Những nội dung này bao gồm: nguyên tắc thực hiện đấu thầu, phương pháp lập kế hoạch đấu thầu cho dự án đầu tư, các phương thức tổ chức đấu thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu, quy trình
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC LOẠI HÌNH ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY
1 TÊN HỌC PHẦN:
Tiếng Việt: Đấu thầu trong các dự án đầu tư
Tiếng Anh: Procurement on the investment project
Mã học phần: Tổng số tín chỉ: 2
2 BỘ MÔN PHỤ TRÁCH GIẢNG DẠY: Kinh tế đầu tư
3 ĐIỀU KIỆN HỌC TRƯỚC:
Các môn Kinh tế đầu tư và Lập dự án đầu tư
4 MÔ TẢ HỌC PHẦN:
Đấu thầu là một cách thức lựa chọn nhà cung cấp trong nền kinh tế thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn của nhà nước Môn học cung cấp các nội dung liên quan tới hoạt động đấu thầu trong dự án đầu tư Những nội dung này bao gồm: nguyên tắc thực hiện đấu thầu, phương pháp lập kế hoạch đấu thầu cho dự án đầu tư, các phương thức tổ chức đấu thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu, quy trình thực hiện đấu thầu đối với một gói thầu, phương pháp soạn thảo hồ sơ mời thầu, phương pháp đánh giá hồ
sơ dự thầu, quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu ở Việt Nam.
Ghi chú
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU
Một số định nghĩa về hoạt động đấu thầu trong các tài liệu sẽ được giới thiệu cho người học và phân tích sự khác biệt trong các định nghĩa Đây là một hoạt động cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nhà nước ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, hoạt động này chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện nhất định, đó là: nền kinh tế phải có tính thị trường Muốn hoạt động này đạt được mục đích thì các bên tham gia nhất thiết phải tuân thủ một số nguyên tắc Những nguyên tắc này sẽ được phân tích một cách cụ thể Phạm vi môn học được xác định một cách rõ ràng, đó là chỉ nghiên cứu hoạt động đấu thầu trong các dự án đầu tư sử dụng vốn của nhà nước hoặc đo nhà nước quản lý.
1.1 Khái niệm
1.2 Vai trò của đấu thầu
1.2.1 Đối với bên mời thầu
1.2.2 Đối với nhà thầu
1.2.3 Đối với nền kinh tế
1.3 Nguyên tắc thực hiện đấu thầu
1.4 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu môn học
Tài liệu tham khảo:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH ĐẤU THẦU
CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Dự án đầu tư là một tập hợp các công việc có liên quan chặt chẽ với nhau, trong
đó có những công việc được thực hiện thông qua đấu thầu Vì vậy, việc lập kế hoạch đấu thầu của dự án có vai trò quan trọng và kế hoạch đấu thầu được coi như một trong các công cụ quản lý dự án Chương 2 sẽ trình bày phương pháp lập kế hoạch đấu thầu cho dự án đầu tư đồng thời phân tích các ví dụ thực tế để sinh viên có thẻ lập được ké hoạch đáu thầu cho nhữn dự án nhỏ và đơn giản.
2.1 Gói thầu
2.1.1 Khái niệm
2.1.2 Phân loại
2.2 Kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
2.2.1 Sự cần thiết phải lập kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
2.2.2 Trình tự và nội dung lập kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
2.3 Phương thức thực hiện đấu thầu
2.3.1 Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
2.3.2 Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
2.3.3 Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
2.3.4 Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Trang 3Tài liệu tham khảo:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Báo Đấu thầu, các số gần nhất
3 Hướng dẫn về đấu thầu của các tổ chức tài chính quốc tế WB, ADB, JICA
4 Trang thông tin điệ tử www:masamcong.mpi.gov.vn
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH LỰA CHỌN NHÀ THẦU
Để lựa chọn được nhà thầu cho mỗi gói thầu thì Bên mời thầu phải thực hiện theo một quy trình nhất định gồm nhiều bước Những công việc cần phải làm và cách thực hiện từng công việc trong các bước sẽ được phân tích cụ thể Sau khi phân tích quy trình tổng quá thì sinh viên sẽ xác định quy trình cụ thể cho từng hình thức lựa chọn nhà thầu.
3.1 Chuẩn bị đấu thầu
3.1.1 Chuẩn bị nhân sự
3.1.2 Sơ tuyển nhà thầu hoặc lập danh sách ngắn
3.1.3 Chuẩn bị hồ sơ mời thầu
3.2 Tổ chức lựa chọn nhà thầu
3.2.1 Thông báo mời thầu
3.2.2 Phát hành hồ sơ mời thầu
3.2.3 Nhận hồ sơ dự thầu
3.2.4 Mở thầu
3.2.5 Đánh gía hồ sơ dự thầu
3.2.6 Thông báo kết quả đấu thầu
3.3 Ký kết hợp đồng
Tài liệu tham khảo:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Hướng dẫn về đấu thầu của các tổ chức tài chính quốc tế WB, ADB, JICA
3 Luật Đấu thầu của Việt Nam, chương 2 mục 1.
Trang 4CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP SOẠN THẢO HỒ SƠ MỜI THẦU
Hồ sơ mời thầu có thể ví như đề thi của một cuộc thi, bao gồm các yêu cầu của bên mời thầu mà nhà thầu cần đáp ứng khi tham gia đấu thầu Hồ sơ mời thầu là căn cứ để các nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu lựa chọn nhà thầu Chương này sẽ trình bày các yêu cầu đặt ra đối với hồ sơ mời thầu, từ đó xác định quy trình soạn thảo cũng như các nội dung cần thiết khi soạn thảo hồ sơ mời thầu đối với ba loại gói thầu là: dịch vụ tư vấn, xây lắp và cung cấp hàng hóa.
4.1 Vai trò và yêu cầu đối với hồ sơ mời thầu
4.2 Trình tự soạn thảo hồ sơ mời thầu
4.2.1 Chuẩn bị nhân sự
4.2.2 Tỏ chức soạn thảo
4.3 Nội dung soạn thảo hồ sơ mời thầu
4.3.1 Hồ sơ mời thầu tư vấn
4.3.2 Hồ sơ mời thầu xây lắp
4.3.3 Hồ sơ mời thầu cung cấp hàng hóa
Tài liệu tham khảo:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Hồ sơ mời thầu mẫu (SBD) của các tổ chức tài chính quốc tế WB, ADB, JICA, UNTRAL
3 Luật Đấu thầu của Việt Nam, chương 2 mục 3, điều 32.
4 Nghị định 85/2009/ND- CP, Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, chương 4,5.
CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HỒ SƠ DỰ THẦU VÀ
LỰA CHỌN NHÀ THẦU
Sau khi tiếp nhận hồ sơ dự thầu, bên mời thầu sẽ tiến hành đánh giá để lựa chọn nhà thầu Mỗi loại gói thầu có thể áp dụng một hoặc nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu của các gói thầu tư vấn có thể được đánh giá bằng 5 phương pháp, hồ sơ dự thầu cung cấp hàng hóa có thể đánh giá bằng 3 phương pháp, trong khi hồ sơ dự thầu xây lắp chỉ có một phương pháp Mỗi phương pháp đánh giá có ưu điểm cũng như hạn chế riêng, vì vậy tùy theo đặc điểm cụ thể của từng gói thầu, bên mời thầu sẽ lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp.
5.1 Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu tư vấn
5.1.1 Đánh giá sơ bộ
5.1.2 Đánh giá chi tiết bằng phương pháp chất lượng tốt nhất
5.1.3 Đánh giá chi tiết bằng phương pháp chất lượng- chi phí hợp lý nhất 5.1.4 Đánh giá chi tiết bằng phương pháp ngân sách cố định
Trang 55.1.5 Đánh giá chi tiết bằng phương pháp chi phí thấp nhất
5.1.6 Đánh giá chi tiết bằng phương pháp dựa trên năng lực chuyên môn
5.2 Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu xây lắp
5.2.1 Đánh giá nội dung kỹ thuật
5.2.2 Đánh giá nội dung tài chính
5.3 Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa
5.3.1 Phương pháp giá đánh giá
5.3.2 Phương pháp tính điểm
5.3.3 Phương pháp tính tỷ lệ Giá/Điểm
Tài liệu tham khảo:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Hướng dẫn về đấu thầu của các tổ chức quốc tế WB, ADB, JICA
3 Luật Đấu thầu của Việt Nam, chương 2 mục 3, điều 35.
4 Nghị định 85/2009/ND- CP, Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, chương 4,5.
CHƯƠNG 6: CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU
Ở VIỆT NAM
Hoạt động đấu thầu muốn đạt được mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì nó rất cần đến sự quản lý chặt chẽ của các tổ chức sở hữu vốn Điều này càng quan trọng khi nguồn vốn là của nhà nước, đây là nguồn vốn có nguy cơ bị sử dụng một cách kém hiệu quả do đặc điểm sở hữu Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều qua tâm đến vấn đề này, đặc biệt là ở Việt Nam, vốn của nhà nước và
do nhà nước quản lý đã, đang và còn sẽ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Do đó trong chương này, sinh vien sẽ được làm quen với những vấn đề mang tính pháp luật liên quan tới quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu.
6.1 Quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu
6.1.1 Mục tiêu và nội dung quản lý nhà nước
6.1.2 Các cơ quan và trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu
6.1.3 Vài nét về Luật Đấu thầu của Việt Nam
6.2 Vai trò của các tổ chức quốc tế trong quản lý hoạt động đấu thầu
6.2.1 Ngân hàng Thế giới
6.2.2 Ngân hàng phát triển châu Á
6.2.3 Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
Tài liệu tham khảo
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Hướng dẫn về đấu thầu của các tổ chức quốc tế WB, ADB, JICA
Trang 63 Luật Đấu thầu của Việt Nam, điều 60,61,66,67,68.
4 Nghị định 85/2009/ND- CP, Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, điều 54,55
7.TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bài giảng môn Đấu thầu trong các dự án đầu tư, Đinh Đào Ánh Thủy
2 Báo Đấu thầu
3 Hướng dẫn về đấu thầu của các tổ chức quốc tế WB, ADB, JICA
4 Luật Đấu thầu của Việt Nam.
5 Nghị định 85/2009/ND- CP, Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.
6 Trang thông tin điện tử muasamcong.mpi.gov.vn
8 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HỌC TẬP:
- Dự lớp đầy đủ: hệ số 0,1 Điểm tối đa :8 điểm
- Thảo luận: hệ số 0,1 Điểm tối đa : 2 điểm
- Bài kiểm tra: hệ số 0,2 Điểm tối đa :10
- Thi cuối học phần: hệ số 0,7 Điểm tối đa : 10
Trang 7chọn nhà cung cấp theo hai cách khác nhau Cách thứ nhất, bên mua sẽ trực tiếp và tự
do trao đổi với những nhà cung cấp hàng hoá, cung cấp dịch vụ hoặc các đơn vị xây
dựng trên thị trường (được gọi là bên bán) về nhu cầu của mình để đạt được thỏa thuận
về chất lượng và giá cả Trong trường hợp này, bên mua thường đồng thời là chủ sởhữu khoản tiền dành cho việc mua sắm nên có toàn quyền lựa chọn người bán và mứcgiá Ví dụ, một doanh nghiệp tư nhân khi cần đầu tư máy móc thiết bị mới bằng nguồnvốn tự có thì doanh nghiệp này thường liên hệ trực tiếp với một vài doanh nghiệp sảnxuất hoặc cung cấp máy móc thiết bị để trao đổi về nhu cầu của mình trước khi ký kếthợp đồng cung cấp Trong quá trình trao đổi với các nhà cung cấp, bên mua có thể
thay đổi yêu cầu của mình về chủng loại máy móc thiết bị Thông thường, nhà cung
cấp được lựa chọn là doanh nghiệp đã có mối quan hệ với bên mua hoặc được bên muabiết đến qua các cá nhân hay tổ chức trung gian Mức giá thoả thuận có thể vượt mứcgiá dự tính mà bên mua đã xác định trước đó
Cách thứ hai là bên mua tổ chức một cuộc thi để nhiều nhà cung cấp trong
nước cũng như nước ngoài cùng tham gia một cách cạnh tranh và trên cơ sở các đề
xuất của những nhà cung cấp này bên mua sẽ tiến hành đánh giá để lựa chọn được đềxuất tốt nhất Việc tổ chức cuộc thi được tuân thủ theo những quy định sẵn có và được
đặt dưới sự kiểm soát của các tổ chức, cơ quan quản lý Trong trường hợp này, bênmua thường là các tổ chức và không phải là chủ sở hữu thực sự của khoản tiền được sử
dụng Các quyết định của bên mua đối với việc lựa chọn nhà cung cấp phải dựa vào ýkiến thẩm định của các tổ chức, cơ quan quản lý nguồn tiền này Với cách thực hiện
như vậy nên bên mua không dễ dàng thay đổi được các yêu cầu mua sắm của mình và
mức giá đạt được không vượt quá mức giá mà bên mua đã dự tính và đã được tổ chức
sở hữu (hoặc quản lý) vốn chấp thuận, trừ một số trường hợp bất khả kháng
Cách thực hiện thứ hai ở Việt Nam thường được gọi là đấu thầu Ví dụ, khi
UBND tỉnh A sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước để thực hiện dự án xây dựng trụ sở
Trang 8làm việc thì tất cả các hoạt động chi tiêu trong phạm vi dự án này (từ việc lập dự án,thiết kế, xây dựng nhà đến việc trang bị bàn ghế, thiết bị làm việc…) đều phải đượctiến hành theo quy định của pháp luật liên quan, cụ thể là Luật Đấu thầu của Việt Nam.
Vốn đầu tư trong nền kinh tế được huy động từ hai nguồn, đó là nguồn vốn do
nhà nước quản lý (bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn của các DNNN, vốn do nhànước vay của các tổ chức quốc tế hoặc của các nước khác, ) và vốn của tư nhân (bao
gồm tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài) Trong thực tế, nguồn vốn do nhà
nước quản lý thường có xu hướng sử dụng kém hiệu quả do có đặc điểm là sở hữu
chung Vì vậy, để đảm bảo rằng nguồn vốn này được sử dụng hiệu quả hơn (hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội) thì cần có sự kiểm soát chặt chẽ đối với các tổ chức, cơ
quan được nhà nước uỷ quyền sử dụng vốn
Theo nghĩa rộng, đấu thầu có thể được hiểu là cách thức lựa chọn nhà cung cấp
(hàng hóa, công trình hoặc dịch vụ) mà trong đó bên mua và bên bán (các nhà cungcấp) cùng phải tuân thủ theo các quy định của tổ chức quản lý nguồn vốn sử dụng cho
hoạt động mua bán này Theo nghĩa hẹp, đấu thầu được hiểu là cách thức lựa chọn
nhà cung cấp (hàng hóa, công trình hoặc dịch vụ) áp dụng trong trường hợp sử dụngvốn do nhà nước quản lý Chủ thể thực hiện việc lựa chọn này có thể là các tổ chứccủa chính phủ ở các cấp (trung ương và địa phương), các cơ quan quản lý nhà nước và
cả một số doanh nghiệp nhà nước, còn nhà cung cấp thì có thể thuộc bất kể thành phần
kinh tế nào Bên cạnh thuật ngữ đấu thầu thì một thuật ngữ khác trong thời gian gần
đây cũng hay được sử dụng ở Việt Nam khi đề cập đến cách lựa chọn nhà cung cấp
của các tổ chức, cơ quan chính phủ và sử dụng vốn do nhà nước quản lý, đó là mua
sắm công (public procurement) hay mua sắm của chính phủ (government procurement).
Hoạt động đấu thầu chỉ có thể thực hiện được trong nền kinh tế thị trường vì ở
đó có sự cạnh tranh giữa những nhà cung cấp - đây là điều kiện cần thiết cho bên mua
trong việc lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất Thực tế ở Việt Nam cho thấy rằng, trướcthời điểm năm 1986, khi nền kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, kế hoạch hoá tập
trung cao độ, không có tính cạnh tranh nên các doanh nghiệp (ở thời điểm đó chủ yếu
là các doanh nghiệp nhà nước) chỉ sản xuất và kinh doanh những gì mà Nhà nướcgiao, còn người tiêu dùng (tổ chức hoặc cá nhân) chỉ có thể mua những gì được sảnxuất và không có quyền lựa chọn theo nhu cầu Có thể nói rằng trong thời kỳ 1945 -
Trang 91986, ở Việt Nam chưa có hoạt động đấu thầu do chưa hội tụ đủ các điều kiện cầnthiết Hoạt động này mới xuất hiện từ sau năm 1986 với việc chuyển nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung cao độ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Dưới đây là định nghĩa về đấu thầu đã được đề cập trong một số tài liệu trongnước cũng như nước ngoài
Định nghĩa 1: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (do Trung tâm biên soạn từ
điển bách khoa Việt Nam biên soạn, xuất bản năm 1995) “đấu thầu là phương thức
giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình
(người dự thầu) công bố giá mà mình muốn nhận Người gọi thầu sẽ lựa chọn người
dự thầu nào phù hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn Phương thức đấu thầu
được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm tài sản và xây dựng các công
trình tư nhân và nhà nước”.
Định nghĩa 2: Theo từ điển tiếng Việt (do Viện ngôn ngữ khoa học biên soạn,
xuất bản năm 1998) đấu thầu được giải thích là “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng”.
Định nghĩa 3: Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (do NXB CTQG và ĐH
KTQD hợp tác xuất bản năm 1999) thì đấu thầu là “một đề nghị trả mà một cá nhân hay một tổ chức đưa ra để sở hữu hoặc kiểm soát tài sản, các đầu vào, hàng hóa hay dịch vụ Người ra quyết định tối đa hóa lợi ích sẽ cân đối mức tự nguyện trả biên của mình với chi phí cơ hội của số tiền được yêu cầu để trả”
Định nghĩa 4: Theo Hiệp hội quản lý mua sắm Canada (năm 1999) thì đấu thầu
là “một phương pháp mua sắm mà người mua yêu cầu những nhà cung cấp có năng
lực nộp cho mình những bản chào hàng cho các hàng hóa, dịch vụ hay công trình và
trên cơ sở đó người mua sẽ lựa chọn được người bán thích hợp nhất”
Định nghĩa 5: Theo cách giải thích từ ngữ trong Luật Đấu thầu của Việt Nam
(năm 2009) thì đấu thầu là “quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời
thầu để thực hiện gói thầu trong các (i) Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên,
(ii) Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường
xuyên của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính tri- xã hội, tổ chứcchính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hôi- nghề nghiệp, đơn vị vũ
Trang 10tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư
của doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”.
Tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu bao gồm hai bên: bên mua hay còn
được gọi là bên mời thầu và bên bán hay còn được gọi là các nhà thầu Những yêu
cầu đặt ra đối với nhu cầu mua sắm và những thông tin liên quan khác được bên mời
thầu cung cấp cho các nhà thầu trong một tài liệu có tên là hồ sơ mời thầu (HSMT).
Các nhà thầu sau khi nhận được HSMT sẽ nghiên cứu các yêu cầu này và đưa ra đề
xuất thực hiện công việc trong tài liệu có tên là hồ sơ dự thầu (HSDT).
1.2 Vai trò của đấu thầu
Hoạt động đấu thầu hay mua sắm công với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụngvốn của nhà nước đã xuất hiện rất sớm ở nhiều nước trên thế giới Có tài liệu cho rằng,
đơn hàng mua sắm công đầu tiên được thực hiện ở Sirya vào khoảng những năm 2400
- 2800 trước Công nguyên, sau đó có nhiều bằng chứng cho thấy hoạt động này đượcphát triển trong việc mua bán lụa tơ tằm giữa Trung Quốc và Hy Lạp Ở Mỹ, hoạt
động đấu thầu cũng xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước ở cả cấp độ tiểu bang cũng như
quốc gia Dịch vụ in ấn là một trong số ít loại dịch vụ mà chính phủ Mỹ phải thuê các
cơ sở tư nhân thực hiện nên đã sớm trở thành đối tượng của hoạt động đấu thầu Ngoài
dịch vị này thì còn một số loại hàng hóa khác phục vụ cho quân đội và các cơ quanhành chính cũng được thực hiện đấu thầu Tuy nhiên, khi đó ở Mỹ chưa hình thànhnhững tổ chức chính thức có chuyên môn để thực hiện hoạt động này mà chủ yếuthông qua những người môi giới Những người này được hưởng một khoản hoa hồngsau khi giúp chính phủ tìm được một cá nhân hoặc một tổ chức để cung cấp hàng hóa,dịch vụ Năm 1810, bang Oklahoma là bang đầu tiên của Mỹ có quy định về đấu thầu
và đã thành lập một cơ quan đấu thầu tập trung Tiếp theo đó mãi đến cuối những năm
1800 và đầu những năm 1900, lần lượt các bang khác cũng đã học tập bang Oklahoma
thực hiện và phát triển hoạt động đấu thầu Cho đến nay, đấu thầu đã khẳng định đượcvai trò quan trọng và trở thành một hoạt động mang tính bắt buộc đối với các nhu cầumua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
1.2.1 Vai trò đối với bên mời thầu
Việc thực hiện đấu thầu có thể mang lại những lợi ích sau:
Trang 11Thứ nhất là tiếp cận với những nhà cung cấp mới và có tiềm năng thay vì chỉ
biết đến những nhà cung cấp truyền thống trước đây Trong hầu hết các lĩnh vực củanền kinh tế thì sự xuất hiện liên tục của những nhà cung cấp mới là điều tất yếu tại mộtquốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới Những nhà cung cấp mới này thường cólợi thế nhất định so với những nhà cung cấp cũ và điều này không phải bên mời thầunào cũng có thể cập nhật được Khi được tham gia đấu thầu thì trong HSDT, các nhàthầu sẽ cung cấp thông tin về quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, điềunày giúp bên mời thầu hiểu biết tốt hơn về thị trường các nhà cung cấp
Thứ hai là nắm bắt được các công nghệ mới Đối tượng của đấu thầu có thể là
hàng hoá, dịch vụ hay công trình xây dựng Để có được những sản phẩm này, mỗi nhàthầu sẽ sản xuất hoặc thực hiện bằng các phương án công nghệ khác nhau Vì vậy, mặc
dù cùng một mục đích sử dụng song mỗi sản phẩm có thể mang đặc điểm riêng và chất
lượng khác nhau Công nghệ sản xuất hoặc thực hiện cũng như đặc điểm của sản phẩmđược các nhà thầu đề xuất trong HSDT Quá trình đánh giá các HSDT này giúp bên
mời thầu có được thông tin đầy đủ về công nghệ cũng như về sản phẩm của công nghệ,
đánh giá được ưu điểm, hạn chế của từng công nghệ cũng như xu hướng phát triển
công nghệ trong cùng lĩnh vực
Thứ ba là nâng cao trình độ chuyên môn và uy tín trên thị trường Kết quả lựa
chọn nhà thầu phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn cũng như đạo đức nghềnghiệp của các nhân sự bên mời thầu Để có thể chọn được nhà thầu tốt thì bên mờithầu phải rất am hiểu về đối tượng của đấu thầu (dịch vụ, hàng hóa hay công trình).Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn của nhà nước rất dễ dẫn đến sự lãng phí do vô tìnhhoặc cố ý của bên mời thầu Vì vây, bên mời thầu sẽ được đánh giá cao khi thực hiện
đấu thầu nghiêm túc Đây là điều kiện thuận lợi để bên mời thầu thực hiện tốt những
công việc tiếp theo
1.2.2 Vai trò đối với các nhà thầu
Trước hết, đấu thầu tạo cơ hội cho các nhà thầu tiếp cận với bên mời thầu- một
khách hàng mới và những yêu cầu mới về sản phẩm Thay vì việc phải tự tìm kiếmkhách hàng thì thông qua những thông tin về nhu cầu mua sắm của các bên mời thầu
trong đó có những bên mời thầu là khách hàng mới, nhà thầu có thể tiếp cận trực tiếp
với những khách hàng này để nắm bắt được xu hướng cũng như những yêu cầu mới về
Trang 12Thứ hai, đấu thầu mang lại cơ hội được tiếp cận với các đối thủ cạnh tranh bao
gồm cả những đối thủ cũ và mới, đánh giá chính xác hơn về năng lực của mình đồngthời có thể có những cơ hội hợp tác với các nhà thầu khác Mỗi nhà thầu có lợi thế sosánh riêng nên bên cạnh việc cạnh tranh với nhau thì còn có thể hợp tác với nhau đểcùng tồn tại và phát triển trong những lần đấu thầu sau đó Đối với nhà thầu mới xuấthiện trên thị trường, do sự hạn chế về kinh nghiệm và uy tín nên khả năng giành đượcphần thắng là không nhiều Vì vậy, sự hợp tác với các nhà thầu cũ và đã có tiếng tămtrên thị trường là điều rất cần thiết khi tham gia đấu thầu
Các nhà thầu tham gia đấu thầu có thể với tư cách nhà thầu độc lập hoặc nhàthầu liên danh Nhà thầu liên danh được hình thành từ sự liên kết của hai hay nhiềunhà thầu độc lập và chỉ được nộp một HSDT Năng lực của các nhà thầu trong liêndanh có thể không đồng đều, những nhà thầu mới thường đảm nhiện công việc có tínhchất đơn giản hơn Liên danh với những nhà thầu cũ và có năng lực sẽ giúp nhà thầumới tích lũy thêm được kinh nghiệm chuyên môn cũng như quản lý, tạo điều kiện
tham gia đấu thầu với tư cách nhà thầu độc lập trong tương lai
Thứ ba, đấu thầu giúp các nhà thầu tăng cường sự hiểu biết về các quy định liên
quan đến đấu thầu của một quốc gia cũng như của các tổ chức quốc tế Một trong cácnguồn vốn do nhà nước quản lý là nguồn vốn ODA vay của các tổ chức quốc tế hoặccủa chính phủ các nước khác Như vậy, để có thể trúng thầu thì bên cạnh việc phảicung cấp sản phẩm hợp lý nhất thì nhà thầu còn phải tuân thủ các quy định liên quancủa các tổ chức sở hữu vốn, trong đó đặc biệt là các tổ chức quốc tế
Thứ tư, đấu thầu tạo động lực cho sự tự hoàn thiện Có nhiều yếu tố chủ quan
ảnh hưởng đến kết quả tham gia đấu thầu của các nhà thầu như chất lượng sản phẩm,
giá cả, chất lượng các dịch vụ đi kèm, kinh nghiệm của nhà thầu hay chất lượng củaHSDT, Sau mỗi lần tham gia đấu thầu không thành công thì nhà thầu sẽ tìm ra được
nguyên nhân để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và có giải pháp khắc phục trong
những lần tham gia đấu thầu tiếp theo
Thứ năm, nhà thầu có thể khẳng định được vị trí, nâng cao uy tín trên thị trường
khi tham gia đấu thầu và trúng thầu, điều này giúp cho nhà thầu có được hợp đồng, ổnđịnh hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo đà phát triển trong môi trường cạnh tranh
ngày càng gay gắt
1.2.3 Vai trò đối với nền kinh tế
Trang 13Đấu thầu tạo ra một môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp, khuyến khích
tính sáng tạo của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, từ đó nền kinh tế được hưởngnhững sản phẩm chất lượng tốt với giá cả hợp lý Theo thống kê của nhiều nước thì
đấu thầu đã giúp nhà nước tiết kiệm được một phần đáng kể vốn đầu tư vì giá trúng
thầu thường nhỏ hơn giá ước tính Hiệu quả của đấu thầu được xét trên hai góc độ, đó
là hiệu quả về kinh tế và hiệu quả về xã hội Hiệu quả kinh tế thể hiện qua việc tiếtkiệm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm Hiệu quả xã hội thểhiện qua yếu tố bảo vệ môi trường, bảo hộ sản xuất trong nước, sử dụng lao động
trong nước, ưu tiên phụ nữ, Chính phủ phải kết hợp hài hòa hai loại hiệu quả này khi
thực hiện các hoạt động mua sắm công Như vây, đấu thầu có thể được coi như mộttrong các công cụ điều tiết xã hội của chính phủ
Trong xu thế hội nhập hiện nay thì việc các nhà thầu nước ngoài cùng tham gia
đấu thầu sẽ khiến các nhà thầu trong nước có thêm động lực để tự hoàn thiện, đồng
thời cũng tạo ra cơ hội hợp tác, học hỏi kinh nghiệm từ các nhà thầu quốc tế Thực tế ởViệt Nam đã cho thấy rất rõ điều này, trong thời kỳ những năm 1990, phần lớn cáccông trình giao thông nói riêng và trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung
đều do các nhà thầu nước ngoài thực hiện, các nhà thầu Việt Nam thường chỉ tham gia
với tư cách là nhà thầu phụ Tuy nhiên trong những năm gần đây, số lượng các nhàthầu Việt Nam thực hiện những công trình này với tư cách là nhà thầu chính ngày một
tăng, nhiều doanh nghiệp xây dựng đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trườngtrong nước và khu vực như VINACONEX, LILAMA, LICOGI, HUD,
Đối với những nước nghèo thì vốn đầu tư từ nước ngoài đặc biệt là vốn ODA là
một nguồn vốn rất quan trọng Việc thực hiện tốt hoạt động đấu thầu sẽ khiến chonguồn vốn này được sử dụng hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồngthời nâng cao được uy tín trên trường quốc tế Việt Nam là một trong những nước
được đánh giá là sử dụng vốn ODA có hiệu quả nhờ hoạt động đấu thầu ngày một
hoàn thiện, tạo lòng tin cho các nhà tài trợ Điều này đã khiến mức vốn ODA cam kếtcho Việt Nam trong những năm gần đây ngày một tăng, đặc biệt năm 2010 mức vốn
này đạt kỷ lục trong lịch sử 16 năm thu hút ODA của Việt Nam (kể từ năm 1993) làhơn 8 tỷ USD
1.3 Nguyên tắc thực hiện đấu thầu
Trang 14Để đạt được mục đích của đấu thầu là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì hoạtđộng này cần tuân thủ một số nguyên tắc, đó là:
Nguyên tắc cạnh tranh
Trên góc độ lý thuyết thì cạnh tranh trong đấu thầu được hiểu là các nhà thầuđược tạo mọi điều kiện thuận lợi để tham gia đấu thầu, tất cả các nhà thầu có đủ khảnăng về kỹ thuật cũng như tài chính và mong muốn thì đều có quyền tham gia đấu
thầu, số lượng các nhà thầu tham gia đấu thầu càng lớn thì bên mời thầu càng có nhiều
cơ hội để lực chọn nhà thầu tốt nhất
Tuy nhiên trong thực tế thì nguyên tắc này không phải lúc nào cũng thực hiện
được vì một số nguyên nhân khách quan Thứ nhất, do mô hình tổ chức của các doanh
nghiệp (nhà thầu) hiện nay thì công ty cổ phần là mô hình tổ chức phổ biến nhất Cácnhà thầu có thể là cổ đông của nhau, vì vậy khi cùng tham gia trong một cuộc đấu thầuthì tính cạnh tranh có thể bị ảnh hưởng Các tổ chức sở hữu vốn cần có sự nghiên cứuthực tế này để có những quy định cụ thể về điều kiện tham gia đấu thầu của các nhà
thầu Thứ hai, các nhà tài trợ vốn ODA song phương trên thế giới thường đưa ra
những ràng buộc đối với các nước vay vốn, đó là phải sử dụng dịch vụ, hàng hóa của
nước cho vay Để thực hiện ràng buộc này thì nhà tài trợ thường đưa ra yêu cầu là chỉ
chấp nhận một số nhà thầu thuộc nước cho vay và nước đi vay có thể tham gia đấuthầu, các nhà thầu đến từ các quốc gia khác không được phép tham gia dù có đủ nănglực và mong muốn Rõ ràng là vẫn có sự cạnh tranh vì số lượng nhà thầu tham giakhông ít, song với sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa nhà thầu của nước vayvốn và nước cho vay vốn thì trong phần lớn các cuộc đấu thầu, nhà thầu trúng thầu lànhà thầu của nước cho vay Điều này phản ánh rất rõ tính chất ràng buộc về kinh tếcủa nguồn vốn ODA song phương trên thế giới từ hàng chục năm qua
Nguyên tắc cạnh tranh thể hiện thông qua những quy định về điều kiện tham gia
dự thầu của các nhà thầu được đưa ra trong HSMT
Nguyên tắc công bằng
Công bằng là việc tất cả các nhà thầu khi tham gia đấu thầu được hưởng nhữngquyền lợi và phải chịu trách nhiệm như nhau Tuy nhiên trong thực tế thì có những
trường hợp mà một nhóm nhà thầu nào đó được ưu tiên hơn so với các nhà thầu khác
Ví dụ, trong đấu thầu quốc tế có sự tham gia0 của các nhà thầu trong nước và nướcngoài thì các nhà thầu trong nước thường sẽ được ưu tiên hơn Mục đích của ưu tiên là
Trang 15nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nhà thầu trong nước có khả năng trúng thầu, góp phần
nâng cao được trình độ chuyên môn cũng như năng lực tài chính của nhà thầu Đây
chính là một trong các điều kiên nhằm đảm bảo hiệu quả xã hội của đấu thầu Chính
sách ưu tiên cho nhà thầu trong nước được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng khi
thực hiện đấu thầu quốc tế Mức độ ưu tiên được thể hiện cụ thể trong HSMT
Nguyên tắc công bằng còn được thể hiện thông qua việc cung cấp thông tin về
đấu thầu của bên mời thầu cho các nhà thầu, cụ thể là: thời điểm cung cấp thông tin, sốlượng và chấ lượng thông tin được cung cấp đối với các nhà thầu là như nhau
Công khai
Công khai trong đấu thầu được hiểu là các thông tin về hoạt động đấu thầu (ai
tổ chức đấu thầu, khi nào, đấu thầu gì, quy mô như thế nào, nhà thầu nào trúng thầu,nhà thầu nào vi phạm, xử lý các vấn đề trong đấu thầu, ) phải được thông báo rộng rãi
và đầy đủ trên các phương tiện thông tin phù hợp để các tổ chức và cá nhân có liên
quan trực tiếp được tiếp cận một cách kịp thời Việc xác định phạm vi, phương tiện vàthời điểm truyền thông có vai trò quan trọng đối với các bên có liên quan Ví dụ,truyền thanh, truyền hình được coi là một trong những phương tiện truyền thông đạichúng, tuy nhiên các phương tiện này ít khi được sử dụng trong đấu thầu vì tính chất
“quá rộng rãi” của nó Việc chắt lọc và lưu giữ thông tin về đấu thầu qua truyền thanh,
truyền hình là không thuận lợi Phương tiện này có thể sử dụng để hỗ trợ thêm cho các
phương tiện truyền thông khác như báo đọc và mạng internet
Nguyên tắc công khai không nên thực hiện một cách máy móc Một số thông
tin trong đấu thầu cần đảm bảo tính bí mật như nội dung của HSDT, kết quả đánh giá
chi tiết HSDT hoặc nội dung chi tiết của hợp đồng, Những thông tin này do bên mờithầu lưu giữ, không cung cấp cho các nhà thầu cũng như các tổ chức hoặc cá nhânkhông có trách nhiệm
Minh bạch
Nguyên tắc minh bạch được coi là nguyên tắc khó kiểm soát nhất trong hoạt
động đấu thầu đói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung Minh bạch được hiểu là
các thông tin cũng như các quyết định do các chủ thể liên quan đến hoạt động đấu thầu(bao gồm: bên mời thầu, nhà thầu và tổ chức sở hữu vốn- cụ thể hơn là các cơ quanquản lý nhà nước) phải được cung cấp đầy đủ, rõ ràng và phải dựa trên cơ sở khoa học,
Trang 16tắc công khai, muốn thực hiện nguyên tắc minh bạch thì trước tiên phải thực hiện đượcnguyên tắc công khai.
Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế thì sự thiếu minh bạch trong nền
kinh tế (chủ yếu là do thiếu công khai) sẽ dẫn tới tình trạng tham nhũng Nghiên cứucủa tổ chức này cho thấy, chỉ số minh bạch thấp nhất thuộc về các nước đang pháttriển có nạn tham nhũng hoành hành trong nhiều năm qua
1.4 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu môn học
Xét trên góc độ của một tổ chức thì hoạt động đầu tư được thực hiện dưới hai
hình thức, thứ nhất là đầu tư theo các dự án nhằm đạt một mục tiêu được xác định rõ ràng, phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của tổ chức này Thứ hai là đầu tư thường
xuyên (hay chi tiêu thường xuyên) như đầu tư mới hoặc sửa chữa cơ sở vật chất kỹthuật một cách định kỳ nhằm duy trì hoạt động của tổ chức Môn học sẽ nghiên cứuhoạt động đấu thầu trong các dự án đầu tư phát triển của tổ chức này Với đối tượng vàphạm vi nghiên cứu như vậy, môn học tập trung vào những nội dung sau:
- Phương pháp lập kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
- Các hình thức và phương thức đấu thầu
- Quy trình lựa chọn nhà thầu
- Phương pháp soạn thảo HSMT
- Phương pháp đánh giá HSDT
- Một số vấn đề về quản lý đối với hoạt động đấu thầu ở Việt Nam
Mục đích nghiên cứu môn học là cung cấp cho người học những kiến thức cơbản (bao gồm cả lý luận và thực tiễn) về hoạt động đấu thầu (mua sắm công), để từ đó
có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động này với tư cách là bên mời thầu hoặc tham giavào công tác quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu ở các cấp độ khác nhau (chủ đầu
tư, ban quản lý dự án, cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư)
Câu hỏi :
1 Phân tích sự cần thiết phải thực hiện đấu thầu trong các dự án đầu tư
sử dụng vốn của nhà nước hoặc do nhà nước quản lý
2 Phân tích các nguyên tắc của đấu thầu và lấy ví dụ cụ thể minh họa
về việc vi phạm những nguyên tắc này
Trang 17CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH ĐẤU THẦU
CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.1 Gói thầu
2.1.1 Khái niệm
Khi cần lựa chọn nhà thầu để thực hiện các nhu cầu mua sắm trong một dự án
đầu tư thì bên mời thầu có thể tổ chức đấu thầu một hoặc nhiều lần nhằm lựa chọn một
hoặc nhiều nhà thầu Số lần tổ chức đấu thầu phụ thuộc vào đặc điểm của các nhu cầumua sắm này và tình hình hoạt động của các nhà thầu trên thị trường Ví dụ, trong một
dự án giáo dục, khi cần trang bị máy tính và máy in để phục vụ công việc giảng dạy thìbên mời thầu có thể chỉ cần tổ chức đấu thầu một lần để lựa chọn ra một nhà thầu vìthực tế trên thị trường cho thấy nhiều nhà thầu có khả năng cung cấp đồng thời hai loạihàng hóa này
Cũng trong dự án trên, giả sử có nhu cầu trang bị cả các thiết bị trong phòng thínghiệm hóa học hoặc vật lý thì bên mời thầu khó có thể tổ chức đấu thầu một lần đểlựa chọn nhà thầu cung cấp đồng thời cả ba loại hàng hóa đó vì trên thực tế số lượngnhà thầu tham gia là rất ít hoặc thậm chí không có Lý đo là các hàng hóa này quá khácbiệt nhau, không thuộc cùng “nhóm hàng” Do đó, bên mời thầu phải thực hiện đấuthầu ít nhất hai lần để lựa chọn nhà thầu cung cấp 3 mặt hàng trên: một lần cho máytính, máy chiếu và một lần cho trang thiết bị thí nghiệm Trong trường hợp này bênmời thầu có hai gói thầu cần thực hiện
Vậy, gói thầu được hiểu là một hoặc nhiều nhu cầu mua sắm trong một dự án
đầu tư, được bên mời thầu tổ chức đấu thầu một lần Một dự án đầu tư có thể có một
hoặc nhiều gói thầu và thường không có các gói thầu với nội dung giống hệt nhau, mỗi
gói thầu chỉ có một HSMT Theo Luật Đấu thầu của Việt Nam thì gói thầu là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn bộ dự án; gói thầu
có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án Từ đó, ta thấy
rằng một dự án đầu tư có ít nhất một gói thầu và không có giới hạn số lượng tối đa
2.1.2 Phân loại gói thầu
Các gói thầu được phân loại theo hai tiêu chí, đó là theo quy mô và theo đặc
Trang 18mô nhỏ, quy mô vừa và quy mô lớn Khái niệm “lớn”, “vừa” hay “nhỏ” chỉ mang tính
tương đối và phụ thuộc vào lĩnh vực của nhu cầu mua sắm Vì lý do này nên trong
thực tế, tiêu chí phân loại theo quy mô rất ít khi được áp dụng và nếu có thì chỉ đề cập
đến gói thầu quy mô nhỏ ở từng lĩnh vực cụ thể
Dựa vào đặc điểm của các nhu cầu mua sắm cần thực hiện trong dự án, gói thầu
đượcc phân thành 5 loại: gói thầu dịch vụ tư vấn, gói thầu xây dựng (hoặc xây lắp), gói
thầu hàng hóa, gói thầu tư vấn thiết kế- xây dựng- cung cấp lắp đặt máy móc thiết bị(còn gọi là gói thầu EPC) và gói thầu thực hiện toàn bộ dự án đầu tư
Gói thầu dịch vụ tư vấn
Chu kỳ của dự án đầu tư bao gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư
và vận hành kết quả đầu tư (hay còn gọi là giai đoạn khai thác hoặc sản xuất kinhdoanh) Trong cả 3 giai đoạn này, đặc biệt là 2 giai đoạn đầu tiên có nhiều công việcmang tính chất tư vấn và đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của dự án,
do đó chúng ta sẽ tập trung vào 2 giai đoạn đầu
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, một số công việc như nghiên cứu cơ hội đầu
tư, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo nghiên cứu khả thi (hay còn gọi là
lập dự án đầu tư) phải được hoàn thành để làm căn cứ ra quyết định đầu tư Chủ đầu
tư tiến hành đấu thầu để lựa chọn nhà thầu tư vấn thực hiện các công việc trên Nhà
thầu tư vấn bằng kinh nghiệm chuyên môn của mình trong lĩnh vực của dự án sẽ đềxuất cho chủ đầu tư phương án đầu tư tốt nhất Trong giai đoạn này, dự án thường chỉ
có một gói thầu tư vấn lập dự án đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư là giai đoạn mà chủ đầu tư tập trung phần lớn thờigian và chi phí để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra kết quả đầu tư như xây dựng,
mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực, Dịch vụ tư vấn ở giai
đoạn này bao gồm những công việc như khảo sát thiết kế, lập dự toán, giám sát thi
công xây dựng, giám sát lắp đặt máy móc thiết bị, tư vấn đấu thầu, quản lý dự án đầu
tư Số lượng gói thầu tư vấn trong giai đoạn này thường nhiều hơn giai đoạn chuẩn bịđầu tư Tùy vào đặc điểm và quy mô của gói thầu tư vấn, nhà thầu tư vấn có thể là một
hoặc một nhóm cá nhân hoặc là một tổ chức có tư cách pháp nhân
Gói thầu xây lắp
Xây lắp là những công việc liên quan đến xây dựng và lặp đặt các công trình,hạng mục công trình Trong dự án đầu tư, việc thực hiện các gói thầu xây lắp có thể ở
Trang 19cả 2 giai đoạn: thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư, điều này phụ thuộc vàoviệc dự án đầu tư mang tính chất huy động toàn phần hay bộ phận Ví dụ trong một dự
án xây dựng khu đô thị gồm nhiều tòa nhà chung cư, mỗi tòa nhà được hoàn thiệnxong là có thể đưa vào sử dụng mà không cần phụ thuộc vào mức độ hoàn thành củacác tòa nhà khác Hoặc dự án xây dựng đường quốc lộ, mỗi đoạn đường được hoànthành là có thể thông xe, trong khi các đoạn khác vẫn đang tiếp tục được xây dựng.Hai dự án đầu tư trên có tính chất huy động bộ phận Ngược lại, trong dự án đầu tưxây dựng một cây cầu, phần xây lắp bao gồm 3 hạng mục công trình: hai đoạn đườngdẫn lên cầu và cầu, ba hạng mục này nhất thiết phải hoàn thành thì cây cầu mới đưavào sử dụng được, như vậy dự án này có tính chất huy động toàn bộ Số lượng gói thầuxây lắp trong một dự án đầu tư phụ thuộc vào tính chất và quy mô của dự án
Gói thầu cung cấp hàng hóa
Hàng hóa trong dự án đầu tư rất đa dạng, có thể là phương tiện vận tải vậnchuyển, dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, thuốc men, lương thực thực phẩm,nguyên vật liệu, Trong phạm vi một dự án đầu tư thì các gói thầu cung cấp hàng hóatập trung ở giai đoạn thực hiện đầu tư Tuy nhiên, trong quá trình vận hành kết quả đầu
tư sẽ xuất hiện những nhu cầu mua sắm khác như nguyên nhiên vật liệu sản xuất, thay
thế phụ tùng, sửa chữa lớn, Những nhu cầu mua sắm này không nằm trong kế hoạch
đấu thầu của dự án và kinh phí cho các nhu cầu đó cũng không được đưa vào tổng mứcđầu tư của dự án mà nằm trong chi phí vận hành hàng năm Số lượng gói thầu cung
cấp hàng hóa trong một dự án đầu tư thường là lớn và phụ thuộc vào số loại hàng hóacần thiết cho dự án
Gói thầu tư vấn thiết kế- xây dựng- cung cấp lắp đặt máy móc thiết bị (
Gói thầu EPC là gói thầu bao gồm các công việc có tính chất hoàn toàn khácnhau song lại có liên quan chặt chẽ với nhau Nhằm đảm bảo tính đồng bộ của côngtrình, hạng mục công trình, các công việc này nhất thiết phải do một nhà thầu thựchiên Gói thầu EPC thường có trong các dự án xây dựng nhà máy công nghiệp như sảnxuất alumin, nhà máy nhiệt điện, thủy điện hoặc một số dự án xây dựng dân dụng
khác như nhà làm việc
Gói thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án
Trong thực tế có một số trường hợp sau khi các cơ quan quản lý nhà nước trên
Trang 20thực hiện một số công việc chuẩn bị đầu tư (nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiềnkhả thi) thì sẽ tổ chức lựa chọn nhà thầu để thực hiện toàn bộ các công việc của dự án.Như vậy, cơ quan này (bên mời thầu) chỉ cần thực hiện đấu thầu một lần để lựa chọnnhà thầu cho dự án Sau khi thực hiện xong việc xây dựng dự án thì nhà thầu chuyểngiao lại quyền sở hữu và vận hành cho bên mời thầu Trong nhiều trường hợp, nhàthầu thực hiện dự án sẽ tiếp tục giai đoạn vận hành và sau một thời gian dài mớichuyển giao lại cho bên mời thầu Phần lớn các gói thầu loại này là các dự án đầu tư
được thực hiện theo hình thức BOT, BT hoặc BTO Loại gói thầu này thường được áp
dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng các nhà máy điện, nước haycác công trình giao thông
2.2 Kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
2.2.1 Khái niệm và vai trò của công tác lập kế hoạch đấu thầu
Lập kế hoach đấu thầu cho dự án đầu tư là việc phân chia các nhu cầu mua sắmcủa dự án này thành các gói thầu khác nhau và xác định đặc điểm của từng gói thầu
như giá trị ước tính, hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu, tiến độ thực
hiện, Công tác lập kế hoạch đấu thầu được tiến hành trước và cả sau khi dự án cóquyết định đầu tư Dự án được quyết định đầu tư sau khi các công việc chuẩn bị đầu tư
đã được hoàn thành Công tác lập dự án đầu tư là một trong các công việc tư vấn đầu
tư thuộc giai đoạn chuẩn bị đầu tư Chủ đầu tư cần lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu để
thực hiện công viẹc này Công tác lập kế hoạch đấu thầu trong giai đoạn chuẩn bị đầu
tư được thực hiện tương đối đơn giản vì ở giai đoạn này dự án chỉ có một số ít gói thầu
tư vấn, đó là lập dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
Sau khi dự án có quyết định đầu tư thì công tác lập kế hoạch đấu thầu cho dự
án sẽ được tiến hành Việc lập kế hoạch đấu thầu ở giai đoạn này phức tạp hơn rấtnhiều, đòi hỏi độ chính xác cao vì đó là cơ sở để thực hiện hàng loạt các gói thầu saunày Kế hoạch đấu thầu của dự án do chủ đầu tư hoặc các tổ chức do chủ đầu tư ủyquyền lập trước khi thực hiện hoạt động đấu thầu Chương này sẽ tập trung nghiên cứucông tác lập kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư sau khi đã có quyết định đầu tư
Vai trò của kế hoạch đấu thầu
Đối với chủ đầu tư, việc lập kế hoạch đấu thầu giúp chủ đầu tư xác định được
số lượng gói thầu của dự án một cách hợp lý nhằm đáp ứng các yêu cầu về chi phí
Trang 21cũng như tiến độ thực hiện dự án Kế hoạch đấu thầu sẽ giúp chủ đầu tư có kế hoạch
bố trí vốn đầu tư phù hợp Kế hoạch đấu thầu là một trong các công cụ quản lý hoạt
động đấu thầu nói riêng và quản lý dự án nói chung của chủ đầu tư, là căn cứ pháp lý
cho các quyết định liên quan đến hoạt động đấu thầu sau này
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, kế hoạch đấu thầu của các dự án đầu
tư sử dụng vốn do nhà nước quản lý có vai trò rất quan trọng, đó là cơ sở để các cơ
quan này xem xét và quyết định cho phép dự án được thực hiện đấu thầu và đồng thời
là cơ sở để phê duyệt kết quả đấu thầu của các gói thầu sau này Kế hoạch đấu thầu
cũng là một trong các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu nói riêng
và hoạt động đầu tư nói chung Thông qua kế hoạch đấu thầu các cơ quan quản lý nhà
nước có thể đánh giá được mức độ am hiểu về dự án của chủ đầu tư hoặc của các tổ
chức do chủ đầu tư ủy quyền thực hiện đấu thầu
Đối với các nhà thầu thì việc thông báo công khai kế hoạch đấu thầu của các
chủ đầu tư sẽ giúp cho họ giảm bớt thời gian và chi phí cho việc tìm kiếm thông tin vềcác khách hàng trên thị trường Kế hoạch đấu thầu sẽ giúp các nhà thầu đánh giá đượcquy mô cũng như tính phức tạp của dự án đồng thời xem xét năng lực của mình và có
kế hoạch tham gia đấu thầu một cách chọn lọc và hiệu quả
2.2.2 Trình tự và nội dung lập kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư
Để công tác lập kế hoạch đấu thầu cho dự án được thuận lợi và kế hoạch mang
tính khả thi cao thì chủ đầu tư cần có đầy đủ các căn cứ về pháp lý cũng như tính khảthi về nguồn vốn của dự án Thiếu một trong các căn cứ này thì kế hoạch đấu thầukhông thể hiện được vai trò quan trọng của nó bởi lẽ trong quá trình thực hiện sẽ cónhiều nội dung phải thay đổi Các căn cú để lập kế hoạch đấu thầu có thể là:
- Quyết định đầu tư, đây là căn cứ pháp lý xác nhận việc dự án đã được chấpthuận
- Hiệp ước thỏa thuận đối với các dự án vay vốn ODA, thể hiện sự cam kếtcủa các nhà tài trợ quốc tế cung cấp vốn cho dự án
- Nguồn vốn cụ thể được huy động cho dự án nhằm đảm bảo tính khả thitrong việc cung cấp vốn
- Các căn cứ cần thiết khác trong từng trường hợp dự án cụ thể
Công tác lập kế hoạch đấu thầu của dự án được tiến hành theo trình tự từ tổng
Trang 22- Bước thứ nhất: xác định các loại gói thầu có trong dự án (thường được gọi là
xác định các mảng công việc), có nghĩa là chủ đầu tư phải trả lời được câu hỏi: dự án
có bao nhiêu loại gói thầu? Dựa vào đặc điểm của dự án thì một dự án có thể có ba loạinhu cầu mua sắm hay ba mảng công việc, đó là mảng công việc tư vấn, mảng côngviệc xây lắp và mảng công việc mua sắm hàng hóa Tương ứng với 3 mảng công việcnày thì về mặt lý thuyết dự án có thể gồm nhều nhất 4 loại gói thầu, đó là tư vấn, xâylắp, cung cấp hàng hóa và EPC Tuy nhiên trên thực tế rất ít khi một dự án đồng thời
có cả gói thầu xây lắp và gói thầu EPC Trong một số trường hợp đặc biệt, dự án chỉ
có một mảng công việc Ví dụ, một dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục với nội dungbiên soạn sách giáo khoa thì có thể sẽ chỉ có một mảng công việc, đó là dịch vụ tư vấn
Như vậy dự án này chỉ có một loại gói thầu là gói thầu tư vấn
- Bước thứ hai: xác định số lượng gói thầu trong từng loại gói thầu (hay phân
chia từng mảng công việc thành các gói thầu) Mỗi mảng công việc gồm một hoặcnhiều nhu cầu mua sắm Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng nhu cầu mua sắm mà mỗimảng công việc được phân chia thành một hoặc nhiều gói thầu Các gói thầu đượcphân chia theo những nguyên tắc: hợp lý về quy mô; đồng bộ về kỹ thuật và côngnghệ; đảm bảo tiến độ thực hiện dự án Các nguyên tắc này không nhất thiết cùng phảituân thủ đối với một dự án
Quy mô hợp lý được hiểu là gói thầu có giá trị ước tính không quá lớn hoặcquá nhỏ, tuy nhiên khái niệm “lớn” ,“nhỏ” chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào lĩnhvực của gói thầu Nếu giá trị gói thầu lớn thì số lượng nhà thầu tham gia sẽ hạn chế vì
nó đòi hỏi các nhà thầu phải có khả năng tài chính tương ứng Ngược lại, nếu giá trị
gói thầu nhỏ thì tính hấp dẫn đối với các nhà thầu có thể sẽ giảm do lợi nhuận mang lại
không cao, đặc biệt những nhà thầu có năng lực se không tích cực tham gia Quy mô
gói thầu không hợp lý dẫn tới hạn chế tính cạnh tranh của hoạt động đấu thầu
Để đảm bảo tính đồng bộ về công nghệ sản xuất thì chúng ta không thể tách
các công việc có liên quan chặt chẽ với nhau thành những gói thầu riêng lẻ Ví dụ, mộtdây chuyền sản xuất gồm nhiều máy móc thiết bị thì không nên chia thành các gói thầukhác nhau mặc dù giá trị của dây chuyền sản xuất là lớn, vì như vậy có thể dẫn đếntình trạng từng thiết bị thì hoạt động tốt song lại không phù hợp hoặc đồng bộ vớinhau Hoặc trong dự án xây lắp đường dây truyền tải điện thì công việc xây dựng cột
Trang 23và lắp đặt đường dây không thể tách rời thành hai gói thầu riêng biệt vì hai công việcnày phải thực hiện cùng tiến độ và phụ thuộc rất nhiều vào nhau.
Trong trường hợp dự án được thực hiện ở nhiều địa điểm khác nhau thì mảng
công việc nào đó của dự án như xây lắp hoặc tư vấn thường được chia thành nhiều góithầu có nội dung tương tự, mỗi gói thầu được thực hiện ở một địa điểm nhằm đảm bảotiến độ thực hiện dự án Ví dụ, một dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục với nội dungxây dựng mới nhiều trường học trên địa bàn một tỉnh, thì mảng công việc xây lắp cóthể chia thành nhiều gói thầu, mỗi gói thầu là công việc xây lắp một hoặc một vài
trường học gần nhau Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp này sẽđược thực hiện cùng một lúc nhằm tiết kiệm chi phí tổ chức Như vậy, giá mỗi gói
thầu sẽ không quá lớn, tạo điều kiện để nhiều nhà thầu tham gia Các nhà thầu tùy theo
năng lực có thể tham gia một hoặc nhiều gói thầu Cách chia gói thầu như vậy sẽ rút
ngắn tiến độ xây dựng của dự án vì các nhà thầu đồng thời tham gia xây dựng các
trường ở các địa điểm khác nhau Số lượng gói thầu trong các dự án đầu tư là rất khác
nhau, từ vài gói thầu đến hàng chục gói thầu
Bước thứ ba: xác định đặc điểm của từng gói thầu Với mỗi gói thầu đã được
phân chia ở bước thứ hai, người lập kế hoạch đáu thầu tiến hành xác định giá trị ướctính hay còn gọi là giá gói thầu, nguồn vốn thực hiện (trong trường hợp dự án sử dụngnhiều nguồn vốn khác nhau), hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu, thờigian tổ chức đấu thầu, loại hợp đồng sẽ được áp dụng cũng như tiến độ thực hiện
Giá gói thầu có thể được hiểu là mức giá cao nhất mà chủ đầu tư dành cho góithầu này, nó phản ánh quy mô của gói thầu, từ đó các nhà thầu đánh giá được khă năngtài chính của doanh nghiệp mình có đáp ứng hay không Thông tin về nguồn vốn sẽgiúp các nhà thầu biết được những quy định về đấu thầu được áp dụng đối với gói thầunày Mỗi nguồn vốn có những yêu cầu riêng về các nhà thâu cũng như về các thủ tụcthanh toán Ví dụ, đối với gói thầu sử dụng vốn của Ngân hàng thế giới (WB) thì các
tổ chức thuộc chủ đầu tư hoặc của Bộ Quốc phòng ở Việt Nam sẽ không được thamgia đấu thầu Hoặc, việc lựa chọn nhà thầu trong các gói thầu sử dụng vốn của JICAkhông áp dụng chính sách ưu tiên cho nhà thầu của nước nhận tài trợ, trong khi đó WB
và ADB lại dành cho các nhà thầu của nước nhận tài trợ những điều kiện ưu tiên nhất
định, Các nhà thầu sẽ tìm hiểu các quy định liên quan để xem xét mức độ đáp ứng
Trang 24Dưới đây là ví dụ về kế hoạch đấu thầu của một số dự án đầu tư.
Bảng 2.1 Kế hoạch đấu thầu dự án Đường Cơ động ven biển Hải An
-Hải Khê, huyện -Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Chủ đầu tư: Ban chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị Tổng mức đầu tư: 128.496.000.000 VND, loại dự án: nhóm A.
STT Số hiệu
gói thầu
Tên gói thầu
Giá gói thầu (VND) Nguồn vốn
Phương thức ĐT
Hình thức lựa chọn NT
Thời gian lựa chọn NT
Phương thức HĐ
Thời gian thực hiện HĐ
1 02
Thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công và dự toán
138.149.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý III/2010
Theo tỷ lệ phần trăm 15 ngày
2 03
Lập Hồ sơ mời thầu
và đánh giá
hồ sơ dự thầu
78.863.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý III / 2010
Theo tỷ lệ phần trăm 15 ngày
3 04
Tư vấn giám sát xây dựng công trình
1.443.003.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý III / 2010
Theo thời gian 24 tháng
4 05
Tư vấn kiểm toán công trình
191.370.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý IV/2012 Trọn gói 30 ngày
5 06 Đo Đạc địa
chính 100.000.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý III/2010 Trọn gói 11 ngày
6 09 Bảo hiểm
công trình 389.675.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý III/2010 Trọn gói
Theo quy định BTC
7 10
Toàn bộ phần xây lắp tuyến chính và tuyến nhánh
92.779.757.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Đấu thầu rộng rãi, trong nước, không sơ tuyển
Quý III /2010
Theo đơn giá 24 tháng
8 06 Đo đạc địa
chính 100.000.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ địnhthầu,trong
nước,không
sơ tuyển
Quý III/2010 Trọn gói 11 ngày
9 08
Rà phá bom, mìn, vật nổ
218.460.000
Vốn ngân sách Trung ương
Một túi hồ sơ
Chỉ địnhthầu,trong nước, không sơ tuyển
Quý III/2010 Trọn gói 30 ngày
Trang 25Một túi hồ sơ
Chỉ định thầu, trong nước, không sơ tuyển
Quý II/2010
Hợp đồng hỗn hợp 30 ngày
Bảng 2.2: Kế hoạch đấu thầu của dự án “Năng lượng nông thôn II
Thời gian tổ chức
Hình thức hợp đồng
Thời gian thực hiện
Các gói thầu vật tư thiết bị
1
Gói 3: Dây dẫn
Lô 1: Dây trần các loại
Lô 2: Đay bọc các loại
14.542.914.000
Vay WB
Cạnh tranh rộng rãi quốc tế
Quý III/2010
Trọn gói 12-15 tuần 2
Gói 4: Canh điện và phụ
Các gói thầu xây lắp
6 Gói 8: Xây lắp đường dây
và trạm huyện A
9.745.905.000
Vay WB
Cạnh tranh rộng rãi trong
nước
Quý III/2010
Theo đơn
giá
150 - 210 ngày
7 Gói 9: Xây lắp đường dây
Các gói thầu tư vấn
10 Gói 12: Gói thầu Tư vấn 3.778.249.000 Vốn đối Tự thực Quý Theo đơn 210 ngày
Trang 26Quý III/2009
II-Theo tỷ lệ
%
Đến khi
khảo sát hoàn thiện
nước
Quý IV/2010
III-Trọn gói Đến 6 tháng
sau khi công trình hoàn thiện
13 Gói 15: Giám sát thi công
công trình
1.152.652.000 Tự thực
hiện
Quý IV/2010
III-Theo tỷ lệ
%
Đến khi
hoàn thành công trình
14 Gói 16: Thuê kho bãi, bản
quản và cấp phát vật tư,
thiết bị
457.268.000
Tự thực hiện
Quý IV/2010
nước
Quý IV/2010
III-Trọn gói
16 Gói 18: Kiểm toán, quyết
toán vốn đầu tư
183.876.000 Chỉ định
thầu
Quý IV/2010
III-Theo tỷ lệ
%
60 ngày
Tổng giá trị các gói thầu 66.680.021.000
Nguồn: Báo Đấu thầu số 158 ngày 06/8/2010
Bảng 2.3: Kế hoạch đấu thầu dự án “Trường THCS Hàn Thuyên,
thành phố Vũng Tàu”
Chủ đầu tư: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố Vũng Tàu Tổng mức đầu
tư 86.564.176.000 VND Nguồn vốn: Ngân sách địa phương
Thời gian lựa chọn NT
Phương thức HĐ
Thời gian thực hiện HĐ
sơ tuyển
Quý IV 2010
Theo tỷ lệ phần trăm 02 tháng
Theo tỷ lệ phần trăm 01 tháng
3 Gói Tư vấn lập hồ sơ 46.200.000 Một túi hồ Chỉ định thầu Quý I Theo tỷ lệ 01 tháng
Trang 27Quý I 2011
Theo tỷ lệ phần trăm 24 tháng
Theo đơn giá 01 tháng
Chỉ định thầu,trong
nước
Quý I 2013
Theo tỷ lệ phần trăm 01 tháng
Đấu thầu rộng rãi trong nước không sơ tuyển
Quý I 2011
Theo đơn giá 24 tháng
Đấu thầu rộng rãi trong nước không sơ tuyển
Quý I 2011
Theo đơn giá 03 tháng
2.3 Phương thức tổ chức đấu thầu
Trong quá trình tổ chức đấu thầu, sau khi phát hành HSMT cho các nhà thầu thìBMT dành một thời gian nhất định để các nhà thầu chuẩn bị HSD Tùy thuộc vào điềukiện cụ thể của gói thầu mà bên mời thầu có thể yêu cầu các nhà thầu nộp HSDT theonhững cách khác nhau, tương ứng với mỗi cách là một quy trình đánh giá HSDT riêng
Có bốn cách nộp HSDT hay bốn phương thức tổ chức đấu thầu, đó là: một giai đoạnmột túi hồ sơ, một giai đoạn hai túi hồ sơ, hai giai đoạn một túi hồ sơ và hai giai đoạnhai túi hồ sơ
2.3.1 Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
HSDT của mỗi nhà thầu bao gồm hai phần nội dung: nội dung về kỹ thuật (haycòn gọi là đề xuất kỹ thuật) và nội dung về tài chính (đề xuất tài chính) Đề xuất kỹ
Trang 28thuật là bản mô tả phương pháp thực hiện gói thầu của nhà thầu như công nghệ được
áp dụng, phương án bố trí nhân sự, tiến độ, phương án vận chuyển, bảo hành bảo
dưỡng, đào tạo chuyển giao công nghệ, an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy, đảm
bảo vệ sinh môi trường, Đề xuất tài chính bao gồm những thông tin về đồng tiền
thanh toán, phương thức thanh toán, giá cả cụ thể
Trong đấu thầu, túi hồ sơ được hiểu là túi để chứa đựng các phần tài liệu của
HSDT Khi áp dụng phương thức này, bên mời thầu yêu cầu các nhà thầu nộp hai đềxuất trong cùng một túi hồ sơ được niêm phong Tại thời điểm mở thầu, bên mời thầuthông báo nhiều điều kiện tham gia dự thầu của từng nhà thầu, trong đó có thông tin vềgiá dự thầu Như vậy, giá dự thầu của các nhà thầu tham gia cuộc đấu thầu này đều
được công khai trước khi đánh giá các HSDT
Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ mang lại những ưu điểm cũng như
hạn chế cho các bên tham gia như sau:
Ưu điểm
- Biết được giá dự thầu của tất
cả các nhà thầu tham gia, so
sánh được với giá gói thầu để
thấy được tính chính xác của giágói thầu
- Tạo điều kiện để các nhà thầucạnh tranh nhau về giá
Có thông tin về giá của các đốithủ cạnh tranh ngay trong khi
mở thầu, với những gói thầu
đơn giản về kỹ thuật thì có thể
tìm được nguyên nhân dẫn dến
sự chênh lệch giá giữa các nhàthầu
Hạn chế
Có thể bị tác động do thông tin
về giá dự thầu trong quá trìnhlựa chọn nhà thầu, đặc biệt đốivới những gói thầu có yêu cầu
kỹ thuật phức tạp Tâm lýchuộng giá thấp của bên mờithầu trong thực tế có thể dẫn
đến sự lựa chọn những đề xuất
kỹ thuật có chất lượng khôngcao
Không đảm bảo được tính bí
mật về giá dự thầu trước khi
được đánh giá đề xuất kỹ thuật
Với những gói thầu có yêu cầu
kỹ thuật phức tạp, có thể dẫn
đến hạn chế việc đưa ra nhữngphương án kỹ thuật tốt vì giá
dự thầu cao
Trang 29Những phân tích trên đây cho thấy rằng phương thức này phù hợp với nhữnggói thầu có yêu cầu kỹ thuật không phức tạp, không có nhiều phương án kỹ thuật đểthực hiện gói thầu nên các nhà thầu có khả năng cạnh tranh nhau về giá cả.
2.3.2 Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
Khác với phương thức trên, khi áp dụng phương thức này các nhà thầu niêmphong từng đề xuất vào từng túi hồ sơ riêng biệt và có thể nộp cùng một thời điểmhoặc vào những thời điểm khác nhau tùy theo phương pháp đánh giá HSDT của bênmời thầu Như vậy, khi mở thầu, bên mời thầu không thông báo những thông tin về đềxuất tài chính của các nhà thầu Những thông tin này được hoàn toàn giữ bí mật trongsuốt quá trình bên mời thầu đánh giá đề xuất kỹ thuật Nếu bên mời thầu muốn đánh
giá đề xuất tài chính của các nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật thì sẽ yêu cầu tất cả
các nhà thầu tham gia đấu thầu phải nộp cả hai đề xuất vào cùng thời điểm Những nhàthầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật được nhận lại đề xuất tài chính còn niêmphong Còn trong trường hợp bên mời thầu muốn nhà thầu đạt yêu cầu cao nhất về kỹthuật nộp đề xuất tài chính thì chỉ có nhà thầu này nộp đề xuất tài chính sau khi bênmời thầu đã kết thúc đánh giá đề xuất kỹ thuật, còn các nhà thầu khác không phải nộp
Phương thức hai túi hồ sơ thường được áp dụng cho những gói thầu có yêu cầu
kỹ thuật phức tạp Phương thức này có thể khắc phục được những hạn chế của phươngthức một giai đoạn một túi hồ sơ, cụ thể như sau:
Ưu điểm
Khuyến khích các nhà thầu đưa
ra những đề xuất kỹ thuật tốtKhông bị thông tin về giá dựthầu lảm ảnh hưởng tới quátrình đánh giá đề xuất kỹ thuật,việc đánh giá đề xuất kỹ thuật
khách quan hơn phương thức
một túi hồ sơ
Giữ được bí mật về đề xuất tàichính trong quá trình bên mờithầu đánh giá đề xuất kỹ thuật
Có cơ hội đưa ra đề xuất kỹ
thuật tốt
Không biết được giá dự thầucủa các nhà thầu trước khi kết
thúc đánh giá đề xuất kỹ thuật
Khó đánh giá khả năng của cácđối thủ cạnh tranh về giá cả
Trang 302.3.3 Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
Khi áp dụng phương thức này thì bên mời thầu và các nhà thầu sẽ thực hiện nhưsau:
Giai đoạn 1
Tất cả các nhà thầu đều nộp đề xuất kỹ thuật tổng thể (trong một số trường hợp
có thể cùng với đề xuất tài chính sơ bộ theo yêu cầu của bên mời thầu) Vì đề xuất kỹthuật chỉ ở mức độ tổng thể nên các nhà thầu chưa có đầy đủ cơ sở để đưa ra đề xuấttài chính cụ thể Bên mời thầu đánh giá đề xuất kỹ thuật tổng thể của các nhà thầu vàloại bỏ những đề xuất thiếu tính khả thi Các nhà thầu khác tiếp tục hoàn thiện đề xuất
kỹ thuật đồng thời chuẩn bị đề xuất tài chính chi tiết
Giai đoạn 2
Các nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật hoàn chỉnh và đề xuất tài chính chi tiết trongcùng một túi hồ sơ niêm phong Bên mời thầu thực hiện các công việc tiếp theo như
đối với phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
Như vậy, có thể thấy điều khác biệt cơ bản giữa phương thức một giai đoạn vàhai giai đoạn ở chỗ: ở phương thức một giai đoạn thì các nhà thầu chỉ được chuẩn bị
HSDT một lần (một lần hoàn chỉnh), còn phương thức hai giai đoạn thì được chuẩn bịHSDT hai lần (một lần sơ bộ và một lần hoàn chỉnh) Phương thức này phù hợp vớinhững gói thầu xây lắp, gói thầu sản xuất và cung cấp hàng hóa hoặc EPC phức tạp, cónhiều phương án kỹ thuật công nghệ thực hiện khác nhau
2.3.4 Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Phương thức này về cơ bản giống như phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ,
ở giai đoạn hai các nhà thầu nộp HSDT như phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
Trong thực tế, gói thầu dịch vụ tư vấn không áp dụng phương thức 2 giai đoạn
Trang 312.4 Hình thức lực chọn nhà thầu
Việc lựa chọn nhà thầu được bên mời thầu thực hiện theo nhiều hình thức khácnhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của gói thầu Nếu dựa vào số lượng các nhà thầu
đủ điều kiện để tham gia đấu thầu, ta có thể phân thành ba mức độ: rất nhiều nhà thầu
có thể tham giá; chỉ một số nhà thầu có thể tham gia và chỉ có một nhà thầu tham gia
Ở mức độ thứ nhất, có hai hình thức lựa chọn nhà thầu là đấu thầu cạnh tranh rộng rãi
(có hoặc không có sơ tuyển) và chào hàng cạnh tranh Ở mức độ hạn chế, có một hìnhthức là đấu thầu cạnh tranh hạn chế Trong trường hợp chỉ có một nhà thầu tham gia,
có ba hình thức là chỉ định thầu, hợp đồng trực tiếp và tự thực hiện Mỗi hình thức lựachọn nhà thầu được tiến hành theo một quy trình riêng (xem chi tiết ở chương 3)
2.4.1 Cạnh tranh rộng rãi
Cạnh tranh rộng rãi có sơ tuyển
Sơ tuyển là việc lựa chọn những nhà thầu có năng lực để tham gia đấu thầu,
công việc này được thực hiện trước khi tổ chức lựa chọn nhà thầu Sơ tuyển thường
được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu phức tạp về kỹ thuật hoặc có quy
mô lớn Vai trò của sơ tuyển là tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả bên mời thầu lẫncác nhà thầu trong quá trình tổ chức và tham gia đấu thầu Các nhà thầu không đủ
năng lực sẽ không mất thêm chi phí lập HSDT, còn đối với các nhà thầu có năng lực
thì sơ tuyển làm tăng tính hấp dẫn của gói thầu
Các nhà thầu có mong muốn đều có thể tham gia dự sơ tuyển và chỉ những nhàthầu trúng sơ tuyển mới được tham gia đấu thầu chính thức Số lượng các nhà thầu
tham gia sơ tuyển cũng như số lượng nhà thầu đáp ứng yêu cầu sơ tuyển là không hạn
chế Để đảm bảo nguyên tắc công khai thì danh sách các nhà thầu trúng sơ tuyển cần
được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin phù hợp trước khi tổ chức lựa
chọn nhà thầu
Cạnh tranh rộng rãi không sơ tuyển
Khi áp dụng hình thức này, bên mời thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham gia đấu thầu Tất cả các nhà thầu có mong muốn và đáp ứng những yêu cầu cơ
bản đều có thể nhận được HSMT do bên mời thầu cung cấp Hình thức này được bênmời thầu lựa chọn đối với những gói thầu có yêu cầu về kỹ thuật không phức tạp, quy
mô không lớn, nhiều nhà thầu trên thị trường có khả năng thực hiện được
Trang 32Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu mà các tổ chức sở hữu và quản lý vốn
khuyến khích áp dụng một cách triệt để
2.4.2 Chào hàng cạnh tranh
Hình thức này chỉ áp dụng đối với những gói thầu cung cấp hàng hóa có tínhchất kỹ thuật đơn giản, hàng hóa được sản xuất sẵn và có giá trị nhỏ, ví dụ như cungcấp một số lượng không nhiều bàn ghế làm việc, cung cấp và lắp đặt điều hòa nhiệt độ,cung cấp và lắp đặt máy vi tính, cung cấp thuốc men, dụng cụ y tế, Quy trình thựchiện đối với hình thức này đơn giản hơn rất nhiều so với quy trình thực hiện cạnh tranhrộng rãi, thể hiện qua các khâu chuẩn bị đấu thầu và đánh giá HSDT
2.4.3 Cạnh tranh hạn chế
Cạnh tranh hạn chế là hình thức lựa chọn nhà thầu mà bên mời thầu chỉ chophép một số nhà thầu cụ thể tham gia đấu thầu Số lượng cũng như danh tính của cácnhà thầu được xác định trước khi tổ chức đấu thầu Danh sách các nhà thầu này gọi làdanh sách ngắn Khi lập danh sách ngắn, bên mời thầu cần dựa trên những căn cứ sau:
đặc điểm của gói thầu, năng lực và mong muốn của các nhà thầu
Để xác định đặc điểm của những gói thầu áp dụng hình thức này, ta có thể chialàm hai trường hợp Trường hợp thứ nhất: gói thầu mà nhiều nhà thầu có khả năng
thực hiện nhưng ít nhà thầu mong muốn Như vây, những gói thầu này không đòi hỏinhà thầu phải có năng lực tài chính và kỹ thuật ở mức độ cao, song có thể lợi nhuậnmang lại là ít hoặc phải thực hiện trong điều kiện không thuận lợi (về địa điểm, điềukiện tự nhiên, khí hậu, thời gian ) Trường hợp thứ hai: gói thầu có nhiều nhà thầumong muốn nhưng không nhiều nhà thầu có đủ năng lực, đây là những gói thầu không
đơn giản về kỹ thuật hoặc quy mô lớn
Ngoài ra, như đã đề cập ở chương 1, trong các gói thầu lớn của dự án đầu tư sử
dụng vốn ODA song phương thì nước nhận tài trợ phải thực hiện cam kết áp dụng hìnhthức cạnh tranh hạn chế giữa hai nhóm nhà thầu là nhà thầu của nước tài trợ và nhàthầu của nước nhận tài trợ Nước tài trợ thường chủ động đề xuất danh sách một sốnhà thầu của nước mình trước khi tổ chức đấu thầu
Có thể thấy rằng, hình thức này phần nào làm ảnh hưởng đến nguyên tắc cạnh
tranh trong đấu thầu Trong thực tế, việc lập danh sách ngắn có thể khiến cho bên mời
thầu gặp phải một số khó khăn Thứ nhất, thông tin về năng lực của nhà thầu thường
do bên mời thầu tự thu thập nên có thể thiếu tính chính xác hoặc chưa cập nhật Thứ
Trang 33hai, một vấn đề mà bên mời thầu khó xử lý, đó là áp lực từ những mối quan hệ “tế nhị”
- chọn nhà thầu này hay nhà thầu kia vào danh sách ngắn Để đảm bảo tính cạnh tranh
trong “khuôn khổ hạn chế”, tổ chức sở hữu vốn thường khống chế số lượng tối thiểu
các nhà thầu trong danh sách ngắn gồm những nhà thầu vừa có mong muốn và vừa có
năng lực tham gia đấu thầu
Để đảm bảo nguyên tắc công khai và minh bạch trong đấu thầu thì danh sách
ngắn này sẽ được thông báo công khai trên các phương tiên thông tin phù hợp trướckhi tổ chức lựa chọn nhà thầu
2.4.4 Chỉ định thầu
Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu dựa trên việc bên mời thầu đã xác định cụ
thể nhà thầu để thực hiện gói thầu, do đó hoàn toàn không có sự cạnh tranh giữa cácnhà thầu Vây, câu hỏi đặt ra là liệu mục đích của đấu thầu nhằm “sử dụng vốn hiệuquả” có được đảm bảo không khi mà các nguyên tắc của đấu thầu gần như không đượctuân thủ?
Thực tế cho thấy rằng có những công việc mang tính rủi ro cao, có thể nguyhiểm đến tính mạng của người thực hiện nên rất ít tổ chức hoặc doanh nghiệp đượcphép hay mong muốn hoạt động trong lĩnh vực này Ví dụ ở Việt Nam, công việc ràphá bom mìn để giải phóng mặt bằng cho những công trình xây dựng đòi hỏi những
người thực hiện phải được trang bị đầy đủ kiến thức cũng như phương tiện làm việc
nhằm bảo đảm an toàn tính mạng Công việc này chỉ có thể do một số rất ít đơn vị, tổchức thuộc sự quản lý của Bộ Quốc phòng đảm nhiệm Hoặc dự án đầu tư nghiên cứuchế tạo công nghệ mới thường mang tính rủi ro cao, khả năng thất bại có thể lớn, ảnh
hưởng đến lợi nhuận của tổ chức/doanh nghiệp nghiên cứu Việc áp dụng các hình
thức lựa chọn nhà thầu cạnh tranh rộng rãi hoặc cạnh tranh hạn chế không thu hút
được sự tham gia của các nhà thầu Vì vậy, bên mời thầu cần có sự trao đổi trực tiếp
với một nhà thầu nào đó để có thể hợp tác với nhau và cùng chia sẽ rủi ro trong quátrình thực hiện
Những dự án đầu tư trong lĩnh vực án ninh quốc phòng của một quốc gia baogiờ cũng yêu cầu tính bí mật tuyệt đối Vì vậy, thông tin cụ thể về nội dung nhữngcông việc trong các dự án này rất hiếm khi được thông báo công khai trên các phươngtiện thông tin đại chúng Việc lựa chọn nhà thầu để thưc hiện các công việc này chỉ có
Trang 34thể tiến hành được thông qua áp dụng chỉ định thầu nhằm ràng buộc trách nhiệm củanhà thầu về tính bảo mật.
Bên cạnh đó, có những gói thầu mà điều kiện thực hiện khó khăn, lợi nhuậnmang lại cho các nhà thầu là rất ít nên các nhà thầu không tham gia khi bên mời thầu
áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác Ví dụ, một số gói thầu trong dự án của
chương trình “Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” ở Việt Nam được thực
hiện ở vùng núi cao, khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển nguyên vật liệu nên đãkhông có nhà thầu nào đăng ký tham gia đấu thầu Thực tế này đã khiến bên mời thầuphải tiếp cận với một nhà thầu và đề nghị thực hiện gói thầu
Ngoài ra, đối với những gói thầu có quy mô rất nhỏ thì việc áp dụng các hình
thức khác không những không thu hút được sự quan tâm của các nhà thầu do lợi nhuậnquá ít mà còn khiến bên mời thầu tốn kém chi phí để tổ chức đấu thầu Trong trườnghợp này bên mời thầu nên trực tiếp liên hệ với một nhà thầu nào đó trên thị trường đểthỏa thuận về việc thực hiện gói thầu
Qua những phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rằng hình thức lựa chọn nhàthầu này vẫn đảm bảo được mục đích của hoạt động đấu thầu, đó là mang lại hiệu quả
về kinh tế và xã hội
2.4.5 Hợp đồng trực tiếp
Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư có thể xảy ra tình huống, đó là một côngviệc nào đó của dự án đang hoặc thậm chí đã thực hiện xong nhưng phát sinh thêmkhối lượng so với dự kiến trước đây Vậy, đối với phần công việc này bên mời thầucần lựa chọn nhà thầu như thế nào? Về lý thuyết, bên mời thầu có thể áp dụng hìnhthức cạnh tranh rộng rãi hoặc cạnh tranh hạn chế, tuy nhiên điều đó là không cần thiết
vì sẽ dẫn đến lãng phí về thời gian cũng như về tài chính do phải thực hiện đầy đủ các
bước của quy trình lựa chọn nhà thầu Vì vậy, bên mời thầu thường tìm đến nhà thầu
đã hoặc đang thực hiện gói thầu đó để thỏa thuận về việc thực hiện tiếp khối lượng
phát sinh với các điều kiện hầu như không thay đổi so với hợp đồng đã ký trước đây(về giá cả, phương thức thanh toán, )
Đôi khi trong dự án mới lại có gói thầu với nội dung tương tự như một gói thầu
đã được thực hiện ở một dự án khác của cùng một chủ đầu tư Trong trường hợp này,
chủ đầu tư có thể chọn nhà thầu trước để thực hiện gói thầu mới trong dự án mới nếu
như năng lực tài chính và kỹ thuật của nhà thầu còn đáp ứng yêu cầu của gói thầu mới
Trang 35và các điều kiện khác hầu như không thay đổi Áp dụng hình thức này, chủ đầu tư sẽ
tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí để tổ chức đấu thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu này chủ yếu được áp dụng cho các gói thầu cungcấp hàng hóa sản xuất sẵn
2.4.6 Tự thực hiện
Trong dự án đầu tư có thể có những công việc mà chính chủ đầu tư là nhà thầu
có khả năng thực hiện tốt nhất do chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện hoặc trên thị
trường không có nhà thầu nào hoạt động trong cùng lĩnh vực Như vậy, nếu để chủ đầu
tư thực hiện những công việc này thì sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí tổ chức đấu
thầu Ví dụ, một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng (thiết kế,
giám sát, ) được làm chủ đầu tư của dự án xây dựng trụ sở làm việc cho chính doanh
nghiệp mình thì những công việc thuộc phạm vị tư vấn xây dựng như thiết kế haygiám sát sẽ do doanh nghiệp này đảm nhận nếu đủ khả năng chuyên môn Những góithầu như xây lắp hay cung cấp trang thiết bị làm việc sẽ do những nhà thầu khác thựchiện vì doanh nghiệp không hoạt động trong những lĩnh vực này
Trong các hình thức lựa chọn nhà thầu nêu trên, mỗi hình thức đều có những ưu
điểm và hạn chế nhất định đối với bên mời thầu, nguyên tắc cạnh tranh, công khaiđược tuân thủ ở những mức độ khác nhau Chủ đầu tư cần cân nhắc khi đưa ra quyếtđịnh áp dụng hình thức này hay hình thức kia nhằm đảm bảo mục đích của đấu thầu là
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên mọi góc độ tài chính, thời gian, xã hội,
Câu hỏi:
1 Việc cung cấp thông tin về giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu của dự án cóthể mang lại cho chủ đầu tư những thuận lợi và khó khăn gì?
2 Tại sao cần phải cung cấp thông tin về nguồn vốn dành cho từng gói thầu trong
kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư?
3 Thu thập thông tin về các kế hoạch đấu thầu của dự án trong thực tế (trên báo
Đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu muasamcong.mpi.gov.vn)
4 Hãy phân tích các ưu điểm và hạn chế của từng hình thức lựa chọn nhà thầu từgóc độ của bên mời thầu và các nhà thầu
5 Có nên thay thế việc sơ tuyển bằng hình thức cạnh tranh hạn chế đối với các gói
Trang 366 Nghiên cứu các kế hoạch đấu thầu thu thập được từ thực tế ở chương 2 và trảlời câu hỏi: tại sao các gói thầu lại được áp dụng phương thức đấu thầu và hìnhthức lựa chọn nhà thầu như đã nêu trong kế hoạch đấu thầu.
Trang 37CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH LỤA CHỌN NHÀ THẦU
Việc lựa chọn nhà thầu đối với mỗi gói thầu được tiến hành theo quy trình gồm
ba bước: chuẩn bị đấu thầu, tổ chúc lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng Trong mỗibước bên mời thầu phải thực hiện nhiều công việc khác nhau tùy theo hình thức lựa
chọn nhà thầu được áp dụng Thời gian thực hiện quy trình phụ thuộc vào phương thức
tổ chức đấu thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu áp dụng cho gói thầu Dưới đây là quytrình lựa chọn nhà thầu (hay còn gọi là quy trình đấu thầu) tổng quát đối với phươngthức một giai đoạn
Bước 1: Chuẩn bị đấu thầu
- Chuẩn bị nhân sự
- Sơ tuyển nhà thầu hoặc lập danh sách ngắn (trong trường hợp cần thiết)
- Chuẩn bị HSMT
Bước 2: Tổ chức lựa chọn nhà thầu
- Thông báo mời thầu
- Phát hành HSMT
- Nhận HSDT
- Mở thầu
- Đánh giá HSDT
- Thông báo kết quả
Bước 3: Hoàn thiện và ký hợp đồng
- Hoàn thiện hoặc đàm phán hợp đồng
chúc tư vấn đấu thầu được chủ đầu tư thuê để giúp chủ đầu tư thực hiện lựa chọn nhà
Trang 38thầu hoặc kết hợp cả hai cách trên Dù được hình thành theo cách nào thì nhóm nhân
sự này cũng phải đáp ứng các yêu cầu sau: có trình độ chuyên môn phù hợp với đặc
điểm của gói thầu và có sự hiểu biết về hoạt động đấu thầu nói chung cũng những quyđịnh cụ thể về đấu thầu của tổ chức sở hữu vốn dành cho gói thầu này
Nhiệm vụ của nhóm nhân sự thường bao gồm: thực hiện sơ tuyển (trong trườnghợp có sơ tuyển), soạn thảo HSMT, tổ chức lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện/đàm phánhợp đồng với nhà thầu trúng thầu
Đối với những dự án đầu tư phát triển có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp thì
mô hình quản lý dự án thường được áp dụng là thành lập Ban QLDA Trong những
trường hợp này, Ban QLDA là đại diện cho chủ đầu tư điều hành mọi hoạt động của
dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư, trong đó bao gồm cả việc lựa chọn nhà thầu chocác gói thầu
3.1.2 Sơ tuyển nhà thầu hoặc lập danh sách ngắn
Đây là hai công việc có cùng mục đích là lựa chọn những nhà thầu có đủ năng
lực và mong muốn tham gia đấu thầu nhưng được áp dụng trong những trường hợphợp nhau
Đối với những gói thầu cần sơ tuyển, bên mời thầu thực hiện những công việc
sau: soạn thảo hồ sơ mời sơ tuyển, thông báo và phát hành hồ sơ mời sơ tuyển, nhận
và đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển, thông báo kết quả sơ tuyển Hồ sơ mời sơ tuyển có nộidung đơn giản, chủ yếu gồm một số thông tin rất sơ lược về gói thầu đồng thời yêu cầu
các nhà thầu cung cấp các số liệu liên quan đến năng lực kỹ thuật, tài chính, kinhnghiệm của nhà thầu Trên cơ sở hồ sơ dự sơ tuyển, bên mời thầu đánh giá và lựa chọnnhững nhà thầu đáp ứng yêu cầu và chỉ những nhà thầu này mới được tham gia các
bước tiếp theo Số lượng nhà thầu tham gia dự sơ tuyển cũng như trúng sơ tuyển
không bị bên mời thầu hạn chế, do đó trong thực tế có những gói thầu mà số lượng nhàthầu đạt yêu cầu sơ tuyển còn lớn hơn cả số lượng nhà thầu tham gia đấu thầu củanhững gói thầu khác khi áp dụng hình thức cạnh tranh rộng rãi không sơ tuyển
Với hình thức lựa chọn nhà thầu cạnh tranh hạn chế thì bên mời thầu lập danhsách ngắn các nhà thầu được tham gia đấu thầu - đó là những nhà thầu có khả năng vàmong muốn Số lượng các nhà thầu trong danh sách ngắn không được quá ít để làm
ảnh hưởng đến nguyên tắc cạnh tranh, tuy nhiên cũng không nên quá nhiều để làm ảnh
Trang 39hưởng đến tính tập trung trong quá trình lựa chọn Trên thực tế, các bên mời thầuthường lực chọn khoảng 5 - 7 nhà thầu vào trong danh sách ngắn.
Bên mời thầu có thể lựa chọn sơ tuyển hoặc cạnh tranh hạn chế đối với nhữnggói thầu có quy mô lớn và yêu cầu kỹ thuật phức tạp Mỗi sự lựa chọn đều mang lạicho bên mời thầu những thuận lợi và khó khăn nhất định, do đó trong từng trường hợp
cụ thể, bên mời thầu cần có sự nghiên cứu kỹ về đặc điểm của gói thầu và các nhà thầutrên thị trường để có sự lựa chọn tối ưu
3.1.3 Chuẩn bị hồ sơ mời thầu
HSMT là tập tài liệu chứa đựng tất cả các thông tin liên quan đến một gói thầu,mỗi HSMT chỉ được sử dụng cho một gói thầu Chất lượng HSMT có vai trò rất quantrọng đối với việc lựa chọn nhà thầu Ở góc độ nào đó, HSMT được ví như “đề thi”của một cuộc thi và thành công của cuộc thi phụ thuộc nhiều vào chất lượng của đề thi
Vì vây, công việc này đòi hỏi bên mời thầu cần thực hiện một cách cẩn thận, chínhxác Thời gian chuẩn bị HSMT phụ thuộc vào đặc điểm của gói thầu và trình độchuyên môn cũng như tính chuyên nghiệp của nhóm nhân sự trực tiếp soạn thảo Các
bước soạn thảo HSMT và nội dung HSMT sẽ được đề cập chi tiết ở chương 4S
Để đảm bảo chất lượng của HSMT thì sau khi soạn thảo HSMT cần phải đươc
thẩm định Việc thẩm định do các cá nhân và tổ chức thực hiện theo quy định của tổchức sở hữu nguồn vốn dành cho gói thầu
3.2 Tổ chức lựa chọn nhà thầu
3.2.1 Thông báo mời thầu
Thông báo mời thầu có vai trò quan trọng đối với các nhà thầu khi bên mời thầu
áp dụng hình thức cạnh tranh rộng rãi hoặc chào hàng cạnh tranh vì trong thông báomới thường có những thông tin cơ bản liên quan đến gói thầu Dụa vào những thôngtin này các nhà thầu đưa ra quyết định có tham gia đấu thầu hay không
Để đảm bảo cho nhiều nhà thầu có thể tiếp cận được thông tin về gói thầu thì
bên mời thầu cần lựa chọn phương tiện và thời điểm đăng tải thông tin phù hợp
Phương tiện thông tin phải giúp các nhà thầu lưu giữ lại thông tin trong một thời gian
nhất định, vì vậy báo viết và trang thông tin điện tử được coi là những phương tiệnhữu hiệu hơn các phương tiện khác như truyền hình và truyền thanh
Trang 40Các thông tin trong thông báo mời thầu cần rõ ràng, chính xác và đầy đủ để cácnhà thầu có đủ căn cứ quyết định tham gia đấu thầu Những thông tin cơ bản về góithầu bao gồm: tên gói thầu, giá gói thầu, nguồn vốn, thông tin về chủ đầu tư và một sốthông tin khác liên quan đến thời gian, chi phí tham gia đấu thầu.
Đối với hình thức lựa chọn nhà thầu cạnh tranh hạn chế hoặc bên mời thầu đã
tiến hành sơ tuyển thì bên mời thầu gửi thông báo trực tiếp tới các nhà thầu có têntrong danh sách ngắn (những nhà thầu có đủ năng lực và mong muốn tham gia) hoặc
trong danh sách trúng sơ tuyển Mục đích của thông báo mời thầu trong hai trường hợp
này là chỉ để các nhà thầu nắm được thông tin về thời gian và các chi phí liên quan đếngói thầu chứ không còn là giúp các nhà thầu đưa ra quyết định có tham gia đấu thầuhay không
3.2.2 Phát hành HSMT
Việc phát hành HSMT được thực hiện sau khi bên mời thầu kết thúc thông báomời thầu Thời gian phát hành HSMT phải đủ dài để các nhà thầu nhận được HSMT
Có các quan điểm khác nhau về giá bán HSMT, một quan điểm cho rằng giá
bán HSMT nên thấp để các nhà thầu không phải cân nhắc nhiều khi mua HSMT vànếu không trúng thầu hoặc sau khi nghiên cứu HSMT mà nhà thầu quyết định không
tham gia đấu thầu thì khoản chi phí này không phải là một mất mát lớn Quan điểm
khác lại cho rằng cần bán HSMT với giá cao để các nhà thầu cân nhắc trước khi mua
và chỉ những nhà thầu nào muốn tham gia đấu thầu thực sự mới mua HSMT, như vậy
sẽ hạn chế được số lượng nhà thầu tham gia và sự lựa chọn nhà thầu sẽ tập trung hơn
Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh trong đấu thầu thì giá bán HSMT khôngđược là “rào cản” để hạn chế sự tham gia của các nhà thầu
3.2.3 Tiếp nhận HSDT
Thời gian chuẩn bị HSDT phụ thuộc vào mức độ phức tạp của gói thầu và hìnhthức lựa chọn nhà thầu Các gói thầu có yêu cầu kỹ thuật phức tạp hoặc đấu thầu cạnhtranh quốc tế thường có thời gian chuẩn bị HSDT dài hơn những gói thầu khác Thời
điểm cuối cùng mà nhà thầu được phép nộp HSDT gọi là thời điểm đóng thầu, để đảm
bảo nguyên tắc công bằng thì các HSDT nộp sau thời điểm này không được bên mờithầu chấp nhận
3.2.4 Mở thầu