Bạn hãy thử quansát biểu đồ hoạt động thực tại của các nhân trong CPUkhi sử dụng phần mềm chiếm nhiều tài nguyên sẽ nhậnthấy sự lãng phí này.[14]Ngược lại với cácphần mềmchiếm tài nguyên
Trang 1Các trang trong thể loại “Phần cứng”
Trang 2Mục lục
1.1 Xem thêm 1
1.2 am khảo 1
1.3 Liên kết ngoài 1
2 Bộ xử lý đồ họa 2 2.1 Lịch sử 2
2.2 Chỉ dẫn 2
2.3 am khảo 2
2.4 Xem thêm 2
2.5 Liên kết ngoài 2
3 CPU đa nhân 3 3.1 Phát triển kiến trúc đa nhân 3
3.2 Công nghệ hỗ trợ 4
3.2.1 Phần cứng 4
3.2.2 Phần mềm 4
3.3 Những giới hạn tồn tại 4
3.4 Đa nhân và ứng dụng 4
3.4.1 Bản quyền phần mềm 4
3.4.2 Tương thích với phần cứng 4
3.4.3 Đa nhân trên máy tính xách tay 5
3.4.4 Khai thác hiệu năng đa nhân 5
3.4.5 Đối nghịch với đa nhân: ị trường PC giá thấp 6
3.4.6 Nhận thức của người sử dụng 6
3.5 Chú thích 7
3.6 am khảo 8
3.7 Xem thêm 8
4 Hệ thống nhúng 9 4.1 Lịch sử 9
4.2 Các đặc điểm 9
4.2.1 Giao diện 10
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.2.2 Kiến trúc CPU 10
4.2.3 iết bị ngoại vi 10
4.2.4 Công cụ phát triển 10
4.2.5 Độ tin cậy 11
4.3 Các kiến trúc phần mềm hệ thống nhúng 11
4.3.1 Vòng lặp kiểm soát đơn giản 11
4.3.2 Hệ thống ngắt điều khiển 11
4.3.3 Đa nhiệm tương tác 11
4.3.4 Đa nhiệm ưu tiên 11
4.3.5 Vi nhân (Microkernel) và nhân ngoại (Exokernel) 12
4.3.6 Nhân khối (monolithic kernels) 12
4.4 am khảo 12
5 Hệ thống trên một vi mạ 13 5.1 am khảo 13
5.2 Liên kết ngoài 13
6 I²C 14 6.1 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động 14
6.2 Ứng dụng 14
6.3 Giao thức 14
6.4 Xem thêm 14
6.5 am khảo 14
6.6 Liên kết ngoài 14
7 IEEE 1394 15 7.1 IEEE 1394 15
7.1.1 IEEE 1394a 15
7.1.2 IEEE 1394b 15
7.2 IEEE 1394 trong máy tính ngày nay 15
7.2.1 IEEE 1394 tích hợp 15
7.2.2 Các bo mạch mở rộng cổng IEEE 1394 16
7.2.3 Ứng dụng và phát triển 16
7.3 am khảo 16
7.4 Xem thêm 16
7.5 Liên kết ngoài 16
8 Máy in laser 17 8.1 Cấu tạo 17
8.2 Nguyên tắc hoạt động 17
8.2.1 Hoạt động 17
8.3 am khảo 17
8.4 Liên kết ngoài 17
Trang 4MỤC LỤC iii
9.1 Đặc điểm của loa máy tính 19
9.1.1 Đặc điểm thiết kế 20
9.1.2 Sự khác biệt với hệ thống loa giải trí dân dụng 20
9.2 Các loại loa máy tính 20
9.3 Các kiểu ngõ tín hiệu đầu vào loa máy tính 20
9.4 Điều khiển loa máy tính 21
9.5 Cách sắp xếp loa hợp lý 21
9.6 Một số loa máy tính khác thường 21
9.7 am khảo 22
9.8 Chú thích 22
10 Màn hình máy tính 23 10.1 Phân loại 23
10.1.1 Màn hình máy tính loại CRT 23
10.1.2 Màn hình máy tính loại tinh thể lỏng 24
10.1.3 Màn hình máy tính loại khác 25
10.2 Các kiểu giao tiếp kết nối của màn hình máy tính 25
10.3 Điều chỉnh màn hình máy tính 25
10.4 Tích hợp thiết bị khác trên màn hình máy tính 26
10.5 am khảo 26
10.6 Xem thêm 26
10.7 am khảo 26
11 Máy ảo 27 11.1 am khảo 27
12 Máy ủ 28 12.1 Các loại máy chủ 28
12.2 Xem thêm 28
12.3 am khảo 28
13 MIDI 29 13.1 Giao thức 29
13.2 Các phương tiện kết nối 29
13.3 Dạng tập tin lưu trữ tiêu chuẩn 29
13.4 Hoạt động 30
13.5 am khảo 30
13.6 Liên kết ngoài 30
14 Nguồn máy tính 31 14.1 Đặc điểm 31
14.2 Nguyên lý hoạt động 31
Trang 5iv MỤC LỤC
14.3 Vai trò 31
14.4 Các kết nối đầu ra của nguồn 32
14.5 y ước màu dây và cấp điện áp trong nguồn máy tính 32
14.6 Công suất và hiệu suất 32
14.6.1 Công suất 32
14.6.2 Hiệu suất 33
14.7 Điều khiển nguồn máy tính 33
14.8 Giải nhiệt trong nguồn máy tính 33
14.9 Lọc nhiễu trong nguồn máy tính 34
14.10 Bộ nguồn máy tính tốt 34
14.11 am khảo 35
15 PCI 36 15.1 Lịch sử phát triển 36
15.2 Các kiểu bus PCI 36
15.3 am khảo 37
15.4 Xem thêm 37
15.5 Liên kết ngoài 37
16 PCI Express 38 16.1 Xem thêm 38
16.2 am khảo 38
17 iết bị khởi động 39 17.1 Xem thêm 39
17.2 am khảo 39
18 iết bị khởi động được 40 18.1 Đặc điểm 40
18.2 Nguyên tắc chung để chế tạo 41
18.3 Ứng dụng 41
18.4 Đọc thêm 41
18.5 am khảo 41
19 Vi xử lý 42 19.1 Lịch sử 42
19.1.1 Những vi mạch tích hợp đầu tiên 42
19.2 Ứng dụng 43
19.3 Xem thêm 43
19.4 am khảo 43
19.5 Liên kết ngoài 43
20 Vỏ máy tính 44 20.1 Các loại vỏ máy tính 44
Trang 6MỤC LỤC v
20.2 Yêu cầu của vỏ máy tính 44
20.3 Các thiết kế liên quan đến tính năng vỏ máy tính 45
20.3.1 Kích thước vỏ máy tính 45
20.3.2 Vật liệu chế tạo 45
20.3.3 Tính chất cứng vững 45
20.3.4 Sự chính xác khi lắp ráp thiết bị 45
20.3.5 Lưu thông gió và tản nhiệt 46
20.3.6 Sự thuận tiện khi tháo lắp các thiết bị 47
20.4 Vỏ máy tính thiết kế mở rộng tính năng 47
20.5 Sửa đổi vỏ máy tính theo ý muốn của từng người dùng (mod) 47
20.6 Một số hãng sản xuất vỏ máy tính 48
20.7 am khảo 48
20.8 am khảo 48
20.9 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 49
20.9.1 Văn bản 49
20.9.2 Hình ảnh 50
20.9.3 Giấy phép nội dung 51
Trang 7Chương 1
Phần cứng
Các thành phần chính của máy tính cá nhân để bàn 1: màn
hình , 2: bo mạch chủ , 3: CPU , 4: chân cắm ATA, 5: RAM , 6: các
thẻ cắm mở rộng chức năng cho máy, 7: nguồn điện , 8: ổ đĩa
quang , 9: ổ đĩa cứng , 10: bàn phím , 11: chuột
Phần cứng (tiếng Anh: hardware), là các cơ phận (vật
lý) cụ thể của máy tính hay hệ thống máy tính như
làmàn hình, chuột,bàn phím,máy in, máy quét, vỏ
máy tính,bộ nguồn, bộ vi xử lýCPU,bo mạch chủ, các
loại dây nối,loa,ổ đĩa mềm,ổ đĩa cứng, ổCDROM, ổ
DVD,…
Dựa trên chức năng và cách thức hoạt động người ta
còn phân biệt phần cứng ra thành:
• Nhập hay đầu vào (input): Các bộ phận thu nhập
dữ liệu hay mệnh lệnh như là bàn phím, chuột…
• Xuất hay đầu ra (output): Các bộ phận trả lời, phát
tín hiệu, hay thực thi lệnh ra bên ngoài như là màn
hình, máy in, loa,…
Ngoài các bộ phận nêu trên liên quan tới phần cứng
của máy tính còn có các khái niệm quan trọng sau đây:
• Bus: chuyển dữ liệu giữa các thiết bị phần cứng
• BIOS(Basic Input Output System): còn gọi làhệthống xuất nhập cơ bảnnhằm khởi động, kiểm tra,
và cài đặt các mệnh lệnh cơ bản cho phần cứng vàgiao quyền điều khiển chohệ điều hành
• CPU: bộ phân vi xử lý điều khiển toàn bộ máy tính(vi xử lý trung tâm)
• Kho lưu trữdữ liệu: lưu giữ, cung cấp, thu nhận
dữ liệu
• Các loạichíphỗ trợ: nằm bên trongbo mạch chủhay nằm trong cácthiết bị ngoại vicủa máy tínhcác con chip quan trọng sẽ giữ vai trò điều khiểnthiết bị và liên lạc vớihệ điều hànhquabộ điềuvậnhay quaphần sụn(Firmware)
• Bộ nhớ: là thiết bị bên trong bo mạch chủ giữnhiệm vụ trung gian cung cấp cácmệnh lệnhchoCPUvà các dữ liệu từ các bộ phận như là BIOS,phần mềm,kho lưu trữ,chuộtđồng thời tải về chocác bộ phận vừa kể kết quả các tính toán, cácphéptoánhay các dữ liệu đã/đang được xử lý
• cáccổng vào/ra
1.1 Xem thêm
• Máy tính
1.2 Tham khảo 1.3 Liên kết ngoài
1
Trang 8Chương 2
Bộ xử lý đồ họa
GeForce 6600GT (NV43) GPU
Bộ xử lý đồ họa (GPU, graphics processing unit),
đôi khi được gọi là bộ xử lý hình ảnh (VPU, visual
processing unit), là mộtmạch điện tử tích hợpchuyên
dụng được thiết kế để thao tác và truy cập bộ nhớ đồ
họa một cách nhanh chóng, để tăng tốc việc tạo ra các
hình ảnh trong bộ đệm khung hình dành cho ngõ ra tới
màn hình hiển thị
GPU được sử dụng trong các hệ thống nhúng, điện
thoại di động, máy tính cá nhân, máy trạm và máy
chơi game console GPU hiện đại rất hiệu quả trong
việc thao tác đồ họa máy tính và xử lý hình ảnh, và các
cấu trúc song song mức cao của nó làm cho nó hiệu
quả hơn so với cácCPU đa dụng, mà việc xử lý khối
lượng lớn các dữ liệu được thực hiện song song Trong
mộtmáy tính cá nhânmột GPU có thể có mặt trên một
card video, được nhúng trên bo mạch chủ, hoặc tích
hợp trong một sốCPU[1]
uật ngữ bộ xử lý đồ họa GPU đượcNvidiađưa ra năm
1999, đánh dấu bằng sự ra đời của GeForce 256 là “GPU
đầu tiên trên thế giới”[2] Nó được trình bày như là một
“bộ vi xử lý chip đơn với biến đổi tích hợp, nhẹ, thiết
lập tam giác / clipping, và rendering engines”[3] Đối
thủ của họ làATI Technologiesđưa ra thuật ngữ “bộ xử
lý hình ảnh” VPU với việc phát hành của Radeon 9700
vào năm 2002[4]
2.1 Lịch sử 2.2 Chỉ dẫn 2.3 Tham khảo
[1] Denny Atkin.“Computer Shopper: e Right GPU forYou” Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007
[2] “NVIDIA Launches the World’s First GraphicsProcessing Unit: GeForce 256” Nvidia Ngày 31 tháng
8 năm 1999 Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.[3] “Graphics Processing Unit (GPU)” Nvidia Truy cậpngày 29 tháng 3 năm 2016
[4] Pabst, omas (ngày 18 tháng 7 năm 2002).“ATi TakesOver 3D Technology Leadership With Radeon 9700”.Tom’s Hardware Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2016
2.4 Xem thêm
• Vi xử lý
2.5 Liên kết ngoài
• NVIDIA - What is GPU computing?
• e GPU Gems book series
• - a Graphics Hardware History
• How GPUs work
• GPU Caps Viewer - Video card information utility
• OpenGPU-GPU Architecture(In Chinese)
• ARM Mali GPUs Overview
• GPU Rendering Magazine
2
Trang 9Chương 3
CPU đa nhân
CPU đa nhân, CPU đa lõi (tiếng Anh: multi-core) là
mộtCPUcó nhiều đơn vị vi xử lý (thường được gọi là
“core”) được tích hợp và đóng gói trên cùng một nền
mạch tích hợp (chip) vật lý duy nhất Mỗi core đều có
thể thực hiện việc xử lý tuần tự từng gói dữ liệu và sự
kết hợp nhiều core trên một hệ CPU giúp làm tăng tốc
độ xử lý chung của hệ thống khi mà dữ liệu được phân
thành nhiều gói nhỏ và phân cho các core xử lý song
song cùng một lúc
3.1 Phát triển kiến trúc đa nhân
Một CPU hai nhân của Intel có hình dáng bên ngoài như một
CPU đơn nhân thông thường
Vào những thời kỳ đầu củamáy tính cá nhânđược sử
dụng, nhằm để giảm giá thành, các CPU phổ thông đều
được thiết kế theo quan điểm đơn nhân Các dữ liệu
được xử lý tuần tự bởi một bộ xử lý duy nhất cho tất cả
mọi tác vụ Ở những dòng máy cao cấp nhưsiêu máy
tính, máy trạm hoặcmáy chủthời kỳ đầu thường được
gắn nhiều hơn mộtCPUtrên cùng mộtbo mạch chủ
để có thể thực hiện nhiều tác vụ song song cùng lúc,
nâng được tốc độ tổng thể lên cao hơn nhiều so với chỉ
sử dụng một CPU
Hai nhân cùng được chứa trong một phần diện tích như thế này
(phần bôi kem tản nhiệt)
Kiến trúc đa nhân đầu tiên ra đời vào khoảng giữathập niên 1980, khiRockwell Internationalgiới thiệucác phiên sản cải tiến của chip xử lý 6502 như R65C00,R65C21, và R65C29 Chúng đều có một đặc điểm chung
là tích hợp cả hai nhân xử lý 6502 lên một chip có cùng
số chân và cùng tần số xung nhịp.[1][2]
CPU đa nhân được giới thiệu lần đầu tiên vào năm2001bởi hãngIBMvới loại CPUPower4dành riêng cho cácmáy chủ Mãi đếntháng 4năm2005,Intelđã giới thiệunhữngCPU hai nhân thương mại đầu tiên, Pentium
Extreme Edition (còn gọi là Pentium EE) và Pentium D.
Đến tháng 5 năm 2005, AMD giới thiệu các CPU Athlon
64 X2 hai nhân đầu tiên[3] NhữngCPUhai nhân thế hệđầu tiên này, thực chất chỉ thuần túy là đặt hai nhân
xử lý trong cùng một tấm đế[4] Có nghĩa trong mộtCPUnhìn bề ngoài như mộtCPUthông thường nhưngbên trong nó chứa các phần mạch điện của cả haiCPU(Pentium 4 Presco với Intel và Athlon 64 với AMD),
điểm chung của nó là các chân cắm tiếp xúc vớisocketcủabo mạch chủ
Ở những thế hệ kế tiếp, các nhà sản xuất đã sử dụngcông nghệ chế tạo hiện đại, cho phép chế tạo tích hợpnhiều nhân trên cùng một nền chip đóng gói vật lý.Công nghệ chế tạo cũng cho phép tích hợp nhiều hơn
2 nhân trên một chip, cũng như các công nghệ giaotiếp như siêu phân luồng, đa phân luồng… cũng giúptận dụng ưu thế của các CPU đa nhân Những cpudòng hd graphics của intelsử dụng GPU(nhân xử lý3
Trang 104 CHƯƠNG 3 CPU ĐA NHÂN
Vi cấu trúc core cho phép cả hai nhân sử dụng chung cache L2
đồ họa)được tích hợp trong cpu cūng là một dạng cpu
2 nhân,dòng cpu này cho khả năng chơi các game 3d
với chất lượng hd,tiết kiệm điện so với các card đồ họa
rời của ndivia,amd…
3.2 Công nghệ hỗ trợ
3.2.1 Phần cứng
3.2.2 Phần mềm
3.3 Những giới hạn tồn tại
Trở ngại lớn nhất của sự phát triển CPU đa nhân là
các kích thước vật lý của cáclinh kiệnchứa trong lòng
nó Kích thướctransistor, tiết diện dây dẫnnội bộ là
những thành phần cơ bản gây cản trở sựphát triểncủa
các CPU đa nhân, mỗi hãng đều có các công nghệ sản
xuất riêng để làm nhỏ kích thước của chúng Những
công nghệmới gần đây đã có thể giúp tích hợp trên 2
tỷtransistortrong cùng một CPU Công nghệ chế tạo
CPU đã tiến đến mức 32 nm (được công bố bởi Intel[5])
và còn tiếp tục nhỏ hơn nữa (tuy hiện nay nhiều hãng
sản xuất vẫn mới áp dụng rộng rãi công nghệ 65 nm và
chỉ một số CPU sản xuất trên công nghệ 45 nm)
3.4 Đa nhân và ứng dụng
3.4.1 Bản quyền phần mềm
Trước khi xuất hiện các CPU đa nhân thì có nhiều người
sử dụng lo ngại rằng khi sử dụng một máy tính đanhân thì các hãng viếthệ điều hànhsẽ tăng giá bán cácphiên bảnhệ điều hànhhoặc cácphần mềm[6] Nhữngđộng thái lo ngại này không phải thiếu căn cứ bởi đã cónhững tiền lệ tương tự Các phiên bảnhệ điều hànhchocácmáy chủthường được phân biệt sử dụng cho mộthoặc nhiều hơn một CPU mà tuỳ theo số lượng CPU
mà cógiá bánkhác nhau
Tuy nhiên, hãng phần mềmMicrosođã không yêu cầungười sử dụng trả thêm chi phí cho cáchệ điều hànhWindowscác phiên bản được sử dụng các bộ xử lý đanhân cho đến đầu năm2008[7] Cách tính số lượng CPUcủa hãng này vẫn tính trên số lượng CPU vật lý, nhưvậy cho dù mộtmáy chủsử dụng duy nhất một CPU
có bốn nhân, tám nhân hay nhiều hơn nữa thì cũng chỉphải trả chi phí chohệ điều hành bằng mức như vớimột CPU đơn nhân
Mặc dù các bộ xử lý đa nhân đã xuất hiện từ rất lâu,nhưng đến nay chưa thấy cácphần mềmthông dụng(phục vụ đa số người sử dụng hoặc chiếm thị phầntương đối) có sự chênh lệch nhau về giá bán giữa cácphiên bảnsử dụng cho CPU đơn nhân và đa nhân Tuynhiên, trong những thời gian kế tiếp có thể một sốhãngphần mềmsẽ liên kết với nhau cùng tăng giá cácphầnmềmsử dụng trên những hệ thốngmáy tínhsử dụngCPU đa nhân trong vòng một vài năm tới[8] Có thểđiều này sẽ trở thành tất yếu khi mà công nghệCPU
đa nhân phát triển đến mỗi một CPU vật lý chứa rấtnhiều nhân trong nó, và cácphần mềmđượcthiết kếtối ưucho chúng
3.4.2 Tương thích với phần cứng
Trong mục CPU đa nhân thế hệ đầu tiên ta nhận thấyvấn đề tương thích của cácCPUđa nhân với hệ thốngphần cứngkhông hề đơn giản Một số CPU đa nhânthế hệ đầu củaAMDcó thể tương thích vớibo mạchchủcũ dành cho các CPU một nhân trước khi chúng
ra đời, các CPU đa nhân củaIntelthì hoàn toàn khôngtương thích với các bo mạch chủ sử dụngchipsetcũ nếuchúng không được thiết kế lại hoặc cho ra đời phiên bảnkhác
Các thế hệ hai nhân, bốn nhân kế tiếp ra đời thìAMDkhông còn giữ được lợi thế về sự nâng cấp hệ thống màkhông cần thay đổibo mạch chủnữa Người sử dụngmuốn nâng cấp lên CPU đa nhân cần phải thay thếnhiều thiết bịphần cứngkhác để phù hợp với chúng
• Bo mạch chủlà thiết bị phải thay thế đầu tiên bởicác cấu trúc mới không còn được sự hỗ trợ củachipsetthế hệ cũ
• Bộ nhớRAMcũng có sự thay đổi khi thay thế sangloạiCPUđa nhân, chúng thường là loại DDR2 thay
Trang 113.4 ĐA NHÂN VÀ ỨNG DỤNG 5
thế cho thế hệ DDR đầu tiên để đáp ứng về tốc độ
cho các thế hệ CPU mới ông thường thì người
sử dụng CPU Intel luôn phải đối mặt với sự thay
thế bo mạch chủ vàRAMbởi sự phát triển CPU đa
nhân của Intel luôn cần tăng tốc độRAMdo cấu
trúc hiện thời của Intel có xu hướng tăng tốc độ
bộ nhớ
• Nguồn máy tínhcũng là thiết bị cần phải thay thế
bởi các hệ thống mới thường sử dụng nguồn máy
tính theo chuẩnATXloại 24 chân ở phần cung cấp
điện năng chobo mạch chủ Riêng phần cung cấp
nguồncho CPU trước đây thường sử dụng một kết
nối 4 chân thì với các hệ thống mới có thể đòi hỏi
kết nối 8 chân
• Bo mạch đồ hoạphải thay đổi nếu hệ thống cũ sử
dụng giao tiếpAGP Toàn bộ cácbo mạch chủthế
hệ mới đều sử dụng khePCI Express X16 Nếu như
không chơigame 3Dmạnh hoặc thiết kếđồ hoạthì
người sử dụng có thể lựa chọn mộtbo mạch chủ
được tích hợp sẵn chức năngđồ hoạđể giảm chi
phí (tuy nhiên sự kết hợp CPU đa nhân với chức
năngđồ hoạtích hợp thường là một sự cọc cạch
đối với người chơigamevà xử lý đồ hoạ, chỉ có
thể chấp nhận chúng như một bước đệm trước khi
nâng cấp nên cácbo mạch đồ hoạrời trên mộtbo
mạch chủvừa tích hợp chức năngđồ hoạtrên bo
mạch chủ, vừa có sẵn khe cắmPCI Express X16)
3.4.3 Đa nhân trên máy tính xách tay
Ngay từ khi các CPU hai nhân đầu tiên xuất hiện trên
thị trường, các nhà sản xuấtmáy tính xách tayđã ứng
dụng chúng trong cácsản phẩmcủa mình Những CPU
đa nhân đầu tiên ở cácmáy tính xách tayđã cải thiện
hiệu năng tăng khoảng 30% so với các CPU một nhân
cùng tốc độ trong các thử nghiệmbenchmark Ngay
các thế hệ CPU đa nhân kế tiếp ở các phiên bảnCPU
di động cũng không cải thiện được hiệu năng và khả
năng tiết kiệm pin như một số nhà sản xuấtCPUtuyên
bố
Bởi vìmáy tính xách taythường thiết kế cho các mục
đích sử dụng di động với các ứng dụng không đòi hỏi
nhiều năng lực CPU nên có vẻ chúng không cải thiện
được tốc độ nhiều Trừ các loại máy tính xách tay
chuyên dụng chogame, xử lýđồ hoạthì các dòngmáy
tính xách taythông thường dành cho học sinh, sinh
viên,doanh nhânđến thời điểm đầu năm2008vẫn chưa
là một bước đột phá so với các dòngmáy tính xách tay
sử dụng CPU hai nhân của thế hệ đầu tiên
3.4.4 Khai thác hiệu năng đa nhân
Đa nhân và phần mềm
CPU đa nhân đã ra đời nhưng hầu hết cácphần mềm
hiện nay đều chưa được chuẩn bị sẵn sàng cho chúng[9]
Mặc dù hiểu một cách đơn giản thì cácphần mềmvẫnhoạt động trơn chu trên các máy tínhđược trang bịCPU đa nhân, nhưng thực sự chúng còn có thể hoạtđộng tốt hơn nữa nếu khai thác được hết khả năng của
đa nhân[10] Hầu hết cácphần mềmhiện tại đang đượcviết cho các CPU đơn luồng, mọi hành động xử lý củachúng đều do hệ điều hành phân phối đến các luồngtrong CPU đa nhân Các hãng phần mềm cũng có lý do
để chưa vội vàngbiên dịchlại chúng tối ưu với cácCPU
đa nhân bởi hiện tại (đầu năm2008) chưa phải tất cả cácmáy tínhcó thể sử dụngphần mềmđã được trang bị bộ
xử lý đa nhân và chưa phải các bộ xử lý đa nhân đều
hỗ trợ khả năng xử lý64 bit(sẽ trở thành thông dụng
về sau này) Mặt khác, việc chuyển đổi có thể cần phảixây dựng lại cácthư viện lập trìnhsẵn có và cần có cáckhoảnchi phílớn Vậy thì cách thức phát triểnphầnmềmtruyền thống vẫn là một sự lựa chọn an toàn hơnvới họ.[11]
Tuy nhiên, không phải tất cả cáchãng phần mềmđềuchưa có động thái về hỗ trợ CPU đa nhân Cácphầnmềmsử dụng chomáy chủ,máy trạmđã hỗ trợ xử lý
đa luồng từ trước đây, bởi chúng ở một lĩnh vực riêngnên ít được người sử dụng máy tính thông thường biếtđến[12] Đối vớimáy tính cá nhânđể bàn sẽ xuất hiệnnhiều phần mềm hỗ trợ đa luồng hơn mà trước hết là
từ nhữngphần mềmcần đến khả năng xử lý lớn như:
xử lýđồ hoạ, xử lývideo…Cáctrò chơi trên máy tính(game)3D hiện nay cũngchưa được thiết kế tối ưu cho hoạt động với các CPU
đa nhân, đích nhắm tới hiện nay của chúng thường là
hỗ trợ DX10 và DX10.1 (với khả năng đồ hoạ tuyệt đẹp
hỗ trợ trên Windows Vista[13]) nhiều hơn, do đó chúngvẫn thường chỉ chiếm một nhân khi xử lý ở CPU đanhân[14]
Tương laiphần mềmvẫn sẽ phải phát triển theo hướngphù hợp với CPU đa nhân, nhất là với các phần mềmchiếm tài nguyên của CPU nhiều khi thực thi phầnmềm đó Đây là một định hướng tất yếu bởi khi sửdụng một phần mềm lớn, chúng chỉ chiếm một nhântrên CPU thì các nhân còn lại sẽ chỉ được sử dụng chocác phần mềm, dịch vụ chạy ở chế độ nền gây lãng phínăng lực xử lý trong khi có khả năng khai thác toàn bộcác nhân cùng hoạt động như vậy Bạn hãy thử quansát biểu đồ hoạt động thực tại của các nhân trong CPUkhi sử dụng phần mềm chiếm nhiều tài nguyên sẽ nhậnthấy sự lãng phí này.[14]Ngược lại với cácphần mềmchiếm tài nguyên thấp có thể không nhất thiết phải viếtlại phù hợp cho các CPU đa nhân bởi điều đó là khôngcần thiết khi chúng không thể chiếm đến trên 10% nănglực xử lý trên một nhân (ví dụ như cácphần mềmtrợgiúp bỏ dấutiếng Việttrong soạn thảo văn bản chỉ yêucầu xử lý thấp)
Đa nhân và hệ điều hành
Khác vớiphần mềmthìhệ điều hànhcần thiết phải hỗtrợ các CPU đa nhân đa nhân và có thể tận dụng mọi
Trang 126 CHƯƠNG 3 CPU ĐA NHÂN
công nghệcủa CPU Nếu nhưhệ điều hànhkhông hỗ
trợ các CPU đa nhân thì chúng chỉ nhận dạng duy nhất
một bộ xử lý và có thể dẫn đến làm việc không ổn định
Hãy thử sử dụnghệ điều hành MS-DOSvới các ứng
dụng cũ sẽ nhận thấy chúng hoàn toàn có thể không
phù hợp và hoạt động nhanh hơn đối với các CPU thế
hệ trước đây bởi DOS và các hệ điều hànhWindows
3.X thường phù hợp hơn với các CPU 16 bit
Cáchệ điều hànhcòn được sử dụng trong những năm
2008thường hỗ trợ tốt đối với các CPU đa nhân bởi
chúng có thể nhận dạng các CPU đa nhân và phân các
luồng xử lý tới từng nhân để phân chia và cân bằng giữa
các ứng dụng đơn luồng tới từng nhân của CPU Để đạt
được sự hỗ trợ đa nhân, người sử dụng có thể cần đến
các bản nâng cấp hoàn chỉnh (service pack, thường viết
tắt là SP và một con số chỉ thứ tự) hoặc các bản nâng cấp
đơn lẻ Ví dụ vớiWindows 2000cần nâng cấp lên SP4,
Windows XPcần SP2, đôi khi có các bản nâng cấp riêng
lẻ dành riêng cho một vài loại CPU riêng biệt (ví dụ như
cho dòngCore 2 Duocủa Intel bằng bản KB936357-x86
ởWindows XP- SP2 củaMicroso)
Những hệ điều hành mới ra mắt gần đây dành cho
máy tính cá nhântất yếu phải hỗ trợ CPU đa nhân,
ví dụ nhưWindows VistacủaMicroso Chúng cũng
có các phiên bản riêng dành cho những nhóm người sử
dụng (người sử dụng ở gia đình, sử dụng trongdoanh
nghiệp…) và các phiên bản hỗ trợ xử lý 64 bit với giá
bán khác nhau để tiết kiệm hơn cho từng đối tượng sử
dụng
3.4.5 Đối nghịch với đa nhân: Thị trường
PC giá thấp
Khi mà các hãng sản xuấtCPUcó xu hướng phát triển
các sản phẩm CPU đa nhân như một tất yếu trong lịch
sử phát triển củamáy tínhthì vẫn còn một thị trường
không kém sôi động cho các vi xử lý một nhân Các bộ
xử lý cho máy tính rẻ tiền vẫn còn trong vòng ngắm
của các hãng sản xuất thiết bịphần cứng
Cả hai hãngAMDvàIntelvẫn có những kế hoạch sản
xuất CPU cho các máy tính rẻ tiền, dành cho người thu
nhập thấp (loại máy tính low-cost PC với giá dự định
thấp hơn 350 USD) Hãng Intel với chiến lược “5 năm,
một tỷ người” nhằm giúp thúc đẩy số người sử dụng
Internettrong năm năm tới thêm một tỷmáy tínhnữa
kết nối được với mạng toàn cầu (hiện nay số lượng
người sử dụng Internettrên thế giới ước tính là 1 tỷ
người sau 30 năm phát triển) Những kế hoạch củaIntel
không phải là quá xa vời khi hãng này chuẩn bị tung
ra bộCPU Diamond Viewcùng vớichipsetđi kèm dưới
dạngOEMvới giá khoảng 30USDvới sức mạnh tương
đương với CPUPentium Mmà hãng đã sản xuất trước
đây Mục tiêu của gói CPU-chipset này nhắm tới các
máy tính xách taygiá rẻ và các thiết bịInternetdi động
(mobile Internet device) của Intel[15]
Các hãng khác hoặc các dự án khác cũng đã chú ý đến
thị trường PC giá rẻ từ trước đó: Dự án “Mỗi trẻ em một
máy tính” OLPC (One Laptop Per Child) cũng được khởi
động đã lâu với giá thành dự định dưới 100USDcũng đãdần hạ giá thành những chiếcmáy tính xách taytheo
dự án đạt mức giá dự định Ngoài ra, cácthương hiệumáy tínhgiá rẻ nhưAsusEEPC, Intel Classmate cũngđang được triển khai[15]
Ngoài các CPU phục vụ cho cácmáy tính cá nhân,máychủ,máy trạmthì bộ vi xử lý nhúng lại là một thị trườngcòn lớn hơn nữa Rất ít người sử dụng hiểu được rằng
vi xử lý nhúngđã được sử dụng đến từngthiết bị giadụngtrongđời sống: từ những chiếcti vi,máy giặt, máyphát đĩaCD/DVD,đầu thu truyền hình số,điện thoại diđộng…đều sử dụng các bộvi xử lý nhúng Chúng chỉ làcác vi xử lý có tốc độ thấp và chưa cần thiết đến đa nhânnhưng theo thống kê những năm 2000 thì chúng chiếmđến 96% trên tổng số các vi xử lý nhúng[16], (cho đếnnay chúng có thể còn lớn hơn nữa do sự phát triển củasản phẩm dân dụng luôn lớn hơn so với những chiếcPC)
3.4.6 Nhận thức của người sử dụng
Nhận thức về tốc độ
Chỉ có một số ít những người sử dụng máy tính có thểhiểu được đúng về các thể loại CPU cũng như vềphầncứng máy tínhnói chung để có thể nhận rõ các côngnghệ trong các bộ xử lý cũng như các thành phần khácliên quan để một hệ thống có thể vận hành tối ưu Phầnđông số người sử dụng còn lại thường cho rằng tốc độ
xử lý của CPU là yếu tố hàng đầu để đánh giá mức độ
“có chạy nhanh hay không” ở một máy tính Chính vìvậy mà họ thường chọn một bộ xử lý có tốc độ cao
mà không chú ý đến các yếu tố còn lại như công nghệcủa bộ xử lý hoặc toàn bộ các thành phần khác để cấuthành lên một chiếcmáy tính Một số còn lựa chọn cácCPU hoàn toàn dựa trên cảm tính, chẳng hạn chọn loạiCeleroncủa Intelthay cho các bộ xử lýPentium vớimột lập luận rất đơn giản là tốc độ cao và giá rẻ, hoặcchọn một CPUPentium D thay vì chọn Core 2 Duobởi chúng cũng gồm hai nhân và có tốc độ cao hơn.Đây là các nhận thức không đúng bởi hiệu năng thực
tế mới là vấn đề đáng quan tâm nhất của các CPU Cáckết quả của quá trìnhbenchmark[17]thường phản ánhđúng hơn các hiệu quả làm việc khi so sánh giữa cácCPU
Một số người sử dụng lại cho rằng hai nhân giúp chotốc độ CPU được tăng gấp đôi Ví dụ một CPUCore 2Duosố hiệu E6420 có tốc độ 2,13 GHz (mỗi nhân) thì
cả hai nhân sẽ hoạt động với tốc độ 4,26 GHz (tăng gấpđôi) Điều này cũng không đúng bởi cả hai nhân khôngđồng thời cùng xử lý một ứng dụng và hai nhân khônggia tốc việc xử lý cùng một yêu cầu một cách nối tiếpnhau Nhiều kết quảbenchmarkcho thấy hiệu năngcủa CPU hai nhân đối với các ứng dụng bình thường(không được viết lại cho các CPU đa nhân) không tăng
Trang 133.5 CHÚ THÍCH 7
lên gấp đôi mà chúng chỉ tăng thêm khoảng 30%[18]
Nhiều ứng dụng nặng như cácphần mềmxử lýđồ hoạ,
biên tậpvideo,game 3Dchỉ hoạt động trên một nhân
của CPU đa nhân[14]
Nhận thức về tên gọi
Một số người sử dụng lại nhận thức nhầm về thông số
đặt tên của các CPU Hai hãng sản xuấtphần cứnggần
đây đã thay đổi ký hiệu cácCPUcủa họ theo các cách
khác nhau
• Intelđặt tên các sản phẩm của mình bằng một con
số thay vì chỉ để một số thông số chính vềFSBvà
tốc độ xử lý Ví dụ các CPU có số hiệu 830, 540,
640…các con số này thường làm người sử dụng so
sánh giữa các con số để hiểu về năng lực của CPU,
nhưng thực chất không phải như vậy bởi có các
CPUcó số hiệu thấp lại có hiệu năm cao hơn CPU
có số hiệu cao
• AMDđặt tên theo các con số có một quy luật khác
hơn mà được một số người cho rằng những thông
số đó tương đương với hiệu năng của một CPU
của hãng khác có cùng cấu trúc x86 Ví dụ 3800+,
4200+ nhằm hàm ý những CPU đó tương đương
với mộtCPUcủaIntelcó tốc độ xử lý 3800 Mhz,
4200 Mhz ực chất điều này chưa có cơ sở và
cũng không được giải thích chính thức bởi có thể
gây ra tranh cãi, kiện tụng giữa các hãng sản xuất
Nâng cấp vội vàng
Trước sự ra đời ồ ạt của các bộ xử lý đa nhân trong hai
năm gần đây, một số người sử dụng đã vội vã nâng cấp
CPU cho dù những công việc thường ngày của họ ít
cần đến xử lý đa luồng: chẳng hạn chỉ duyệtwebđọc
tin tức, soạn thảo văn bản, sử dụng với các bảng tính và
chơi cácgameđơn giản hoặc các game thế hệ cũ, không
cần xử lý3Dnhiều mà hệ thống cũ vẫn có thể đáp ứng
được[19] Trong trường hợp này tuy máy tính của họ
cũng được cải thiện về tốc độ, tuy nhiên thời điểm đầu
năm2008thì vẫn chưa phải là thời điểm nâng cấp hợp
lý khi mà các hãngphần cứngđang cạnh tranh và sẽ
xuất hiện nhiều thế hệchipsetmới mà chỉ chúng mới
hỗ trợ các công nghệCPUđa nhân sắp tới[20] Những sự
cạnh tranh như vậy luôn luôn thuận lợi hơn cho người
sử dụng bởi có thể sở hữu nhữngCPUđa nhân với giá
thành hạ hơn trước[21][22][23]
3.5 Chú thích
Nhằm tránh phải xem các quảng cáo, một số trang liên
kết ngoài dưới đây ở dạng “phiên bản trang web để in”,
xin vui lòng huỷ bỏ lệnh in nếu chúng xuất hiện.
[1] “Rockwell R65C00/21 Dual CMOS Microcomputer andR65C29 Dual CMOS Microprocessor”(PDF).RockwellInternational áng 10 năm 1984
[2] “Rockwell 1985 Data Book” (PDF) RockwellInternational Semiconductor Products Division
áng 1 năm 1985
[3] AMD chính thức định ngày phát hành Athlon 64
VnExpress (21/5/2005)
[4] Dual Processor hay Dual Core ICTnews (27/3/2007)
[5] Intel công bố chip 32 nm đầu tiên trên thế giới
[10] CPU đa lõi: Hướng tới tương lai VN Media (30/10/2007)
[11] Tám cách giúp tiết kiệm năng lượng cho một trung tâm
[15] “Việt Nam trong chiến lược 5 năm, 1 tỷ người của Intel”
PCWorld VN (A-01/08, tr.32)
[16] Bộ vi xử lý nhúng VnExpress (22/12/2000) [17] Benchmark là một quá trình dùng phần mềm thực thi nhiều ứng dụng giải định khác nhau, kết quả về thời gian đáp ứng xong ứng dụng, tốc độ thực thi…để tổng hợp lại thành một con số dùng để so sánh các hệ thống phần cứng khác nhau để đánh giá chung
[18] Bộ xử lý Core 2 Duo di động: không nhanh hơn nhiều
PC World VN (2006)
[19] Chip lõi đơn vẫn dùng tốt trên PC phổ thông VnExpress (29/8/2007)
[20] Lõi kép-Năng lực nhân đôi Số hoá (06/01/2006)
[21] Máy tính để bàn - Tăng lực bốn nhân PC World VN
[22] Intel giảm giá chip lõi tứ 50% VnExpress (28/7/2007)
[23] Intel giảm 40% chip lõi kép và lõi tứ VnExpress (24/4/2007)
Trang 148 CHƯƠNG 3 CPU ĐA NHÂN
Trang 15Chương 4
Hệ thống nhúng
Hệ thống nhúng (tiếng Anh: embedded system) là một
thuật ngữ để chỉ một hệ thống có khả năng tự trị được
nhúng vào trong một môi trường hay một hệ thống
mẹ Đó là các hệ thống tích hợp cả phần cứng và phần
mềm phục vụ các bài toán chuyên dụng trong nhiều
lĩnh vực công nghiệp, tự động hoá điều khiển, quan
trắc và truyền tin Đặc điểm của các hệ thống nhúng là
hoạt động ổn định và có tính năng tự động hoá cao
Hệ thống nhúng thường được thiết kế để thực hiện một
chức năng chuyên biệt nào đó Khác với các máy tính
đa chức năng, chẳng hạn như máy tính cá nhân, một hệ
thống nhúng chỉ thực hiện một hoặc một vài chức năng
nhất định, thường đi kèm với những yêu cầu cụ thể và
bao gồm một số thiết bị máy móc và phần cứng chuyên
dụng mà ta không tìm thấy trong một máy tính đa năng
nói chung Vì hệ thống chỉ được xây dựng cho một số
nhiệm vụ nhất định nên các nhà thiết kế có thể tối ưu
hóa nó nhằm giảm thiểu kích thước và chi phí sản xuất
Các hệ thống nhúng thường được sản xuất hàng loạt
với số lượng lớn Hệ thống nhúng rất đa dạng, phong
phú về chủng loại Đó có thể là những thiết bị cầm tay
nhỏ gọn như đồng hồ kĩ thuật số và máy chơi nhạc
MP3, hoặc những sản phẩm lớn như đèn giao thông,
bộ kiểm soát trong nhà máy hoặc hệ thống kiểm soát
các máy năng lượng hạt nhân Xét về độ phức tạp, hệ
thống nhúng có thể rất đơn giản với một vi điều khiển
hoặc rất phức tạp với nhiều đơn vị, các thiết bị ngoại vi
và mạng lưới được nằm gọn trong một lớp vỏ máy lớn
Các thiết bị PDA hoặc máy tính cầm tay cũng có một
số đặc điểm tương tự với hệ thống nhúng như các hệ
điều hành hoặc vi xử lý điều khiển chúng nhưng các
thiết bị này không phải là hệ thống nhúng thật sự bởi
chúng là các thiết bị đa năng, cho phép sử dụng nhiều
ứng dụng và kết nối đến nhiều thiết bị ngoại vi
4.1 Lịch sử
Hệ thống nhúng đầu tiên là Apollo Guidance Computer
(Máy tính Dẫn đường Apollo) được phát triển bởi
Charles Stark Draper tại phòng thí nghiệm của trường
đại học MIT Hệ thống nhúng được sản xuất hàng loạt
đầu tiên là máy hướng dẫn cho tên lửa quân sự vào năm
1961 Nó là máy hướng dẫn Autonetics D-17, được xây
dựng sử dụng những bóng bán dẫn và một đĩa cứng đểduy trì bộ nhớ Khi Minuteman II được đưa vào sản xuấtnăm 1996, D-17 đã được thay thế với một máy tính mới
sử dụng mạch tích hợp Tính năng thiết kế chủ yếu củamáy tính Minuteman là nó đưa ra thuật toán có thể lậptrình lại sau đó để làm cho tên lửa chính xác hơn, vàmáy tính có thể kiểm tra tên lửa, giảm trọng lượng củacáp điện và đầu nối điện
Từ những ứng dụng đầu tiên vào những năm 1960, các
hệ thống nhúng đã giảm giá và phát triển mạnh mẽ vềkhả năng xử lý Bộ vi xử lý đầu tiên hướng đến ngườitiêu dùng là Intel 4004, được phát minh phục vụ máytính điện tử và những hệ thống nhỏ khác Tuy nhiên
nó vẫn cần các chip nhớ ngoài và những hỗ trợ khác.Vào những năm cuối 1970, những bộ xử lý 8 bit đã đượcsản xuất, nhưng nhìn chung chúng vẫn cần đến nhữngchip nhớ bên ngoài
Vào giữa thập niên 80, kỹ thuật mạch tích hợp đã đạttrình độ cao dẫn đến nhiều thành phần có thể đưa vàomột chip xử lý Các bộ vi xử lý được gọi là các vi điềukhiển và được chấp nhận rộng rãi Với giá cả thấp, các
vi điều khiển đã trở nên rất hấp dẫn để xây dựng các hệthống chuyên dụng Đã có một sự bùng nổ về số lượngcác hệ thống nhúng trong tất cả các lĩnh vực thị trường
và số các nhà đầu tư sản xuất theo hướng này Ví dụ, rấtnhiều chip xử lý đặc biệt xuất hiện với nhiều giao diệnlập trình hơn là kiểu song song truyền thống để kếtnối các vi xử lý Vào cuối những năm 80, các hệ thốngnhúng đã trở nên phổ biến trong hầu hết các thiết bịđiện tử và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đếnnay
Cho đến nay, khái niệm hệ thống nhúng được nhiềungười chấp nhận nhất là: hệ thống thực hiện một sốchức năng đặc biệt có sử dụng vi xử lý Không có hệthống nhúng nào chỉ có phần mềm
Trang 1610 CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG NHÚNG
các hệ thống máy tính đa chức năng Một số hệ thống
đòi hỏi ràng buộc về tính hoạt động thời gian thực để
đảm bảo độ an toàn và tính ứng dụng; một số hệ thống
không đòi hỏi hoặc ràng buộc chặt chẽ, cho phép đơn
giản hóa hệ thống phần cứng để giảm thiểu chi phí sản
xuất
• Một hệ thống nhúng thường không phải là một khối
riêng biệt mà là một hệ thống phức tạp nằm trong thiết
bị mà nó điều khiển
• Phần mềm được viết cho các hệ thống nhúng được gọi
là firmware và được lưu trữ trong các chip bộ nhớ ROM
hoặc bộ nhớ flash chứ không phải là trong một ổ đĩa
Phần mềm thường chạy với số tài nguyên phần cứng
hạn chế: không có bàn phím, màn hình hoặc có nhưng
với kích thước nhỏ, dung lượng bộ nhớ thấp Sau đây, ta
sẽ đi sâu, xem xét cụ thể đặc điểm của các thành phần
của hệ thống nhúng
4.2.1 Giao diện
Các hệ thống nhúng có thể không có giao diện (đối với
những hệ thống đơn nhiệm) hoặc có đầy đủ giao diện
giao tiếp với người dùng tương tự như các hệ điều hành
trong các thiết bị để bàn Đối với các hệ thống đơn giản,
thiết bị nhúng sử dụng nút bấm, đèn LED và hiển thị
chữ cỡ nhỏ hoặc chỉ hiển thị số, thường đi kèm với một
hệ thống menu đơn giản
Còn trong một hệ thống phức tạp hơn, một màn hình
đồ họa, cảm ứng hoặc có các nút bấm ở lề màn hình cho
phép thực hiện các thao tác phức tạp mà tối thiểu hóa
được khoảng không gian cần sử dụng; ý nghĩa của các
nút bấm có thể thay đổi theo màn hình và các lựa chọn
Các hệ thống nhúng thường có một màn hình với một
nút bấm dạng cần điểu khiển (joystick buon) Sự phát
triển mạnh mẽ của mạng toàn cầu đã mang đến cho
những nhà thiết kế hệ nhúng một lựa chọn mới là sử
dụng một giao diện web thông qua việc kết nối mạng
Điều này có thể giúp tránh được chi phí cho những màn
hình phức tạp nhưng đồng thời vẫn cung cấp khả năng
hiển thị và nhập liệu phức tạp khi cần đến, thông qua
một máy tính khác Điều này là hết sức hữu dụng đối
với các thiết bị điều khiển từ xa, cài đặt vĩnh viễn Ví
dụ, các router là các thiết bị đã ứng dụng tiện ích này
4.2.2 Kiến trúc CPU
Các bộ xử lý trong hệ thống nhúng có thể được chia
thành hai loại: vi xử lý và vi điều khiển Các vi điều
khiển thường có các thiết bị ngoại vi được tích hợp
trên chip nhằm giảm kích thước của hệ thống Có rất
nhiều loại kiến trúc CPU được sử dụng trong thiết kế
hệ nhúng như ARM, MIPS, Coldfire/68k, PowerPC, x86,
PIC, 8051, Atmel AVR, Renesas H8, SH, V850, FR-V,
M32R, Z80, Z8 … Điều này trái ngược với các loại máy
tính để bàn, thường bị hạn chế với một vài kiến trúc
máy tính nhất định Các hệ thống nhúng có kích thước
nhỏ và được thiết kế để hoạt động trong môi trườngcông nghiệp thường lựa chọn PC/104 và PC/104++ làmnền tảng Những hệ thống này thường sử dụng DOS,Linux, NetBSD hoặc các hệ điều hành nhúng thời gianthực như QNX hay VxWorks Còn các hệ thống nhúng
có kích thước rất lớn thường sử dụng một cấu hìnhthông dụng là hệ thống on chip (System on a chip –SoC), một bảng mạch tích hợp cho một ứng dụng cụthể (an application-specific integrated circuit – ASIC).Sau đó nhân CPU được mua và thêm vào như một phầncủa thiết kế chip Một chiến lược tương tự là sử dụngFPGA (field-programmable gate array) và lập trình cho
nó với những thành phần nguyên lý thiết kế bao gồm
• Universal Serial Bus (USB)
• Networks: Controller Area Network, LonWorks…
• Bộ định thời: PLL(s), Capture/Compare và TimeProcessing Units
• Discrete IO: General Purpose Input/Output (GPIO)
4.2.4 Công cụ phát triển
Tương tự như các sản phẩm phần mềm khác, phần mềm
hệ thống nhúng cũng được phát triển nhờ việc sử dụngcác trình biên dịch (compilers), chương trình dịch hợpngữ (assembler) hoặc các công cụ gỡ rối (debuggers).Tuy nhiên, các nhà thiết kế hệ thống nhúng có thể sửdụng một số công cụ chuyên dụng như:
• Bộ gỡ rối mạch hoặc các chương trình mô phỏng(emulator)
• Tiện ích để thêm các giá trị checksum hoặc CRC vàochương trình, giúp hệ thống nhúng có thể kiểm tra tínhhợp lệ của chương trình đó
• Đối với các hệ thống xử lý tín hiệu số, người pháttriển hệ thống có thể sử dụng phần mềm workbenchnhư MathCad hoặc Mathematica để mô phỏng các phéptoán
• Các trình biên dịch và trình liên kết (linker) chuyêndụng được sử dụng để tối ưu hóa một thiết bị phầncứng
• Một hệ thống nhúng có thể có ngôn ngữ lập trình vàcông cụ thiết kế riêng của nó hoặc sử dụng và cải tiến
từ một ngôn ngữ đã có sẵn
Trang 174.3 CÁC KIẾN TRÚC PHẦN MỀM HỆ THỐNG NHÚNG 11
Các công cụ phần mềm có thể được tạo ra bởi các công
ty phần mềm chuyên dụng về hệ thống nhúng hoặc
chuyển đổi từ các công cụ phát triển phần mềm GNU
Đôi khi, các công cụ phát triển dành cho máy tính cá
nhân cũng được sử dụng nếu bộ xử lý của hệ thống
nhúng đó gần giống với bộ xử lý của một máy PC thông
dụng
4.2.5 Độ tin cậy
Các hệ thống nhúng thường nằm trong các cỗ máy
được kỳ vọng là sẽ chạy hàng năm trời liên tục mà
không bị lỗi hoặc có thể khôi phục hệ thống khi gặp
lỗi Vì thế, các phần mềm hệ thống nhúng được phát
triển và kiểm thử một cách cẩn thận hơn là phần mềm
cho máy tính cá nhân Ngoài ra, các thiết bị rời không
đáng tin cậy như ổ đĩa, công tắc hoặc nút bấm thường
bị hạn chế sử dụng Việc khôi phục hệ thống khi gặp lỗi
có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các kỹ thuật
như watchdog timer – nếu phần mềm không đều đặn
nhận được các tín hiệu watchdog định kì thì hệ thống
sẽ bị khởi động lại
Một số vấn đề cụ thể về độ tin cậy như:
• Hệ thống không thể ngừng để sửa chữa một cách an
toàn, ví dụ như ở các hệ thống không gian, hệ thống
dây cáp dưới đáy biển, các đèn hiệu dẫn đường,… Giải
pháp đưa ra là chuyển sang sử dụng các hệ thống con
dự trữ hoặc các phần mềm cung cấp một phần chức
năng
• Hệ thống phải được chạy liên tục vì tính an toàn, ví dụ
như các thiết bị dẫn đường máy bay, thiết bị kiểm soát
độ an toàn trong các nhà máy hóa chất,… Giải pháp đưa
ra là lựa chọn backup hệ thống
• Nếu hệ thống ngừng hoạt động sẽ gây tổn thất rất
nhiều tiền của ví dụ như các dịch vụ buôn bán tự động,
hệ thống chuyển tiền, hệ thống kiểm soát trong các nhà
4.3.1 Vòng lặp kiểm soát đơn giản
eo thiết kế này, phần mềm được tổ chức thành một
vòng lặp đơn giản Vòng lặp gọi đến các chương trình
con, mỗi chương trình con quản lý một phần của hệ
thống phần cứng hoặc phần mềm
4.3.2 Hệ thống ngắt điều khiển
Các hệ thống nhúng thường được điểu khiển bằng cácngắt Có nghĩa là các tác vụ của hệ thống nhúng đượckích hoạt bởi các loại sự kiện khác nhau Ví dụ, mộtngắt có thể được sinh ra bởi một bộ định thời sau mộtchu kỳ được định nghĩa trước, hoặc bởi sự kiện khi cổngnối tiếp nhận được một byte nào đó
Loại kiến trúc này thường được sử dụng trong các hệthống có bộ quản lý sự kiện đơn giản, ngắn gọn và cần
độ trễ thấp Hệ thống này thường thực hiện một tác vụđơn giản trong một vòng lặp chính Đôi khi, các tác vụphức tạp hơn sẽ được thêm vào một cấu trúc hàng đợitrong bộ quản lý ngắt để được vòng lặp xử lý sau đó.Lúc này, hệ thống gần giống với kiểu nhân đa nhiệmvới các tiến trình rời rạc
4.3.3 Đa nhiệm tương tác
Một hệ thống đa nhiệm không ưu tiên cũng gần giốngvới kỹ thuật vòng lặp kiểm soát đơn giản ngoại trừ việcvòng lặp này được ẩn giấu thông qua một giao diện lậptrình API Các nhà lập trình định nghĩa một loạt cácnhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ chạy trong một môi trườngriêng của nó Khi không cần thực hiện nhiệm vụ đó thì
nó gọi đến các tiến trình con tạm nghỉ (bằng cách gọi
“pause”, “wait”, “yield” …)
Ưu điểm và nhược điểm của loại kiến trúc này cũnggiống với kiểm vòng lặp kiểm soát đơn giản Tuy nhiên,việc thêm một phần mềm mới được thực hiện dễ dànghơn bằng cách lập trình một tác vụ mới hoặc thêm vàohàng đợi thông dịch (queue-interpreter)
4.3.4 Đa nhiệm ưu tiên
Ở loại kiến trúc này, hệ thống thường có một đoạn mã
ở mức thấp thực hiện việc chuyển đổi giữa các tác vụkhác nhau thông qua một bộ định thời Đoạn mã nàythường nằm ở mức mà hệ thống được coi là có một hệđiều hành và vì thế cũng gặp phải tất cả những phứctạp trong việc quản lý đa nhiệm
Bất kỳ tác vụ nào có thể phá hủy dữ liệu của một tác vụkhác đều cần phải được tách biệt một cách chính xác.Việc truy cập tới các dữ liệu chia sẻ có thể được quản lýbằng một số kỹ thuật đồng bộ hóa như hàng đợi thôngđiệp (message queues), semaphores … Vì những phứctạp nói trên nên một giải pháp thường được đưa ra đó
là sử dụng một hệ điều hành thời gian thực Lúc đó, cácnhà lập trình có thể tập trung vào việc phát triển cácchức năng của thiết bị chứ không cần quan tâm đến cácdịch vụ của hệ điều hành nữa
Trang 1812 CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG NHÚNG
4.3.5 Vi nhân (Microkernel) và nhân ngoại
(Exokernel)
Khái niệmvi nhân(microkernel) là một bước tiếp cận
gần hơn tới khái niệm hệ điều hànhthời gian thực Lúc
này, nhân hệ điều hành thực hiện việc cấp phát bộ nhớ
và chuyển CPU cho các luồng thực thi Còn cáctiến
trìnhngười dùng sử dụng các chức năng chính như hệ
thống file, giao diện mạng lưới,… Nói chung, kiến trúc
này thường được áp dụng trong các hệ thống mà việc
chuyển đổi và giao tiếp giữa các tác vụ là nhanh
Còn nhân ngoại (exokernel) tiến hành giao tiếp hiệu
quả bằng cách sử dụng các lời gọi chương trình con
thông thường Phần cứng và toàn bộ phần mềm trong
hệ thống luôn đáp ứng và có thể được mở rộng bởi các
ứng dụng
4.3.6 Nhân khối (monolithic kernels)
Trong kiến trúc này, một nhân đầy đủ với các khả năng
phức tạp được chuyển đổi để phù hợp với môi trường
nhúng Điều này giúp các nhà lập trình có được một
môi trường giống với hệ điều hành trong các máy để
bàn như Linux hay Microso Windows và vì thế rất
thuận lợi cho việc phát triển Tuy nhiên, nó lại đòi
hỏi đáng kể các tài nguyên phần cứng làm tăng chi
phí của hệ thống Một số loại nhân khối thông dụng
là Embedded Linux và Windows CE Mặc dù chi phí
phần cứng tăng lên nhưng loại hệ thống nhúng này
đang tăng trưởng rất mạnh, đặc biệt là trong các thiết
bị nhúng mạnh như Wireless router hoặc hệ thống định
vị GPS Lý do của điều này là:
• Hệ thống này có cổng để kết nối đến các chip nhúng
thông dụng
• Hệ thống cho phép sử dụng lại các đoạn mã sẵn có
phổ biến như các trình điều khiển thiết bị, Web Servers,
Firewalls, …
• Việc phát triển hệ thống có thể được tiến hành với
một tập nhiều loại đặc tính, chức năng còn sau đó lúc
phân phối sản phẩm, hệ thống có thể được cấu hình
để loại bỏ một số chức năng không cần thiết Điều này
giúp tiết kiệm được những vùng nhớ mà các chức năng
đó chiếm giữ
• Hệ thống có chế độ người dùng để dễ dàng chạy các
ứng dụng và gỡ rối Nhờ đó, quy trình phát triển được
thực hiện dễ dàng hơn và việc lập trình có tính linh
động hơn
• Có nhiều hệ thống nhúng thiếu các yêu cầu chặt chẽ
về tính thời gian thực của hệ thống quản lý Còn một
hệ thống như Embedded Linux có tốc độ đủ nhanh để
trả lời cho nhiều ứng dụng Các chức năng cần đến sự
phản ứng nhanh cũng có thể được đặt vào phần cứng
4.4 Tham khảo
Trang 19Chương 5
Hệ thống trên một vi mạch
Hệ thống trên một vi mạ hay có thể gọi “hệ thống
trên ip”, (trongtiếng Anh gọi là system-on-a-chip,
viết tắt là SoC hay SOC) là một hệ thống điện tử được
xây dựng trên một đế silicon với ý tưởng ban đầu là
tích hợp tất cả các thành phần của mộthệ thống máy
tínhlên trên mộtvi mạchđơn (hay còn gọi là mộtchip
đơn) Hệ thống SoC này có thể bao gồm các khối chức
năngsố,tương tự, tín hiệu kết hợp (mixed-signal) và cả
các khối tần số radio (RF) Ứng dụng điển hình của các
hệ thống trên một vi mạch là cáchệ thống nhúng
Hệ thống trên một vi mạch đôi khi còn được gọi là hệ
thống đơn ip hay hệ thống “sốc” (SoC).
Một hệ thống máy tính điển hình bao gồm một loạt các
mạch tích hợp cho phép thực hiện các nhiệm vụ khác
nhau Các mạch tích hợp này có thể là:
• bộ vi xử lý(microprocessor)
• bộ nhớ(RAM, ROM)
• khối truyền thông nối tiếp UART
• các cổng song song (parallel port)
• khối điều khiển truy xuất bộ nhớ trực tiếp (DMA
controller)
Sự phát triển gần đây củacông nghệ bán dẫncho phép
chúng ta tích hợp ngày càng nhiều thành phần vào một
hệ thống trên mộtvi mạch SoC có thể tích hợp thêm
các khối như: bộ xử lý tín hiệu số, bộ mã hóa, giải mã
Viterbi, Turbo,… tùy theo yêu cầu của từng ứng dụng
Các thiết kế SoC thường tiêu tốn ít năng lượng và có
giá thành thấp hơn các hệ thống đa chip nếu so sánh
cùng một thiết kế Ngoài ra, hệ thống đơn chip cũng có
tính ổn định cao hơn Các ứng dụng xây dựng trên cơ
sở sử dụng các hệ thống đơn chip cũng cho giá thành
thấp hơn, không gian chiếm chỗ ít hơn
5.1 Tham khảo 5.2 Liên kết ngoài
• TDK electric power meter IC- a typical signal system on chip
mixed-• SOCCAnnualIEEEInternational SOC Conference
• MIPS-basedSoCsatlinux-mips.org
13
Trang 20Chương 6
I²C
I²C, viết tắt của từ tiếng Anh "Inter-Integrated Circuit",
là một loạibus nối tiếpđược phát triển bởi hãng sản
xuất linh kiện điện tửPhilips Ban đầu, loại bus này
chỉ được dùng trong cáclinh kiện điện tửcủa Philips
Sau đó, do tính ưu việt và đơn giản của nó, I²C đã được
chuẩn hóa và được dùng rộng rãi trong các mô đun
truyền thông nối tiếpcủavi mạch tích hợpngày nay
6.1 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động
I²C sử dụng hai đường truyềntín hiệu: một đườngxung
nhịp đồng hồ(SCL) và một đường dữ liệu(SDA) SCL và
SDA luôn được kéo lên nguồn bằng mộtđiện trở kéo
lêncó giá trị xấp xỉ 4,7 KOhm Các chế độ hoạt động
của I²C bao gồm:
• Chế độ chuẩn (standard mode) hoạt động ở tốc độ
100 Kbit/s
• Chế độ tốc độ thấp (low-speed mode) hoạt động ở
tốc độ 10 Kbit/s
Tần số xung nhịp đồng hồ có thể xuống 0 Hz I²C sử
dụng 7 bit đểđịnh địa chỉ, do đó trên một bus có thể
định địa chỉ tới 112 nút, 16 địa chỉ còn lại được sử dụng
vào mục đích riêng Điểm mạnh của I²C chính là hiệu
suất và sự đơn giản của nó: mộtkhối điều khiển trung
tâmcó thể điều khiển cả một mạng thiết bị mà chỉ cần
hai lối ra điều khiển
(bằngtiếng Anh)
• http://www.i2c-bus.org
14
Trang 21Chương 7
IEEE 1394
IEEE 1394 là một chuẩn giao tiếp với băng thông cao
doIEEE(Institute of Electrical and Electronic Engineers)
công bố vào cuối năm 1995 (theo thứ tự công bố chuẩn
thứ 1394 như một sự tình cờ hoặc là lý do để chuẩn này
được đặt tên như vậy)
IEEE 1394 cũng còn được biết đến với tên
khác như: FireWire (hãng Apple ) i.LINK (hãng
Sony ) bởi bản thân IEEE 1394 không phải là
một loại cổng, chúng chỉ là một chuẩn giao tiếp
để các hãng phần cứng khác phát triển ra các
cổng giao tiếp dựa trên chuẩn này nếu được
chấp nhận rộng rãi.
7.1 IEEE 1394
Tiêu chuẩn chung nhất của IEEE 1394 là IEEE 1394a
hoặc IEEE 1394a-2000 với con số 2000 là năm mà chuẩn
được giới thiệu
Chuẩn IEEE 1394b được giới thiệu vào đầu năm 2003,
chuẩn này hỗ trợ băng thông lên đến 800 Mbps và còn
có khả năng mở rộng lên 3.200 Mbps trong tương lai
IEEE 1394b có tốc độ cao hơn các chuẩn IEEE 1394/IEEE
1394a bởi vì chúng hỗ trợ các công nghệ mạng bằng cáp
quang và các cáp theo Category 5 UTP IEEE 1394b hoàn
toàn tương thích ngược với các thiết bị theo chuẩn IEEE
1394a
7.1.1 IEEE 1394a
IEEE 1394a hiện tại hỗ trợ các mức băng thông 100
Mbps, 200 Mbps, và 400 Mbps (tương ứng 12,5 MBps, 25
MBps, và 50 MBps) IEEE 1394 cho phép kết nối đồng
thời đến 63 thiết bị bằng các hình thức phân nhánh
IEEE 1394a dùng cáp 6 sợi, trong đó 4 sợi cho truyền
tín hiệu, 2 sợi cho cung cấp nguồn điện Tuy nhiên một
loại đầu cắm nhỏ hơn dùng cho các thiết bị tự cung cấp
năng lượng chỉ có 4 sợi, trong đó không bố trí 2 sợi cung
cấp điện năng Các DV camcorder thường sử dụng loại
giao tiếp IEEE 1394 có 4 sợi bởi chúng tự cung cấp năng
lượng qua pin hoặc có nguồn điện riêng
• Tự sửa chữa lỗi (Self-healing loops)
• Hỗ trợ các cáp dài hơn.
• Hỗ trợ cáp CAT5 cũng như cáp quang.
IEEE 1394b có thể giao tiếp với nhiều loại thiết bị có
sử dụng các chuẩn giao tiếp theo chuẩn này thông quacác loại cáp chuyển đổi số chân cắm: 9 chân -> 6 chânhoặc 4 chân để phù hợp với các thiết bị sử dụng cáccổng giao tiếp theo chuẩn IEEE 1394a
Các loại cáp sử dụng với IEEE 1394b bao gồm:
• Beta: Chỉ dùng riêng với IEEE 1394b (không tương
thích với IEEE 1394a)
• Bilingual: Cáp loại này dùng đồng thời cho các
thiết bị IEEE 1394a/b, giúp các cổng theo IEEE1394b sử dụng tương thích ngược với các thiết bịtheo chuẩn thế hệ trước nó Có hai loại: 9 chânsang 6 chân và 9 chân ra 4 chân giúp việc tươngthích giữa hai chuẩn a/b
7.2 IEEE 1394 trong máy tính ngày nay
7.2.1 IEEE 1394 tích hợp
Ở các máy tính cá nhân phổ thông có giá thành thấp,chuẩn này chưa được đưa vào sử dụng bởi chúng làmtăng giá thành sản phẩm Ở các hệ máy tính tầm trung
và cao cấp chúng đã được tích hợp sẵn vàobo mạchchủ
Nhiều bo mạch chủ bán rời cho các người dùng tự lắpráp máy tính cũng được tích hợp các cổng IEEE 1394
ở dòng sản phẩm trung và cao cấp (đa số chúng có giá15
Trang 2216 CHƯƠNG 7 IEEE 1394
lớn hơn 100 USD ở thời điểm cuối năm 2007)
Một số bo mạch âm thanh thuộc dòng cao cấp cũng
Cũng giống như các giao tiếp khác có nhu cầu sử dụng
trên các máy tính cá nhân nhưng không được tích
hợp sẵn, một số nhà sản xuất phần cứng đã sản xuất
các bo mạch cung cấp các cổng I/O như IEEE 1394
Chúng thường được gắn vào các khe PCI trong máy
tính Không những phục vụ cho các máy tính cá nhân
để bàn, nếu cácmáy tính xách taychưa được tích hợp
các sẵn cổng giao tiếp theo chuẩn IEEE 1394 thì có thể
sử dụng các PCMCIA card để mở rộng ra các cổng theo
chuẩn IEEE 1394
7.2.3 Ứng dụng và phát triển
Do sự các thiết bị cần băng thông cao chưa phổ biến
trong người tiêu dùng nên các cổng IEEE 1394 chưa
được thôi thúc tích hợp sẵn trên tất cả các máy tính
cá nhân Đa số các thiết bị ngoại vi hiện nay chỉ khai
thác đến bus USB như:ổ usb flash,bàn phím,chuột…,
giao tiếp với cácmáy ảnh sốdo tốc độ truy cập dữ liệu
còn chậm nên cũng chỉ sử dụng USB Mặt khác USB 2.0
với băng thông 480 Mbps cũng đáp ứng khá tốt cho các
thiết bị kể trên
IEEE 1394 mới chỉ được khai thác ở các ứng dụng cần
băng thông lớn, đặc biệt là (một số trong chúng vẫn
chưa phổ biến với chuẩn này):
• DV cameras: Hầu hết các DV camera (digital
camera) ngày nay được tích hợp sẵn một cổng
IEEE 1394 (nên IEEE 1394 còn quen được gọi là
cổng DV hay DV port) Sự lựa chọn giao tiếp với
chuẩn IEEE 1394 bởi chúng đáp ứng với băng
thông cho video Nhiều phần mềm, tiện ích kèm
theo các DV camera này được phát triển trên nền
chuẩn IEEE 1394 như: chuyển video từ DV cam
sang PC, convert các định dạng video trực tiếp
theo thời gian thực khi chuyển…
• Các ổ đĩa cứng gắn ngoài và các thiết bị lưu trữ
khác gắn ngoài khác yêu cầu băng thông cao, như:
ổ đĩa quang(ổ CD, ổ DVD)
• Cácmáy quétcao cấp với độ phân giải cao
• Kết nối các máy tính với nhau với băng thông cao.
Trong tương lai, khi mà nhiều thiết bị sử dụng các
chuẩn IEEE 1394 thì chúng có thể thay thế các giao tiếp
USB đang phổ biến hiện nay cũng như USB đã thay thế
các cổng tuần tự và song song thế hệ trước nó
Trang 23Chương 8
Máy in laser
Máy in laser màu Fuji Xerox C1110B
Máy in laser (đọc là máy in la-de) là một loại
máy in thông dụng có khả năng in rất nhanh các
văn bản có chất lượng cao trên giấy trắng Cùng
với máy photocopy kỹ thuật số và máy in đa chức
năng(Multifunctionprinters = MFPs), máy in thực thi
một quá trình in xerographic nhưng khác với máy
photocopy tỷ biến ở chỗ hình ảnh trên giấy được in
bằng việc quét trực tiếp các chùm tia la-de hướng sang
thụ quan ánh sáng của máy
- Là một trong những máy in tĩnh điện gián tiếp
- Phần quan trọng nhất của máy in laser là trống cảm
quang được phủ một lớp phim hợp chất selen nhạy sáng
có đặc điểm là trong bóng tối nó có điện trở rất cao và
hoạt động như một tụ điện
- Trống được tích điện cao thế khi lăn qua dây tích điện
8.2.1 Hoạt động
• Tia laser được quét lên trống cảm quang qua
gương đa giác quay liên tục-> tia laser lần lượtquét lên bề mặt trống.(Tia này có cường độ mạnhhay yếu tùy thuộc vào độ đậm nhạt của từng điểmảnh và nó chiếu lên bề mặt trống làm giảm điệntrở của lớp phim trên đó)
• Tại những vị trí khác nhau tia laser chiếu có cường
độ khác nhau -> có điện trở khác nhau -> khi lănqua dây tích điện cao thế sẽ có điện tích lớn nhỏkhác nhau
• Những vị trí điện tích thấp (~0) thì không hút
mực,còn những vị trí có điện tích cao sẽ hút mực
• Lượng mực nhiều hay ít tùy vào cường độ của
điểm tích điện khi trống lăn qua hộp mực tạo nênnội dung của trang cần in
• Khi giấy lăn qua trống, nội dung của trang cần in
được truyền lên giấy
• Bột mực được nấu chảy khi tờ giấy đi qua trục sấy.
Nhiệt độ của trục sấy khoảng 260oC và cùng vớilực ép của trục sấy mực in nóng chảy sẽ được ấnchặt lên giấy
• Máy in laser màu có nguyên tắc làm việc tương tự
như máy in laser đen trắng, chỉ khác là thay vì cóhộp mực cho các màu cơ bản: đen, vàng, Magenta
và Cyan, phối hợp các màu này sẽ cho phép in màuthần kì
Trang 2418 CHƯƠNG 8 MÁY IN LASER
• Detailed description, modelling and simulation of
the electrophotographic print process (technical;
7.2MB)
• Những điều cần biết khi muốn mua máy in laser
màu
Trang 25Chương 9
Loa máy tính
Xem nghĩa khác của loa từ bài Loa (định
hướng)
Loa máy tính là thiết bị dùng để phát ra âm thanh phục
vụ nhu cầu làm việc và giải trí của con người với máy
tính cần đến âm thanh Loa máy tính thường được kết
nối với máy tính thông qua ngõ xuất audio củacard âm
thanhtrên máy tính
Loa máy tính gắn ngoài dùng cho phát âm thanh phục
vụ giao tiếp và giải trí thường được tích hợp sẵn mạch
công suất, do đó loa máy tính có thể sử dụng trực tiếp
với các nguồn tín hiệu đầu vào mà không cần đến bộ
khuếch đại công suất (amply).
Loa máy tính cũng có thể là mộtloa điện độngkết nối
vớimainboardhoặc một loa gốm tích hợp sẵn trong
maiboard với chức năng phát tiếng kêu trong quá trình
khởi động máy tính (POST) để đưa ra thông báo về tình
trạngphần cứng(tùy theo hãng sản xuất bios mà có các
“mã bíp” riêng, người sử dụng có thể chẩn đoán lỗi (nếu
xuất hiện) thông qua mã bíp của chúng…
Một chiếc loa trong thùng máy tính
Trong một số trường hợp tai nghe (headphone) được sử
dụng thay thế cho loa máy tính (thích hợp trong công
sở, phòng games hoặc các tụ điểm truy cập Internet có
nhiều máy trong một không gian giới hạn) Về cấu tạo,
nó cũng là những chiếc loa có kích thước nhỏ gọn, công
suất thấp, thiết kế để người dùng có thể đeo vào tai
(và thường tích hợp thêm micro) Loại này cắm thẳng
vào card âm thanh mà không cần mạch khuếch đại (trừ
dạng tai nghe không dây có mạch phát và khuếch đại
trực tiếp), chúng có thể được gắn thêmbiến trởđể điềuchỉnh âm lượng phù hợp với âm lượng muốn nghe
Loa và máy tính
Phần dưới đây trình bày về loa máy tính theo cách hiểu
là loại thiết bị phát âm thanh gắn ngoài phục vụ nhucầu giải trí của người sử dụng máy tính cá nhân
9.1 Đặc điểm của loa máy tính
Loa máy tính (loại gắn ngoài) thường được thiết kế kếthợp các loa thông thường trở thành các hệ thống loanhỏ gọn phù hợp với người sử dụng máy tính Nếu sửdụng để nghe nhạc, xem video thì chất lượng âm thanhcảm nhận từ các hệ thống loa máy tính có thể kém hơn19
Trang 2620 CHƯƠNG 9 LOA MÁY TÍNH
so với hệ thống âm thanh giải trí dân dụng Nhưng với
mục đích giải trí khác biệt như chơi games thì hệ thống
loa dân dụng không thể đáp ứng được
9.1.1 Đặc điểm thiết kế
Loa vệ tinh thường được đặt gầnmàn hình máy tính
nên chúng thường được chế tạo với vỏ loa chống từ
trường Do cấu tạo của loa sử dụng các nam châm vĩnh
cửu nên việc đặt cạnh các màn hình CRT có thể gây nên
hiện tượng nhiễm từ đối với màn hình, do đó lớp vỏ loa
vệ tinh được bọc một lớp kim loại có khả năng ngăn
chặn từ trường ảnh hưởng ra không gian bên ngoài
Ở loa tầm trung và tầm thấp, loa vệ tinh thường chỉ sử
dụng một loa hoặc hai loa nhưng cùng kích thước màng
loa nên chưa tái hiện đầy đủ dải âm trung và giải cao,
trong trường hợp này người sử dụng có thể gắn thêm
một loa tăng cường tiếng treble (nên sử dụng các loa
cóc dụng cho hệ thống loa dân dụng) thông qua một tụ
(tụ giấy hoặc tụ hóa) dung lượng 1 đến 4,7 micro fara,
điện áp tối thiểu 50V
Loa trầm thường có thùng loa gắn các linh kiện của bộ
khuếch đại công suất nên cần giải quyết các vấn đề:
ùng loa thường được thiết kế để nén và
cộng hưởng âm Với nguyên lý nén giống như
các loa nén (tên gọi khác: loa nón).
Mạch công suất phải được thiết kế đặc biệt
với các linh kiện được đổ keo định vị chống
rung; Hệ thống tản nhiệt bố trí hợp lý ra
phía ngoài thùng để tránh làm tăng nhiệt độ
thùng; Nguồn điện phải được chống nhiễu
tuyệt đối với các dây tín hiệu tương tự đầu
vào để tránh tạo âm nhiễu tại loa
Với một số hệ thống loa máy tính dùng amply rời thì
có nhiều thuận lợi hơn trong thiết kế (nên có thể cho
chất lượng cao hơn), tuy nhiên giá thành các hệ thống
này thường cao hơn, thường nhắm vào người sử dụng
cao cấp
9.1.2 Sự khác biệt với hệ thống loa giải trí
dân dụng
Sự thua kém của hệ thống loa máy tính thường là chất
lượng âm trầm Đối với hệ thống loa dân dụng do có
các thùng loa kích thước lớn, với ít nhất hai thùng loa
nên tạo ra âm trầm chắc, mạnh Loa máy tính chỉ bao
gồm một thùng loa trầm, màng loa kích thước giới hạn,
thùng loa bị chiếm nhiều diện tích bởi các linh kiện chế
tạo amply nên cho âm thanh thường không đạt như hệ
thống loa dân dụng
Sự lợi thế hơn ở loa máy tính là khi sử dụng chơi games
trên máy tính: với các hệ thống loa 5.1 hoặc 7.1 sẽ diễn
tả đầy đủ âm thanh của games Games thủ có thể hòa
mình và cảm nhận mọi âm thanh từ các hướng tronggames để định hướng chính xác cho nhân vật mìnhnhập vai hoặc khi đua xe, games thủ có thể nhận rõ
xe đối phương ở phía sau, vượt bên phải hay bên tráimình
Khi mà hiện nay phim DVD trở lên thông dụng thaythế cho các thể loại phim phát hành trên VCD thì sựthưởng thức phim trở lên hoàn hảo hơn với hệ thốngloa máy tính bởi tái hiện đầy đủ âm thanh trong phim,sống động với nhân vật với các hệ thống loa 5.1 (trởlên) thì loa máy tính tỏ ra lợi thế bởi các hệ thống loadân dụng mới chỉ thông dụng ở các hệ thống hai loa và
4 loa
9.2 Các loại loa máy tính
Loa máy tính loại độc lập thường được phân loại theo
số lượng loa vệ tinh và thùng loa siêu trầm, ký hiệu bởihai thông số ngăn cách nhau bằng một dấu chấm: dạngX.Y, trong đó: X là số loa vệ tinh, Y là số loa trầm (trongthời điểm hiện tại, Y = 1) Ví dụ: 2.0: Bộ loa gồm 2 loathông thường, không có loa trầm; 2.1: Bộ loa gồm 2 loa
vệ tinh, một loa trầm; 9.1: Bộ loa gồm 9 loa vệ tinh và
1 loa trầm
Loa máy tính còn có thể được tích hợp sẵn trên máytính xách tay và tích hợp sẵn trênmàn hình máy tính,các loại này chỉ đơn thuần là hệ thống 2.0 (cá biệt cũng
có loại loa tích hợp trên các màn hình máy tính có thểhợp chuẩn 2.1 khi có thêm loa trầm - Một số loại mànhình LCD của hãng ASUS đã xuất hiện loại này)
9.3 Các kiểu ngõ tín hiệu đầu vào loa máy tính
Ngõ đầu tín hiệu đầu vào loa máy tính gồm hai loại:Ngõ tương tự (analog) thông thường và ngõ vào tín hiệu
số (digital)
• Ngõ tín hiệu đầu vào tương tự: Là chuẩn đầu vào
thông dụng nhất trong loa máy tính và các hệthống dàn âm thanh giải trí dân dụng Với kiểunày có thể kết nối loa với Tivi, đầu CD, VCD, DVD,máy nghe MP3…
• Ngõ tín hiệu đầu vào số (coaxial: ngõ đồng trục
hay optical: ngõ quang): Là kiểu kết nối thông quatín hiệu số, tín hiệu truyền đến loa được chínhxác và loại bỏ nhiễu có thể xuất hiện trên đườngtruyền so với kiểu tín hiệu tương tự Do vậy ngõtín hiệu số chỉ xuất hiện trên các hệ thống loa máytính cao cấp
Trang 279.6 MỘT SỐ LOA MÁY TÍNH KHÁC THƯỜNG 21
9.4 Điều khiển loa máy tính
Do đặc tính khuếch đại công suất trong loa máy tính
nên bao giờ loa máy tính cũng có núm chỉnh âm lượng
Các điều khiển khác tùy từng loại, có thể bao gồm:
• Điều chỉnh tổng thể bằng thiết bị điều khiển từ xa:
Giống như các thiết bị giải trí gia đình khác (ti vi,
đầu đọc CD/DVD…) dùng điều khiển toàn bộ hoặc
một phần chức năng của loa
• Điều chỉnh sơ lược về tần số phát (núm tone): Núm
này dùng để điều chỉnh phạm vi tần số được phát
trên loa máy tính giúp người nghe có thể điều
chỉnh âm thanh tổng thể tăng hoặc giảm dải tần
số cao (treble) ực chất trong mạch khuếch đại,
núm điều chỉnh này chỉ bao gồm một tụ điện nối
tiếp với một biến trở để có thể loại bỏ bớt thành
phần tín hiệu có tần số cao
• Điều chỉnh tần số trầm và cao (bass và treble): Một
số loa có hai nút riêng biệt để điều chỉnh cường độ
phát của âm trầm và âm thanh ở tần số cao (loại
này có nguyên lý khác biệt với núm tone trình bày
ở trên
• Điều chỉnh lựa chọn ngõ vào: Với loại loa có nhiều
đầu vào trên loa thường có ít nhất một nút điều
khiển lựa chọn đầu vào âm thanh phát chính thức
cho loa
• Điều chỉnh âm thanh giả lập: Một tính năng cộng
thêm cho loa máy tính để có thể phát các âm thanh
xoay vòng giả lập được thực hiện trực tiếp trên loa
(so với cách tạo trên các phần mềm) Chức năng
này có thể sử dụng cho việc phát đầy đủ âm thanh
trên hệ thống loa có nhiều loa vệ tinh (từ 4.1 trở
lên) nhưng card âm thanh chỉ hỗ trợ 2 ngõ ra âm
thanh Chất lượng âm thanh giả lập tạo ra trên
loa thường không thể bằng các hiệu ứng tạo ra do
phần mềm
9.5 Cách sắp xếp loa hợp lý
Nếu hệ thống loa máy tính chỉ gồm hai loa (2.0) thì
cách bố trí rất đơn giản: Chỉ việc đặt hai loa hai bên
màn hình máy tính, đối diện người sử dụng máy tính
và chú ý đến loa phải, trải theo đúng quy định
Với các hệ thống loa X.1 cách bố trí như sau:
• Loa 2.0: Bố trí hai bên màn hình hoặc phía sau
của màn hình, chú ý về vị trí trái/phải để đảm bảo
đúng âm thanh khi chơi games
• Loa 2.1: Bố trí như loa vệ tinh như loa 2.0, thùng
loa trầm đặt dưới đất, tốt nhất đặt gần góc phòng
để tăng hiệu ứng âm trầm
• Loa 4.1: Hai loa vệ tinh phía trước và loa trầm bố
trí như loa 2.1, hai loa sau đặt phía sau của taingười ngồi trước màn hình máy tính
• Loa 5.1: Bố trí như hệ loa 4.1, thêm loa giữa đặt
tại phía trên của màn hình (nếu là loại màn hìnhCRT) hoặc có thể treo trên tường phía sau mànhình (đối với loại tinh thể lỏng)
• Loa 7.1: Bố trí như 5.1, thêm hai loa hai bên đặt
hai bên ngang tai người sử dụng máy tính Mộtcách khác khi bố trí loa 7.1 là đặt hai loa ngang taisang vị trí như hai loa vệ tinh của hệ 5.1 nhưngđối xứng ra xa màn hình hơn so với hai loa vệ tinhphía trước
Trong một số loại loa máy tính có đủ đường vào theocác tiêu chuẩn X.1 nhưng số loa vệ tinh không đúng
là X thì có thể sắp xếp các loa kết hợp ở phía trướcgiống như các loa máy tính kiểu của loa (X-2).1 bởi cácloa phía sau có thể được tích hợp sẵn vào các loa phíatrước nhưng xoay hướng để giả lập hệ loa với nhiều loa
vệ tinh hơn (Ví dụ có các hệ thống có đầy đủ đường vàotheo chuẩn 5.1 nhưng thực chất chỉ có 3 loa vệ tinh thìhai loa phía sau được gắn cùng với các loa phía trướcnhưng bố trí hướng phát lệch đối xứng về hai bên)Trong mọi trường hợp sau khi lắp đặt các loa vệ tinh,cần phải kiểm tra các vị trí của chúng để đảm bảo tínhđúng đắn của các kênh trái và phải ông thường cáccard âm thanh đều có các phần mềm kèm theo cho phépkiểm tra vị trí theo cách trực quan: Phát tiếng riêngtừng loa một và thể hiện trên màn hình để người sửdụng có thể kiểm tra vị trí của chúng
9.6 Một số loa máy tính khác thường
Sự đặc biệt ở là chúng được thiết kế khác thường không theo chuẩn thông thường và rất hiếm gặp
-• Loa sử dụng nguồn điện trực tiếp trong máy
tính: Các loa máy tính gắn ngoài thường có bộ
khuếch đại công suất, do đó chúng cần cung cấpđiện năng để hoạt động Với người dùng không
có nhu cầu cần phát âm thanh chất lượng cao vớicông suất lớn, một số nhà sản xuất đã thiết kếloại loa sử dụng điện năng trực tiếp từ máy tính.Điện năng cung cấp được lấy từ nguồn điện 5Vcủa các cổng giao tiếpUSBcủa máy tính (tương
tự việc cung cấp điện năng cho một số loại ổ cứng
di động gắn ngoài thông qua giao tiếp USB) Vớikhả năng cung cấp dòng điện giới hạn nên các loanày thường có công suất thấp
• Loa máy tính không sử dụng ngõ xuất audio
của card âm thanh: Các loa loại này không sử
dụng các cạc âm thanh thường thấy trên máy tính,
Trang 2822 CHƯƠNG 9 LOA MÁY TÍNH
chúng được tích hợp sẵn chip giải mã âm thanh tại
loa thông qua giao tiếp USB
• Loa tích hợp vớimàn hình máy tính: Một số hãng
sản xuất tích hợp loa vào một số model kể cả của
loại CRT và tinh thể lỏng Loa thường được gắn
hai chiếc vào hai bên để phát stereo, một số màn
hình được sản xuất cho các games thủ còn có cả
các loa siêu trầm Một cách khác loa cũng có thể
được gắn chìm hoặc giấu phía sau màn hình
9.7 Tham khảo
• Scott Mueller; Upgrading and Repairing Pcs, 17th
Edition.
9.8 Chú thích