1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Các trang trong thể loại “cổ sinh vật học”

81 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC NHÀ CỔ SINH HỌC NỔI TIẾNG 3adean Tỷ lệ trục:Matriệu năm Xem thêm:Lịch sử tự nhiên , Tiến hóa người 1.1 Tổng quan Cổ sinh vật học hiện đại đặt sự sống cổ xưa dưới quan điểm của nó, bằ

Trang 1

Các trang trong thể loại “Cổ sinh vật học”

Trang 2

1 Cổ sinh vật học 1

1.1 Tổng quan 3

1.2 Các nhà cổ sinh học nổi tiếng 3

1.3 Nghiên cứu 4

1.4 Xem thêm 4

1.5 am khảo 4

1.6 Liên kết ngoài 4

2 Bùng nổ kỷ Cambri 5 2.1 Chỉ dẫn 6

2.2 am khảo 6

2.3 Liên kết ngoài 6

3 Sự kiện tuyệt ủng kỷ Creta-Paleogen 7 3.1 Các kiểu tuyệt chủng 8

3.1.1 Vi sinh vật 9

3.1.2 Động vật không xương sống ở biển 10

3.1.3 Cá 11

3.1.4 Động vật không xương sống trên cạn 11

3.1.5 ực vật trên cạn 11

3.1.6 Động vật lưỡng cư 11

3.1.7 Bò sát không phải Archosauria 11

3.1.8 Bò sát Archosauria (ằn lằn chúa) 12

3.1.9 ú 14

3.2 Bằng chứng 14

3.2.1 Các hóa thạch ở Bắc Mỹ 14

3.2.2 Hóa thạch biển 14

3.3 ời gian diễn ra 15

3.4 Nguyên nhân gây tuyệt chủng 15

3.4.1 Sự va chạm của tiểu hành tinh 15

3.4.2 Bẫy Deccan 16

3.4.3 Sự va chạm của các tiểu hành tinh nhiều lần 16

3.4.4 Biển thoái Maastricht 17

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

3.4.5 Nhiều nguyên nhân khác 17

3.5 Xem thêm 17

3.6 am khảo 17

3.6.1 Chú giải 17

3.6.2 Chú thích 17

3.7 Đọc thêm 22

3.8 Liên kết ngoài 22

4 Động vật không xương sống 23 4.1 Đặc điểm 23

4.1.1 Các ngành 23

4.2 Xem thêm 24

4.3 am khảo 24

4.4 Đọc thêm 25

4.5 Liên kết ngoài 25

5 Đới (địa tầng) 26 5.1 Khoảng thời gian 26

5.2 Sự trải rộng địa lý 26

5.3 Tên gọi 26

5.4 So sánh liên ngành 26

5.5 Các chủ đề liên quan 26

5.6 Liên kết ngoài 27

5.7 Ghi chú 27

5.8 am khảo 27

6 Giới (địa tầng) 28 6.1 Xem thêm 28

6.1.1 So sánh liên ngành 28

6.1.2 Các chủ đề liên quan 28

6.2 Liên kết ngoài 28

6.3 Ghi chú và tham khảo 28

6.3.1 am khảo 29

7 Henri Mansuy 30 7.1 Hoạt động 30

7.2 Chỉ dẫn 30

7.3 am khảo 30

7.4 Xem thêm 30

7.5 Liên kết ngoài 30

8 Huy ương Daniel Giraud Elliot 31 8.1 Những người đoạt Huy chương 31

Trang 4

8.2 am khảo 32

8.3 Liên kết ngoài 32

9 Jacques Deprat 33 9.1 Hoạt động 33

9.2 Nghiên cứu địa chất 34

9.3 Văn chương 34

9.4 Chỉ dẫn 34

9.5 am khảo 34

9.6 Xem thêm 34

9.7 Liên kết ngoài 34

10 Khủng long 35 10.1 Từ nguyên 35

10.2 Định nghĩa 36

10.3 Nguồn gốc 36

10.4 Phân loại 36

10.5 Sinh học 38

10.5.1 Kích thước 38

10.5.2 Hành vi 39

10.5.3 Sinh sản 40

10.6 Sự tuyệt chủng 40

10.6.1 Sự va chạm của tiểu hành tinh 40

10.6.2 Bẫy Deccan 40

10.6.3 Khủng long sống sót qua vụ tuyệt chủng 41

10.7 Hình ảnh khủng long qua các thời đại 41

10.8 Dòng thời gian phát hiện các chi khủng long đáng chú ý 41

10.9 Danh sách các loại khủng long 41

10.10 Xem thêm 41

10.11 am khảo 42

10.12 Đọc thêm 44

10.13 Liên kết ngoài 45

11 Labyrinthodontia 46 11.1 Các đặc điểm 46

11.2 Xem thêm 46

11.3 am khảo 46

11.4 Liên kết ngoài 47

12 Sự kiện tuyệt ủng Devon muộn 48 12.1 Xem thêm 48

12.2 Chú thích 48

12.3 Đọc thêm 49

Trang 5

iv MỤC LỤC

12.4 Liên kết ngoài 49

13 Liên giới (địa tầng) 50 13.1 Đặc điểm 50

13.2 Các chuẩn xác định niên đại 51

13.3 Xem thêm 51

13.3.1 So sánh liên ngành 51

13.3.2 Các chủ đề liên quan 51

13.4 Liên kết ngoài 51

13.5 Ghi chú và tham khảo 51

13.5.1 am khảo 51

14 Louis Leakey 52 14.1 Chú thích 52

15 Mary Leakey 53 15.1 Chú thích 53

15.2 Xem thêm 54

16 Động vật Một cung bên 55 16.1 ay đổi phân loại 55

16.2 Đặc trưng 55

16.3 Tiến hóa 55

16.4 Phân loại 57

16.4.1 Kinh điển 57

16.4.2 Phát sinh loài 57

16.5 am khảo 57

16.6 Xem thêm 57

16.7 Liên kết ngoài 57

17 Nhóm ỏm cây 58 17.1 am khảo 59

18 Sự kiện tuyệt ủng Ordovic–Silur 60 18.1 Chú thích 60

18.2 Đọc thêm 60

18.3 Liên kết ngoài 60

19 Ouranopithecus macedoniensis 61 19.1 Phát hiện và đặt tên 61

19.2 Chú thích 61

19.3 am khảo 61

Trang 6

20.1 am khảo 62

21 Stegocephalia 63 21.1 Lịch sử hệ thống học 63

21.2 Sử dụng kiểu miêu tả nhánh của Stegocephalia 63

21.3 Tổng quan hệ thống học 63

21.4 Ghi chú 63

21.5 Liên kết ngoài 64

22 Sự kiện tuyệt ủng kỷ Permi-kỷ Trias 65 22.1 ời gian tuyệt chủng 65

22.2 am khảo 66

23 Sự kiện tuyệt ủng Kỷ Trias–Jura 68 23.1 Ảnh hưởng 68

23.2 Các giả thuyết hiện tại 68

23.3 am khảo 69

23.4 Đọc thêm 69

23.5 Liên kết ngoài 69

24 Tuyệt ủng Miocen giữa 70 24.1 am khảo 70

24.2 Đọc thêm 70

24.3 Liên kết ngoài 70

24.4 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 71

24.4.1 Văn bản 71

24.4.2 Hình ảnh 72

24.4.3 Giấy phép nội dung 75

Trang 7

Chương 1

Cổ sinh vật học

Hóa thạch một con sinh vật cổ, thuộc chi Marrella

Tiến hóa loài người

xem•thảo luận•

Homo habilis Homo erectus Neanderthal Homo sapiens

←Vượn cổ xưa

←Dùng lửa

←Nấu ăn

ần áo

←Người hiện đại

Pleistocene

Plioce1

Trang 8

Miocene

Hominids

Tỷ lệ trục:Ma(triệu năm)

Xem thêm:Tiến hóa sự sống

Cổ sinh vật học là mộtngành khoa học nghiên cứu

lịch sửphát triển củasự sốngtrênTrái Đất, về các loài

động vậtvàthực vậtcổ xưa, dựa vào cáchóa thạchtìm

được, là các chứng cứ vềsự tồn tạicủa chúng được bảo

tồn trongđá Các nghiên cứu về hình dáng dựa theo

cácbộ xương hóa thạch, các dấu vết, các hang động,

thành phầnthức ăn, dựa vàophân(“phân hóa đá") đã

hóa thạch, vàthành phần hóa họccòn lại của nó

ực vật cạn

Khủng long Lớp ú

Tv có hoa

←Trái Đất sơ khai

←Nước sơ khai

Sự sống sơ khai(−4100)

Meteorite bombardment

←Oxy sơ khai

Sự sống trên cạn sơ khai

←Người cổ xưa

PhanrzcProterozoicArcheanH

Trang 9

1.2 CÁC NHÀ CỔ SINH HỌC NỔI TIẾNG 3

adean

Tỷ lệ trục:Ma(triệu năm)

Xem thêm:Lịch sử tự nhiên , Tiến hóa người

1.1 Tổng quan

Cổ sinh vật học hiện đại đặt sự sống cổ xưa dưới quan

điểm của nó, bằng việc nghiên cứu những sự thay đổi

lâu dài về mặt vật lý của địa lý ("cổ địa lý học") và khí

hậu ("cổ khí hậu học") toàn cầu có ảnh hưởng như thế

nào đến sựtiến hóacủa sự sống, các hệ sinh thái có

những phản ứng như thế nào đối với những sự thay

đổi đó và những thay đổi đó đã ảnh hưởng như thế nào

đối với môi trường của hành tinh chúng ta, và những

tác động qua lại đó đã ảnh hưởng như thế nào đến sựđa

rộng lớn như vậy cổ sinh vật học bao trùm rất nhiều

các ngành khoa học khác như:địa chất học, với những

nghiên cứu về lĩnh vực đá và thành phần của đá,thực

vật học,sinh vật học,động vật học, vàsinh thái học, là

các lĩnh vực nghiên cứu việc hình thành sự sống và các

mối quan hệ giữa các lĩnh vực đó với nhau.[1][2]

Các lĩnh vực chính của cổ sinh vật học bao gồmcổ động

vật họcvề các loài động vật cổ đại,cổ thực vật họcvề

các loài thực vật cổ đại, vàcổ vi sinh vật họcvề các

loài về các hóa thạch của các loài vi sinh vật.[3] Các

nhà cổ sinh vật học có thể đi theo các hướng nghiên

cứu khác nhau dựa vào lĩnh vực mà họ nghiên cứu như

các nhà cổ sinh vật học nghiên cứu các loại động vật

không xương sống (cổ sinh vật không xương sống, các

nhà cổ sinh vật học nghiên cứu các loại động vật có

xương sống (cổ sinh vật có xương sống, bao gồm cả các

hóa thạch của loài người (cổ nhân chủng học) Các nhà

cổ vi sinh học nghiên cứu các loại hóa thạch của các

loài vi sinh vật, bao gồm việc nghiên cứu các hóa thạch

được bao bọc trong các chất hữu cơ khác ví dụ như hổ

phách…được gọi làphấn hoa học.[4]

Có rất nhiều các lĩnh vực đặc trưng nhưcổ sinh thái

học,cổ thực vật học,khoa học nghiên cứu dấu phân

hóa thạch…, tất cả các nghiên cứu đó để làm sáng tỏ

những vấn đề mà con người hiện đại chưa biết đến sau

khi các loài sinh vật đó biến mất khỏi sự sống

Các lĩnh vực chính của việc nghiên cứu cổ sinh vật học

liên quan đến các vấn đề nhưtầng đávớiniên đại địa

chấtcủa chúng và việc nghiên cứu đếnsự tiến hóacủa

sự sống.[5]Cổ sinh vật học sử dụng cùng một hệ thống

danh pháp képcổ điển được nghĩ ra chosinh họccủa

nhà sinh vật học người ụy Điển Carolus Linnaeus

vào giữathế kỷ 18và việc nghiên cứu cổ sinh vật học

tiếp tục thêm vào các loài mới vào trong cây phả hệ của

sự sống trên Trái Đất và so sánh mức độ quan hệ giữacác loài này bằng “kỹ thuật” còn nhiều mâu thuẫn làphân loại và miêu tả theo nhánh.[6][7][8]

Lợi ích kinh tế cơ bản mà cổ sinh vật học mang lại đó

là dựa vào kết quả nghiên cứu cổ sinh vật học người

ta có thể xác định được niên đại của các lớp đất đá baoquanh các hóa thạch đó hoặc các lớp đất đá ở phía trênhoặc dưới nó Những thông tin đó là rất quan trọng đốivới ngành công nghiệpkhai khoángvà đặc biệt là đốivới ngành công nghiệpdầu mỏ

Người tiền sử cũng đã biết đến các hóa thạch và đôi khi

họ đã xác định chính xác chúng là các tàn tích của cácdạng sống cổ đại Việc nghiên cứu có tổ chức của cổsinh vật học được bắt đầu vào cuối thế kỷ 18.[9]

1.2 Các nhà cổ sinh học nổi tiếng

Các nhà cổ sinh vật học thuộc típ những người màu

mè và lập dị trong lịch sử khoa học Những nhân vật

quan trọng bao gồmWilliam Smithngười Anh là ngườiđầu tiên thông báo rằng các chuỗi hóa thạch tương

tự nhau đã được tìm thấy theo khu vực và Georges

cổ đại dựa trên các động vật còn đang sinh sống.Nổi tiếng nhất trong số các người Mỹ là EdwardDrinker Cope, Othniel Charles Marsh, Paul Sereno,Henry Fairfield Osborn,Louis Agassiz,Charles Walco

vàRoy Chapman Andrews Các nhà cổ sinh vật học nổitiếng ở châu Âu cóBjörn Kurtén(người Phần Lan gốc

ụy Điển), nhà cổ côn trùng học người Czech JarmilaKukalova-Peck.Franz Nopcsa von Felsö-Szilvásthôngthường được coi là người sáng lập ra bộ môn cổ sinhhọc, một lĩnh vực cần thiết phải làm việc với các chứcnăng sinh học và sinh thái học được suy ra từ các hóathạch

Ngoài ra còn một số các nhà cổ sinh vật học nổi tiếngkhác.Charles Darwinđã thu thập các mẫu hóa thạchđộng vật có vú ở Nam Mỹ trong chuyến công du củamình tới Beagle và đã kiểm tra các cánh rừng hóa đá ởPatagonia.omas Jeffersoncó một sự ham mê với các

bộ xươngvoi ma mút Bằng việc quan sát răng động vật

có vú và đào bới nghiên cứu vềchim cánh cụt,George

yếu trong việc đem các ý tưởng từ sinh học, cổ sinh vậthọc và di truyền học lại với nhau để góp phần tạo ra “sựtổng hợp hiện đại” của sinh học tiến hóa, cuốn sách

“Tempo and Mode” của ông là cổ điển trong lĩnh vựcnày Các tên tuổi nổi tiếng trong cổ sinh vật học độngvật không xương sống cóSteven Stanley,Stephen JayGould, David Raup,Geerat Vermeij và Jack Sepkoski

là những người đã làm rất nhiều để mở rộng kho tàngkiến thức của chúng ta về các mô hình dài hạn trong sựtiến hóa sự sống trên Trái Đất Tương tự là trường hợpcủa nhà khoa học ngườiCroatia Dragutin Gorjanovic-Krambergervàphát hiệncủa ông về "Người Krapina"

Trang 10

Các nhà cổ sinh vật học khác còn cóYves Coppens.

Các nhà khoa học hiện đại trong lĩnh vực cổ sinh

vật học bao gồmJohn Ostrom,Bob Bakker, David B

WeishampelvàJack Horner

1.3 Nghiên cứu

Các công việc trong lĩnh vực cổsinh vật họccó thể chia

ra thànhđiều tra ngoài trời, chuẩn bị hóa thạch và xử

lý trong phòng thí nghiệm, phân loại và thu thập các

dữ liệu khác, miêu tả hệ thống các loài mới và quản lý

các mẫu sưu tập

1.4 Xem thêm

ời gian biểu của địa lý, cổ sinh vật học, sinh học

Các ấn phẩm quan trọng trong cổ sinh vật học

1.5 Tham khảo

[1] Cowen, R (2000) History of Life (3rd ed.) Blackwell

Science p xi.ISBN 0-632-04444-6

[2] Laporte, L.F (October 1988) “What, aer

All, Is Paleontology?" PALAIOS 3 (5): 453.

doi:10.2307/3514718.JSTOR 3514718

[3] Cleland, C.E (September 2002).“Methodological and

Epistemic Differences between Historical Science and

Experimental Science”(PDF) Philosophy of Science 69

(3): 474–496.doi:10.1086/342453 Retrieved September

17, 2008

[4] Cleland, C.E (September 2002).“Methodological and

Epistemic Differences between Historical Science and

Experimental Science”(PDF) Philosophy of Science 69

(3): 474–496.doi:10.1086/342453 Retrieved September

17, 2008

[5] Twitche RJ; Looy CV; Morante R; Visscher H;

Wignall PB (2001) “Rapid and synchronous collapse

of marine and terrestrial ecosystems during the

end-Permian biotic crisis” Geology 29 (4): 351–

354 Bibcode:2001Geo….29 351T

doi:10.1130/0091-7613(2001)029<0351:RASCOM>2.0.CO;2

[6] Garwood, Russell J.; Rahman, Imran A.; Suon, Mark

D A (2010).“From clergymen to computers: the advent

of virtual palaeontology” Geology Today 26 (3): 96–100

doi:10.1111/j.1365-2451.2010.00753.x Retrieved June 16,

2015

[7] Cady, S.L (April 1998) “Astrobiology: A New Frontier

for 21st Century Paleontologists” PALAIOS 13 (2):

95–97 doi:10.2307/3515482 JSTOR 3515482 PMID

11542813

[8] Algeo, T.J & Scheckler, S.E (1998) marine teleconnections in the Devonian: linksbetween the evolution of land plants, weatheringprocesses, and marine anoxic events” Philosophical

“Terrestrial-Transactions of the Royal Society B 353 (1365): 113–130.

doi:10.1098/rstb.1998.0195.PMC 1692181

[9] Brasier, M.; McLoughlin, N.; Green, O & Wacey,

D (June 2006) “A fresh look at the fossil evidencefor early Archaean cellular life” (PDF) Philosophical Transactions of the Royal Society B 361 (1470): 887–

902 doi:10.1098/rstb.2006.1835 PMC 1578727 PMID

16754605 Retrieved August 30, 2008

1.6 Liên kết ngoài

mộ, với các tin tức quốc tế mới nhất về khủng long

các mẫu hóa thạch

Website cổ sinh học của Smithsonia

Viện bảo tàng cổ sinh vật học trường đại học tổnghợp California- Các câu hỏi thường gặp về cổ sinhvật học

thông tin và hình ảnh sơ lược về các thời kì tronglịch sử tự nhiên và về hơn 300 loại khủng long đãđược biết đến

Trang 11

Sự sống trên cạn sơ khai

←Người cổ xưa

PhanrzcProterozoicArcheanHadean5

Trang 12

Tỷ lệ trục:Ma(triệu năm)

Xem thêm:Lịch sử tự nhiên , Tiến hóa người

Bùng nổ kỷ Cambri là sự xuất hiện một cách tương đối

nhanh chóng hầu hết các giới động vật chính được ghi

nhận lại từ các hóa thạch vào khoảng 542 triệu năm

trước trongkỷ Cambri.[1][2]Sự kiện này đi cùng với các

sự đa dạng chính của các sinh vật khác.[note 1]Trước đó

vào khoảng 580 triệu năm trước,[note 2]hầu hết các sinh

vật có cấu trúc đơn giản, chủ yếu là các tế bào riêng

biệt đôi khi được tổ chức thành cáctập đoàn Sau 70

hoặc 80 triệu năm, tốc độtiến hóatăng lên theo cấp

số nhân[note 3]và sự đa dạng hóa sự sống bắt đầu tương

tự như ngày nay.[5] Tất cả các giới hiện nay đã xuất

hiện vào 20 triệu năm đầu của thời kỳ này,[6]ngoại trừ

Bryozoa, chúng xuất hiện sớm nhất vàoOrdovichạ.[7]

Bùng nổ kỷ Cambri đã tạo ra những tranh luận khoa

học rộng rãi Sự xuất hiện dường như nhanh chóng các

hóa thạch trong “tầng Primordial” được ghi nhận vào

đầu thập niên 1840,[8]và vào năm 1859Charles Darwin

đã thảo luận về vấn đề này như là một trong những

phản đối chính chống lạithuyết tiến hóacủa ông về

chọn lọc tự nhiên.[9]

2.1 Chỉ dẫn

[1] Bao gồm ít nhất là động vật,thực vật phù duvàvi sinh

vật vôi.[3]

[2] Vào 610 triệu năm trước, Aspidella xuất hiện, nhưng

không rõ rằng chúng có đại diện cho các dạng sống

phức tạp

[3] Khi được xác định về tốc độ tuyệt chủng và phát sinh

loài.[4]

2.2 Tham khảo

[1] e Cambrian Period

[2] e Cambrian Explosion – Timing

[3] Buerfield, N.J (2001) “Ecology and evolution of

Cambrian plankton” e Ecology of the Cambrian

Radiation(PDF) New York: Columbia University Press

tr 200–216.ISBN 978-0-231-10613-9 Truy cập ngày 19

tháng 8 năm 2007

[4] Hoàn thành chú thích này

[5] Bambach, R.K.; Bush, A.M., Erwin, D.H (2007)

“Autecology and the filling of Ecospace: Key

metazoan radiations!” Palæontology 50 (1): 1–22.

doi:10.1111/j.1475-4983.2006.00611.x

[6] e Ordovician: Life’s second big bang

[7] Taylor, P.D.; Berning, B.; Wilson, M.A (2013)

“Reinterpretation of the Cambrian 'bryozoan' Pywackia

as an octocoral” Journal of Paleontology 87 (6): 984–990.

[8] Buckland, W (1841) Geology and Mineralogy Considered with Reference to Natural eology.

Lea & Blanchard.ISBN 1-147-86894-8

[9] Darwin, C(1859) On the Origin of Species by Natural Selection London: Murray tr.306–308.ISBN 1-60206-144-0.OCLC 176630493

2.3 Liên kết ngoài

molecular biology: would Darwin be satisfied?

megatonnage?”(Scholar search)

Radio 4broadcast, ngày 17 tháng 2 năm 2005

2011., exhaustive details about the Burgess Shale,its fossils, and its significance for the CambrianExplosion

good images of a range of Burgess-shale-type andother Cambrian fossils

Trang 13

Sự sống trên cạn sơ khai

←Người cổ xưa

PhanrzcProterozoicArcheanHadean7

Trang 14

Tỷ lệ trục:Ma(triệu năm)

Xem thêm:Lịch sử tự nhiên , Tiến hóa người

Sự kiện tuyệt ủng kỷ Creta-Paleogen (K–Pg) hay

Tranh của Don Davis phác họa ảnh hưởng của thiên thạch

bolide

Badlands gần Drumheller , Alberta , tây Canada lộ ra ranh giới

K-T do hoạt động xói mòn

Sự kiện tuyệt ủng kỷ Creta-phân đại Đệ Tam (K–

T)[1][lower-alpha 1][lower-alpha 2]xảy ra cách đây khoảng 65,5

triệu năm (Ma) vào cuối thời kỳ Maastricht, là hiện

tượng các loàiđộng thực vật tuyệt chủngvới quy mô

lớn trong một khoảng thời gian địa chất ngắn.[2][3][4]

Sự kiện này còn liên quan đến ranh giới địa chất giữa

kỷ Cretavàkỷ Paleogen, đó là một dảitrầm tíchmỏng

được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới.[lower-alpha 2]Sự

kiện này đánh dấu sự kết thúc củađại Trung Sinhvà

bắt đầuđại Tân Sinh.[4]

Đá Wyoming (US) với lớp sét kết nằm giữa chứa hàm lượng

iridi cao gấp 1000 lần so với trong các lớp nằm trên và dưới Hình được chụp tại bảo tàng lịch sử tự nhiên San Diego

được tìm thấy bên dưới ranh giới k-T, điều này cho thấyrằng các khủng long khác chim đã tuyệt chủng trong

sự kiện này.[5]Một số lượng rất ít hóa thạch khủng long

đã được tìm thấy bên trên ranh giới K-T, nhưng đượcgiải thích là do quá trình tái lắng đọng các vật liệu này,nghĩa là các hóa thạch bị bóc mòn từ các vị trí nguyênthủy của chúng và sau đó được bảo tồn trong các lớptrầm tích được hình thành sau đó.[6][7][8]ương long,thằn lằn cổ rắn,thằn lằn có cánh, và một số loài thựcvật vàđộng vật không xương sốngcũng tuyệt chủng.Nhánhđộng vật có vúđã tồn tại qua sự kiện này vớimột số ít bị tuyệt chủng, và phân tỏa tiến hóa từ cácnhánh có mặt trongtầng Maastrichtđã xuất hiện nhiềusau ranh giới này Các tốc độ tuyệt chủng và phânnhánh thay đổi ở các nhánh sinh vật khác nhau.[9]

Các nhà khoa học giả thuyết rằng sự kiện tuyệt chủngK–T là do một hoặc nhiều thảm họa, như sự tácđộng mạnh mẽ của các thiên thạch (giống như hốChicxulub[10]), hoặc do sự gia tăng mức độhoạt độngcủa núi lửa Một vài hố va chạm và hoạt động núi lửamạnh mẽ đã được định tuổi tương ứng với thời gian xảy

ra sự kiện tuyệt chủng Các sự kiện địa chất như thế này

có thể làm giảm lượng ánh sáng và mức độquang hợp,dẫn đến sự phá hủy hệ sinh thái củaTrái Đấttrên quy

mô lớn Các nhà nghiên cứu khác thì tin tằng sự tuyệtchủng phát triển từ từ, là kết quả của sự biến đổi chậmhơn của mực nước biển hoặc khí hậu.[9]

3.1 Các kiểu tuyệt chủng

K–TTr–JP–Tr

D3

O–S

Trang 15

3.1 CÁC KIỂU TUYỆT CHỦNG 9

Cách đây hàng triệu năm

Cường độ tuyệt chủng ở biển theo thời gian Biểu đồ

màu xanh thể hiện phần trăm (con số không chắc

chắn) của các chi động vật biển trở nên tuyệt chủng

trong một khoảng thời gian bất kỳ Nó không phản

ảnh tất cả các loài sinh vật biển, chỉ đối với những

loài đã hóa thạch XemSự kiện tuyệt chủng ( nguồn và

thông tin hình )

Mặc dù sự kiện đánh dấu một ranh giới địa chất là khốc

liệt, đó là sự biến đổi đáng kể về tốc độ tuyệt chủng giữa

và trong cácnhánhkhác nhau Các loài phụ thuộc vào

quang hợp đã suy giảm hoặc trở nên tuyệt chủng khi

các hạt vật chất trong khí quyển che ánh nắng mặt trời

và làm giảmnăng lượng mặt trờiđến được bề mặt Trái

Đất Sự tuyệt chủng thực vật này gây ra một xáo trộn

lớn đối với các nhóm thực vật chi phối.[11]Các loài sinh

vật quang hợp, bao gồmthực vật phiêu sinhvà thực vật

trên cạn, tạo thành nền tảng củachuỗi thức ănvào cuối

rằng cácđộng vật ăn cỏđã chết khi các thực vật mà

chúng ăn trở nên khan hiếm Do đó, cácđộng vật săn

mồihàng đầu nhưTyrannosaurus rexcũng chết

(bao gồmcúc đá,Rudistes,ốcvàtrainước ngọt, và các

sinh vật màchuỗi thức ăncủa chúng bao gồm các loài

tạo vỏ này) trở nên tuyệt chủng hoặc chịu tổn thất

nặng Ví dụ, người ta cho rằng cúc đá là thức ăn chủ

yếu củathương long(Mosasauridae), một nhómbò sát

biểnkhổng lồ đã tuyệt chủng vào sự kiện này.[12]

Các loàiđộng vật ăn tạp,động vật ăn sâu bọvàđộng

vật ăn xác chếtđã sống sót trong sự kiện tuyệt chủng,

có lẽ do lượng thực phẩm gia tăng Vào cuối kỷ Creta,

có vẻ như đã không còn loài động vật có vú ăn cỏ hay

ăn thịt thuần túy ú và chim đã sống sót qua sự kiện

tuyệt chủng đã ăncôn trùng,giunvà ốc, mà các sinh

vật này tới lượt mình lại ăn động vật và thực vật chết

Các nhà khoa học giả thiết rằng các sinh vật này đã

sống sót sau sự sụp đổ của các chuỗi thức ăn dựa trên

thực vật là do chúng ăn thức ăn vụn (vật chất hữu cơ

không có sự sống).[9][13][14]

Trong các quần lạc sinh vật suối, chỉ một vài nhóm

động vật trở nên tuyệt chủng do các quần lạc này ít dựa

một cách trực tiếp vào thức ăn từ các thực vật sống mà

dựa nhiều vào thức ăn mảnh vụn trôi ra từ đất liền, hãm

chúng khỏi sự tuyệt chủng.[15] Các mô hình tương tự,

nhưng phức tạp hơn được tìm thấy trong các đại dương

Sự tuyệt chủng trở nên nghiêm trọng hơn trong số các

động vật sống trongtầng nước mặtso với các động vật

sống trên đáy biển Các động vật trong cột nước hầu

như phụ thuộc hoàn toàn vào thực phẩm chính từ thực

vật trôi nổi trong khi các động vật sống trên đáy đại

dương ăn mảnh vụn hữu cơ hoặc các động vật có thể

chuyển sang ăn mảnh vụn.[9]

Các động vật hít thở không khí lớn nhất sống sót qua sự

kiện này nhưđộng vật dạng cá sấu(Crocodyliformes)

vàli long(Choristodera), là những dạng bán thủy sinh

và đã tiếp cận được với nguồn thức ăn mảnh vụn Cácloài cá sấu hiện đại có thể sống như các động vật ăn xácchết và có thể sống sót vài tháng mà không cần thức

ăn, và con non của chúng thì nhỏ, chậm lớn, và ăn chủyếu là động vật không xương sống và sinh vật chết haymảnh vụn của các sinh vật trong những năm đầu tiên.Các đặc điểm này đã được liên kết với sự sống sót của

cá sấu vào cuối kỷ Creta.[13]

Sau sự kiện K–T, sự đa dạng sinh học cần có thời gian

để hồi phục, mặc cho sự tồn tại của vô cùng nhiềuhốcsinh tháibị bỏ trống.[9]

3.1.1 Vi sinh vật

Ranh giới K-T thể hiện một trong số các luân chuyểnmạnh mẽ nhất trong hóa thạch đối với các viphiêu

tích canxi, là tiền đề cho tên gọi của kỷ Phấn trắng (kỷCreta) Luân chuyển trong nhóm này được đánh dấusắc nét ở cấp độ loài.[16][17]Phân tích thống kê về sựmất đi của sinh vật biển trong khoảng thời gian nàycho thấy rằng sự sụt giảm đa dạng sinh học chủ yếu

là do sự gia tăng mạnh của tuyệt chủng hơn là do sựsuy giảm tronghình thành loài.[18]Dấu vết vềgiáp tảo(Dinoflagellata) trong ranh giới K-T vẫn chưa được hiểu

rõ, vì chỉ cóbào xác vi sinh vậtlà có hóa thạch được ghinhận, và không phải tất cả các loài giáp tảo đều có cácgiai đoạn tạo bào xác, vì vậy sự đa dạng sinh ra có lẽ

đã bị đánh giá thấp.[9] Các nghiên cứu gần đây chỉ rarằng không có sự thay đổi lớn đối với giáp tảo tronglớp trầm tích của ranh giới này.[19]

Trùng tiađã có mặt trong các lớp địa chất ít nhất là từ

kỷ Ordovic, và các khung xương hóa thạch khoáng hóacủa chúng có thể thấy vết trong ranh giới K–T Không

có dấu hiệu tuyệt chủng lớn của các loài này, và có bằngchứng hỗ trợ cho sự sinh sôi nảy nở mạnh mẽ ở các loàinày tại cácvĩ độ cao nam bán cầudo nhiệt độ mát lạnhdần vào Paleocen sớm.[9]Khoảng 46% các loàitảo cát

đã sống sót qua giai đoạn này từ Creta đếnPaleocenthượng Điều này gợi ý có sự luân chuyển đáng kể vềloài, chứ không phải sự tuyệt chủng ở mức thảm họacủa các loài tảo cát, trong suốt ranh giới K–T.[9][20]

Sự có mặt củaphiêu sinh vật trùng lỗtrong ranh giới K–

T đã được nghiên cứu từ thập niên 1930.[21][22]Nghiêncứu được thúc đẩy bởi khả năng có một sự kiện gâyảnh hưởng xảy ra tại ranh giới K–T đã dẫn tới một loạtcác ấn phẩm miêu tả chi tiết sự tuyệt chủng phiêu sinhtrùng lỗ ở ranh giới này.[9] Tuy nhiên, điều này cũngcòn những tranh cãi giữa các nhà khoa học, một nhómthì tin có dấu hiệu cho thấy sự tuyệt chủng đáng kể về

số lượng loài này ở ranh giới K–T,[23] còn một nhómkhác thì tin rằng có dấu hiệu chứng minh nhiều lầntuyệt chủng và nở rộ các loài này ở ranh giới K-T.[24][25]

Nhiều loài trùng lỗ sống tầng đáy bị tuyệt chủng trong

sự kiện K–Pg, kết luận này dựa trên các mảnh vụn hữu

Trang 16

cơ từ các chất dinh dưỡng dosinh khốitrong đại dương

được cho là đã suy giảm Tuy nhiên, khi các vi sinh vật

biển được hồi phục, người ta cho rằng sự biệt hóa các

loài trùng lỗ gia tăng là kết quả của sự gia tăng nguồn

thức ăn.[9]Phiêu thực vật hồi phục vào Paleocen sớm

đã cung cấp nguồn thức ăn cho các chủng loài trùng

lỗ tầng đáy, đây là những loài ăn mảnh vụn Sự hồi

phục sau cùng về số lượng các loài sống đáy đã diễn ra

qua nhiều giai đoạn kéo dài hàng trăm ngàn năm đến

Paleocen sớm.[26][27]

Hóa thạch cúc đá

Có sự biến động trong hồ sơ hóa thạch cũng như đối với

tốc độ tuyệt chủng của các loài động vật không xương

sống biển trong suốt ranh giới K-T Tốc độ biểu kiến

chịu ảnh hưởng của sự thiếu vắng các hồ sơ hóa thạch

hơn là sự tuyệt chủng trên thực tế.[9]

Bọ nước (Ostracoda), là một nhóm nhỏ các loàigiáp xác

phổ biến trong thời kỳ tương ứng vớitầng Maastricht

thượng, để lại trầm tích hóa thạch ở nhiều nơi khác

nhau Sự xem xét các hóa thạch này cho thấy sự đa

dạng của Ostracoda trong thế Paleocen thấp hơn so

với các khoảng thời gian khác trongkỷ đệ Tam Tuy

nhiên, nghiên cứu hiện tại không biết chắc liệu sự tuyệt

chủng đã xảy ra trước hay trong khi hình thành ranh

giới này.[28][29]

Khoảng 60% các chisan hôđá (Scleractinia) tuổiCreta

muộn đã không vượt qua được ranh giới K–T để tiến

sang thế Paleocen Phân tích tiếp theo về sự tuyệt

chủng của san hô cho thấy rằng khoảng 98% các loài

san hô tập đoàn, những loài sống trong môi trường

nước ấm, nông, cận nhiệt đới, đã tuyệt chủng Các loài

san hô đơn độc thường không tạo thành rạn san hô

và sống trong môi trường nước lạnh và sâu hơn (dưới

đới sáng rõ) của đại dương thì bị ảnh hưởng ít hơn tại

ranh giới K–T Các loài san hô tập đoàn dựa vào quan

hệcộng sinhvớitảoquang hợp, mà các loài tảo này bịchết đi trong sự kiện xung quanh ranh giới K-T.[30][31]

Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu từ các hóa thạch san

hô để hỗ trợ cho sự kiện tuyệt chủng K-T và sau đó là

sự phục hồi trong thế Paleocen phải cân đối với nhữngthay đổi đã xảy ra trong các hệ sinh thái san hô trongsuốt ranh giới K–T.[9]

Số lượng các chiđộng vật chân đầu,động vật da gai, và

kể từ sau ranh giới K-T.[9]Hầu hết các loàiđộng vật taycuộn(Brachiopoda), một ngành nhỏ các loài động vậtkhông xương sống biển, đã sống sót qua sự kiện K–T

và đa dạng hóa trong suốt thời kỳ Paleocen sớm

Động vật hai mảnh vỏ nghêu tạo rạn san hô (Hippuritoida) trong Creta muộn ở núi Omani, Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất Thước tỉ lệ 10 mm.

Ngoại trừ các loàinautiloidea(đại diện hiện đại là bộnautilida) và coleoidea (đã tách ra thành Octopoda,Teuthida, vàSepiidahiện đại) tất cả các loàiđộng vật

tại ranh giới K-T Các loài này bao gồm tiễn thạch(Belemnoidea) có ý nghĩa sinh thái quan trọng, cũng

sự đa dạng cao về số lượng và phân bố rộng rãi Cácnhà nghiên cứu chỉ ra viễn cảnh sinh sản của các loàinautiloidea còn sống sót nhờ vào số lượng trứng ítnhưng to hơn, cách thức này đóng vai trò quan trọngtrong sự sống còn của nhóm tương tự chúng là cúc

đá qua sự kiện tuyệt chủng Ngược lại, cúc đá dùngcách sinh sản dạngphiêu sinh(nhiều trứng và ấu trùngphiêu sinh), điều này có thể làm chúng bị phá hủy trong

sự kiện tuyệt chủng K-T Một nghiên cứu khác còn chothấy rằng sau khi Ammonoidea bị loại ra khỏi hệ sinhvật toàn cầu thì Nautiloidea bắt đầu phân tán tiến hóathành các dạng có vỏ và phức tạp mặc dù các yếu tốnày chỉ có ở cúc đá.[32][33]

Khoảng 35% các chiđộng vật da gaibị tuyệt chủng ởranh giới K-T, mặc dù các đơn vị phân loại đã từng thịnhvượng trong các môi trường nước nông vĩ độ thấp trongsuốt Creta muộn có tốc độ tuyệt chủng cao nhất Cácloài da gai ở môi trường nước sâu hơn và vĩ độ trungbình thì ít bị ảnh hưởng ở ranh giới K-T Kiểu tuyệt

Trang 17

3.1 CÁC KIỂU TUYỆT CHỦNG 11

chủng là do mất môi trường sống, đặc biệt là sự nhấn

chìm các khối cacbonat là các rạn san hô nước nông đã

có trước đó, do sự kiện tuyệt chủng.[34]

Các nhóm động vật không xương sống khác nhưrudist

(nghêu tạo rạn san hô) vàInoceramus (loài khổng lồ

có quan hệ với sò (Pectinidae) hiện đại) cũng bị tuyệt

chủng ở ranh giới K-T.[35][36]

Có một lượng di chỉ hóa thạch đáng kế các loài cácó

quai hàmtrong ranh giới K-T, những hóa thạch này là

dấu hiệu tốt về kiểu tuyệt chủng của các lớpđộng vật

có xương sống Trong số các loài cá sụn, khoảng 80%

các họcá mậpvàcá đuốiđã sống sót qua sự kiện tuyệt

chủng này,[9] và hơn 90% các họ cá teleosteiđã sống

sót.[37] Có dấu hiệu cho thấy số lượng lớn hóa thạch

các loàicá xươngđược bảo tồn ở các vị trí hóa thạch chỉ

nằm trong lớp bên trên ranh giới K-T ởđảo Seymour

gần Nam Cực, dường như là sự lắng đọng từ sự kiện K–

Pg.[38]Tuy nhiên, các loài cá sống trong các môi trường

nước ngọt và nước mặn đã được giảm nhẹ những tác

động môi trường của sự kiện tuyệt chủng.[39]

Tổn hại do côn trùng gây ra đối với lá hóa thạch của các

loài thực vật có hoa ở 14 di chỉ tại Bắc Mỹ được sử dụng

làm đại diện cho sự đa dạng của côn trùng ở ranh giới

K-T và được phân tích để xác định tốc độ tuyệt chủng

Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng các di chỉ với niên

đại Creta, trước khi diễn ra sự kiện tuyệt chủng, có sự

đa dạng cao về các loài ăn thực vật và ăn côn trùng

Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ Paleocen sớm,hệ thực vật

tương đối đa dạng với một số ít loài ăn côn trùng, thậm

chí đến 1,7 triệu năm sau sự kiện tuyệt chủng.[40][41]

Có bằng chứng rõ ràng về sự phá hủy các quần thể thực

vật ở ranh giới K-T.[42]Tuy nhiên, có những khác biệt ở

mức độ khu vực về sự diễn thế thực vật Ở Bắc Mỹ, dữ

liệu cho thấy rằng sự phá hủy số lượng lớn hệ thực vật

và sự tuyệt chủng lớn của thực vật ở các phần của ranh

giới K-T, mặc dù có sự thay đổi đáng kể các hệ thực vật

cực lớn trước ranh giới này.[43]

Ở các vĩ độ cao của Nam bán cầu như New Zealand và

Nam Cực, các hệ thực vật bị tiêu diệt nhiều làm cho

không có sự hồi phục đáng kể của một số loài, nhưng

các thay đổi ngắn hạn về sự phong phú tương đối của

các nhóm thực vật.[40][44] Ở Bắc Mỹ, khoảng 57% các

loài thực vật tuyệt chủng Sự hồi phục các loài thực vật

trong Paleocen bắt đầu với sự xâm chiếm củadương xỉ,

được thể hiện như làđỉnh dương xỉtrong các địa tầng;

tương tự như sự tái chiếm của dương xỉ được quan sát

sau vụ phun trào ở núi St Helen năm 1980.[45]

Do sự phá hủy trên diện tổng thể của các loài thực vật ởranh giới K-T, có sự gia tăng của cácsinh vật hoại sinhnhưnấm, chúng không cần sựquang hợpvà sử dụngchất dinh dưỡng từ thực vật phân hủy Sự thống trị củanấm kéo dài chỉ vài năm trong lúc bầu khí quyển đượcdọn sạch và có nhiều chất hữu cơ để ăn Khi bầu khíquyển đã được dọn sạch thì các sinh vật quang hợp nhưdương xỉ và các loài thực vật khác bắt đầu tái sinh.[46]

sót qua sự tuyệt chủng củathực vật có hoa, có thể là

do các bản sao bổ sung của bộ gen mà các loài thực vậtnày sở hữu cho phép chúng dễ dàng thích nghi hơn với

sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện môi trườngsau sự va chạm.[47]

3.1.6 Động vật lưỡng cư

Không có dấu hiệu tuyệt chủng lớn của các loàilưỡng

cưở ranh giới K-T, và có dấu hiệu mạnh mẽ khẳng địnhrằng hầu hết các loài lưỡng cư đã sống sót một cáchtương đối nguyên vẹn sau sự kiện này.[9]Một số nghiêncứu chuyên sâu về các chikỳ giôngtrong các lớp hóathạch ởMontanacho thấy rằng 6 trong 7 chi đã khôngthay đổi sau sự kiện này.[48]

Các loàiếch nháigần như sống sót cho đến Paleocenvới một số ít loài tuyệt chủng Tuy nhiên hồ sơ hóathạch đối với các họ và các chi ếch nhái là thấtthường.[9] Một nghiên cứu mở rộng về 3 chi ếch ởMontana cho thấy rằng không có sự ảnh hưởng từ sựkiện K–Pg và sự sống sót dường như không thay đổi.[48]

Dữ liệu cho thấy có ít hoặc không có dấu hiệu về sựtuyệt chủng của các loài lưỡng cư liên quan đến sự kiệnK–Pg Lưỡng cư sống sót là kết quả của khả năng tự tìmnơi sinh sống trong nước hoặc xây dựng hang hốc trongtrầm tích, đất, gỗ hoặc bên dưới các tảng đá.[39]

3.1.7 Bò sát không phải Archosauria

Các loài bò sát biển lớn như thương long và thằn lằn cổ rắn bị tuyệt chủng vào cuối kỷ Creta.

Trang 18

Hai nhóm bò sát không thuộc nhánh Archosauria

(thằn lằn chúa) còn sinh tồn là Testudines (rùa) và

Lepidosauria(thằn lằn vảy, bao gồmrắn,thằn lằn, và

thằn lằn giun), cùng với ly long (Choristodera, nhóm bò

sát dạng thằn lằn chúa (Archosauromorpha) bán thủy

sinh biến mất vàoMiocensớm)), đã sống sót qua ranh

giới K-T.[9]Trên 80% các loài rùa kỷ Creta đã sống sót

qua ranh giới K-T Ngoài ra, tất cả sáu họ rùa tồn tại

vào cuối kỷ Creta đã sống sót qua kỷ đệ Tam và đại

diện là các loài rùa hiện tại.[49]

Các loài thằn lằn vảy còn sống bao gồm

có vảy) Rhynchocephalia đã từng là một nhóm thằn

lằn vảy phát triển rộng khắp vào đầu đại Trung Sinh,

nhưng bắt đầu suy giảm vào giữa kỷ Creta Đại diện

hiện nay của chúng là một chi duy nhất phân bố ở

New Zealand.[50]

Các loài Squamata, với các đại diện hiện nay như thằn

lằn; rắn và thằn lằn giun, đã phân nhánh vào các hốc

sinh thái khác nhau trong suốtkỷ Juravà phát triển

mạnh mẽ trong suốt kỷ Creta Chúng đã sống sót qua

ranh giới K-T và hiện là nhóm đa dạng và phát triển

nhất trong số các loài bò sát với hơn 6.000 loài Không

có họ bò sát có vảy sống trên cạn nào mà người ta đã

biết đến đã tuyệt chủng tại ranh giới này, và dấu hiệu

hóa thạch chỉ ra rằng chúng đã không trải qua bất kỳ

sự suy giảm đáng kể nào về số lượng Kích thước nhỏ,

trao đổi chất có thể thích nghi, và khả năng di chuyển

đến các môi trường thích hợp hơn là yếu tố quan trọng

cho khả năng sống còn của chúng vào Creta muộn và

Paleogen sớm.[9][49]

Các loài bò sát thủy sinh khổng lồ không thuộc nhóm

thằn lằn chúa như Mosasauroidea và Plesiosauria,

những loài săn mồi hàng đầu trong biển vào thời kỳ

đó, đã bị tuyệt chủng vào cuối kỷ Creta.[51][52]

Nhánhthằn lằn chúa(Archosauria) gồm 2 bộ còn sinh

tồn là cá sấu(gồm các họ còn sinh tồn duy nhất là

Alligatoridae, Crocodylidae và Gavialidae) và khủng

long (Dinosauria, trong đó chim là nhóm các thành viên

còn sinh tồn duy nhất), cùng với các loàikhủng long

phi chim và thằn lằn có cánh (Pterosauria) đã tuyệt

chủng

Bò sát dạng cá sấu

10 họ bò sát dạng cá sấu (Crocodiliformes) hoặc các

họ hàng gần của chúng có mặt trong các hóa thạch

của tầng Maastricht, 5 trong số đó đã diệt vong trước

ranh giới K-T.[53]5 họ đều có hóa thạch trong các trầm

tích Maastricht và Paleocen Tất cả các họ còn sinh

tồn của Crocodyliformes sống trong các môi trường

nước ngọt và trên cạn, trừ Dyrosauridaesống trong

môi trường nước ngọt và nước mặn Khoảng 50% đại

diện của Crocodyliformes đã sống sót qua ranh giới

K-T, xu hướng rõ ràng nhất là không có cá sấu lớn đã sốngsót.[9] Khả năng bò sát dạng cá sấu sống sót qua ranhgiới K-T có thể là do chúng có khả năng thích nghi vớimôi trường nước và đào hang, yếu tố này làm giảm tínhnhạy cảm của chúng đối với những tác động môi trườngtiêu cực ở ranh giới này.[39] Năm 2008, Jouve và cộng

sự đã đề xuất rằng các loài bò sát dạng cá sấu biển cònnhỏ sống trong các môi trường nước ngọt như các loài

cá sấu biển hiện đại, yếu tố này giúp chúng sống sót ởnhững nơi mà các loài bò sát biển khác bị tuyệt chủng;

do các môi trường nước ngọt không bị ảnh hưởng mạnh

mẽ ở sự kiện K–Pg như môi trường biển.[54]

Thằn lằn có cánh

Zhejiangopterus linhaiensis, loài thằn lằn có cánh được phát

hiện ở Trung Quốc sinh sống trong Creta muộn.

Chỉ có một họ thằn lằn có cánh (Pterosauria),Azhdarchidae, có mặt rõ ràng trong tầng Maastricht,

và nó bị tuyệt chủng ở ranh giới K-T Các loài thằn lằn

có cánh lớn này là các đại diện cuối cùng của nhómđang suy giảm đã từng chứa khoảng 10 họ vào giữa kỷCreta Các loài thằn lằn có cánh nhỏ hơn đã bị tuyệtchủng trước tầng Maastricht trong suốt thời gian diễn

ra sự suy giảm các loài động vật nhỏ hơn trong khi cácloài động vật lớn hơn trở nên phổ biến hơn Trong khi

sự kiện này diễn ra, các loàichim hiện đạitrải qua sự đadạng hóa và thay thế các nhóm chim cổ và thằn lằn cócánh, có thể là do sự cạnh tranh trực tiếp, hoặc chỉ đơngiản là chúng lấp đầy các hốc sinh thái rỗng.[39][55][56]

Chim

Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đều cho rằngchim là nhánh còn sinh tồn duy nhất của khủnglong (xem bài nguồn gốc của chim) Tuy nhiên, tất

Trang 19

3.1 CÁC KIỂU TUYỆT CHỦNG 13

cả các loài chim không thuộc nhóm chim hiện đại

(Neornithes) đã bị tuyệt chủng, bao gồm cả các nhóm

đang phồn thịnh nhưEnantiornithes(chim đối ngược)

vàHesperornithes(chim hoàng hôn).[57]Một vài phân

tích hóa thạch chim chỉ ra rằng có sự phân nhánh các

loài trước ranh giới K-T, và cho rằng các họ hàng của

vịt, gà vàđà điểuđã cùng tồn tại với các loài khủng long

phi chim.[58] Một lượng lớn các mẫu hóa thạch chim

được thu thập đại diện cho một dải các loài khác nhau

cung cấp các bằng chứng dứt khoát về sự tồn tại của

các loài chim cổ trong vòng 300.000 năm của ranh giới

K–Pg Không có loài nào trong chúng được biết là đã

sống sót cho đến thế Paleogen, và sự tồn tại của chúng

vào cuối thời kỳ của tầng Maastricht do đó cung cấp

những bằng chứng mạnh mẽ đối với sự tuyệt chủng

hàng loạt của các loài chim cổ trùng khớp với sự va

chạm của tiểu hành tinhChicxulub Một tỉ lệ nhỏ các

loài chim kỷ Creta đã sống sót sau sự kiện này và chúng

phát triển thành các loài chim hiện nay.[59][60]Hơn thế

nữa, chỉ có một loài chim duy nhất chưa được đặt tên

đã được xác định một cách chắc chắn sự tồn tại của

chúng ở trên và dưới ranh giới K-Pg (nó có mặt tronghệ

tầng Hell Creekthuộc tầng Maastricht vàhệ tầng Fort

có thể nói là đã sống sót qua ranh giới K-T là chim hiện

đại (Neornithine, trừ 1 loài trong thế Paleogen,Qinornis

paleocenica, có thể là loài chim đã sống sót không thuộc

nhóm Neornithine).[59]Chim hiện đại có khả năng sống

sót qua sự kiện tuyệt chủng là do khả năng lặn, bơi và

tìm nơi cư ngụ trong nước và đầm lầy Một số loài chim

hiện đại có thể đào hang, hoặc làm tổ trong các hốc cây

hay trong tổ mối, vì các môi trường này giúp chúng ít

chịu ảnh hưởng về biến đổi môi trường trong ranh giới

K-T Sự sống sót trong khoảng thời gian dài vượt qua

ranh giới này được đảm bảo như là kết quả của sự lấp

đầy các hốc sinh thái rỗng do sự tuyệt chủng của các

loài khủng long phi chim để lại.[39]

Khủng long phi chim

Tyrannosauruslà một trong những loài khủng long cuối cùng

phát triển mạnh trên Trái Đất trước khi tuyệt chủng [61]

Ngoài một vài tranh cãi, về cơ bản các nhà khoa học

đồng ý rằng tất cả loài khủng long phi chim tuyệt

chủng ở ranh giới K-T Các hóa thạch khủng long đã

từng được diễn giải như là chỉ ra cả sự sụt giảm về đa

dạng lẫn sự không sụt giảm về đa dạng trong khoảngthời gian vài triệu năm cuối của kỷ Creta, và có thể là

do chất lượng hóa thạch khủng long không đủ tốt đểcác nhà nghiên cứu phân biệt được các lựa chọn.[61]Vìkhông có bằng chứng nào cho thấy rằng khủng longphi chim trong tầng Maastricht muộn có thể đào hang,bơi hoặc lặn, nên chúng không thể che chở cho chínhchúng trước những phần tệ hại nhất của bất kỳ áp lựcmôi trường nào xảy ra tại ranh giới K-T Có thể là cácloài khủng long nhỏ (chứ không phải chim) đã sống sót,nhưng chúng có thể đã thiếu thức ăn, do nhóm khủnglong ăn cỏ thì bị khan hiếm thức ăn thực vật, còn khủnglong ăn thịt thì nhanh chóng nhận thấy sự cung cấp conmồi bị thiếu hụt.[39]

Sự đồng thuận về nội nhiệt của khủng long giúp chúng

ta hiểu về sự tuyệt chủng hoàn toàn của chúng trongmối tương quan với các họ hàng gần gũi làcá sấu Cácloài cá sấu ngoại nhiệt (“máu lạnh”) có ít nhu cầu vềthức ăn (chúng có thể sống hàng tháng mà không cầnăn) trong khi các loài nội nhiệt (“máu nóng”) với kíchthước tương tự thì cần nhiều thức ăn hơn nhằm duytrì quá trình trao đổi chất nhanh hơn Do đó, khi chuỗithức ăn bị phá vỡ như đã đề cập ở trên, các loài khủnglong phi chim bị chết[11] trong khi một số loài cá sấuthì sống Trong bối cảnh này, sự sống còn của các loàinội nhiệt khác như một số loài thú và chim, có thể là donhững lý do khác, liên quan đến các nhu cầu thức ăn

ít hơn của chúng, hoặc cũng liên quan đến kích thướcnhỏ của chúng tại thời điểm tuyệt chủng.[62]

Sự tuyệt chủng diễn ra từ từ hay diễn ra đột ngột vẫncòn là điều gây tranh cãi, do cả hai quan điểm này đều

có những bằng chứng hóa thạch hỗ trợ Một nghiêncứu về 29 địa điểm hóa thạch trong dãy núiPyreneesphần thuộc xứCatalunya, Tây Ban Nha, châu Âu, năm

2010 cho rằng khủng long đã phát triển rất đa dạng chođến thời điểm được cho là thiên thạch va chạm vào TráiĐất.[63]Các quan điểm khác diễn giải hóa thạch trong

đá dọc theosông Red Deerở Alberta, Canada, như làbằng chứng hỗ trợ cho quan điểm tuyệt chủng từ từ củacác loài khủng long phi chim; trong suốt 10 triệu nămcuối của các lớp đá tuổi Creta ở đây, số lượng các loàikhủng long có vẻ giảm từ khoảng 45 xuống còn 12 Cácnhà khoa học khác cũng đưa ra quan điểm tương tự.[64]

Hệ tầng Hell Creek

Trang 20

Một số nhà nghiên cứu bảo vệ quan điểm về khủng

long thế Paleocen Các luận cứ này dựa trên việc phát

hiện ra các dấu tích khủng long còn sót lại tronghệ

tầng Hell Creekdày đến 1,3 m nằm phía trên và có tuổi

trẻ hơn 40.000 năm so với ranh giới K–T.[6] Các mẫu

phấn hoa thu thập gần mộtxương đùikhủng long mỏ

vịt (Hadrosauridae) hóa thạch trong cát kết Ojo Alamo

Sandstone ởsông San Juanchỉ ra rằng con vật này sống

trong kỷ đệ Tam, khoảng 64,5 Ma (khoảng 1 triệu năm

sau sự kiện K–Pg) Nếu sự tồn tại của chúng qua ranh

giới K-T có thể được xác nhận thì các loài khủng long

mỏ vịt này có thể được xem làDead Clade Walking.[7]

Một nghiên cứu hiện tại cũng chỉ ra rằng các hóa thạch

này bị xói mòn từ những vị trí nguyên thủy của nó và

sau đó tái lắng đọng trong các lớp trầm tích trẻ hơn.[8]

Tất cả các nhánhthúchính kỷ Creta nhưMonotremata

(thú đẻ trứng),Multituberculata(thú răng nhiều mấu),

Marsupialia (thú có túi) và Eutheria (thú thật sự),

Dryolestoidea,[65] và Gondwanatheria[66] đã sống sót

qua sự kiện K–Pg, mặc dù chúng cũng phải chịu tổn

thất Đặc biệt, thú có túi đã gần như biến mất ở Bắc Mỹ,

vàDeltatheroidachâu Á, các họ hàng nguyên thủy của

thú có túi còn sinh tồn đã tuyệt chủng.[67] Trong tầng

đáy của hệ tầng Hell Creek ở Bắc Mỹ, ít nhất một nửa

trong số 10 loài thú răng nhiều mấu đã được biết và tất

cả 11 loài thú có túi đã không còn được tìm thấy bên

trên ranh giới này.[61]

Các loài thú bắt đầu đa dạng hóa vào khoảng 30 triệu

năm trước ranh giới K-T Sự đa dạng hóa của các loài

thú đã chậm lại qua ranh giới này.[68]Một nghiên cứu

hiện tại chỉ ra rằng các loài thú đã không đa dạng hóa

theo kiểu bùng nổ qua ranh giới K-T, mặc dù các hốc

môi trường sẵn có được tạo ra bởi sự tuyệt chủng của

khủng long.[69]Một số bộ thú được giải đoán là đã đa

dạng hóa ngay sau ranh giới K-T nhưChiroptera(dơi)

gồmcá voi và cá heovàđộng vật guốc chẵn),[69]mặc

dù một nghiên cứu gần đây kết luận rằng chỉ có các bộ

thú có túiđã đa dạng hóa sau ranh giới K-T.[68]

Các loài thú ranh giới K-T nhìn chung có kích thước

nhỏ, có thể so với kích thước của chuột; yếu tố này có

thể đã giúp chúng tìm được nơi trú ngụ an toàn êm

vào đó, người ta mặc nhiên công nhận rằng một số loài

thú đơn huyệt, thú có túi và thú có nhau thai trước đây

đã sống trong môi trường nửa nước nửa cạn hoặc đào

hang, vì ngày nay có nhiều dòng thú có môi trường

sống tương tự như vậy Bất kỳ loài thú sống đào hang

hay sống trong môi trường nửa nước, nửa cạn có thể

đã được thêm sự bảo vệ từ áp lực môi trường của ranh

Hiện tại, chuỗi trầm tích chứa hóa thạch khủng long cónhiều thông tin nhất trên thế giới về ranh giới K-T đượctìm thấy ở Bắc Mỹ, đặc biệt là cáchệ tầng Hell Creekcótuổi Maastricht muộn ở Montana, Hoa Kỳ Khi so sánh

hệ tầng này với các hệ tầng có tuổi cổ hơn (khoảng

75 Ma) nhưhệ tầng sông Judith/công viên khủng long(theo thứ tự ở Montana và Alberta, Canada) cung cấpthông tin về các biến đổi trong các quần thể khủng longtrong vòng 10 triệu năm cuối của kỷ Creta Các lớp đáyhóa thạch này phân bố giới hạn về mặt địa lý, bao phủchỉ một phần của một lục địa.[61]

Các hệ tầng Champagne giữa-muộn cho thấy sự đadạng hóa cao hơn của các loài khủng long so vớibất kỳ nhóm đá riêng lẻ nào khác Các lớp đá thuộctầng Maastricht muộn chứa số lượng thành viênlớn nhất của các nhánh chính như: Tyrannosaurus,

Ankylosaurus, Pachycephalosaurus, Triceratops

Torosaurus,[70]điều này cho thấy thức ăn dồi dào ngaytrước khi tuyệt chủng

Ngoài các di chỉ hóa thạch khủng long dồi dào, còn cócác hóa thạch thực vật minh họa cho sự suy giảm về sốlượng loài thực vật qua ranh giới K-T Trong các trầmtích bên dưới ranh giới K-T, xác thực vật chủ yếu là cáchạt phấn hoa củathực vật hạt kín, nhưng lớp ranh giớithực sự chứa ít bào tử phấn hoa và chủ yếu là bào tửdương xỉ.[71]Mức độ bào tử phấn hoa bình thường dầndần hồi phục ở trên lớp ranh giới Điều này tương tựnhư điều xảy ra ở những khu vực bị tàn phá bởi các

vụ phun trào núi lửa ngày nay, ở những nơi này sự hồiphục do các loài dương xỉ dẫn đầu và sau đó chúng đượcthay thế bởi các loài thực vật hạt kín to lớn hơn.[72]

3.2.2 Hóa thạch biển

Sự tuyệt chủng hàng loạt các loài phiêu sinh vật biển

có thể đã xảy ra đột ngột, ngay tại ranh giới K-T.[73]

Các chicúc đábị tuyệt chủng tại hoặc gần ranh giới T; tuy nhiên, có một sự tuyệt chủng chậm hơn và nhỏhơn của các loài cúc đá trước ranh giới này liên quanđến đợtbiển thoáivào Creta muộn Sự tuyệt chủng từ

K-từ của hầu hết các loài hai mảnh vỏ họ Inoceramidaebắt đầu khá sớm từ trước ranh giới K-T, và sự sụt giảmnhỏ, từ từ trong sự đa dạng của các loài cúc đá đã diễn

ra trong suốt thời kỳ Creta rất muộn.[74]Việc phân tíchsâu hơn cho thấy rằng một số quá trình đã đang diễn ratrong các biển kỷ Creta muộn và chồng chéo một phầntheo thời gian, sau đó thì kết thúc với sự tuyệt chủng

Trang 21

3.4 NGUYÊN NHÂN GÂY TUYỆT CHỦNG 15

hàng loạt đột ngột.[74]

3.3 Thời gian diễn ra

Khoảng thời gian diễn ra sự kiện tuyệt chủng cũng còn

nhiều tranh cãi do có hai giả thuyết khác nhau, một cho

rằng sự kiện tuyệt chủng diễn ra nhanh trong khoảng

thời gian tương đối ngắn (vài năm hoặc vài ngàn năm)

trong khi các giả thuyết khác thì cho rằng thời gian diễn

ra sự kiện này lâu hơn Vấn đề này khó giải quyết do

do liên quan đếnhiệu ứng Signor-Lipps; hiệu ứng này

chỉ ra rằng di chỉ hóa thạch là không hoàn thiện và thời

điểm tuyệt chủng thực sự của một loài thường xảy ra

muộn hơn rất nhiều so với niên đại của hóa thạch cuối

cùng của loài đó.[75] Các nhà khoa học cũng tìm thấy

rằng có rất ít các lớp đáy liên tục chứa hóa thạch trải

qua một khoảng thời gian từ vài triệu năm trước ranh

giới sự kiện tuyệt chủng K–Pg đến vài triệu năm sau

ranh giới đó.[9]

3.4 Nguyên nhân gây tuyệt chủng

Có nhiều giả thiết đề cập đến nguyên nhân gây ra sự

tuyệt chủng hàng loại tại ranh giới K-T Các giả thiết

này tập trung vào các sự kiện va chạm hoặc sự gia tăng

của hoạt động núi lửa; hoặc cả hai yếu tố trên Dựa

trên các bằng chứng đã được tích lũy trong quá trình

nghiên cứu, các nhà cổ sinh vật học đã thống nhất về

nguyên nhân cơ bản gây ra sự tuyệt chủng là do một

tiểu hành tinhđã va chạm vào Trái Đất vào khoảng 65,5

Ma trước, gây ra sự tàn phá nghiêm trọngsinh quyển

của Trái Đất

Năm 1980, một nhóm nghiên cứu gồm nhà vật lý người

Mỹ đoạtgiải Nobel Vật lý 1968 Luis Walter Alvarez

(con trai nhà địa chất Walter Alvarez) cùng nhà hóa

họcFrank Asarovà Helen Michel đã phát hiện ra các

lớptrầm tíchphân bố trên khắp thế giới tại ranh giới

K-T chứa hàm lượngiridicao gấp nhiều lần so với bình

thường (30, 160 và 20 lần trong 3 mặt cắt nghiên cứu)

Iridi là một nguyên tố cực hiếm trongvỏ Trái Đấtdo nó

là nguyên tố chuyển tiếp có tỷ trọng cao có xu hướng

chìm vào bên tronglõiTrái Đất trong quá trìnhphân

dị hành tinh(planetary differentiation) Vì iridi còn sót

lại nhiều trong hầu hết cáctiểu hành tinhvàsao chổi,

nên nhóm Alvarez cho rằng một tiểu hành tinh đã va

vào Trái Đất tại thời điểm ranh giới K-T.[76] Cũng có

những suy đoán trước đó về khả năng có mộtsự kiện

va chạm, nhưng đây là bằng chứng đầu tiên được phát

từ 10-20% Phải mất ít nhất 10 năm để các sol khí nàyphân hủy, chừng ấy thời gian cũng đủ để gây ra sự kiệntuyệt chủng các loàithực vậtvàthực vật phiêu sinh, vàcác loài sinh vật phụ thuộc vào chúng (như các loài thúsăn mồi cũng như thú ăn cỏ) Các sinh vật nhỏ ăn cácmảnh vụn thức ăn có thể có cơ hội để sống sót.[62][73]

Hậu quả của sự phóng thích các vật liệu va chạm vàokhí quyển Trái Đất có thể diễn ra trong khoảng thờigian ngắn như xung cường độ mạnh làm giết chết cácsinh vật phơi nhiễm.[39]Các trậnbão lửatoàn cầu cóthể là kết quả của xung lực nhiệt và việc các mảnh vụnrơi trở lại bề mặt Trái Đất sau vụ nổ Hàm lượng O2caovào cuối kỷ Creta có thể đã giúp cho sự hình thành cáctrận bão lửa này Hàm lượng O2trong khí quyển giảmmạnh vào đầu đệ Tam Nếu các trận bão lửa lan tỏa xảy

ra, chúng có thể làm tăng hàm lượng CO2 trong khíquyển và gây rahiệu ứng nhà kínhtạm thời ngay saukhi mây bụi lắng đọng, và điều này có thể đã tiêu diệthầu hết các sinh vật dễ tổn thương đã sống sót ngaysau vụ va chạm xảy ra.[79]

Sự va chạm cũng có thể gây ramưa axíttùy thuộc vàoloại đá cấu tạo nên tiểu hành tinh va chạm Tuy nhiên,một nghiên cứu gần đây cho rằng ảnh hưởng này tươngđối nhỏ, nó có thể kéo dài khoảng 12 năm.[73]Tính axit

đã được môi trường trung hòa, và sự sống sót của cácloài thú dễ tổn thương đối với mưa axit (như các loàiếch) cho thấy rằng yếu tố này không đóng vai trò quantrọng đối với sự tuyệt chủng Các giả thuyết va chạmchỉ có thể giải thích sự tuyệt chủng diễn ra trong thời

Trang 22

gian rất nhanh, vì các đám mây bụi và các sol khí lưu

huỳnh thải vào khí quyển chỉ có thể tồn tại trong thời

gian khá ngắn khoảng 10 năm.[80]

Một ngiên cứu sau đó xác định rằng hố va chạm

Chicxulub bị chôn vùi dướiChicxulubtrên bờ biển của

tuổi giả thiết của Alvarez đưa ra Hố này được xác định

năm 1990 dựa trên công trình của Glen Penfield được

hoàn thành năm 1978, nó có hình ovan với đường kính

trung bình khoảng 180 km, gần bằng với kích thước mà

nhóm Alvarez đã tính toán.[81]Hình dạng và vị trí của

hố này ám chỉ những nguyên nhân sâu xa của sự phá

hủy ngoài đám mây bụi Tiểu hành tinh chạm vào đại

dương và có thể đã gây ra các trận siêusóng thần, các

dấu vết đã được tìm thấy ở một vài nơi trong vùng cát

biển Caribbe và đông Hoa Kỳ ở những nơi mà lúc đó là

đất liền, và các mảnh vụn thực vật và đá lục địa trong

các trầm tích biển được định tuổi cùng lúc với sự kiện

va chạm iên thạch va chạm vào lớpthạch cao(canxi

sulfat) đã tạo ra một lượng lớn sol khí lưu huỳnh điôxit

Yếu tố này có thể đã làm giảm ánh sáng Mặt Trời chiếu

đến Trái Đất và sau đó là mưa axit làm chết các loài thực

vật, phiêu sinh vật và các sinh vật có vỏ làm bằngcanxi

cacbonat (coccolithophorevà mollusca) Vào tháng 2

năm 2008, một nhóm nghiên cứu đã sử dụng các hình

ảnh địa chấn về hố va chạm để xác định rằng sự va

chạm đã xảy ra dưới nước ở độ sâu lớn hơn so với các giả

định trước đây Họ cho rằng yếu tố này đã làm gia tăng

lượng sol khí sulfat trong khí quyển tạo ra sự chết chóc

hàng loạt do thay đổi môi trường và do mưa axit.[82]

Hầu hết các nhà cổ sinh vật học ngày nay đồng ý rằng

một tiểu hành tinh đã va chạm vào Trái Đất vào khoảng

thời gian cách đây 65 Ma, nhưng cũng còn tranh cãi

rằng liệu sự va chạm này có phải là nguyên nhân duy

nhất gây ra sự tuyệt chủng hàng loạt.[25][83] Có bằng

chứng rằng có một giai đoạn khoảng 300katừ khi va

chạm xảy ra đến khi tuyệt chủng hàng loạt.[84] Năm

1997, nhà cổ sinh vật họcSankar Chaerjeeđưa ra đề

xuất rằng có một hố va chạm lớn hơn tênShivavới

đường kính 600 km đã xảy ra cùng thời gian đó

Năm 2007, một giả thiết đã đưa ra lập luận để giải thích

sự va chạm đã tiêu diệt các loài khủng long các đây 65

Ma thuộc nhómtiểu hành tinh Baptistina.[85]Điều này

gây chú ý đến giới nghiên cứu dựa trên những nguồn

tài liệu có uy tín, một phần do có rất ít chất rắn của

các tiểu hành tinh thuộc nhóm này được quan sát.[86]

Một nghiên cứu gần đây phát hiện rằng298 Baptistina

không có cùng dữ liệu hóa học với nguồn đã gây ra sự

va chạm.[87]Mặc dù phát hiện này có thể có sự liên hệ

giữa họ Baptistina và sự va chạm K-Pg là khó chứng

minh, nhưng cũng không loại trừ khả năng đó.[87]Một

nghiên cứuWISEnăm 2011 về ánh sáng phản xạ từ các

tiểu hành tinh của họ này phát ra ước tính khoảng 80

Ma, làm nó không đủ thời gian để thay đổi quỹ đạo và

tác động vào Trái Đất ở thời điểm cách đây 65 Ma.[88]

Vào tháng 3 năm 2010, một hội thảo quốc tế về cácgiả thiết liên quan đến tiểu hành tinh đặc biệt là sự

va chạm Chicxulub, được xem là nguyên nhân gây ratuyệt chủng Một nhóm gồm 41 nhà khoa học đã xemlại các tài liệu ấn hành trong vòng 20 năm và cũng đãloại trừ những giả thuyết khác như siêu núi lửa Họ đãxác định rằng một khối đá có kích thước 10 – 15 km đã

va chạm vào Trái Đất tạiChicxulub bán đảo Yucatán

ởMéxico Vụ va chạm có thể đã giải phóng một lượngnăng lượng tương đương 100 × 1012tấn TNT, lớn hơnhàng triệu lần năng lượng của quả bom nguyên tử thảxuốngNagasaki và Hiroshima.[10]

3.4.2 Bẫy Deccan

Trước năm 2000, các luận cứ cho rằng các dònglũ bazanbẫy Deccanđã gây ra sự tuyệt chủng thường gắn liềnvới quan điểm cho rằng quá trình tuyệt chủng diễn ra

từ từ, do các dòng lũ bazan được cho là bắt đầu diễn ratrong khoảng 68 Ma và kéo dài hơn 2 triệu năm Bằngchứng gần đây nhất cho thấy các bẫy này phun tràohơn 800.000 năm kéo qua ranh giới K-T, và do đó cóthể nó đóng vai trò trong sự tuyệt chủng và sự hồi phụcsinh học chậm sau đó.[89]

Các bẫy Deccan có thể là nguyên nhân gây tuyệt chủngtheo một số cơ chế như sự giải phóng bụi và các sol khísulfuric vào không khí làm ngăn chặn ánh sáng MặtTrời và giảm quá trình quang hợp của thực vật Ngoài

ra, hoạt động núi lửa bẫy Deccan có thể sinh ra mộtlượng cacbon dioxit lớn gây ra hiệu ứng nhà kính khibụi và sol khí chiếm toàn bộ khí quyển.[90]

Trong những năm khi mà giả thuyết bẫy Deccan còngắn với sự tuyệt chủng từ từ,Luis Walter Alvarez(1911

- 1988) đã cho rằng các nhà cổ sinh vật học bị lầm lạc

do thiếu hụt dữ liệu Trong khi khẳng định của ông banđầu không được ủng hộ, nhưng các nghiên cứu thựcđịa sau đó về các lớp đáy hóa thạch lại nghiêng về phíatuyên bố của ông Cuối cùng thì hầu hết các nhà cổ sinhvật học bắt đầu chấp nhận ý tưởng rằng sự tuyệt chủnghàng loạt vào cuối kỷ Creta chủ yếu hay một phần là do

sự va chạm của tiểu hành tinh vào Trái Đất Tuy nhiên,ngay cả Walter Alvarez cũng đã thừa nhận rằng có cácthay đổi lớn khác trên Trái Đất đã xảy ra ngay trước

sự va chạm, như mực nước biển tụt xuống và các hoạtđộng phun trào núi lửa diễn ra mạnh mẽ đã tạo ra cácbẫy Deccan ở Ấn Độ, và các thay đổi này có thể đã gópphần tạo ra sự tuyệt chủng.[91]

3.4.3 Sự va chạm của các tiểu hành tinh

nhiều lần

Có nhiều hố va chạm khác cũng được tạo ra vào thờiđiểm ranh giới K-T an điểm này cho rằng có khảnăng có nhiều vụ va chạm liên tục đã xảy ra, đó có thể

Trang 23

3.5 XEM THÊM 17

là những mảnh thiên thạch hay những mảnh vỡ của

tiểu hành tinh tương tự nhưsao chổi Shoemaker-Levy

9đã tạo nên hố va chạm trên Sao Mộc Ngoàihố va

chạm Chicxulubđường kính 180 km, còn cóhố va chạm

Boltyshvới đường kính 24 km ởUkrainacó tuổi (65,17

± 0,64 Ma),hố va chạm Silverpitcó đường kính 20 km

ởbiển Bắccó tuổi (60–65 Ma), và một hố va chạm khác

có đường kính lớn hơn vẫn đang còn tranh cãi làhố va

khác có thể được hình thành trongđại dương Tethyscó

thể biến mất do các hoạt động kiến tạo như sự trôi dạt

về phía bắc củamảng châu PhivàẤn Độ.[92][93][94][95]

Hệ tầng Dinosaur Park.

Có bằng chứng rõ ràng về mực nước biển sụt giảm vào

giai đoạn cuối của kỷ Creta thấp hơn so với các thời

gian khác trong Đại Trung sinh Trong một số lớp đá

thuộctầng Maastrichtcó mặt ở nhiều nơi trên thế giới,

các lớp nằm trên có nguồn gốc lục địa trong khi các lớp

nằm dưới có nguồn gốc ven bờ và các lớp sớm hơn nữa

đặc trưng cho đáy biển Các lớp này không thể hiện tính

nằm nghiêng và không có biến dạng liên quan đếnkiến

tạo sơn, do đó giải thích hợp lý nhất là do biển thoái

Không có bằng chứng trực tiếp về nguyên nhân gây ra

biển thoái, nhưng cách giải thích hiện được chấp nhận

như là có thể nhất là do các sống núi giữa đại dương

trở nên ít hoạt động hơn và do đó bị nhấn chìm do khối

lượng của nó.[9][96]

Biển thoái mạnh có thể đã làm giảm nhiều diện tích

thềm lục địa, nơi có các loài sinh vật biển nhiều nhất,

và do đó có thể đã làm cho sự tuyệt chủng hàng loạt ở

biển xảy ra Tuy nhiên, một nghiên cứu khác kết luận

rằng sự biến đổi này có thể đã không đủ gây ra sự kiện

này nếu quan sát chỉ dựa trên mức độ tuyệt chủng của

cúc đá Biển thoái cũng có thể đã gây ra các biến đổi

khí hậu, một phần bằng cách làm thay đổi chế độ gió

và dòng hải lưu và một phần làm giảmsuất phản chiếu

của Trái Đất và do đó làm tăng nhiệt độ toàn cầu.[74]

Biển thoái cũng tạo ra sự mất đi của các biển nông nằmmột phần trong lục địa nhưWestern Interior SeawayởBắc Mỹ Việc mất đi các biển này đã làm thay đổi lớnmôi trường sống của sinh vật, xóa bỏ cácđồng bằngven biển10 triệu năm trước khi sự đa dạng hóa của cácloài phát triển ở các nơi này như được ghi nhận trong

hệ tầng Dinosaur Park Một hậu quả khác là sự mở rộngcủa các môi trường nước ngọt, do các dòng chảy trênlục địa phải đi qua một khoảng cách dài hơn trước khi

đổ ra biển Khi yếu tố này xuất hiện đó là điều kiện lýtưởng cho các loài động vật có xương sống nước ngọtphát triển.[61]

3.4.5 Nhiều nguyên nhân khác

Trong một bài báo, J David Archibald và David E.Fastovsky đã thảo luận về một kịch bản bao gồm 3nguyên nhân chính: núi lửa,biển thoái, và sự va chạmcủa các vật thể ngoài Trái Đất eo kịch bản này, cácquần thể lục địa và biển đã chịu áp lực bởi các thayđổi về số lượng và mất môi trường sống Khủng long

là loài động vật có xương sống lớn nhất bị ảnh hưởngđầu tiên khi môi trường thay đổi, và sự đa dạng củachúng suy giảm Cùng lúc đó các vật liệu dạng hạt từhoạt động núi lửa làm khí hậu trên một số vùng củaTrái Đất lạnh và khô đi Sau đó, một sự va chạm xảy ralàm cho chuỗi thức ăn dựa trên quá trình quang hợp cảtrên đất liền và dưới biển bị phá vỡ Sự khác biệt chínhgiữa giả thiết này và các giả thiết từng nguyên nhânriêng lẻ ở chỗ những người theo giả thiết này thì chorằng các nguyên nhân riêng lẻ không đủ mạnh để gây

ra tuyệt chủng hoặc không thể tạo ra kiểu tuyệt chủngphân loại loài.[61]

chủng K–Pg (K viết tắt của Kreide tức Kỷ Phấn trắng

Creta, Pg choKỷ Paleogen

3.6.2 Chú thích

[1] Ogg, James G.; Gradstein, F M; Gradstein, Felix M

(2004) A geologic time scale 2004 Cambridge, UK:

Cambridge University Press.ISBN 0-521-78142-6

Trang 24

[2] “International Chronostratigraphic Chart”.

International Commission on Stratigraphy 2015

Bản gốclưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2014 Truy cập

ngày 29 tháng 4 năm 2015

[3] Renne, Paul R.; Deino, Alan L.; Hilgen, Frederik J.;

Kuiper, Klaudia F.; Mark, Darren F.; Mitchell, William

S.; Morgan, Leah E.; Mundil, Roland; Smit, Jan (7 tháng

2 năm 2013).“Time Scales of Critical Events Around the

Cretaceous-Paleogene Boundary” Science 339 (6120):

684–687.Bibcode:2013Sci…339 684R PMID 23393261

doi:10.1126/science.1230492

[4] Fortey, R (1999) Life: A Natural History of the First Four

Billion Years of Life on Earth Vintage tr 238–260.ISBN

978-0-375-70261-7

[5] Fastovsky DE, Sheehan PM (2005) “e

extinction of the dinosaurs in North America”

GSA Today 15 (3): 4–10

doi:10.1130/1052-5173(2005)015<4:TEOTDI>2.0.CO;2 Truy cập ngày 18

tháng 5 năm 2007

[6] Sloan RE, Rigby K, Van Valen LM, Gabriel Diane

(1986).“Gradual dinosaur extinction and simultaneous

ungulate radiation in the Hell Creek formation”

Science 232 (4750): 629–633. PMID 17781415

doi:10.1126/science.232.4750.629 Truy cập ngày

18 tháng 5 năm 2007

[7] Fasse JE, Lucas SG, Zielinski RA, Budahn JR (2001)

“Compelling new evidence for Paleocene dinosaurs in

the Ojo Alamo Sandstone San Juan Basin, New Mexico

and Colorado, USA”(PDF) International Conference on

Catastrophic Events and Mass Extinctions: Impacts and

Beyond, 9–ngày 12 tháng 7 năm 2000, Vienna, Austria

1053: 45–46 Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2007.

[8] Sullivan RM (2003).“No Paleocene dinosaurs in the San

Juan Basin, New Mexico” Geological Society of America

Abstracts with Programs 35 (5): 15 Truy cập ngày 2

tháng 7 năm 2007

[9] MacLeod N, Rawson PF, Forey PL, Banner FT,

Boudagher-Fadel MK, Bown PR, Burne JA, Chambers,

P, Culver S, Evans SE, Jeffery C, Kaminski MA,

Lord AR, Milner AC, Milner AR, Morris N, Owen E,

Rosen BR, Smith AB, Taylor PD, Urquhart E, Young

JR (1997).“e Cretaceous–Tertiary biotic transition”

Journal of the Geological Society 154 (2): 265–292.

doi:10.1144/gsjgs.154.2.0265

[10] Schulte, P và đồng nghiệp (ngày 5 tháng 3 năm 2010)

“e Chicxulub Asteroid Impact and Mass Extinction

at the Cretaceous-Paleogene Boundary” Science 327

(5970): 1214–1218 Bibcode:2010Sci…327.1214S PMID

20203042.doi:10.1126/science.1177265

[11] Wilf P, Johnson KR (2004) “Land plant extinction

at the end of the Cretaceous: a quantitative analysis

of the North Dakota megafloral record” Paleobiology

30 (3): 347–368. ISSN 0094-8373

doi:10.1666/0094-8373(2004)030<0347:LPEATE>2.0.CO;2

[12] Kauffman E (2004) “Mosasaur Predation on

Upper Cretaceous Nautiloids and Ammonites

from the United States Pacific Coast” PALAIOS(Society for Sedimentary Geology) 19 (1):96–100 ISSN 0883-1351 doi:10.1669/0883-1351(2004)019<0096:MPOUCN>2.0.CO;2 Truy cậpngày 17 tháng 6 năm 2007.Bản trên Jstor

[13] Sheehan Peter M, Hansen or A (1986) “Detritusfeeding as a buffer to extinction at the end of theCretaceous” Geology 14 (10): 868–870.ISSN 0091-7613.doi:10.1130/0091-7613(1986)14<868:DFAABT>2.0.CO;2.Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2007

[14] Aberhan M, Weidemeyer S, Kieesling W, Scasso

RA, Medina FA (2007) “Faunal evidence for reducedproductivity and uncoordinated recovery in SouthernHemisphere Cretaceous-Paleogene boundary sections”

Geology 35 (3): 227–230.doi:10.1130/G23197A.1.[15] Sheehan Peter M, Fastovsky DE (1992) “Majorextinctions of land-dwelling vertebrates at theCretaceous–Tertiary boundary, eastern Montana”

Geology 20 (6): 556–560 7613(1992)020<0556:MEOLDV>2.3.CO;2 Truy cậpngày 22 tháng 6 năm 2007

doi:10.1130/0091-[16] Pospichal JJ (1996) “Calcareous nannofossils andclastic sediments at the Cretaceous–Tertiary boundary,northeastern Mexico” Geology 24 (3): 255–258.Bibcode:1996Geo….24 255P doi:10.1130/0091-7613(1996)024<0255:CNACSA>2.3.CO;2

[17] Bown P (2005) “Selective calcareous nannoplanktonsurvivorship at the Cretaceous–Tertiary boundary”

Geology 33 (8): 653–656. Bibcode:2005Geo….33 653B.doi:10.1130/G21566.1

[18] Bambach RK, Knoll AH, Wang SC (2004)

“Origination, extinction, and mass depletions

of marine diversity” Paleobiology 30 (4):522–542 ISSN 0094-8373 doi:10.1666/0094-8373(2004)030<0522:OEAMDO>2.0.CO;2

[19] Gedl P (2004) “Dinoflagellate cyst record of thedeep-sea Cretaceous-Tertiary boundary at Uzgru,

Carpathian Mountains, Czech Republic” Geological

Society, London, Special Publications 230: 257–273.

Nordwestkaukasus” Problems in Paleontology 2–3: 349–

410

[23] Arenillas I, Arz JA, Molina E and Dupuis C (2000) “AnIndependent Test of Planktic Foraminiferal Turnoveracross the Cretaceous/Paleogene (K/P) Boundary at ElKef, Tunisia: Catastrophic Mass Extinction and Possible

Survivorship” Micropaleontology 46 (1): 31–49.

Trang 25

3.6 THAM KHẢO 19

[24] MacLeod, N (1996) Nature of the Cretaceous-Tertiary

(K–T) planktonic foraminiferal record: stratigraphic

confidence intervals, Signor-Lipps effect, and paerns of

survivorship In: Cretaceous–Tertiary Mass Extinctions:

Biotic and Environmental Changes (MacLeod N, Keller G,

editors) WW Norton tr 85–138.ISBN

978-0-393-96657-2

[25] Keller G, Adae T, Stinnesbeck W,

Rebolledo-Vieyra, Fucugauchi JU, Kramar U, Stüben D (2004)

“Chicxulub impact predates the K–T boundary

mass extinction” PNAS 101 (11): 3753–3758.

Bibcode:2004PNAS 101.3753K PMC 374316 PMID

15004276.doi:10.1073/pnas.0400396101

[26] Galeoi S, Bellagamba M, Kaminski MA, and

Montanari A (2002) “Deep-sea benthic foraminiferal

recolonisation following a volcaniclastic event in the

lower Campanian of the Scaglia Rossa Formation

(Umbria-Marche Basin, central Italy)” (PDF) Marine

Micropaleontology 44: 57–76 Truy cập ngày 19 tháng 8

năm 2007

[27] Kuhnt W, Collins ES (1996).“8 Cretaceous to Paleogene

benthic foraminifers from the Iberia abyssal plain”

(PDF) Proceedings of the Ocean Drilling Program,

Scientific Results 149: 203–216 Truy cập ngày 19 tháng

8 năm 2007

[28] Coles, GP; Ayress MA, and Whatley RC (1990) A

comparison of North Atlantic and 20 Pacific deep-sea

Ostracoda in Ostracoda and global events (RC Whatley

and C Maybury, editors) Chapman & Hall tr 287–305.

ISBN 978-0-442-31167-4

[29] Brouwers EM, De Deckker P (1993) “Late Maastrichtian

and Danian Ostracode Faunas from Northern Alaska:

Reconstructions of Environment and Paleogeography”

PALAIOS (PALAIOS, Vol 8, No 2) 8 (2): 140–154.JSTOR

3515168.doi:10.2307/3515168

[30] Vescsei A, Moussavian E (1997) “Paleocene reefs on

the Maiella Platform Margin, Italy: An example of the

effects of the cretaceous/tertiary boundary events on

reefs and carbonate platforms” Facies 36 (1): 123–139.

doi:10.1007/BF02536880

[31] Rosen BR, Turnsek D (1989) “Extinction paerns

and biogeography of scleractinian corals across the

Cretaceous/Tertiary boundary Fossil Cnidaria 5.P”

Association of Australasian Paleontology Memoir

Number 8, Jell A, Picke JW (eds): 355–370.

[32] Ward PD, Kennedy WJ, MacLeod KG, Mount

JF (1991) “Ammonite and inoceramid bivalve

extinction paerns in Cretaceous/Tertiary boundary

sections of the Biscay region (southwestern France,

northern Spain)” Geology 19 (12): 1181–1184

Bibcode:1991Geo….19.1181W

doi:10.1130/0091-7613(1991)019<1181:AAIBEP>2.3.CO;2

[33] Harries PJ, Johnson KR, Cobban WA, Nichols DJ (2002)

“Marine Cretaceous-Tertiary boundary section in

southwestern South Dakota: Comment and Reply”

Geology 30 (10): 954–955.Bibcode:2002Geo….30 954H

ISSN 0091-7613

doi:10.1130/0091-7613(2002)030<0955:MCTBSI>2.0.CO;2

[34] Neraudeau D, ierry J, Moreau P (1997) “Variation

in echinoid biodiversity during the Cenomanian–earlyTuronian transgressive episode in Charentes (France)”

Bulletin de la Société géologique de France 168: 51–61.

[35] Raup DM and Jablonski D (1993) “Geography of

end-Cretaceous marine bivalve extinctions” Science

260 (5110): 971–973.Bibcode:1993Sci…260 971R.PMID

11537491.doi:10.1126/science.11537491

[36] MacLeod KG (1994) “Extinction of Inoceramid Bivalves

in Maastrichtian Strata of the Bay of Biscay Region of

France and Spain” Journal of Paleontology 68 (5): 1048–

1066

[37] Paerson, C (1993) Osteichthyes: Teleostei In: e Fossil Record 2 (Benton, MJ, editor) Springer tr 621–656.ISBN0-412-39380-8

[38] Zinsmeister WJ (ngày 1 tháng 5 năm 1998).“Discovery

of fish mortality horizon at the K–T boundary onSeymour Island: Re-evaluation of events at the end ofthe Cretaceous” Journal of Paleontology 72 (3): 556–571.Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007

[39] Robertson DS, McKenna MC, Toon OB, Hope S,Lillegraven JA (2004).“Survival in the first hours ofthe Cenozoic”(PDF) GSA Bulletin 116 (5–6): 760–768.

doi:10.1130/B25402.1 Truy cập ngày 8 tháng 1 năm2016

[40] Labandeira Conrad C, Johnson Kirk R, Wilf Peter (2002)

“Impact of the terminal Cretaceous event on plant–insect associations”(PDF) Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America

99 (4): 2061–2066.Bibcode:2002PNAS…99.2061L.PMC

122319.PMID 11854501.doi:10.1073/pnas.042492999.[41] Wilf P, Labandeira CC, Johnson KR, Ellis B (2006)

“Decoupled Plant and Insect Diversity Aer the

End-Cretaceous Extinction” Science 313 (5790): 1112–

1115 Bibcode:2006Sci…313.1112W PMID 16931760.doi:10.1126/science.1129569

[42] Vajda Vivi, Raine J Ian, Hollis Christopher J (2001)

“Indication of Global Deforestation at the Cretaceous–Tertiary Boundary by New Zealand Fern Spike” Science

294 (5547): 1700–1702. Bibcode:2001Sci…294.1700V.PMID 11721051.doi:10.1126/science.1064706.Pdf

[43] Johnson, KR; Hickey LJ (1991) Megafloral change across the Cretaceous Tertiary boundary in the northern Great Plains and Rocky Mountains In: Global Catastrophes

in Earth History: An Interdisciplinary Conference on Impacts, Volcanism, and Mass Mortality, Sharpton VI and Ward PD (editors) Geological Society of America.ISBN978-0-8137-2247-4

[44] Askin, RA; Jacobson SR (1996) Palynological change across the Cretaceous–Tertiary boundary on Seymour Island, Antarctica: environmental and depositional factors In: Cretaceous–Tertiary Mass Extinctions: Biotic and Environmental Changes, Keller G, MacLeod N (editors) WW Norton.ISBN 978-0-393-96657-2

Trang 26

[45] Schultz PH, D'Hondt S (1996) “Cretaceous–

Tertiary (Chicxulub) impact angle and its

consequences” Geology 24 (11): 963–967

Bibcode:1996Geo….24 963S

doi:10.1130/0091-7613(1996)024<0963:CTCIAA>2.3.CO;2 Truy cập

ngày 5 tháng 7 năm 2007

[46] Vajda V, McLoughlin S (2004) “Fungal Proliferation

at the Cretaceous–Tertiary Boundary” (PDF)

Science 303 (5663): 1489–1490. PMID 15001770

doi:10.1126/science.1093807 Truy cập ngày 7 tháng 7

năm 2007

[47] J.A Fawcea, S Maerea, và Y.V de Peera “Plants

with double genomes might have had a beer chance

to survive the Cretaceous–Tertiary extinction event”

doi:10.1073/pnas.0900906106 Truy cập ngày 6 tháng 3

năm 2012

[48] Archibald JD, Bryant LJ (1990) “Differential

Cretaceous–Tertiary extinction of nonmarine

vertebrates; evidence from northeastern Montana

In: Global Catastrophes in Earth History: an

Interdisciplinary Conference on Impacts, Volcanism,

and Mass Mortality (Sharpton VL and Ward PD,

editors)” Geological Society of America, Special Paper

247: 549–562.

[49] Novacek MJ (1999) “100 Million Years of Land

Vertebrate Evolution: e Cretaceous-Early Tertiary

Transition” Annals of the Missouri Botanical Garden

(Annals of the Missouri Botanical Garden, Vol 86, No

2) 86 (2): 230–258.JSTOR 2666178.doi:10.2307/2666178

[50] Lutz, D (2005) Tuatara: A Living Fossil DIMI Press.

ISBN 0-931625-43-2

[51] Chaerjee S, Small BJ (1989) “New plesiosaurs from

the Upper Cretaceous of Antarctica” Geological

Society, London, Special Publications 47 (1): 197–215.

doi:10.1144/GSL.SP.1989.047.01.15 Truy cập ngày 4

tháng 7 năm 2007

[52] O'Keefe FR (2001) “A cladistic analysis and taxonomic

revision of the Plesiosauria (Reptilia: Sauropterygia)”

Acta Zoologica Fennica 213: 1–63.

[53] Brochu CA (2004) “Calibration age and quartet

divergence date estimation” Evolution 58 (6): 1375–

1382.PMID 15266985.doi:10.1554/03-509

[54] Jouve S, Bardet, N, Jalil N-E, Suberbiola XP, Bouya B,

Amaghzaz M (2008) “e oldest African crocodylian:

phylogeny, paleobiogeography, and differential

survivorship of marine reptiles through the

Cretaceous-Tertiary Boundary” Journal of Vertebrate Paleontology

28 (2): 409–421. ISSN 0272-4634

doi:10.1671/0272-4634(2008)28[409:TOACPP]2.0.CO;2

[55] Slack KE, Jones CM, Ando T, Harrison GL, Fordyce RE,

Arnason U, Penny D (2006).“Early Penguin Fossils, Plus

Mitochondrial Genomes, Calibrate Avian Evolution”

(PDF) Molecular Biology and Evolution 23 (6): 1144–

from Northeastern China” Science 274 (5290): 1164–

1167 Bibcode:1996Sci…274.1164H PMID 8895459.doi:10.1126/science.274.5290.1164

[58] Clarke JA, Tambussi CP, Noriega JI, Erickson GM,Ketcham RA (2005) “Definitive fossil evidence for the

extant avian radiation in the Cretaceous” Nature 433

(7023): 305–308 Bibcode:2005Natur.433 305C PMID

15662422.doi:10.1038/nature03150

[59] Longrich, Nicholas R.; Tokaryk, Tim; Field, Daniel J.(2011) “Mass extinction of birds at the Cretaceous–Paleogene (K–Pg) boundary.” Proceedings of the

National Academy of Sciences 108 (37): 15253–15257.

doi:10.1073/pnas.1110395108

[60] “Primitive Birds Shared Dinosaurs’ Fate” Science Daily.Ngày 20 tháng 9 năm 2011 Truy cập ngày 20 tháng 9năm 2011

[61] David, Archibald; David Fastovsky (2004) “DinosaurExtinction”(PDF) Trong Weishampel David B, Dodson

Peter, Osmólska Halszka (eds.) e Dinosauria (ấn bản

2) Berkeley: University of California Press tr 672–684.ISBN 0-520-24209-2

[62] Ocampo, A; Vajda V, Buffetaut E (2006) Unravelling the Cretaceous–Paleogene (K–T) turnover, evidence from flora, fauna and geology in biological processes associated with impact events (Cockell C, Gilmour I, Koeberl C, editors) SpringerLink tr 197–219 ISBN 978-3-540-25735-6 Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.Pdf[63] Rieraa V, Marmib J, Omsa O, Gomez B (tháng 3năm 2010) “Orientated plant fragments revealingtidal palaeocurrents in the Fumanya mudflat(Maastrichtian, southern Pyrenees): Insights in

palaeogeographic reconstructions” Palaeogeography,

Palaeoclimatology, Palaeoecology 288 (1–4): 82–92.

doi:10.1016/j.palaeo.2010.01.037

[64] Ryan MJ, Russell AP, Eberth DA, Currie PJ (2001)

“e taphonomy of a Centrosaurus (Ornithischia:Ceratopsidae) bone bed from the Dinosaur ParkFormation (Upper Campanian), Alberta, Canada, withcomments on cranial ontogeny” PALAIOS 16: 482–506.doi:10.2307/3515564

[65] Gelfo JN and Pascual R (2001) “Peligrotherium tropicalis

(Mammalia, Dryolestida) from the early Paleocene ofPatagonia, a survival from a Mesozoic Gondwanan

radiation” Geodiversitas 23: 369–379.

[66] Goin FJ, Reguero MA, Pascual R, von Koenigswald

W, Woodburne MO, Case JA, Marenssi SA, Vieytes

C, Vizcaíno SF (2006) “First gondwanatherianmammal from Antarctica” Geological Society, London, Special Publications 258: 135–144.doi:10.1144/GSL.SP.2006.258.01.10

Trang 27

3.6 THAM KHẢO 21

[67] McKenna, MC; Bell SK (1997) Classification of

Mammals: Above the Species Level Columbia University

Press.ISBN 978-0-231-11012-9

[68] Bininda-Emonds ORP, Cardillo M, Jones KE, MacPhee

RDE, Beck RMD, Grenyer R, Price SA, Vos RA,

Gileman JLY, Purvis A (2007) “e delayed rise

of present-day mammals” (PDF) Nature 446 (7135):

507–512.Bibcode:2007Natur.446 507B.PMID 17392779

doi:10.1038/nature05634

[69] Springer MS, Murphy WJ, Eizirik E, O'Brien SJ (2003)

“Placental mammal diversification and the Cretaceous–

Tertiary boundary” (PDF) PNAS 100 (3): 1056–1061.

Bibcode:2003PNAS 100.1056S PMC 298725 PMID

12552136.doi:10.1073/pnas.0334222100

[70] Dodson, Peter(1996) e Horned Dinosaurs: A Natural

History Princeton: Princeton University Press tr 279–

281.ISBN 0-691-05900-4

[71] “Online guide to the continental Cretaceous–Tertiary

boundary in the Raton basin, Colorado and New

Mexico” U.S Geological Survey 2004.Bản gốclưu trữ

31 tháng 1 năm 2004 Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2007

[72] Smathers, GA; Mueller-Dombois D (1974) Invasion

and Recovery of Vegetation aer a Volcanic Eruption in

Hawaii, Scientific Monograph Number 5 United States

National Park Service Truy cập ngày 9 tháng 7 năm

2007

[73] Pope KO, D'Hondt SL, Marshall CR (1998).“Meteorite

impact and the mass extinction of species at the

Cretaceous/Tertiary boundary” PNAS 95 (19): 11028–

11029 Bibcode:1998PNAS…9511028P PMC 33889

PMID 9736679.doi:10.1073/pnas.95.19.11028

[74] Marshall CR, Ward PD (1996) “Sudden and Gradual

Molluscan Extinctions in the Latest Cretaceous of

Western European Tethys” Science 274 (5291): 1360–

1363 Bibcode:1996Sci…274.1360M PMID 8910273

doi:10.1126/science.274.5291.1360

[75] Signor III PW, Lipps JH (1982) “Sampling bias, gradual

extinction paerns, and catastrophes in the fossil

record In: Geological implications of impacts of large

asteroids and comets on the Earth, Silver LT, Schultz

PH (editors)” Geological Society of America Special

Publication 190: 291–296.

[76] Alvarez LW, Alvarez W, Asaro F, Michel HV

(1980) “Extraterrestrial cause for the Cretaceous–

Tertiary extinction” Science 208 (4448): 1095–

1108 Bibcode:1980Sci…208.1095A PMID 17783054

doi:10.1126/science.208.4448.1095

[77] De Laubenfels MW (1956) “Dinosaur extinction: One

more hypothesis” Journal of Paleontology 30 (1): 207–

218.JSTOR 1300393

[78] Sol khí (tiếng Anh:Aerosol) là những chất ở thể lỏng

hoặc rắn, có kích thước đủ nhỏ (đường kính < 1mm) để

nó lơ lửng phân tán trong không khí, ví dụ nhưmây,

khói,sương khói Xem thêmSol (hệ keo),nhũ tương,

huyền phù

[79] Pope KO, Baines KH, Ocampo AC, Ivanov BA(1997) “Energy, volatile production, and climaticeffects of the Chicxulub Cretaceous/Tertiary impact”

Journal of Geophysical Research 102 (E9): 21645–

21664 Bibcode:1997JGR…10221645P PMID 11541145.doi:10.1029/97JE01743.Bản gốclưu trữ 30 tháng 9 năm2007

[80] Kring DA (2003) “Environmental consequences ofimpact cratering events as a function of ambient

conditions on Earth” Astrobiology 3 (1): 133–

152 Bibcode:2003AsBio…3 133K PMID 12809133.doi:10.1089/153110703321632471

[81] Pope KO, Ocampo AC, Kinsland GL, Smith R(1996) “Surface expression of the Chicxulub crater”

24 (6): 527–530 Bibcode:1996Geo….24 527P.PMID 11539331 doi:10.1130/0091-7613(1996)024<0527:SEOTCC>2.3.CO;2

[82] Gulick; etfirst2=al (ngày 13 tháng 1 năm 2008)

“Importance of pre-impact crustal structure for the

asymmetry of the Chicxulub impact crater” Nature

Geoscience 1 (2): 131–135.Bibcode:2008NatGe…1 131G.doi:10.1038/ngeo103.Tóm lược dễ hiểu

[83] Morgan J, Lana C, Kersley A, Coles B, Belcher

C, Montanari S, Diaz-Martinez E, Barbosa A,Neumann V (2006) “Analyses of shocked quartz

at the global K-P boundary indicate an originfrom a single, high-angle, oblique impact at

Chicxulub” Earth and Planetary Science Leers

251 (3–4): 264–279. Bibcode:2006E&PSL.251 264M.doi:10.1016/j.epsl.2006.09.009

[84] Keller G, Abramovich S, Berner Z, Adae T(ngày 1 tháng 1 năm 2009) “Biotic effects ofthe Chicxulub impact, K–Pg catastrophe andsea level change in Texas” Palaeogeography,

[86] Majaess DJ, Higgins D, Molnar LA, Haegert MJ, Lane

DJ, Turner DG, Nielsen I (tháng 2 năm 2009) “NewConstraints on the Asteroid 298 Baptistina, the AllegedFamily Member of the K/T Impactor”(PDF) e Journal

of the Royal Astronomical Society of Canada 103 (1): 7–

10.Bibcode:2009JRASC.103….7M

[87] Reddy V, Emery JP, Gaffey, MJ, Boke, WF, Cramer

A, Kelley MS (tháng 12 năm 2009) “Composition of

298 Baptistina: Implications for the K/T impactor link”

Meteoritics & Planetary Science 44 (12): 1917–1927.

Bibcode:2009M&PS…44.1917R 5100.2009.tb02001.x

doi:10.1111/j.1945-[88] “NASA’s WISE Raises Doubt About Asteroid FamilyBelieved Responsible for Dinosaur Extinction”

ScienceDaily Ngày 20 tháng 9 năm 2011 Truy cập ngày

21 tháng 9 năm 2011

Trang 28

[89] Keller G, Adae T, Gardin S, Bartolini A, Bajpai S

(2008) “Main Deccan volcanism phase ends near the

K–T boundary: Evidence from the Krishna-Godavari

Basin, SE India” Earth and Planetary Science Leers

268 (3–4): 293–311. Bibcode:2008E&PSL.268 293K

doi:10.1016/j.epsl.2008.01.015

[90] Duncan RA, Pyle DG (1988) “Rapid eruption of the

Deccan flood basalts at the Cretaceous/Tertiary

boundary” Nature 333 (6176): 841–843

Bibcode:1988Natur.333 841D.doi:10.1038/333841a0

[91] Alvarez, W (1997) T rex and the Crater of Doom.

Princeton University Press tr 130–146 ISBN

978-0-691-01630-6

[92] Mullen L (ngày 13 tháng 10 năm 2004).“Debating the

Dinosaur Extinction” Astrobiology Magazine Truy cập

ngày 11 tháng 7 năm 2007

[93] Mullen L (ngày 20 tháng 10 năm 2004) “Multiple

impacts” Astrobiology Magazine Truy cập ngày 11

tháng 7 năm 2007

[94] Mullen L (ngày 3 tháng 11 năm 2004).“Shiva: Another

K–T impact?” Astrobiology Magazine Truy cập ngày 11

tháng 7 năm 2007

[95] Chaerjee, Sankar (tháng 8 năm 1997) “Multiple

Impacts at the KT Boundary and the Death of the

Dinosaurs” 30th International Geological Congress 26

tr 31–54 ISBN 978-90-6764-254-5 Truy cập ngày 22

tháng 2 năm 2008

[96] Liangquan L, Keller G (1998) “Abrupt

deep-sea warming at the end of the

Society of London 2004 Truy cập ngày 2 tháng

8 năm 2007

• Kring DA (2005). “Chicxulub Impact Event:

Imagery Center.Bản gốclưu trữ ngày 29 tháng 6

năm 2007 Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2007

• Cowen R (2000).“e K–T extinction” University

of California Museum of Paleontology Truy cập

ngày 2 tháng 8 năm 2007

California Museum of Paleontology 1995 Truy

cập ngày 2 tháng 8 năm 2007

Trang 29

Chương 4

Động vật không xương sống

Ruồi giấm thường,Drosophila melanogasterlà đối tượng của

nhiều nghiên cứu

Động vật không xương sống ngay tên gọi đã phản ánh

đặc trưng của những loài thuộc nhóm này là không

cácloàiđộng vật[1]– tất cả động vật trừ các loài động

vật trong phân ngànhđộng vật có xương sống, thuộc

ngànhđộng vật có dây sống(cá,lưỡng cư,bò sát,chim,

vàthú)

Các động vật không xương sống hợp thành một nhóm

bào chung, tất cả các ngành trong nhóm này là các

động vật không xương sống cùng với 2 trong số 3 phân

ngành trong ngànhđộng vật có dây sốnglàTunicata

vàCephalochordata Hai phân ngành này cùng với tất

cả các loài động vật không dây sống đã biết khác có

chung một nhómHox gene, trong khi các loài động vật

có xương sống có nhiều hơn một cụm Hox gene nguyên

thủy

Trong ngành nghiên cứu động vật học cổ và cổ sinh

học, những động vật không xương sống thường được

nghiên cứu trong mối liên hệ hóa thạch được gọi là cổ

sinh học động vật không xương sống

4.1 Đặc điểm

Nhiều loài động vật không xương sống có hình thứcsinh sản hữu tính Chúng có một vài tế bào sinh sảnđặc biệt, mà các tế bào này có thể trải qua quá trìnhphân bào để tạo ra các tinh trùng nhỏ hơn có thể cửđộng, hoặc các trứng lớn hơn không thể di chuyển.[2]

Sự kết hợp chúng để tạo thành hợp tửvà phát triểnthành cá thể mới.[3]Các loài khác có khả năng sinh sản

vô tính hoặc thỉnh thoảng có cả hai cách sinh sản

4.1.1 Các ngành

San hô hóa thạch Cladocora trong Pliocene ở Cộng hòa Síp

Các động vật không xương sống bao gồm một sốngành Một trong số đó làbọt biển(Porifera) Chúng đã

từng được xem là đã tách ra từ các động vật khác trướcđây.[4]Chúng thiếu tổ hợp phức tạp được tìm thấy tronghầu hết các ngành khác.[5]Các tế bào của chúng khácbiệt nhưng trong hầu hết các trường hợp không đượctổn chức thành các mô riêng biệt.[6] Bọt biển thường

ăn bằng cách hút nước qua các lỗ chân lông.[7]Một sốngười suy đoán rằng bọt biển không phải nhóm nguyênsinh, nhưng có thể là một dạng thứ sinh đơn giản hóa.[8]

CtenophoravàCnidaria, bao gồmsea anemone,san hô,

vàsứa, có dạng đối xứng tâm và có buồn tiêu hóa có23

Trang 30

một lỗ duy nhất, vừa là miệng cũng vừa là hậu môn.[9]

Cả hai đều có các mô riêng biệt, nhưng chúng không

được tổ chức thành mộtcơ quan.[10] Chúng chỉ có hai

lớp màng chính là nội bì và ngoại bì, giữa chúng chỉ

có các tế bào nằm rải rác Do đó, đôi khi người ta gọi

chúng làlưỡng bì.[11]

Động vật da gaicó tính đối xứng tâm và là các động

vật biển chỉ có ở biển, bao gồmsao biển(Asteroidea),

cầu gai(Echinoidea),đuôi rắn(Ophiuroidea),hải sâm

(Holothuroidea) vàhuệ biển(Crinoidea) vàsứa.[12]

Các ngành khác thuộc động vật không xương sống

gồm ngành nửa dây sống (Hemichordata)[13] và Hàm

tơ (Chaetognatha).

Ngành động vật lớn nhất cũng nằm trong nhóm

động vật không xương sống: động vật chân khớp

(Arthropoda) bao gồmcôn trùng,nhện,cuavà các họ

hàng của chúng Tất cả các sinh vật này có cơ thể

được chia thành một vài phần có tính lặp lại, đặc biệt

là các bộ phận cặp đôi Ngoài ra, chúng có xương

ngoài cứng và cần lột xác theo chu kỳ để lớn lên.[14]

Hai ngành nhỏ hơn làGiun có móc(Onychophora) và

vật chân khớp và cùng mang những đặc điểm này

2 và cũng là động vật không xương sống Giun tròn

thường có kích thước nhỏ và xuất hiện trong hầu hết

các môi trường có nước.[15] Một số là ký sinh trùng

quan trọng.[16]Ngành nhỏ hơn liên quan đến chúng là

Kinorhyncha,Priapulida, vàLoricifera Các nhóm này

có các khoang bị giảm đi, gọi là các khoang giả Các

loài động vật không xương sống khác bao gồmtrùng

dải băng(Nemertea)[17], vàSá sùng(Sipuncula).

Các ngành khác làGiun dẹp(Platyhelminthes).[18]Các

loài này ban đầu được xem là nguyện thủy, tuyn nhiên

hiện nay người ta cho rằng chúng có các tổ tiên phức

tạp hơn[19] Giun dẹp có các xoang vị, chưa có các

khoảng trống riêng biệt trong cơ thể, cũng giống như

các họ hàng gần gũi nhất với chúng là cácGiun bụng

lông(Gastrotricha).[20]Luân trùng(Rotifera) hay trùng

bánh xe, là các loài phổ biến trong các môi trường

nước Các động vật không xương sống cũng bao gồm

Đầu móc ký sinh(Acanthocephala),Gnathostomulida,

Micrognathozoa, vàCycliophora.[21]

Động vật không xương sống cũng bao gồm hai ngành

nhóm phổ biến nhất là Mollusca và Annelida.[22][23]

Molusca là một ngành động vật lớn thứ 2 về số lượng

loài đã được miêu tả bao gồmốc sên,nghêu, vàmực,

và ngành Annelida bao gồm các loài giun đốt nhưgiun

đấtvàđĩa Hai ngành này trong một thời gian dài được

xem là có quan hệ gần gũi do sự xuất hiện phổ biến

của chúng trong ấu trùng của trochophore, nhưng các

loài Annelida từng được xem là có quan hệ gần hơn

vớiarthropodado chúng đều có đối.[24]Hiện nay, hai

ngành này nhìn chung được xem là tiến hóa hội tụ

có những điểm khác nhau về hình thái và gen giữa

chúng.[25]

Các ngành khác gồm Acoelomorpha, Brachiopoda,Bryozoa,Entoprocta,Phoronida, vàXenoturbellida

4.2 Xem thêm

[4] Bhamrah, H S.; Kavita Juneja (2003) An Introduction

to Porifera Anmol Publications PVT LTD tr 58.ISBN9788126106752

[5] Sumich, James L (2008) Laboratory and Field Investigations in Marine Life Jones & Bartle Learning.

tr 67.ISBN 9780763757304

[6] Jessop, Nancy Meyer (1970) Biosphere; a study of life.

Prentice-Hall tr 428

[7] Sharma, N S (2005) Continuity And Evolution

Of Animals Mial Publications tr 106. ISBN9788182930186

[8] Dunn et al 2008 “Broad phylogenomic sampling improves resolution of the animal tree of life” Nature

06614

[9] Langstroth, Lovell; Libby Langstroth, Todd Newberry,

Monterey Bay Aquarium (2000) A living bay: the underwater world of Monterey Bay University of

California Press tr 244.ISBN 9780520221499

[10] Safra, Jacob E (2003) e New Encyclopaedia Britannica, Volume 16 Encyclopaedia Britannica tr 523. ISBN9780852299616

[11] Kotpal, R L Modern Text Book of Zoology: Invertebrates.

Rastogi Publications tr 184.ISBN 9788171339037

[12] Alcamo, Edward (1998) Biology Coloring Workbook e

Princeton Review tr 220.ISBN 9780679778844

[13] Tobin, Allan J.; Jennie Dusheck (2005) Asking about life.

Cengage Learning tr 497.ISBN 9780534406530

[14] Gunn, Alan (2009) Essential forensic biology John Wiley

and Sons tr 214.ISBN 9780470758045

[15] Prewi, Nancy L.; Larry S Underwood, William Surver

(2003) BioInquiry: making connections in biology John

Wiley tr 289.ISBN 9780471202288

Trang 31

4.5 LIÊN KẾT NGOÀI 25

[16] Schmid-Hempel, Paul (1998) Parasites in social insects.

Princeton University Press tr 75.ISBN 9780691059242

[17] “Trung tâm Sáng tạo Khoa học” Truy cập 8 tháng 2 năm

2015

[18] Gilson, Étienne (2004) El espíritu de la filosofía medieval.

Ediciones Rialp tr 384.ISBN 9788432134920

[19] Ruiz-Trillo, I., I; Ruiz-Trillo, Iñaki; Riutort, Marta;

Lilewood, D Timothy J.; Herniou, Elisabeth

A.; Baguñà, Jaume (tháng 3 năm 1999) “Acoel

Flatworms: Earliest Extant Bilaterian Metazoans,

Not Members of Platyhelminthes” Science 283

(5409): 1919–1923 ISSN 0036-8075 PMID 10082465

doi:10.1126/science.283.5409.1919 |tên 2= thiếu |họ

2= trong Authors list (trợ giúp); |tên 3= thiếu |họ

3= trong Authors list (trợ giúp); |tên 4= thiếu |họ 4=

trong Authors list (trợ giúp); |tên 5= thiếu |họ 5= trong

Authors list (trợ giúp);

[20] Todaro, Antonio “Gastrotricha: Overview”

Gastrotricha: World Portal University of Modena

& Reggio Emilia Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2008

[21] Kristensen, Reinhardt Møbjerg (tháng 7 năm 2002)

“An Introduction to Loricifera, Cycliophora, and

Micrognathozoa” Integrative and Comparative

Biology (Oxford Journals) 42 (3): 641–651

doi:10.1093/icb/42.3.641 Truy cập ngày 26 tháng

1 năm 2008

[22] “Biodiversity: Mollusca” e Scoish Association for

Marine Science.Bản gốclưu trữ ngày 8 tháng 7 năm

2006 Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007

[23] Russell, Bruce J (Writer), Denning, David (Writer)

(2000) Branches on the Tree of Life: Annelids (VHS).

BioMEDIA ASSOCIATES

[24] Eernisse, Douglas J., D J.; Eernisse, Douglas J.;

Albert, James S.; Anderson, Frank E (ngày 1 tháng 9

năm 1992) “Annelida and Arthropoda are not sister

taxa: A phylogenetic analysis of spiralean metazoan

morphology” Systematic Biology 41 (3): 305–330.ISSN

1063-5157.JSTOR 2992569.doi:10.2307/2992569 |tên 2=

thiếu |họ 2= trong Authors list (trợ giúp); |tên 3= thiếu

|họ 3= trong Authors list (trợ giúp)

[25] Eernisse, Douglas J.; Kim, Chang Bae; Moon, Seung

Yeo; Gelder, Stuart R.; Kim, Won (tháng 9 năm 1996)

“Phylogenetic Relationships of Annelids, Molluscs,

and Arthropods Evidenced from Molecules and

Morphology” (–Scholar search) Journal of Molecular

Evolution (New York: Springer) 43 (3): 207–215.PMID

8703086 doi:10.1007/PL00006079 Truy cập ngày 19

tháng 11 năm 2007

4.4 Đọc thêm

Hyman, L H.1940 e Invertebrates (6 volumes)

New York: McGraw-Hill A classic work

• Anderson, D T (Ed.) (2001) Invertebrate zoology

(2nd ed.) Oxford: Oxford University Press

• Brusca, R C., & Brusca, G J (2003) Invertebrates

(2nd ed.) Sunderland, Mass.: Sinauer Associates

• Miller, S.A., & Harley, J.P (1996) Zoology (4th ed.).

Trang 32

Đới (địa tầng)

Một thời đới hay một đới là một đơn vịthời địa tầng học

chính thức với cấp bậc không được chỉ rõ, cũng không

phải là một phần trong hệ thống thứ bậc của các đơn

vị thời địa tầng theo quy ước Nó là khối đá được hình

thành tại bất kỳ đâu trong khoảng thời gian của một

đơn vị địa tầng đã đặt tên nào đó hoặc của một đặc

trưng địa chất Đơn vị địa thời học tương ứng làthời

5.1 Khoảng thời gian

Khoảng thời gian của một thời đới là sự trải rộng về thời

gian hay một khoảng thời gian của đơn vị địa tầng đã

đặt tên trước đó, chẳng hạn như đơn vịthạch địa tầng,

sinh địa tầnghayphân cực từ địa tầng Tuy nhiên, cần

phải thừa nhận rằng, trong khi đơn vị địa tầng mà thời

đới dựa vào chỉ trải rộng về mặt địa lý tới những đâu

mà các tính chất chẩn đoán của nó có thể được thừa

nhận thì thời đới tương ứng lại bao gồm tất cả các loại

đáhình thành tại bất kỳ đâu trong khoảng thời gian

tương ứng với đơn vị đã chỉ định Ví dụ, một thời đới

chính thức dựa trên khoảng thời gian của một sinh đới

bao gồm mọi địa tầng tương đương về tuổi với khoảng

thời gian tối đa tổng thể của sinh đới đó mà không phụ

thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của các hóa thạch

chẩn đoán của sinh đới đó

Các thời đới có thể có các khoảng thời gian khác biệt

nhiều Việc chỉ định các ranh giới của một thời đới và

của khoảng thời gian của nó có thể được thực hiện theo

vài cách, phụ thuộc vào bản chất của đơn vị địa tầng mà

thời đới dựa vào Nếu như đơn vị đó cóđịa tầng mẫuđã

chỉ định, các ranh giới và khoảng thời gian của thời đới

có thể được tạo ra để tương ứng hoặc là với các ranh

giới và khoảng thời gian của đơn vị tại địa tầng mẫu

của nó hoặc là với khoảng thời gian tổng thể của đơn

vị, có thể là dài hơn so với khoảng thời gian tại địa tầng

mẫu

Trong trường hợp thứ hai, các ranh giới và khoảng thời

gian của thời đới có thể biến đổi với thông tin tăng lên

liên quan tới khoảng thời gian của đơn vị Nếu như đơn

vị mà thời đới dựa vào thuộc về kiểu mà kiểu đó không

thể có địa tầng mẫu được chỉ định một cách thích hợp,

chẳng hạn như một đơn vị sinh địa tầng, khoảng thời

gian của nó không thể được định nghĩa do khoảng thời

gian của đơn vị tham chiếu có thể thay đổi với lượngthông tin gia tăng (xem thêmBản chất của các đơn vịsinh địa tầng)

Yếu tố quan trọng trong việc đặt tên cho một thời đớiđược chấp nhận trên bình diện quốc tế là cột hóa thạchtổng thể có rõ ràng, không mơ hồ và phổ biến haykhông Vì thế, một số thời đới đã được chấp nhận lạichứa các thời đới khác và một số thời đới lớn nào đó

đã được đặt tên lại trải dài qua toàn bộ các đơn vị thờigian địa chất đã định nghĩa, cả lớn lẫn nhỏ

5.2 Sự trải rộng địa lý

Sự trải rộng địa lý của một thời đới, về mặt lý thuyết,

là khắp thế giới, nhưng khả năng áp dụng được của nó

bị hạn chế chỉ trong khu vực mà khoảng thời gian của

nó có thể được nhận dạng, thông thường sẽ là nhỏ hơnnhiều

5.3 Tên gọi

Một thời đới có tên gọi từ tên gọi đơn vị địa tầng mà nó

dựa vào, chẳng hạn thời đới Exus albus, dựa trên miền xác định đới Exus albus.

5.4 So sánh liên ngành 5.5 Các chủ đề liên quan

Niên đại địa chất

Trang 33

Biểu đồ thời gian địa chất thể hiện các kỳ thời gian

địa chất so sánh với hồ sơ hóa thạch

5.7 Ghi chú

[1] ICS.“International Stratigraphic Chart”(PDF) Truy cập

ngày 17 tháng 6 năm 2008 Kiểm tra giá trị ngày tháng

trong: |accessdate= (trợ giúp)

5.8 Tham khảo

• Gehling, James; Jensen, Sören; Droser, Mary;

Myrow, Paul; Narbonne, Guy (3) “Burrowing

below the basal Cambrian GSSP, Fortune Head,

213–218.doi:10.1017/S001675680100509X 1 Kiểm

tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

• Hedberg H.D (chủ biên), International

stratigraphic guide: A guide to stratigraphic

classification, terminology, and procedure, New

York, John Wiley and Sons, 1976

Biểu đồ địa tầng học quốc tếtừỦy ban địa tầng

học quốc tế

Web cỗ máy thời gian địa chất

Liên đại hay Liên giới,Math Words - Chỉ mục ABC

Trang 34

Giới (địa tầng)

Trongđịa tầng học,cổ sinh vật học,địa chất họcvàđịa

sinh họcthì một giới là hồ sơđịa tầngtổng thể đã trầm

lắng trong một khoảng thời gian tương ứng nhất định,

thuộc về mộtđạitrongniên đại địa chất

Vì thế nó có thể được sử dụng như là một đơn vị thời

gian trongthời địa tầngphác họa ra một khoảng rộng

về thời gian — nhỏ hơn mộtliên đại địa chất, nhưng lớn

hơn các đơn vị phân chia kế tiếp đại địa chất nhưkỷ,

thếvàkỳ địa chất Vào khoảng 3.500triệu năm trước

(Ma) sự sống đơn giản đã phát triển trênTrái Đất(các

hóa thạchvi sinh vật cổ nhất đã biết tạiAustraliacó

niên đại tới con số này[3] Khí quyển khi đó là hỗn hợp

của các khí độc hại nhưmêtan,amoniac, các hợp chất

lưu huỳnhv.v.[3]— được gọi làkhí quyển khử[4] thiếu

nhiềuôxytự do, do nó bị liên kết vào trong các hợp

chất)

(Cyanobacteria) đã thống trị Trái Đất đang nguội

dần trong khoảng 1 tỷ năm[3] và dần dần chuyển hóa

khí quyển sang dạng có chứa ôxy tự do Các thay đổi

này, cùng vớihoạt động kiến tạođã để lại các dấu vết

hóa học (chẳng hạn các thành hệđá màu đỏ) và các

manh mối vật lý khác (định hướng từ trường, các tác

nhân hình thành lớp) trong hồ sơ thạch học, và các

thay đổi này cùng với cácmẫu hóa thạchgiàu có và

muộn hơn được các chuyên gia sử dụng để phân ranh

giới các khoảng thời gian của lịch sử Trái Đất trong

các ngành khoa học khác nhau

Các giới thường không được sử dụng trong thực tế

Trong khi chúng là các đơn vị phân chia nhỏ của các

liên giớivà chính chúng lại được phân chia thành các

hệthì các chuyên gia xác định niên đại lại ưa thích cách

giải quyết tinh tế hơn với các khoảng nhỏ hơn về thời

gian khi đánh giá các địa tầng

Các giới có cùng tên gọi như các đại địa chất Như thế

liên giới Hiển sinh có thể phân chia thành các giới Cổ

sinh, giới Trung sinh và giới Tân sinh Tương tự, liên

giới Nguyên sinh được phân chia thành các giới gọi

là giới Cổ Nguyên sinh, Trung Nguyên sinh và Tân

Nguyên sinh, còn liên giới ái cổ được chia thành các

giới Tiền ái cổ, Cổ ái cổ, Trung ái cổ và Tân ái

cổ, trong đó giới hạn dưới (cổ nhất) của giới Tiền ái

cổ vẫn chưa được định nghĩa[1][2]

6.1 Xem thêm

6.1.1 So sánh liên ngành 6.1.2 Các chủ đề liên quan

Niên đại địa chất

6.3 Ghi chú và tham khảo

[1] ICS, bởi Gabi Ogg.“International Stratigraphic Chart”(PDF) Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2008 Kiểm tra giátrị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

[2] F.M Gradstein, J.G Ogg, A.G Smith, và ctv., “AGeologic Time Scale 2004”, (2004; Nhà in Đại họcCambridge)

[3] “Rockman’s Geologic Time Chart” Truy cập ngày 17tháng 6 năm 2008 Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:

|accessdate= (trợ giúp)[4] Cơ sở chothực nghiệm Miller-Urey[5] ICS.“International Stratigraphic Chart”(PDF) Truy cậpngày 17 tháng 6 năm 2008 Kiểm tra giá trị ngày thángtrong: |accessdate= (trợ giúp)

28

Trang 35

6.3 GHI CHÚ VÀ THAM KHẢO 29

• Gehling, James; Jensen, Sören; Droser,

Mary; Myrow, Paul; Narbonne, Guy (tháng

3 năm 2001) “Burrowing below the basal

doi:10.1017/S001675680100509X 1

• Hedberg H.D., (chủ biên), International

stratigraphic guide: A guide to stratigraphic

classification, terminology, and procedure, New

York, John Wiley and Sons, 1976

Biểu đồ địa tầng quốc tếtừ ICS

Cỗ máy thời gian địa chất

Trang 36

Henri Mansuy

Henri Mansuy (1857-1937) là một nhà khảo cổ học

người Pháp, có nhiều nghiên cứukhảo cổ họcvềthời

tiền sử Việt Nam.[1]

Ông cùng vớiMadeleine Colani(1866-1943) phát hiện

cũng là một nhàcổ sinh vật học

7.1 Hoạt động

Henri Mansuy đến làm việc ở Sở Địa chất Đông Dương,

được thành lập năm 1898, trong đó ông cùng với

Honoré Lantenois được giao xây dựng Bảo tàng Địa

chất, trong khuôn viên của Sở và hoàn thành năm

1914.[2]

Năm 1906 Mansuy khai quật hang ởhuyện Bình Gia

thuộc tỉnh Lạng Sơn Di chỉ này có chứa các hiện vật

của các công cụ đồ đá và đồ gốm thuộc hậukỳ đồ đá

mới(late Neolithic) Chứng 15 năm sau ông cùng với

Madeleine Colaniphát hiện ra trong một di chỉ khảo

cổ học 27 di vật như vậy mà có thể theo các dấu hiệu

nhất định thì là thuộcvăn hóa Bắc Sơn Các di cốt người

cũng được tìm thấy ở đây

Năm 1917-1919, ông tham gia điều tra và đặt dấu

chấm hết cho sự nghiệp địa chất của người bạn và

đồng nghiệp Jacques Deprat(1880-1935), người cùng

làm việc ở Đông Dương, vì sự gian lận trong khoa

học.[1][lower-alpha 1]

7.2 Chỉ dẫn

[1] Jacques Depratđược coi là đã lấy hóa thạchTrilobite

vùngBohemiađưa vào bộ sưu tập hóa thạch ởĐông

Dương, sự kiện dẫn đến ông bị khai trừ khỏi Hiệp

hội Địa chất Pháp(SGF, Société géologique de France)

Nhưng điều bất ngờ là sau đó năm 1927 nhà cổ sinh

Jacques Fromagettìm thấy mẫuTrilobite tương tự ở

Đông Dương Dựa trên các tiến bộ về kiến thức địa chất

và kiến tạo của thế kỷ 20, nghi ngờ gian lận giảm và

không còn chắc chắn Ngày 10 tháng 6 năm 1991,Hiệp

hội Địa chất Phápquyết định chính thức phục hồi tư

cách thành viên SGF cho Jacques Deprat

30

Trang 37

Chương 8

Huy chương Daniel Giraud Elliot

Huy ương Daniel Giraud Elliot là một giải thưởng

“công trình nghiên cứu xuất sắc trongĐộng vật họcvà

Cổ sinh vật họctrong thời gian từ 3 tới 5 năm qua”

Giải được đặt theo tênDaniel Giraud Elliot, nhà động

vật học Hoa Kỳ, và được trao 4 năm một lần bắt đầu từ

• 1950:Raymond Carroll Osburn

• 1949:Arthur Cleveland Bent

Trang 38

Sciences web site

Trang 39

Chương 9

Jacques Deprat

Jacques Deprat (1880-1935) là một nhà địa chất, cổ

31/06/1880 ở Fontenay-aux-Roses, và tử nạn ngày

7/3/1935 khi leo núi trượt tuyết ở Aiguiles d´Ansabère

trong dãyPyrénées.[1][2]

Ông đã làm việc ở Sở Địa chất Đông Dương từ cỡ năm

1904 đến năm 1917 Những nghiên cứu của ông ởĐông

trong quá trình lậpBản đồ địa chấtBắc Việt Nam tỷ

lệ 1:500.000 hồi những năm 1960.[3]

Năm 1917 Deprat được biết đến bởi một vụ giả mạo

hóa thạch Trilobiteở Đông Dương, sự kiện dẫn đến

việc ông bị khai trừ khỏiHiệp hội Địa chất Pháp(SGF,

Société géologique de France) Tuy nhiên sau này nghi

ngờ gian lận giảm, ông dường như là nạn nhân của một

âm mưu Năm 1991 SGF quyết định chính thức phục hồi

tư cách thành viên của ông.[2]

Là mộtnhà văn, ông có bút danh là Herbert Wild.

9.1 Hoạt động

Deprat là thành viên củaHiệp hội Địa chất Phápvào

năm 1899, ở tuổi 19, khi ông theo học trường địa chất

tại Besançon và Paris Sau đó ông theo học tạiSorbonne

để chuẩn bị một luận án về địa chất của hòn đảo Evia

dưới sự chỉ đạo của nhà địa chất họcAlfred Lacroix

từBảo tàng Lịch sử Tự nhiên ốc gia Pháp Ông lấy

bằng tiến sĩ vào năm 1904, và sau đó đến làm việc ở

Sở Địa chất Đông Dương (SGI, Service Geologique de

l´Indochine) có trụ sở tại Hà Nội, nơi ông định cư cùng

gia đình vào năm 1909 Ông đã phối hợp với kỹ sư mỏ

Việt Nam,Vân NamvàLào

Những phát hiện đã dẫn đến ông được nhận giải thưởng

củaHiệp hội Địa chất Phápnăm 1914, và giải danh giá

Tchihatchef củaViện Hàn lâm Khoa học Pháp, chia sẻ

với nhà cổ sinh vậtHenri Mansuy

Năm 1917, Honoré Lantenois và đồng nghiệp Henri

Mansuynghi ngờ ông về bộ sưu tập hóa thạch là ngụy

tạo và được sử dụng một cách "đáng kể" trong các ấn

phẩm khoa học Hóa thạch Trilobite[4] Đông Dương

tương tự như ở vùngBohemia, điều mà thời đó coi làkhông thể có Ông đã từ chối nộp thủ tục xác minh Nódẫn đến Toàn quyền Đông Dương ra lệnh treo việc dobất phục tùng Một cuộc điều tra hành chính được tiếnhành năm 1918, trong đó ông tố cáo đó là một âm mưu,

và sau đó báo cáo viên (Habert) đề nghị sử dụng một

ủy ban của các học giả Paris yết định này được cácbên chấp nhận Ủy ban do nhà ngoại giao Emmanuel

de Margerie lãnh đạo Tuy nhiên thành phần của ủyban bị ảnh hưởng bởi Lantenois và chỉ có một chuyêngia thực sự có chuyên môn, vì vậy mà các cuộc thảoluận kéo dài để được kiểm tra những cáo buộc, nhưngchẳng muốn đưa ra kết luận của mình Khi chuyên gianói trên bất ngờ qua đời, ủy ban đã nhanh chóng phánxét tiêu cực cho Deprat, và SGF khai trừ ông năm 1919.Năm 1919 ông trở về Pháp và bắt đầu sự nghiệp vănchương Năm 1926 tác phẩm đầu tiên “Les Chiensaboient” (Chó sủa) nói về thời kỳ làm địa chất của ông.Tác phẩm “Le Colosse endormi” (Người khổng lồ sayngủ) đoạt giải Grand Prix des Français d'Asie năm 1931.Deprat là một vận động viên trượt tuyết và đam mê leonúi Ông tử nạn ngày 7/3/1935 khi leo núi trượt tuyết

ở Aiguiles d´Ansabère trong dãyPyrénées trong mộthoàn cảnh tương tự như mô tả trong tiểu thuyết củaông là “La Paroi de Glace” (Bức tường băng), được xuấtbản năm 1936 sau khi ông chết

Sau một hành trình dài “vụ việc Deprat” là chủ đề củacuốn hồi ký của cựu chủ tịch SGF là Michel DurandDelga Dựa trên các tiến bộ về địa chất và kiến tạocủa thế kỷ 20, nghi ngờ gian lận giảm và thiếu sựnhất quán, trong đó có sự kiện năm 1927nhà cổ sinh

Đông Dương[5] Ngày 10 tháng 6 năm 1991,Hiệp hộiĐịa chất Phápquyết định chính thức phục hồi tư cáchthành viên cho Jacques Deprat

Năm 1999, nhà văn người Anh Roger Osborne viết tiểuthuyết “e Affair Deprat” (Vụ việc Deprat) được bánkhá chạy

33

Trang 40

9.2 Nghiên cứu địa chất

• Étude géologique du Yun-Nan oriental; I: Géologie

générale, « Mémoires du Service géologique de

l'Indochine », Hanọ, vol I, fasc 1, 1912

• Étude géologique du Yunnan oriental; III: Étude des

Fusulinidés de Chine et d'Indochine et classification

des calcaires à Fusulines, « Mémoires du Service

géologique de l'Indochine », Hanọ, vol I, fasc 3,

1912

• Sur la découverte de l'Ordovicien à Trinucleus et du

Dinantien dans le Nord—Annam et sur la géologie

générale de cee région, « C.R Acad Sci », Paris,

t CLIV, 28 mai 1912

• Les fusulines des calcaires carbonifériens et

permiens du Tonkin, du Laos et du Nord-Annam

(Deuxième mémoire), « Mémoires du Service

géologique de l'Indochine », Hanọ, vol II, fasc 1,

1913

• Étude comparative des fusulinidés d’Akasaka

(Japon) et des fusulinidés de Chine et d’Indochine

(Troisième mémoire), « Mémoires du Service

géologique de l'Indochine », Hanọ, vol III, fasc

1, 1914

• Étude des plissements et des zones d'écrasement de

la moyenne et basse Rivière-Noire, « Mémoires du

Service géologique de l'Indochine », Hanọ, vol

III, fasc 4, 1914

• Notes sur les terrains primaires dans le Nord-Annam

et dans le bassin de la Rivière-Noire, « Mémoires du

Service géologique de l'Indochine », Hanọ, vol II,

fasc 2, 1914

• Les Fusulinidés des calcaires carbonifériens et

permiens du Tonkin, du Laos et du Nord-Annam

(atrième mémoire), « Mémoires du Service

géologique de l'Indochine », Hanọ, vol IV, fasc

1, 1915

• Le Trias et le Lias sur les feuilles de Son-Tay et de

Phu-Nho-an, « Bulletin du Service géologique

de l'Indochine », Hanọ, vol II, fasc 2, 1915

• Études géologiques sur la région septentrionale

du Haut-Tonkin: feuilles de Pa-Kha E., Ha-Giang,

Ma-Li-Po, Yèn-Minh, « Mémoires du Service

géologique de l'Indochine », Hanọ, vol IV, fasc

4, 1915

• Le Trias et le Lias sur les feuilles de Son-Tay et de

Phu-Nho-an, « Bulletin du Service géologique

de l'Indochine », Hanọ, vol II, fasc 2, 1915

• Les terrains paléozọques dans le Haut—Tonkin et

le Yunnan, « Mémoires du Service géologique de

l'Indochine », Hanọ, vol V, fasc 3, 1916 (inédit)

• L’Ordovicien et le Gothlandien dans le Nord du Tonkin et le bassin du haut Iou-Kiang (Chine méridionale), « C.R Acad Sci », Paris, t CLXIV,

15 janvier 1917

9.3 Văn chương

• Herbert Wild: Les Chiens aboient, Albin Michel

1926,Online

• Herbert Wild: Le Colosse endormi, Albin Michel,

1927, (bản tiếng Đức: Der schlummernde Riese, .

[1] Michel Durand-Delga L´affaire Deprat (pour la réhabilitation d'un géologue proscrit), in Livre Eugène Wegmann, Mémoire hors-série de la Société Géologique

de France, 1995

[2] L´Affaire Deprat, Travaux du Comité Francais del´histoire de la Géologie, 3 Serie, Band 4, 1990.[3] Dovjikov A.E chủ biên, 1965 Địa chất miền Bắc ViệtNam, Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội

[4] Michel Durand Delga, L'affaire des Trilobites: retour surl'affaire Deprat, in Geochronique, 2007, n°101

[5] Heinrich Zankl Fälscher, Schwindler, Scharlatane.VCH, p 234

9.6 Xem thêm 9.7 Liên kết ngồi

Ngày đăng: 26/09/2017, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm