1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Các trang trong thể loại “bệnh tiêu hóa”

11 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 217,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các dấu hiệu trên thì còn rất nhiều biểu hiện của căn bệnh này như đau thượng vị, kém ăn, buồn nôn, chảy máu tiêu hóa đều là những biểu hiện đặc trưng nhất của bệnh đau dạ dày.[

Trang 1

Các trang trong thể loại “Bệnh tiêu hóa”

Trang 2

Mục lục

1.1 Triệu chứng 1

1.2 am khảo 1

1.3 Liên kết ngoài 1

2 Bệnh Hirssprung 2 2.1 Các dấu hiệu và triệu chứng 2

2.2 Sinh lý bệnh học 2

2.3 am khảo 3

3 Bệnh sưng phù đầu ở lợn 4 3.1 Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh 4

3.2 Biểu hiện của bệnh 4

3.3 Bệnh tích 4

3.4 Chú thích 4

4 Khó tiêu 5 4.1 Điều trị 5

4.1.1 Liệu pháp 5

4.1.2 Dùng thuốc 5

4.2 am khảo 5

4.3 Liên kết ngoài 5

5 Trĩ (bệnh) 6 5.1 Dấu hiệu của bệnh 6

5.2 Phân loại 6

5.3 Cấp độ bệnh 6

5.4 Liệu pháp 7

5.4.1 Dùng thuốc 7

5.4.2 Dinh dưỡng 7

5.5 Chú thích 7

5.6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 8

5.6.1 Văn bản 8

5.6.2 Hình ảnh 8

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

5.6.3 Giấy phép nội dung 8

Trang 4

Chương 1

Bệnh đau dạ dày

Bệnh đau dạ dày là một trong những căn bệnh phổ

biến nhất về đường tiêu hóa Bệnh đau dạ dày có rất

nhiều dấu hiệu để nhận biết thông qua các biểu hiện

bên ngoài của cơ thể Những dấu hiệu đầu tiên của căn

bệnh này là những chịu chứngkhó tiêucó thể kể đến

như ợ chua, chướng hơi, đầy bụng Đây là những dấu

hiệu dễ nhận biết nhất để người bệnh có thể đi điều trị

kịp thời Bên cạnh các dấu hiệu trên thì còn rất nhiều

biểu hiện của căn bệnh này như đau thượng vị, kém ăn,

buồn nôn, chảy máu tiêu hóa đều là những biểu hiện

đặc trưng nhất của bệnh đau dạ dày.[1]

1.1 Triệu chứng

Các triệu chứng của bệnh dạ dày bao gồm:

• Đau ở thượng vị, có người thì đau âm ỉ nhưng cũng

có người lại đau dữ dội Càng nặng thì càng đau

thường xuyên hơn

• Cảm giác chướng hơi, đầy bụng, không tiêu hoá

được

• Ợ chua, ợ hơi hoặc có thể ợ ra chất đắng như mật,

do sự vận động của dạ dày bị rối loạn làm thức ăn

bị khó tiêu dẫn tới lên men và sinh ra hơi

• Nôn hay buồn nôn là hiện tượng các thức ăn trong

dạ dày bị đẩy ra ngoài qua đường miệng

• có thể nôn ra máu hoặc đi cầu ra máu, do hiện

tượng máu thoát ra khỏi thành mạch và chảy vào

lòng ống tiêu hóa ường là do bệnh loét dạ dày

tá tràng, hay ung thư dạ dày.[2]

1.2 Tham khảo

[1] Ợ chua, đầy hơi – coi chừng đau dạ dày

chuyenkhoadaday

[2] Triệu chứng đau dạ dày và bệnh ung thư dạ dày, infonet

1.3 Liên kết ngoài

Digestive Diseases A-Ze National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases

Chuyên Khoa dạ dày

1

Trang 5

Chương 2

Bệnh Hirschsprung

Bệnh Hirssprung còn gọi là bệnh phì đại tràng bẩm

sinh hay bệnh vô hạ đại tràng bẩm sinh Nguyên

nhân gây bệnh là sự không có các tế bào hạch thần

kinh ởđám rối của lớp cơ ruột tại một đoạn ruột, thường

là ởtrực tràng và đại tràng Sigma, có thể tới đại tràng

trái,toàn bộ đại tràng và cả ruột non Bệnh được mô

tả bởi Harold – Hirschsprung vào năm 1886 Trong

quá trình phát triển bình thường trước khi sinh, các

tế bào từ mào thần kinh di chuyển vào ruột già để hình

thành các mạng lưới thần kinh gọi là dây thần kinh

trung ương (Auerbach plexus) (giữa các lớp cơ trơn của

đường tiêu hóa) và niêm mạc dưới niêm mạc (Meissner

Plexus) (trong niêm mạc của đường tiêu hóa) Trong

bệnh Hirschsprung, sự di chuyển không hoàn chỉnh và

một phần của đại tràng không có các cơ quan thần kinh

điều chỉnh hoạt động của đại tràng Các phân đoạn bị

ảnh hưởng của đại tràng không thể thư giãn và đi phân

qua đại tràng, tạo ra một tắc nghẽn.[1]Ở hầu hết những

người bị ảnh hưởng, rối loạn ảnh hưởng đến phần ruột

già ở gần hậu môn Trong một số ít trường hợp, việc

thiếu các cơ quan thần kinh liên quan nhiều đến ruột

kết Trong năm phần trăm trường hợp, toàn bộ ruột già

bị ảnh hưởng Dạ dày và thực quản cũng có thể bị ảnh

hưởng

Bệnh Hirschsprung xuất hiện ở khoảng một trong 5.000

trẻ sinh ra sống.[2] Nó thường được chẩn đoán ở trẻ

em, và ảnh hưởng đến trẻ em trai nhiều hơn con gái

Khoảng 10% trường hợp là gia đình

2.1 Các dấu hiệu và triệu chứng

ông thường, bệnh Hirschsprung được chẩn đoán

ngay sau khi sinh, mặc dù nó có thể phát triển tốt khi

trưởng thành, vì sự hiện diện của megacolon, hoặc bởi

vì bé không thể vượt qua phân đầu tiên (meconium)

trong vòng 48 giờ sau khi sinh ông thường, 90% trẻ

sơ sinh vượt qua phân loại phân tử đầu tiên trong vòng

24 giờ và 99% trong vòng 48 giờ Các triệu chứng khác

bao gồm nôn mửa xanh hoặc nâu, phân tích thuốc nổ

sau khi bác sĩ đưa ngón tay vào trực tràng, sưng bụng,

nhiều khí và tiêu chảy đẫm máu

Một số trường hợp được chẩn đoán sau đó, vào thời thơ

ấu, nhưng thường là trước 10 tuổi.[3]Trẻ có thể bị chứng

A: Phẫu thuật chụp X quang bụng bình thường cho thấy một PARTZ ở rectosigmoid, mũi tên B: Xạ quang bụng bình thường cho thấy một PARTZ ở mũi giữa, mũi tên C: Chụp X quang bụng bình thường cho thấy một PARTZ ở đại tràng giảm, mũi tên D: Phép tương phản cho thấy một CETZ ở rectosigmoid, mũi tên E: Xoang tương phản cho thấy CETZ ở mũi giữa, mũi tên F: Phép tương phản cho thấy một CETZ ở cuối đại tràng, mũi tên.

giữ phân, táo bón, hoặc đau bụng.[3]Với tỷ lệ 1 trong 5.000 trẻ sinh ra, đặc điểm được trích dẫn nhiều nhất là

sự vắng mặt của các tế bào hạch: đặc biệt ở nam giới, 75% không có ở cuối đại tràng (recto-sigmoid) và 8% thiếu các tế bào hạch trong toàn bộ ruột già Phần mở rộng của ruột được tìm thấy gần nhau, trong khi phần hẹp, không vận động được tìm thấy ở xa, gần cuối ruột

Sự vắng mặt của các tế bào hạch kết quả là sự kích thích quá mức các dây thần kinh liên tục trong vùng bị ảnh hưởng, dẫn đến sự co lại

Trong một số trường hợp rất hiếm hoi, sự vắng mặt của các tế bào hạch vẫn tiếp tục lan rộng sau phẫu thuật chỉnh hình, dẫn đến nhiều cuộc giải phẫu

Những bệnh nhân cũng bị ung thư tuyến giáp có thể tiêu hóa thức ăn đúng cách, nhưng có thể không thể sử dụng các chất dinh dưỡng đúng cách

2.2 Sinh lý bệnh học

Lý thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất của nguyên nhân của Hirschsprung là có một khiếm khuyết trong

sự di chuyển của craniocaudal neuroblasts xuất phát 2

Trang 6

2.3 THAM KHẢO 3

từ thần kinh crest xảy ra trong 12 tuần đầu của thai kỳ

Những khiếm khuyết trong sự khác biệt của các chất

ức chế thần kinh vào các tế bào hạch và sự phá hủy

tế bào hoại tử tăng nhanh trong ruột cũng có thể góp

phần làm rối loạn.[4]

Sự thiếu hụt các tế bào hạch này trong xoang thần

kinh và niêm mạc dưới niêm mạc được ghi chép

lại trong bệnh của Hirschsprung [3] Với bệnh của

Hirschsprung, phân đoạn thiếu tế bào thần kinh

(aganglionic) trở nên co thắt, làm cho phần ruột bình

thường, gần ruột trở nên phình ra với phân Việc thu

hẹp khoảng cách ruột già và sự thất bại của sự giãn nở

trong phân đoạn aganglionic được cho là do thiếu tế

bào thần kinh chứa synthase nitric oxide.[3]

Bệnh tương đương ở ngựa là hội chứng Lethal trắng.[5]

2.3 Tham khảo

[1] Parisi MA, Pagon RA, Bird TD, Dolan CR, Stephens K,

Adam MP (2002) Pagon RA, Bird TC, Dolan CR và đồng

nghiệp, biên tập “Hirschsprung Disease Overview”

GeneReviews.PMID 20301612

[2] Samuel Nurko MD, MPH- Director Center for Motility

and Functional Gastrointestinal Disorders, Children’s

Hospital, Boston.“HIRSCHSPRUNG'S DISEASE”(PDF)

Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014

[3] Goldman, Lee Goldman’s Cecil Medicine (ấn bản

24) Philadelphia: Elsevier Saunders tr 867 ISBN

1437727883

[4] Kays DW (1996) “Surgical conditions of the neonatal

intestinal tract”.Clinics in Perinatology23 (2): 353–75.

PMID 8780909

[5] Metallinos DL, Bowling AT, Rine J (tháng 6 năm

1998) “A missense mutation in the

endothelin-B receptor gene is associated with Lethal White

Foal Syndrome: an equine version of Hirschsprung

disease” Mamm Genome 9 (6): 426–31.PMID 9585428

doi:10.1007/s003359900790

Trang 7

Chương 3

Bệnh sưng phù đầu ở lợn

Bệnh sưng phù đầu ở lợn (hay sưng mặt phù đầu, phù

thũng, phù đầu lợn con) là một bệnh truyền nhiễm xảy

ra phổ biến trên lợn, do vi khuẩnE colisống ký sinh

trong đường tiêu hóa gây ra Bệnh thường xảy ra trên

lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa, thường xuất

hiện ở những con lợn có chế độ dinh dưỡng không hợp

lý, những con to khỏe nhất đàn trong điều kiện vệ sinh

chuồng trại kém, thời tiết thay đổi Lợn mắc bệnh, tỉ lệ

rất cao (50 đến 70% số lợn bệnh chết), gây nhiều thiệt

hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn.[1][2]

3.1 Nguyên nhân và cơ chế sinh

bệnh

Bênh do một số chủng vi khuẩn E coli gây ra ông

thường E coli thường trực trong đường tiêu hóa của

lợn, và xâm nhập vào đường tiêu hóa thông qua thức

ăn, nước uống…

Khi gặp điều kiện bất lợi (lợn ăn phải thức ăn ôi, thiu;

thời tiết thay đổi, lợn bị lạnh, bị stress; khi thay đổi thức

ăn đột ngột; điều kiện vệ sinh chuồng nuôi kém; lợn

ăn quá nhiều trong khi đường tiêu hóa chưa phát triển

hoàn chỉnh, thức ăn không tiêu hóa hết…), vi khuẩn

E coli nhân lên trong đường tiêu hóa của lợn, gây tổn

thương niêm mạc dạ dày, ruột non, ruột già…Từ những

tổn thương ở niêm mạc đường tiêu hóa, vi khuẩn vào

máu đến các nội quan khác để gây tổn thương đồng

thời tiết ra độc tố; độc tố vào máu tác động đến não

gây xung huyết, tích đọng dịch xuất huyết ở não, chèn

ép các trung khu điều hành các nội quan làm cho lợn có

hội chứng thần kinh như run rẩy, đi lại xiêu vẹo và chết

đột ngột Độc tố gây dung giải hồng cầu, phá vỡ một số

mao mạch ngoại vi ở hầu, mi mắt, má của lợn…gây ra

tích đọng dịch thẩm xuất tạo nên hội chứng phù đầu,

đôi khi còn thấy hiện tượng phù thũng ở cổ và ngực

3.2 Biểu hiện của bệnh

ời gian ủ bệnh trong vòng từ hai đến bốn ngày Lợn

bị bệnh ở hai thể tối cấp tính và cấp tính

Ở thể tối cấp tính: Bệnh diễn biến rất nhanh, lợn đi lảo

đảo, co giật, rên la rồi lăn ra chết đột ngột Lợn bệnh chỉ tăng nhiệt độ so với lợn khỏe khoảng 0,5oC Tỷ lệ chết 100% trong thời gian bị bệnh từ một đến hai ngày

Ở thể cấp tính: lợn sưng mọng hai mí mắt, làm cho mắt

luôn nhắm nghiền, hầu sưng thũng; hai bên má lợn xuống đến cổ cũng đều phù thũng; da lợn vàng bủng

và niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu Lợn bệnh chết sau hai đến năm ngày sau khi phát bệnh, tỷ lệ chết 60

- 70% so với số lợn bị bệnh

3.3 Bệnh tích

Khi lợn chết, mổ khám thấy: phù nề và xuất huyết ở vỏ đại não; niêm mạc dạ dày, niêm mạc ruột, màng treo ruột…đều phù thũng và xuất huyết; niêm mạc dưới da nhợt nhạt, đôi khi cũng có tích nước

3.4 Chú thích

[1] “Bệnh phù đầu lợn và biện pháp phòng trị” VUSTA 24 tháng 10 năm 2005

[2] “Xác định yếu tố gây bệnh E.Coli trong bệnh phù đầu ở Phú ọ”(PDF)

4

Trang 8

Chương 4

Khó tiêu

Khó tiêu là một thuật ngữ chung để mô tả hiện tượng

khó chịu vùng thượng vị (bụng trên:vùng trên rốn và

dưới mũi xương ức) và đau bụng Các triệu chứng bao

gồm cả ợ hơi, đầy hơi và buồn nôn, có thể cảm thấy

thỉnh thoảng hoặc thường xuyên hàng ngày.[1]Có thể

đó chỉ là triệu chứng của một số bệnh nhưloét dạ dày,

tá tràng, bệnhtrào ngược dạ dày-ruột,ung thư dạ dày,

viêm tuỵ mạn,sỏi mật Tuy nhiên ở nhiều bệnh nhân,

không tìm được một bệnh toàn thân nào, khi đó thường

gọi là bệnh khó tiêu không loét hay là khó tiêu chức

năng

4.1 Điều trị

4.1.1 Liệu pháp

Điều đầu tiên với khó tiêu chức năng là khuyên bệnh

nhân tránhrượu,thuốc lávà một số thức ăn mặn, ăn ít

và chia làm nhiều bữa, dùng các thực phẩm quen thuộc

nhằm dễ tiêu

4.1.2 Dùng thuốc

Các thuốc khángacidvà các chất đối khánghistamin

H2là loại thuốc hay được chọn đầu tiên, các kháng acid

thường làm hết triệu chứng, và thường được tự điều trị

Các thuốc đối kháng H2 hay được dùng để loại triệu

chứng trào ngược

Dùng các thuốc làm tăng nhu động ruột như

metoclopramidhaycisaprid, làm tăng nhu động ruột

có hiệu quả hơn các thuốc đối kháng H2 trong khó tiêu

chức năng, ở một số bệnh nhân dùng các muốibismuth

không tan và các thuốc khángmuscarinđể chống co

thắt

4.2 Tham khảo

[1] khó tiêudieutri

• uốc biệt dược & cách sử dụng, phần chuyên khảo,

DS.Phạm iệp-DS.Vũ Ngọc uý, Nhà xuất bản Y

Học 2005

4.3 Liên kết ngoài

Khó tiêu trên báo Sức khỏe đời sống, bộ Y tế

Khó tiêu trên trang tin camnangthuoc.vn

5

Trang 9

Chương 5

Trĩ (bệnh)

Bệnh trĩ, hay còn gọi là bệnh lòi dom theo dân gian, là

bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh

mạch trĩ (hay sự phìnhtĩnh mạch) ở mô xung quanh

hậu môn.[1][2] Trong trạng thái bình thường, các mô

này giúp kiểm soát phân thải ra.[3] Khi các mô này

phồng lên do sưng hoặc viêm thì gọi là trĩ.[3]

Có hai loại trĩ là trĩ nội và trĩ ngoại Trĩ nội chịu lực

nén bên trong nên có chiều hướng sung huyết, chảy

máu và đôi khi bị sa Trĩ ngoại có thể có huyết khối

phát triển rất đau Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu

trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện Bệnh

nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn

sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống

nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua

và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại

ngùng nhất là phụ nữ.[4]Chỉ đến khi chảy máu nhiều

hoặc bị sa búi trĩ thì bệnh đã ở cấp độ nặng, không thể

dùng thuốc mà phải chỉ định phẫu thuật

5.1 Dấu hiệu của bệnh

Bệnh trĩ là bệnh do sự căng dãn quá mức tại các tĩnh

mạch ở trực tràng – hậu môn gây viêm sưng hoặc xuất

huyết Bệnh trĩ thường xảy ra ở người bị táo bón kinh

niên, công việc ít đi lại, ở phụ nữ mang thai Người mắc

bệnh trĩ mới đầu chỉ có cảm giác ngứa rát đôi chút,

lâu dần sẽ đi ngoài ra máu và đau rát nhiều hơn Bệnh

trĩ ngoại thường sớm được phát hiện và điều trị nhanh

hơn, do người bệnh có thể sờ thấy khi trĩ ở mức độ nhẹ

Với bệnh trĩ nội, thường người bệnh chỉ nhận biết được

khi bệnh đã ở giai đoạn nặng, búi trĩ sa hẳn bên ngoài

hậu môn hoặc bị tổn thương dẫn đến xuất huyết nặng,

viêm sưng, nhiễm trùng búi trĩ

5.2 Phân loại

Bệnh trĩ được chia làm hai loại: Trĩ nội và trĩ ngoại

Bệnh trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch

thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ

dưới hay cả hai gây nên trĩ nội, trĩ ngoại hay trĩ hỗn

hợp Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em ực

ra, trĩ nội và trĩ ngoại chỉ khác nhau về vị trí phát sinh

Trĩ ngoại phát triển ở hậu môn.

búi trĩ Với việc phân biệt hai loại trĩ này sẽ giúp ích cho quá trình thăm khám và điều trị căn bệnh này Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ trên (trực tràng trên) phồng to, trĩ được hình thành ở trên đường lược được gọi là trĩ nội

Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ dưới(trực tràng dưới) phồng to, trĩ được hình thành ở dưới đường lược được gọi là trĩ ngoại

Trĩ hỗn hợp tức là trên cùng một bệnh nhân xuất hiện

cả trĩ nội và trĩ ngoại ông thường, khi diễn tiến lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp Búi trĩ nội, khi đã sa tới độ 3, thường hiện diện dưới hình thái trĩ hỗn hợp

5.3 Cấp độ bệnh

Bệnh trĩ ở cấp độ 1 & 2, người bệnh thường có các triệu chứng sau: Đau và chảy máu khi đại tiện, ngứa hậu môn, tiết dịch gây viêm da, ngứa và ướt viêm quanh hậu môn

Bệnh trĩ ở cấp độ 3 & 4, búi trĩ bên trong (trĩ nội) bị sa quá mức gây nghẹt hay tắc mạch hay gây nứt, áp xe hậu môn, hoặc búi trĩ bên ngoài (trĩ ngoại) bị tổn thương 6

Trang 10

5.5 CHÚ THÍCH 7

nhiễm trùng gây lở loét, xuất huyết trầm trọng hay tạo

thành những cục máu đông nằm trong búi trĩ, có nguy

cơ gây biến chứng nguy hiểm và sinh ra các bệnh khác

Người bệnh có thể vừa mắc bệnh trĩ nội vừa mắc bệnh

trĩ ngoại Nếu không sớm điều trị, sẽ làm người bệnh

ngày càng có cảm giác vướng víu, khó chịu, chảy máu

và đau đớn nhiều hơn mỗi khi đại tiện

Bệnh trĩ ở cấp độ nhẹ có thể tự chữa trị, nếu để chuyển

sang giai đoạn nặng thì việc điều trị bệnh trĩ sẽ trở nên

rất khó khăn, phải có sự can thiệp của phẫu thuật

5.4 Liệu pháp

Liệu pháp đầu tiên chữa trĩ nội là dùng chế độ dinh

dưỡng có nhiều xơ, uống nhiều nước và thường xuyên

tập thể dục, thể thao như bơi lội, đi bộ,…

Khi đại tiện tránh không được rặn, trĩ nặng và đã bị sa

thường phải giải quyết bằngphẫu thuật Trĩ ngoại có

huyết khối phải dùng phẫu thuật

5.4.1 Dùng thuốc

Có rất nhiều thứ thuốc bôi ngoài để giảm các triệu

chứng, các thuốc bôi ngoài thường dùng các chất bôi

trơn, các chất làm mềm và làm dịu da, có thể kết hợp

trong đó mộtthuốc têđể giảm đau Khi không cónhiễm

khuẩn, có thể kết hợp vớicorticosteroid, các chất kết

hợp này chỉ có tác dụng ngắn hạn Một số chất khác

hay được kết hợp do tính chất làm dịu như: một số muối

bismuth, kẽm oxid, resorcinol, bôm Peru, cao cây kim

mai

Cácbioflavonoid cũng được kết hợp trong các thuốc

bôi ngoài, ở một số nước các chất này còn được dùng

theo đường uống, và cùng với một số chất khác như

calci dobesilat,tribenosidđược dùng do tính chất bảo

vệ thành tĩnh mạch

5.4.2 Dinh dưỡng

Những thực phẩm giúp điều trị trĩ và táo bón hiệu quả:

Ngư tinh thảo (raudiếp cá, raudấp cá) có thành phần

chính là ercetin, một flavonoid có tác dụng bảo

vệ thành mạch rất mạnh Tinh dầu Diếp cá có chứa

decanonyl acetaldehyde có tác dụng kháng sinh mạnh,

tiêu diệt cả trực khuẩn mủ xanh, do đó chống viêm

nhiễm rất hiệu quả Cao diếp cá có tác dụng nhuận

tràng, chống táo bón rất tốt

Đương quy là một vị thuốc quý, có tác dụng bổ máu,

điều kinh, chống thiếu máu, suy nhược cơ thể Đương

quy có tác dụng hoạt huyết giảm đau, giúp chữa viêm

loét, mụn nhọt Ngoài ra, Đương quy còn có tác dụng

nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón

Rutin là một flavonoid aglycon có nhiều trong hoa Hòe.

Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, giảm trương lực

cơ trơn, chống co thắt Ngoài ra, rutin còn có tác dụng kích thích sự bài tiết của niêm mạc ruột và do vậy giúp nhuận tràng Rutin được dùng để phòng ngừa những biến chứng của bệnh xơ vữa động mạch, điều trị suy tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch, trĩ, các trường hợp xuất huyết như chảy máu cam, ho ra máu, tử cung xuất huyết, phân có máu…

Curcumin là một hoạt chất chính của củ nghệ

(Curcuma domestica), có hoạt tính chống viêm do khả năng quét những gốc oxy có liên quan đến quá trình viêm Curcumin còn có tác dụng ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa Bổ sung Curcumin giúp chống viêm

và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ

Magiê có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo

bón vốn là căn nguyên gây bệnh trĩ Ngoài ra, Magiê còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể

5.5 Chú thích

[1] Chen, Herbert (2010) Illustrative Handbook of General

Surgery Berlin: Springer tr 217.ISBN 1-84882-088-7 [2] Schubert, MC; Sridhar, S; Schade, RR; Wexner, SD (tháng 7 năm 2009) “What every gastroenterologist needs to know about common anorectal disorders”

World J Gastroenterol 15 (26): 3201–9.ISSN 1007-9327

PMC 2710774.PMID 19598294.doi:10.3748/wjg.15.3201 [3] Beck, David E (2011).e ASCRS textbook of colon and rectal surgery(ấn bản 2) New York: Springer tr 175

ISBN 9781441915818 [4] http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/ttyh/ bshkhkt/benhtri.htm

Ngày đăng: 08/09/2017, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN