “tạo thị” của quá trình đô thị hóa, có thể khái quát

một vài đặc điểm nổi bật ở vùng đất Bình Phước thời

kỳ 1862 - 1945 như sau:

ứ nhất, công cuộc bình định nhằm thiết lập quyền

cai trị và khai thác của thực dân Pháp diễn ra ở vùng

đất Bình Phước gặp nhiều khó khăn, một mặt do vùng

này xa trung tâm, mặt khác là sự chống đối, phản kháng

quyết liệt của nhân dân địa phương Phải đến giữa thập

niên 1920 trở đi, thực dân Pháp mới bắt đầu “cai trị”

được vùng đất kiên cường này Đến năm 1925, thực dân

Pháp mới tổ chức được các đơn vị hành chính đầu tiên

trên địa bàn Bình Phước, gồm lỵ sở Chơn ành, tổng

Hớn ản (7 làng người Kinh, 36 làng dân tộc thiểu

số), tổng Bù Đốp (1 làng người Kinh, 8 làng người dân

tộc thiểu số) Tổng số dân của hai tổng Hớn ản và

Bù Đốp thời điểm này là 5.896 người (778 người Kinh

và 5.118 người dân tộc thiểu số)[5] Như vậy, người dân

tộc thiểu số chiếm tới 86,82%, trong khi số lượng người

Kinh đến vùng đất này chưa nhiều Tình hình đã đổi

khác khi các đồn điền cao su được mở ra ngày càng

nhiều trên địa bàn Bình Phước từ cuối thập niên 1920,

đầu thập niên 1930 trở đi Lao động nhập cư đến Bình

Phước hầu hết là công nhân làm việc trong các đồn điền

cao su của tư bản Pháp Họ là những người dân nghèo

đến từ miền Bắc, miền Trung Nếu tính cả tỉnh ủ Dầu

Một (gồm Bình Dương, Bình Phước hiện nay) vào thời

điểm năm 1939, dân số đạt 188.088 người, tương đương

với dân số của Biên Hòa, Sài Gòn và vượt xa dân số tỉnh

Tây Ninh[6]

ứ hai, sự hình thành các đồn điền cao su gắn với việc

hình thành các điểm dân cư tập trung là yếu tố chủ

yếu trong tiến trình “tạo thị” ở vùng đất Bình Phước

thời kỳ Pháp thuộc Có thể nói, “cơn khát cao su” được

“thỏa mãn” trên vùng đất Bình Phước trong các thập

niên 1920 - 1930, đã tạo động lực thúc đẩy sự biến đổi

về kinh tế - xã hội tại vùng đất xa xôi, vốn bị coi là

“rừng thiêng nước độc” này

Trước hết, để bảo vệ an ninh cho công cuộc khai thácthuộc địa, các đơn vị hành chính sở tại được thiết lập.Địa chí ủ Dầu Một năm 1910 đã mô tả khái quát nềnhành chính của tỉnh như sau:

“Việc hành chính của tỉnh được bảo đảm bởi một quanchức hành chính của tổ chức dân sự Đông Dương; cótỉnh trưởng, được phụ tá bởi một vị phó, một nhân viênvăn phòng, một kế toán, những thư ký và các phiêndịch người bản xứ

Một phái đoàn đại diện dưới sự quản lý của một ngườichâu Âu được thành lập ở Hớn ản ở xứ Mọi, mộtnhân viên kiểm lâm cũng được đặt ở đây an chứchành chính vừa mới yêu cầu bãi bỏ nhân viên kiểmlâm và chuyển đến trạm Bù Đốp được quản lý bởi mộtngười châu Âu và lệ thuộc vào (chịu sự quản lý) củaHớn ản: ực ra đó là một bảo an binh đứng đầutrạm (đồn bót) Bù Đốp Trạm này ở xứ Xtiêng, nằmgiữa những khu rừng đẹp, trong khi Hớn ản bị chìmtrong biển tre Tỉnh được chia thành 12 vùng: 6 tổngngười Việt và 6 tổng người Mọi, người ta tính được cótới 78 làng Việt và khoảng 50 làng Mọi Những cơ quanhành chính khác ở ủ Dầu Một được đại diện bởi một

vị thu thuế, một giáo sư, các nhân viên kiểm lâm, hainhân viên hải quan, một ở ủ Dầu Một và một ở Lái

iêu, một vị hiến binh (viên sen đầm) làm chức năngcủa một tên cò.1 Một kỹ sư lục bộ người bản xứ nhậnlãnh nhiệm vụ bảo quản các con đường thuộc tỉnh vàtrông coi công việc khác được tiến hành ở đây”.[7]Đoạn mô tả trên cho thấy một hệ thống hành chínhkhá hoàn chỉnh và gọn nhẹ được chính quyền thực dânthiết lập tại ủ Dầu Một, trong đó có địa bàn BìnhPhước hiện nay

Cùng với việc thiết lập hệ thống hành chính, các tuyếnđường giao thông nội vùng và liên vùng có một vai tròhết sức quan trọng để mở mang và khai thác các đồnđiền cao su ở Bình Phước Hệ thống đường nội bộ đãđược hình thành tại các đồn điền Xa Trạch, Hớn ản,

ản Lợi, Xa Cam…, có vai trò không chỉ trong việc

đi lại trong đồn điền mà còn kết nối ra bên ngoài Cáccon đường huyết mạch số 13, 14 được thực dân Phápxây dựng trong các thập niên 1920 - 1930 có vai trò kếtnối giữa Bình Phước với các vùng trong khu vực và cảnước Bên cạnh đó, các tuyến đường nội vùng, kết nốiBình Phước với các địa phương khác, như đường từ SởSao lên Phước Long, đường từ ủ Dầu Một lên Chơn

ành, Bình Long, đường từ Bù Đốp đến ngã ba BiênGiới…, đã hoàn chỉnh hơn hệ thống đường bộ, phục vụnhu cầu giao thương ở Bình Phước và các vùng lân cận.Đường sắt cũng được xây dựng khá sớm tại Bình Phước.Tuyến đường sắt nội bộ đầu tiên được xây dựng năm

1923, dài 3,5 km, nối đồn điền cao su và nhà máychế biến mủ cao su thuộc Công ty cao su Viễn Đông(CEXO) Đáng chú ý là tuyến đường sắt huyết mạch nốiliền Sài Gòn - Lộc Ninh - miền Trung Đông Dương có

Trang 30

Sự hiện diện và lan tỏa của hệ thống giao thông trên

địa bàn Bình Phước đã tạo tiền đề, điều kiện cần thiết

cho quá trình đô thị hóa ở vùng đất mới này

ứ ba, quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

ở Bình Phước cũng đã bắt đầu hình thành và phát triển

nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong đời sống kinh tế

- xã hội Các cơ sở đồn điền, đại lý cung cấp dịch vụ

bưu điện, vật liệu xây dựng, những tiệm tạp hóa bán

các hàng nhu yếu phẩm, cửa hàng bán lương thực, thực

phẩm, các chợ địa phương…, là những cơ sở thương mại

- dịch vụ tồn tại song song với những hoạt động kinh

tế khác của Bình Phước, tạo nên cơ sở kinh tế - xã hội

của quá trình “tạo thị” ở vùng đất này

11.1.3 Thời kỳ Chiến tranh Đông Dương

và Chiến tranh Việt Nam

Giai đoạn 1945 - 1954, vùng đất Bình Phước vẫn là vùng

“ngoại vi” của các đô thị ở Đông Nam Bộ, kinh tế chủ

yếu là nông nghiệp - lâm nghiệp, hệ thống kết cấu hạ

tầng hầu như chưa có sự chuyển biến đáng kể, ngoài

việc tôn tạo, sửa chữa các con đường giao thông đã được

xây dựng từ trước, phục vụ nhu cầu quân sự và đi lại

của chính quyền thực dân

Trong giai đoạn này, quá trình đô thị hóa trên địa bàn

Bình Phước hầu như không đáng kể êm vào đó, Bình

Phước còn là nơi tranh chấp ở thế cài răng lược giữa ta

và địch, mức độ ảnh hưởng của chiến sự ngày càng gia

tăng đã ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế và

đô thị hóa ở địa bàn này

Về phương diện hành chính, năm 1956, chính quyền Sài

Gòn quyết định tách tỉnh ủ Dầu Một thành hai tỉnh

Bình Dương và Bình Long, tách tỉnh Biên Hòa thành

hai tỉnh Biên Hòa và Phước Long, trong đó Bình Long

và Phước Long thuộc địa bàn tỉnh Bình Phước ngày

nay.[8]

Về phương diện “tạo thị”, giai đoạn 1954 - 1975 đánh

dấu sự hình thành hai đô thị Bình Long và Phước Long

dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội

và quân sự hóa trong hoàn cảnh chiến tranh xâm lược

của đế quốc Mỹ Đây là thời kỳ kinh tế hàng hóa đã

phát triển khá nhanh trên địa bàn Bình Phước với các

hoạt động sản xuất kinh doanh, các cơ sở thương mại

- dịch vụ phục vụ các yêu cầu quân sự và dân sự Hệ

thống giao thông nội vùng và liên vùng được cũng cố

và phát triển, đặc biệt là con đường huyết mạch nối liền

Sài Gòn - Lộc Ninh, đến Bình Long, Phước Long và các

địa điểm khác Sự hiện diện của hai sân bay quân sự ở

Lộc Ninh và Phước Long không chỉ đáp ứng yêu cầu

“bình định” của chính quyền Sài Gòn, mà còn làm đa

dạng hơn phương tiện giao thông ở Bình Phước

Đặc điểm nổi bật của vùng đất Bình Phước thời kỳ 1954

miền Nam Việt Nam Do vậy, cư dân trên vùng đất BìnhPhước thường biến động, đặc biệt là dân cư tại các trungtâm đô thị ời kỳ 1954 - 1975, dân số trên địa bàn BìnhPhước có sự gia tăng đáng kể, với các hoạt động kinh

tế tương đối đa dạng, tạo điều kiện kinh tế - xã hội choviệc hình thành các đô thị mới

Đô thị Bình Long [9]

Tỉnh Bình Long được thành lập ngày 22-10-1956, cótỉnh lỵ là An Lộc, diện tích là 2.334km2, nằm ở phíabắc Sài Gòn (cách Sài Gòn khoảng 111 km); đông vàđông nam giáp tỉnh Phước Long, tây bắc giáp tỉnh TâyNinh, tây nam giáp Campuchia, phía nam giáp tỉnhBình Dương và phía bắc giáp Campuchia

Tỉnh Bình Long, tại thời điểm năm 1967, có ba quận là

An Lộc,Lộc NinhvàChơn ành, gồm 54 xã, 224 thôn,dân số khoảng 80.000 người (năm 1960 là 65.159 người)

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ủy ban thống nhất tỉnh

Bình Long (năm 1969) Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (tỉnh Bình Long)

Vào thế kỷ 19, vùng đất tỉnh Bình Phước còn là vùngrừng rậm thuộc đạo ang Phong, mặc dù thuộc lãnhthổ nhà Nguyễnnhưng nằm ở rìa ranh giới các tỉnhGia ĐịnhvàBiên Hòanhà Nguyễn á trìnhđô thịhóatại Bình Phước chỉ bắt đầu khoảng vào đầu thế kỷ

20, thờiPháp thuộc, khi đó vùng đất này nằm trong 2quậnHớn ảnvàBù Đốpcủa tỉnh ủ Dầu Một Năm

1936,tỉnh ủ Dầu Mộtthuộc xứNam KỳcủaLiên bangĐông Dương, có 3 quận làChâu ành, Hớn ản và

Bù Đốp[10] Từ đó manh nha hình thành các trung tâm

đô thị hành chính có vai trò là quận lỵ của hai quậnnày

• Năm1956,Việt Nam Cộng Hòathiết lập một sốtỉnh mới ở miền Nam Hai tỉnh Bình Long vàPhước Longlà tiền thân của tỉnh Bình Phước Với

2đô thịlà tỉnh lị: quận An Lộc thuộc tỉnhBìnhLongvà quận Phước Bình thuộc tỉnhPhước Long

• Năm1994, thành lập thị trấn An Lộc và thị trấnChơn ành thuộc huyện Bình Long; thành lậpthị trấn Đồng Xoài thuộc huyệnĐồng Phú; thànhlập thị trấn Lộc Ninh thuộc huyệnLộc Ninh; thànhlập thị trấn Phước Bình và thị trấn ác Mơ thuộchuyện Phước Long; thành lập thị trấn Đức Phongthuộc huyệnBù Đăng.[11]

• Năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định90/1999/NĐ-CP thành lậpthị xã Đồng Xoàitrên

cơ sở tách ra từ huyệnĐồng Phú[12]

• Năm2002, thành lập thị trấn Tân Phú thuộc huyệnĐồng Phútrên cơ sở một phần xã Tân Lợi.[13]

Trang 31

11.4 THAM KHẢO 23

• Năm2005, thành lập thị trấn anh Bình thuộc

huyệnBù Đốptrên cơ sở xã anh Hòa.[14]

• Năm2009, theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của ủ

tướng Chính phủ, thành lậpthị xã Bình Longtừ

một phần huyện Bình Long vàthị xã Phước Long

từ một phần huyện Phước Long[15]

• Năm2011, công nhận xã Phú Nghĩa (huyệnBù Gia

Mập) và xã Tân Khai (huyệnHớn ản) là đô thị

loại V

• Năm2014, thị xã Đồng Xoài được công nhận làđô

thị loại IIItrực thuộc tỉnhBình Phước

11.2 Các đô thị

11.3 Chú thích

[1] Trần Bạch Đằng (chủ biên): Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd,

tr.161

[2] Năm 1832, triều Nguyễn bãi bỏ chức Tổng trấn, chia

thành 6 tỉnh ở Nam Kỳ, gồm Gia Định, Biên Hòa, Định

Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên

[3] Trần Bạch Đằng (chủ biên): Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd,

tr.164-208

[4] Bùi ị Huệ: Những biến đổi kinh tế - xã hội trên địa bàn

tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc (1862 - 1945), Tlđd

[5] Số liệu tính toán từ: PGS.TS Phan Xuân Biên: ủ Dầu

Một - Bình Dương đất lành chim đậu, Nhà xuất bản Văn

nghệ ành phố Hồ Chí Minh, tr.72; Niên giám thống

kê Đông Dương, năm 1925

[6] [Dân số Sài Gòn năm 1939 là 193.862 người, Biên Hòa

là 183.721 người và Tây Ninh là 134.563 người (Nguồn:

Trần Bạch Đằng (chủ biên): Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd,

tr.472)

[7] Địa chí ủ Dầu Một năm 1910 (bản dịch), in trong ủ

Dầu Một xưa qua Địa chí 1910 và bưu ảnh Hội khoa học

lịch sử Bình Dương, 2007, tr.6

[8] Sắc lệnh số 143/NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống

Việt Nam Cộng hòa, tổng hợp từ: Tài liệu lưu trữ tại

Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

[9] Tổng hợp từ tài liệu Lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc

gia II và Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

[10] Annuaire statistique de L'Indochine

[11] Xem xét công nhận thị trấn Đức Phong thành Đô thị

XÃ, THỊ TRẤN THUỘC CÁC HUYỆN CHƠN THÀNH,BÌNH LONG, LỘC NINH, BÙ ĐĂNG VÀ BÙ ĐỐP, TỈNHBÌNH PHƯỚC

[15] Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giớihành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Chơn ành,huyện Bình Long, huyện Phước Long; điều chỉnh địagiới hành chính huyện Bình Long, huyện Phước Long

để thành lập thị xã Bình Long, thị xã Phước Long; thànhlập các phường trực thuộc thị xã Bình Long và thị xãPhước Long, tỉnh Bình Phước do Chính phủ ban hành

[16] kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009

[17] ị xã Đồng Xoài là đô thị loại III | Báo Bình PhướcOnline

[18] QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt đồ án điều chỉnh, mở rộngquy hoạch chung xây dựng thị xã Đồng Xoài, tỉnh BìnhPhước đến năm 2025 | ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNHPHƯỚC

[19] QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt y hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước thời

kỳ đến năm 2020 | ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BìnhPhước

[20] QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt Đồ án điều chỉnh quyhoạch chung xây dựng thị trấn Chơn ành, huyệnChơn ành, tỉnh Bình Phước | UBND tỉnh Bình Phước

[21] CÔNG NHẬN PHÚ NGHĨA, TÂN KHAI LÀ ĐÔ THỊLOẠI V | CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BÌNHPHƯỚC

11.4 Tham khảo

ông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của

Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dungcủa Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 củaChính phủ về việc Phân loại đô thị

Trang 32

Đô thị tại Đồng Nai

Các đô thị tại Đồng Nai là nhữngành phố,thị xã,

thị trấn;xãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra

quyết định thành lập Hiện tạiĐồng Naicó ba loại đô

thị: loại I, loại III và loại V Trong đó có 11 đô thị, gồm:

1 đô thị loại I, 1 đô thị loại III

12.1 Quá trình hình thành

• Lịch sử hình thành đô thị tạiĐồng Naigấn liền

với quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam của

các vua, chúa từ thế kỷ XVII

• Năm1679,nhà MinhởTrung ốcsụp đổ, Tổng

binh Trần ượng Xuyên trấn thủ các châu Cao,

Lôi, Liêm không khuất phụcnhà anhđã đem

50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia

quyến đến xin thuần phụcchúa Nguyễnởuận

Hóa Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa

Nguyễn Phúc Chuđã thu nhận họ và cho vào khai

khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố

ngày nay) Họ biếnCù Lao Phốtrên sông Đồng

Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát

triển

• NămMậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai ống suất

Chưởng cơ Lễ ành HầuNguyễn Hữu Cảnhvào

kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai

hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùngNam

Bộrộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành

phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước

Long(Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyệnTân

Bình(Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn.

• Năm1802, dinh Trấn Biên đượcvua Gia Longđổi

thành trấnBiên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủGia

Định Năm1808, trấn Biên Hòa thuộc thànhGia

Định, đặtPhước Longthành phủ, đặt ra các tổng

Phước Chính, Phước An, Bình An, Long ành

làm huyện Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua

Minh Mạngđổi thành tỉnhBiên Hoà

• Năm 1956, Việt Nam Cộng Hòa thành lập tỉnh

Biên Hòa với tỉnh lị làthị xã Biên Hòa và Long

Khánh với tỉnh lị làthị xã Xuân Lộc

• Năm1976,thị xã Biên Hòađược nâng cấp thànhthành phố Biên Hòa- đô thị loại 3, trực thuộc tỉnhĐồng Nai

• Ngày17 tháng 1năm1984, thành lập thị trấn PhúHiệp thuộc huyệnĐịnh ántrên cơ sở giải thể

xã Phú Hiệp; một năm sau (1-2-1985), thị trấn PhúHiệp đổi tên thành thị trấn Định án

• Năm1985, chuyển huyệnVĩnh Cửuthành thị xãVĩnh An[1]

• Năm1992, thành lập thị trấn Tân Phú thuộc huyệnTân Phú

• Năm1993,thành phố Biên Hòađược công nhận là

đô thị loại 2, trực thuộctỉnh Đồng Nai; thành lậpthị trấn Gia Ray thuộc huyệnXuân Lộc

• Ngày29 tháng 8 năm1994, giải thể thị xã Vĩnh

An để thành lập lại huyệnVĩnh Cửu; thành lậpthị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu và thị trấnTrảng Bom thuộc huyện ống Nhất (từ năm 2003thuộc huyện Trảng Bom)

• Ngày21 tháng 8năm2003, Chính phủ ban hànhNghị định số 97/2003/NĐ - CP, thành lậpthị xãLong Khánhvà các phường, xã trực thuộcthị xãLong Khánh[2]

• Ngày30 tháng 12năm2015,thành phố Biên Hòađược công nhận làđô thị loại 1 và thị xã LongKhánhđược công nhận làđô thị loại 3, trực thuộctỉnh Đồng Nai

12.2 Các đô thị 12.3 Xem thêm

1 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yếtđịnh số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hànhdanh mục các đơn vị hành chính Việt Nam thểhiện trên bản đồ

Trang 33

12.5 THAM KHẢO 25

2 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yết

định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam thể

yết của Chính phủ về điều chỉnh địa giới đơn

vị hành chính được ban hành và thực hiện từ ngày

01/7/2004 đến hết ngày 31/12/2009

4 Cập nhật danh mục các xã, các huyện công ích

tương ứng theo các đợt công bố của Bộ ông tin

và Truyền thông (Đợt 1: quyết định

thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh

Đồng Nai, Cổng ông tin điện tử Chính phủ

[3] kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009

[4] NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC THÔNG QUA ĐỀ ÁN THÀNH

LẬP PHƯỜNG HÓA AN THUỘC THÀNH PHỐ BIÊN

HÒA, THỊ TRẤN HIỆP PHƯỚC THUỘC HUYỆN

NHƠN TRẠCH VÀ THỊ TRẤN LONG GIAO THUỘC

HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI | HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

12.5 Tham khảo

ông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của

Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung

của Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 của

Chính phủ về việc Phân loại đô thị

Trang 34

Đô thị tại Hà Tĩnh

Đô thị tại Hà Tĩnh là nhữngđô thị Việt Namtại tỉnhHà

Tĩnh, được các cơ quan nhà nước ởViệt Namcó thẩm

quyền ra quyết định thành lập

Hiện tạiHà Tĩnhcó ba loại đô thị: loại III, loại IV và

loại V Với 14 đơn vị đô thị, trong đó gồm: 1 đô thị loại

III, 2 đô thị loại IV

13.1 Quá trình hình thành

• Năm1831, vuaMinh Mạngnhà Nguyễn đã chia

trấn Nghệ Anthành 2 tỉnh:Nghệ AnvàHà Tĩnh

Khi đó xã Trung Tết, huyện ạch Hà, phủ Hà

Hoa, được chọn làm nơi đặt trụ sở tỉnh lỵ tỉnhHà

• Năm 1977, thành lập thị trấn nông trường 20-4

thuộc huyệnHương Khê.[2]

• Năm1986, thành lập thị trấn Cẩm Xuyên thuộc

huyện Cẩm Xuyên[6] Cùng năm, thành lập thị

trấn Kỳ Anh và một số xã thuộc huyệnKỳ Anh.[7]

• Năm 1988, thành lập thị trấn Nghi Xuân thuộc

huyệnNghi Xuân[8]

• Năm 1989, thành lập thị trấn Phố Châu thuộchuyệnHương Sơn[9]

• Năm1992,thị xã Hồng Lĩnhđược thành lập trên

cơ sở thị trấn Hồng Lĩnh, một phần thuộc huyệnĐức ọvà huyệnCan Lộc

• Năm 1994, thành lập thị trấn Xuân An, huyệnNghi Xuân.[10]

• Năm1997, thành lập thị trấn Tây Sơn thuộc huyệnHương Sơn.[11]

• Năm1999, sáp nhập toàn bộ diện tích và dân sốcủa xã Đại Lộc vào thị trấn Can Lộc, huyện CanLộc và đổi tên thành thị trấn Nghèn.[12]

• Năm2001, sáp nhập xã ạch ượng và thị trấnCày để thành lập thị trấn ạch Hà thuộc huyện

ạch Hà.[13]

• Năm2003, thành lập các thị trấn Vũ ang thuộchuyện Vũ ang và thị trấn iên Cầm thuộchuyệnCẩm Xuyên[14]

• Năm 2004, giải thể các thị trấn nông trường đểthành lập xã, thị trấn thuộc các huyện ạch Hà

và Hương Khê[15]

• Năm2007, ủ tướng Chính phủ -Nguyễn TấnDũng- đã ký nghị định số 89/2007/NĐ-CP về việcnâng cấp thị xã Hà Tĩnh thành thành phố HàTĩnh[16]

• Năm2015, tách thị trấn Kỳ Anh và 11 xã để thànhlậpthị xã Kỳ Anh

13.2 Các đô thị 13.3 Chú thích

[1] yết định số 677-NV ngày 07/12/1968 của Bộ trưởng

Bộ Nội vụ[2] yết định số 619-VP18 ngày 23/02/1977 của Bộ trưởngPhủ ủ tướng

Trang 36

Đô thị tại Quảng Ninh

Đô thị tại ảng Ninh là những thành phố,thị xã,thị

trấnđược các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết

định thành lập và xếp loại Hiệnảng Ninhđang có

năm loại đô thị: từ loại I đến loại V Trong số 14 đô thị

có 1 đô thị loại I (Hạ Long), 2 đô thị loại II (Uông Bí,

Cẩm Phả), 1 đô thị loại III (Móng Cái), 4 đô thị loại IV

(ảng Yên, Đông Triều, Cái Rồng, Trới), 6 đô thị loại

V (Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, ảng Hà,

Cô Tô)

14.1 Quá trình hình thành

Năm 1883, Pháp chiếm vùng vịnh Hạ Long, họ tiến

hành khai thác than ở các mỏ trên bờ vịnh Có ý kiến

cho rằng do trên các đảo ở đây có nhiều cây gai nên

người Pháp gọi là lle des brouilles, phiên âm là Hon

Gai hay Hon Gay, sau đổi thànhHòn Gai

Từ năm1906, Móng Cái là tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh

cũ[1]

SauCách mạng tháng 8 năm 1945,thị xã Hồng Gaithủ

phủ của vùng mỏ Cuối năm1946, người Pháp tái chiếm

Hòn Gai Sauhiệp định Genève 1954,thị xã Hồng Gai

lại là thủ phủ của khuHồng ảng Ngày17 tháng 6

năm1958, xã ành Công thuộc huyệnHoành Bồđược

sáp nhập vào thị xã Hồng Gai[2]

Vào cuốithời Pháp thuộc, Móng Cái là thủ phủ củaXứ

Nùng tự trịtừ năm 1947 đến 1954.[3]

Ngày1 tháng 2năm1955, thị xã Móng Cái được tái lập

và trở thành tỉnh lị của tỉnhHải Ninh Nhưng từ ngày

30 tháng 10năm1963, sau khi tỉnhHải Ninhhợp nhất

với khuHồng ảngthành tỉnhảng Ninh[4], thị xã

Móng Cái trở thành thị trấn Móng Cái, là huyện lỵ của

huyệnHải Ninh

Uông Bí trực thuộc Khu Hồng ảng (một tỉnh cũ,

trước khi sáp nhập với Hải Ninh thành tỉnh ảng

Ninh), gồm 3 xã: Đồng Tiến, Nam Khê, Phương Nam

Ngày26 tháng 9năm1966, chuyển 2 xã ượng YênCông và Phương Đông thuộchuyện Yên Hưngvề thị

xã Uông Bí quản lý[5]

Ngày23 tháng 2năm1977, thành lập thị trấn Ba Chẽthuộc huyệnBa Chẽvà thị trấn Bình Liêu thuộc huyệnBình Liêu[6]

Ngày16 tháng 1năm1979, chia thị trấn Bãi Cháy thành

2 thị trấn: Bãi Cháy và Giếng Đáy[7].Ngày10 tháng 9năm1981, thành lập thị trấn Cái Rồngthuộc huyệnCẩm Phả(từ năm 1994 thuộc huyệnVânĐồn)[8]

Ngày27 tháng 12năm1993, Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 102/CP,thành phố Hạ Longđược chính thứcthành lập trên cơ sởthị xã Hòn Gai[9]

Ngày 20 tháng 7năm1998,ủ tướng Chính phủ raNghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã MóngCái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số củahuyện Hải Ninh[10]

Ngày25 tháng 8năm1999, thành lập thị trấn Cô Tôthuộchuyện Cô Tô[11]

Ngày26 tháng 9năm2003, thành phố Hạ Long đượccông nhận làđô thị loại 2[12]

Năm2005, thị xã Cẩm Phả được công nhận là đô thịloại III

Ngày1 tháng 2năm2008, thị xã Uông Bí đã đượcBộXây dựngra quyết định công nhận làđô thị loại III[13].Ngày24 tháng 09năm2008, Chính phủ ban hành Nghịđịnh 03/NĐ-CP thành lậpthành phố Móng Cáitrên cơ

sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã MóngCái[14]

Năm2010, thị trấn ảng Hà, huyện Hải Hà được côngnhận là đô thị loại V.[15]

Ngày25 tháng 2năm2011, Chính phủ ban hành Nghịquyết số 12/NQ-CP thành lậpthành phố Uông Bítrên

cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xãUông Bí[16]

Ngày18 tháng 5năm2011,Bộ Xây dựngcông nhận thịtrấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh ảng Ninh là

đô thị loại IV

Trang 37

14.4 CHÚ THÍCH 29

Ngày25 tháng 11năm2011, Chính phủ ban hành Nghị

quyết số 100/NQ-CP tái lậpthị xã ảng Yêntrên cơ

sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Yên

Hưng[17]

Ngày21 tháng 2năm2012, Chính phủ ban hành Nghị

quyết số 04/NQ-CP thành lập thành phố Cẩm Phả

thuộctỉnh ảng Ninhtrên cơ sở toàn bộdiện tíchtự

nhiên,dân sốvà các đơn vị hành chính trực thuộc của

thị xã Cẩm Phả.[18]

Năm2012, thị trấn Cái Rồng (huyện Vân Đồn) và thị

trấn Đầm Hà (huyện Đầm Hà) được công nhận đạt đô

thị loại V.[19]

Ngày10 tháng 10năm2013, Chính phủ ban hành yết

định số 1838/QĐ-TTg công nhận thành phố Hạ Long là

đô thị loại 1trực thuộc tỉnhảng Ninh[20]

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, ủ tướng Chính phủ

Nguyễn Tấn Dũngđã ký quyết định số 2306/QĐ-TTg

về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnhảng

Ninhlà đô thị loại II[21]

Ngày7 tháng 7năm2014,Bộ Xây dựngđã công nhận

đô thị Đông Triều mở rộng làđô thị loại IVtrực thuộc

tỉnhảng Ninh.[22]

Ngày12 tháng 2năm2015,Bộ Xây dựngđã công nhận

thị trấn Trới là đô thị loại IVtrực thuộc tỉnhảng

Ninh.[23]

Ngày11 tháng 3năm2015,Ủy ban ường vụ ốc hội

ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13 thành lập

thị xãĐông Triềutrên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên

và dân số của huyện Đông Triều

Ngày17 tháng 4năm2015,ủ tướng Chính phủban

hành yết định số 505/QĐ-TTg công nhận thành phố

Cẩm Phả làđô thị loại IItrực thuộc tỉnh ảng Ninh[24]

áng 8năm 2015, thị trấn Cái Rồng mở rộng được

công nhận đạt đô thị loại IV.[25]

14.2 Các đô thị

14.3 Xem thêm

1 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yết

định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam thể

hiện trên bản đồ

2 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yết

định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam thể

yết của Chính phủ về điều chỉnh địa giới đơn

vị hành chính được ban hành và thực hiện từ ngày01/7/2004 đến hết ngày 31/12/2009

4 Cập nhật danh mục các xã, các huyện công íchtương ứng theo các đợt công bố của Bộ ông tin

và Truyền thông (Đợt 1: quyết định BBCVT, Đợt 2: QĐ 09/2007/QĐ-BBCVT và Đợt3: QĐ số 15/2008/QĐ-BTTTT, Đợt 4: ông tư05/2009/TT-BTTTT, Đợt 5: ông tư 21/2009/TT-BTTTT)

41/2006/QĐ-14.4 Chú thích

[1] Móng Cái là tỉnh lị của tỉnh Hải Ninh cũ từ 1906., ế

hệ trẻ anh Hóa

[2] Nghị định 302-TTg năm 1958 về việc sát nhập xã ànhCông, thuộc huyện Hoành Bồ vào thị xã Hòn Gai, khuHồng ảng

[3] Ngày 02/8/1954 lá cờ đỏ sao vàng của quần chúng cáchmạng trong đã tung bay trên cột cờ đỉnh thành Tổ Sơn,UBND ành phố Móng Cái

[4] Nghị quyết về việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng

ảng và sáp nhập xã Hữu Sản thuộc huyện Đình Lập,tỉnh Hải Ninh vào huyện Sơn Động, tỉnh Hà Bắc

[5] yết định 184-CP năm 1966 về việc đặt xã ượng YênCông, xã Phương Đông và thôn Chập Khê (huyện YênHưng) trực thuộc thị xã Uông Bí, tỉnh ảng Ninh

[6] yết định 614-VP18 thành lập thị trấn Bình Liêuhuyện Bình Liêu; thị trấn Ba Chẽ huyện Ba Chẽ; thị trấnĐình Lập huyện Đình Lập, tỉnh ảng Ninh

[7] yết định 17-CP năm 1979 phân vạch địa giới hànhchính một số xã, thị trấn và đổi tên một số xã và thịtrấn thuộc tỉnh ảng Ninh

[8] yết định 63-HĐBT phân vạch địa giới xã, phường thịtrấn thuộc tỉnh ảng Ninh

[9] Nghị định về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộctỉnh ảng Ninh, Nghị định Chính phủ

[10] Nghị định 52/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị xãMóng Cái thuộc tỉnh ảng Ninh, Chính phủ Việt Nam.[11] Nghị định 83/1999/NĐ-CP thành lập phường, thị trấnthuộc thị xã Uông Bí và huyện Cô Tô, tỉnh ảng Ninh

[12] yết định 199/2003/QĐ-TTg về việc công nhận thànhphố Hạ Long là đô thị loại II

[13] Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận Ưông Bí là đô thịloại III, Bộ Xây dựng

[14] Nghị định 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố MóngCái thuộc tỉnh ảng Ninh

Trang 38

[16] Nghị quyết số 89/2011/NQ-CP ngày 24/8/2011về việc

thành lập các phường: Phương Đông, Phương Nam

thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh ảng Ninh

[17] Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành

lập thị xã ảng Yên và thành lập các phường thuộc thị

[20] yết định 1838/QĐ-TTg năm 2013 công nhận thành

phố Hạ Long là đô thị loại I trực thuộc tỉnh ảng Ninh

do ủ tướng Chính phủ ban hành

[21] yết định 2306/QĐ-TTg năm 2013 công nhận thành

phố Uông Bí là đô thị loại II trực thuộc tỉnh ảng Ninh

do ủ tướng Chính phủ ban hành

[22] “ông qua Đề án công nhận Đông Triều là đô thị loại

IV trực thuộc tỉnh ảng Ninh” Báo ảng Ninh Truy

cập 6 tháng 10 năm 2015

[23] “yết định công nhận thị trấn Trới là đô thị loại IV”

(PDF)

[24] yết định số 505/QĐ-TTg của ủ tướng Chính phủ:

Về việc công nhận thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II

trực thuộc tỉnh ảng Ninh

[25] “ẩm định đề án Đề nghị công nhận thị trấn Cái Rồng

mở rộng đạt đô thị loại IV”

[26] kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009

14.5 Tham khảo

ông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của

Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung

của Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 của

Chính phủ về việc Phân loại đô thị

Trang 39

Chương 15

Đô thị tại Tây Ninh

Các đô thị tại Tây Ninh là nhữngành phố,thị trấn

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định

thành lập Hiện tạiTây Ninhcó hai loại đô thị: loại III

và loại V Trong đó có 9 đô thị, gồm có 1 đô thị loại III

15.1 Quá trình hình thành

Năm 1838,vua Minh Mạngđổi Phiên An tỉnh thành là

tỉnh Gia Địnhgồm có 3 phủ, 7 huyện Các phủ là Phủ

Tân Bìnhcó 3 huyện, PhủTân Ancó 2 huyện, Phủ Tây

Ninh có 2 huyện là: huyện Tân Ninh và huyện ang

Hóa.

• Huyện Tân Ninh, lỵ sở kiêm phủ thành nằm ở

thôn Khang Ninh (nay thuộc thị xã Tây Ninh)

Huyện Tân Ninh, được đặt ra năm Minh Mạng thứ

17 (1836) Phần đất huyện Tân Ninh phủ Tây Ninh

nhà Nguyễn nay có thể là địa phận phía Bắc của

tỉnh Tây Ninh ngày nay (tức năm 2011) (thành phố

Tây Ninh, huyệnTân Biên, huyệnChâu ành,…),

và có thể bao gồm cả một phần đất phía Bắc

củatỉnh Svay Rieng(khúc giữa tỉnh Svay Rieng)

Campuchia

• Huyện ang Hóa, lỵ sở trước đặt ở thôn Cẩm

Giang sau chuyển sang thôn Long Giang Đất

huyện ang Hóa phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay

có thể là địa phân các huyện phía Nam tỉnh Tây

Ninh (nhưBến Cầu,Gò Dầu,Trảng Bàng,…), các

huyện Đông Bắc tỉnhLong An(nhưĐức Huệ,Hậu

Nghĩa,Mộc Hóa[1],…) và phần phía Nam củatỉnh

Svay Rieng Campuchia

Năm1861, Sau khithực dân Phápchiếm Tây Ninh, việc

cai quản ở 2 huyện được thay thế bằng 2 Đoàn ân

sự đặt tạiTrảng Bàngvà Tây Ninh Năm 1868, hai đoàn

ân sự được thay thế bằng hai Ty Hành chánh Sau

nhiều lần thay đổi, năm 1897 Tây Ninh gồm có 2 quận

làái Bình,Trảng Bàng

Ngày 1 tháng 1năm1900, Toàn quyền Paul Doumer

cho áp dụng nghị định ký ngày20 tháng 12năm1899

đổi các khu tham biện (inspections) là tỉnh (province)

ời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia làm 20 tỉnh để cai

trị và sau đó Cap St Jacques (Vũng tàu) tách ra thànhtỉnh thứ 21 Tây Ninh lúc đó là tỉnh thứ 12

Ngày 9 tháng 12năm 1942, ống đốc Nam kỳ ban

hành Nghị định 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh Sau

Cách mạng áng Támtỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyênranh giới cũ Năm 1950, cắt một phần đất củaái Hiệp

ạnhcũ thành lậpthị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủđiều kiện hoạt động nên sau đó giải thể Sauhiệp địnhGiơnevơnăm1954, thành lập lạiị xã Tây Ninhtrênđịa bàn cũ

Năm1979, thành lập thị trấn Hòa ành thuộc huyệnHòa ành.[2]

Năm1991, thành lập thị trấn Tân Châu thuộc huyệnTân Châu.[3]

Năm1992, thành lập thị trấn Tân Biên thuộc huyệnTânBiên.[4]

Năm1998, thành lập thị trấn Châu ành thuộc huyệnChâu ành.[5]

Năm1999, thành lập thị trấn Dương Minh Châu thuộchuyệnDương Minh Châu.[6]và thị trấn Bến Cầu thuộchuyện Bến Cầu.[7]

Năm2012,Bộ Xây dựngcó yết định số 1112/QĐ-BXD,

công nhận thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, làđô thị loạiIII[8]

Năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 135/NQ-CPchuyển 2 xã Ninh Sơn và Ninh ạnh thành 2 phường

có tên tương ứng và chuyển thị xã Tây Ninh thànhthành phố Tây Ninh[9]

15.2 Các đô thị 15.3 Xem thêm

1 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yếtđịnh số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hànhdanh mục các đơn vị hành chính Việt Nam thểhiện trên bản đồ

2 Công báo chính phủ tháng 3/2007 công bố yết

31

Trang 40

yết của Chính phủ về điều chỉnh địa giới đơn

vị hành chính được ban hành và thực hiện từ ngày

01/7/2004 đến hết ngày 31/12/2009

4 Cập nhật danh mục các xã, các huyện công ích

tương ứng theo các đợt công bố của Bộ ông tin

và Truyền thông (Đợt 1: quyết định

[8] yết định 1112/QĐ-BXD năm 2012 công nhận thị xã

Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là đô thị loại III, Bộ trưởng Bộ

Xây dựng ban hành

[9] Nghị quyết 135/NQ-CP thành lập 2 phường Ninh Sơn,

Ninh ạnh và thành lập thành phố Tây Ninh

[10] kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009

15.5 Tham khảo

ông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của

Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung

của Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 7/5/2009 của

Chính phủ về việc Phân loại đô thị

Ngày đăng: 17/09/2017, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN