1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người quê trong thơ nguyễn bính trước cách mạng tháng tám

67 1,6K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 793,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Đình Kỵ trong Tạp chí văn nghệ số 4 /1980 đã nhận xét: “Nguyễn Bính làm thơ nhiều, nhiều lắm… Nhưng với tài thơ bẩm sinh, với tâm hồn dễ rung động như của Nguyễn Bính, chắt lọc lại,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Chúng em xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo Trường Đại học Tây Bắc và quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã tạo điều kiện thuận lợi ủng hộ và giúp đỡ chúng em trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đề tài

Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chu đáo tận tình của cô giáo

- Thạc sĩ Lê Thị Xuân Liên trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu, hoàn thiện đề tài

Chúng em chân thành cảm ơn các cán bộ ở Trung tâm thông tin Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng em hoàn thành đề tài

Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn các bạn tập thể lớp K53 ĐHSP Ngữ Văn B cùng các bạn đã quan tâm động viên, khuyến khích chúng tôi trong khi làm đề tài này

Nhóm nghiên cứu đề tài Trần Thị Kim Anh Hoàng Thị Lan

Lù Thị Ngừng Lương Thanh Hằng

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 1 7

KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN BÍNH 7

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 7

1.1.1 Cuộc đời 7

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 8

1.2 Nội dung và phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Bính 9

1.2.1 Nội dung thơ Nguyễn Bính 9

1.2.2 Phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Bính 11

CHƯƠNG 2 19

CON NGƯỜI QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 19

2.1 Không gian sống của con người quê 19

2.2 Con người quê vừa “chân quê” lại vừa “hiện đại” 21

2.3 Con người quê đa dạng, phong phú về lứa tuổi 25

2.3.1 Hình ảnh người mẹ 27

2.3.2 Hình ảnh người chị 31

2.3.3 Hình ảnh cô thôn nữ 35

2.4 Con người quê trong cuộc sống sinh hoạt 40

2.4.1 Con người quê trong nếp sống sinh hoạt thường nhật 40

2.4.2 Con người quê trong những dịp lễ tết, hội hè 46

Trang 3

2.5 Đời sống tình cảm cá nhân của con người quê 51

2.5.1 Con người quê và nỗi niềm tha hương 51

2.5.2 Con người quê trong mối quan hệ tình yêu đôi lứa 54

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng tôi chọn đề tài: “Hình ảnh con người quê trong thơ Nguyễn Bính trước

Cách mạng tháng Tám” vì những lí do cơ bản sau đây:

1.1 Nguyễn Bính là một nhà thơ tài năng, có sự cống hiến to lớn cho nền thơ ca lãng mạn Việt Nam thời kì 1932 – 1945 Tiếng thơ của ông góp vào thi đàn Thơ mới một phong cách riêng, một cái hay, cái đẹp riêng, có sức hấp dẫn đối với người đọc Thơ Nguyễn Bính mang đậm chất chân quê, tình quê

Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã nhận xét về chất “quê mùa” ấy:

“Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta Nhưng - khôn hay dại - chúng ta ngày càng cố lìa xa nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi

là văn minh” [30; 347] Nguyễn Bính thì không thế Ông ở lại với ruộng đồng, với cánh diều bay, với giàn hoa lý, với bến cũ đò xưa và chắp bút nối cuộc đời ông với thơ, thơ với làng quê – nơi chôn nhau cắt rốn của những người con đất Việt như chúng ta đây Thơ Nguyễn Bính là những hình ảnh bình dị, thân thuộc với đồng quê “Và thơ Nguyễn Bính

đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” [30; 347] Với những vần thơ mang

đậm chất “chân quê” ấy, Nguyễn Bính đã làm hồi sinh trở lại “Thơ mới” trong giai đoạn

cuối cùng của nó Thơ ông góp một tiếng nói riêng vào cộng đồng chung của thơ ca lãng mạn đương thời Đây là một trong những lí do chúng tôi chọn thơ Nguyễn Bính để nghiên cứu chứ không phải thơ của một nhà thơ mới nào khác

1.2 Hình ảnh con người quê trong thơ Nguyễn Bính là con người của làng quê xưa Họ sinh ra và lớn lên gắn bó với ruộng đồng, bờ tre, gốc lúa Ở họ luôn toát lên vẻ đẹp khó tả Những con người làng quê ấy cứ tần tảo như cái cò, cái vạc trong ca dao Hơn thế, họ còn là những người giàu đức hi sinh và giỏi chịu đựng Tuy nhiên, vào cái thời ấy, con người quê của Nguyễn Bính cũng như con người quê ở bất cứ nơi đâu trên đất nước

Việt Nam đều “ra tỉnh” ít nhiều, vì thế ở họ cũng có ít nhiều thay đổi chịu ảnh hưởng của nếp sống thời đại Con người quê của Nguyễn Bính vừa “chân quê” lại vừa pha chút dáng dấp “thị thành” Cho nên, Hoài Thanh đã có lần chê trách nhà thơ: “Kể, một phần cũng lỗi

tại thi nhân Ai bảo người không nhà quê hẳn” Với chúng tôi hình ảnh con người quê trong thơ ông vì thế lại càng trở nên quyến rũ hơn

1.3 Hình ảnh con người quê trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Đọc thơ ông: “Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là những hoàn cảnh tự

Trang 5

nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [30;347-348] Bằng những hình ảnh, giọng điệu, chất thơ chân tình, thân thuộc, thơ Nguyễn Bính đã đánh thức tình quê, hồn quê của những đứa con xa xứ hoặc rời làng quê đến chốn thị thành xô bồ, ồn ã Nó gợi nhớ, gợi thương đến người thân ở những chốn quê xa

1.4 Nguyễn Bính là một trong những tác gia có cống hiến to lớn cho nền thơ ca Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 Song, thời lượng trên lớp chỉ đủ để giới thiệu khái lược và chưa được đề cập một cách sâu rộng về thơ Nguyễn Bính nên bạn đọc không hiểu hết về giá trị của thơ ông

Trên đây là những lí do cơ bản để chúng tôi chọn đề tài “Con người quê trong thơ

Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám” để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Bính là một trong những hiện tượng khá tiêu biểu và độc đáo trong phong trào Thơ mới Thơ Nguyễn Bính mang một phong cách giản dị, dân dã gần gũi với đời sống

của “con người quê” nên từ khi xuất hiện trên thi đàn Thơ ca lãng mạn 1932 - 1945 thơ ông

đã trở thành đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều bạn đọc và giới phê bình nghiên cứu

Đã có hàng chục công trình nghiên cứu có giá trị của các nhà văn, nhà lí luận phê bình văn học nổi tiếng như Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Quần Phương, Đỗ Đình Thọ, Lê Đình Kỵ, MãGiang Lân, Hoàng Việt, Đoàn Thị Đặng Hương, Đỗ Lai Thúy… về thơ Nguyễn Bính cũng như phong cách thơ của ông Trong các bài viết, các công trình nghiên cứu đó, đã có một số ý kiến bàn luận về hình ảnh con ngu trong thơ Nguyễn Bính

Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh - Hoài Chân đã đề cập đến nét độc

đáo trong thơ Nguyễn Bính: “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê đã ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [30;347] Với nhận xét ngắn gọn này Hoài Thanh, Hoài Chân đã trở thành người đầu tiên khám phá ra nét “chân quê” độc đáo của thơ Nguyễn Bính

Trong cuốn “Thơ và đời Nguyễn Bính” Tô Hoài cũng đã có nhận xét về phong

cách thơ Nguyễn Bính: “Khi nào anh cũng là người của xứ đồng, của cái diều bay, của dây thiên lí, của mưa thưa, mưa bụi giữa công ăn việc làm vất vả sương nắng Bởi đấy, là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính Quê hương là tất cả và cũng là nơi in dấu vết đời mình” [37;151-152]

Nhận xét, đánh giá về thơ Nguyễn Bính các tác giả Huỳnh Lý, Hoàng Dung,

Nguyễn Hoàng Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác trong cuốn Lịch sử văn học

Trang 6

Việt Nam tập 5 phần I xuất bản năm 1978 đã khẳng định: “Nguyễn Bính đã tìm đến điệu

thơ dân tộc và có được phần nào cái cái tình tứ duyên dáng mộc mạc của ca dao Trong lúc thơ mới đang đầy rẫy những cảm xúc phức tạp của cái tôi được nuôi dưỡng từ văn hóa

Âu Tây, thơ Nguyễn Bính được nhiều người ưa thích và khá phổ biến Mượn giọng ca dao, Nguyễn Bính trở lại hình ảnh những giàn bầu, hàng cau, vườn dâu, bến đò nỗi lòng ngậm ngùi của người con gái lỡ bước sang ngang, của cô lái đò, của cô hàng xóm… và đã đưa lại trong thơ mới ít nhiều khó khăn của quê hương xa xưa” [21;122]

Lê Đình Kỵ trong Tạp chí văn nghệ số 4 /1980 đã nhận xét: “Nguyễn Bính làm thơ

nhiều, nhiều lắm… Nhưng với tài thơ bẩm sinh, với tâm hồn dễ rung động như của Nguyễn Bính, chắt lọc lại, chỉ giữ một tỉ lệ rất nhỏ… Nguyễn Bính đến với người đọc

không phải như một thợ thơ mà bằng “Tâm hồn tôi”, một tâm hồn dễ rung động trước

những vui buồn quen thuộc xưa và nay, và giống như ca dao nó có sức lắng đọng và vấn

Trong cuốn “Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên” của nhà xuất bản giáo dục

năm 1998, tác giả Tô Hoài đưa ra ý kiến lý giải tại sao Nguyễn Bính lại trở thành nhà thơ của làng quê và những con người quê: “Những lịch lãm, những trải biết, con người tất bật giữa cuộc sống bon chen với những lăn lội từ tấm bé đã làm cho Nguyễn Bính thành con người như mọi người, con người của làng xóm cả đời trong lũy tre, nằm mơ có quyển sách ước gối đầu, mà những điều ước to tát nhất cũng chỉ là ba gian nứa lá, giàn đỗ ván, cái chuôm, tháng chạp chuôm cạn nước thì cấy cần (…) Sức mạnh sáng tạo của Nguyễn Bính cũng từ nơi đồng đất trắng trời trắng đất này” [1;17-18]

Tác giả Hà Minh Đức trong bài viết “Hình ảnh quê hương – cảnh vật con người

trong thơ Nguyễn Bính” in trong cuốn ThơNguyễn Bính và lời bình nhà xuất bản Văn hóa

thông tin 2003 đã có những so sánh với những nhà thơ cùng viết về đề tài làng quê như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ: “Thơ Nguyễn Bính không có nhiều những bức tranh quê cụ thể Anh Thơ, hoặc tỉ mỉ với cảnh, với người như Đoàn Anh Cừ nhưng lại khơi gợi nhiều thế giới nội tâm, ở tình đời, tình người… Đồng quê xứ Bắc gây nhiều cảm hứng cho nhiều nhà thơ Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên

Trang 7

chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê Anh Thơ không nhà quê một tí nào Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính…” [36;53]

Nguyễn Bính là nhà thơ “chân quê”, con người của tình quê, hồn quê Thơ ông đã

dựng lên những bức tranh quê về làng quê đầy đủ những nét đặc sắc Nhà phê bình Đoàn

Đức Phương trong bài viết “hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Bính” in trong cuốn

Nguyễn Bính tác phẩm và lời bình có viết: “Dù sao cái hồn quê, cái chân quê thấm sâu

nhất, hiện hình rõ nhất không phải ở cảnh quê, ở những nét văn hóa làng quê, mà ở những người quê Trong thơ Nguyễn Bính, thôn quê là cái gì đó bất biến trong không gian và thời gian, do đó ngay hình ảnh những người quê đương thời như cũng mang nét điển hình, tiêu biểu cho người quê ở mọi thời” [33;201]

Tác giả Chu Văn Sơn trong “Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn

Mặc Tử” (2003) đã nhận xét: “Nguyễn Bính là làn mưa xuân rắc mình lên chốn hương

thôn, là lá dâu xanh dập dờn bướm vàng cuối bãi Nguyễn Bính là chiếc lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn… Nguyễn Bính là nỗi đoái trông của mỗi vườn cam, mái gianh Nguyễn Bính là đôi mắt đau đáu trong thẳm sâu lòng người xa xứ Nguyễn Bính là tiếng trở mình của rặng tre trong lòng kẻ tha hương Nguyễn Bính còn là cái Tiếng Việt trong lòng đứa con xa đất mẹ… Ai đó nói, trong mỗi chúng ta đều có một người nhà quê”[26;126] Tác giả đã thâu tóm được toàn bộ những bước đi của Nguyễn Bính với những hình ảnh mang đầy tính nghệ thuật

Nhà phê bình nghiên cứu Đoàn Thị Đặng Hương trong cuốn Nguyễn Bính tác

phẩm và lời bình nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2013 đã có nhận xét: “Đọc những

trang thơ Nguyễn Bính, chúng ta nhìn rõ cái tâm hồn quê của nàng thơ của ông từ trong bản chất của tư duy thơ ông Nàng thơ của Nguyễn Bính không chỉ “quê nhà” ở dáng vẻ bên ngoài mà nàng làm chúng ta say bởi cái tình quê chân thật, bẽn lẽn, và trinh nguyên ở nàng Những bài thơ của Nguyễn Bính có một dáng hình riêng, mà đến những năm cuối của thế kỉ này nhìn nhận lại thì có thể nói rằng trên thi đàn của thế kỉ XX này chỉ mình Nguyễn Bính mới có được… Thơ ông có một đời sống riêng, một vị trí riêng trong một góc nhỏ sâu kín nhất của đời sống tâm linh Việt Nam” [33;255]

Có thể nhận thấy, trong hầu hết các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính đều khẳng định: “chân quê” là phong cách nghệ thuật riêng của nhà thơ Nguyễn Bính được đánh giá là nhà thơ “chân quê” nhất trong số các nhà thơ viết về đề tài thôn quê Trong số các bài

viết đó ít nhiều đề cập tới “con người quê” trong thơ Nguyễn Bính Tuy nhiên, đó mới chỉ là

Trang 8

những nhận xét, những đánh giá riêng lẻ, ngắn gọn khi nói về phong cách “chân quê” của nhà thơ mới này Trên thực tế, chưa có công trình nghiên cứu nào về“con người quê” trong

thơ Nguyễn Bính một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn Các ý kiến nói trên đã giúp chúng tôi có

một định hướng chuẩn mực khi triển khai nghiên cứu đề tài: “Con người quê trong thơ

Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám”

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là bảy tập thơ của nhà thơ Nguyễn Bính

Đề tài của chúng tôi không nghiên cứu về mọi phương diện của thơ Nguyễn Bính,

mà chỉ tập trung khảo cứu về những đặc trưng của“con người quê” trong thơ Nguyễn

Bính trước Cách mạng tháng Tám

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài“Con người quê trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám”,

chúng tôi tập trung vào một số vấn đề sau:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Bính

- Khảo cứu và tìm hiểu về “Con người quê trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng”

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát thống kê

Ở đề tài này, phương pháp khảo sát, thống kê được chúng tôi sử dụng để khảo sát thực trạng nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, thống kê những sáng tác thơ của Nguyễn Bính, những ý kiến đánh giá về thơ của ông Từ đó có cơ sở ban đầu nhằm định hướng và phát triển hướng nghiên cứu đề tài

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên

cứu con người quê trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trong quá trình nghiên cứu về con người quê trong thơ của Nguyễn Bính, chúng tôi có sự đối chiếu, so sánh giữa thơ của ông với thơ của các nhà thơ khác trong phong trào Thơ mới như Hàn Mặc Tử, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… để làm nổi bật lên nét đặc sắc, độc đáo, đặc trưng về những hình ảnh người quê trong thơ của Nguyễn Bính

Ngoài những phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu, phân tích, chúng tôi còn kết hợp với các phương pháp khác nhằm hoàn thiện đề tài nghiên cứu một cách tốt nhất

6 Những đóng góp của đề tài

Đề tài của chúng tôi góp thêm một tiếng nói khẳng định giá trị của thơ Nguyễn Bính cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam; để những ai yêu thơ Nguyễn Bính hiểu thêm về thơ và có cái nhìn toàn vẹn về vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm hai chương:

- Chương 1: Khát quát về tác giả Nguyễn Bính

- Chương 2: Con người quê trong thơ Nguyễn Bính

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN BÍNH

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp

1.1.1 Cuộc đời

Nguyễn Bính sinh ngày 13 tháng 2 năm 1918 tức mùng 3 Tết năm Mậu Ngọ tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đồ nho Ông thân sinh là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, tính tình hiền lành, chất phác,

trọng người tài hoa, nghĩa khí hơn vật chất tầm thường Ông từng nói rằng:

Nhà ta coi chữ hơn vàng Coi tài hơn cả giàu sang trên đời (Con nhà nho cũ)

Bà thân sinh là Bùi Thị Miện, con gái của một gia đình khá giả Ông bà sinh được ba người con đó là: Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính Bà qua đời khi Nguyễn Bính mới vừa được ba tháng tuổi Có lẽ do sớm thiếu vắng sự chăm sóc yêu thương của người mẹ nên Nguyễn Bính luôn khát khao tình mẹ Điều này ít nhiều chi phối đến tâm hồn thơ của Nguyễn Bính, lí giải vì sao ông viết nhiều về người mẹ với sự trân

trọng nâng niu:

Còn tôi sống sót là may

Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Mấy năm sau đó cha Nguyễn Bính cưới bà Phạm Thị Duyên làm kế mẫu và sinh được hai người con gái và hai người con trai Nguyễn Bính không được đến trường học

mà được cha kèm cặp và dạy chữ Nho Sau đó, ông và hai người anh được bà Giần - chị ruột của mẹ cùng cậu ruột Bùi Trình Khiêm đón về nuôi dạy, ăn học Nguyễn Bính biết làm thơ từ bé nên được cậu khen và chiều chuộng hơn

Năm 13 tuổi Nguyễn Bính đã giải nhất cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng

và nổi tiếng là thần đồng thơ của làng Thiện Vịnh Khi người anh cả Trúc Đường đỗ thành chung vào loại giỏi ở Hà Nội, dạy học ở một trường tư thục ở Hà Đông, bắt đầu viết văn và làm thơ Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống

Trang 11

Năm 1932 - 1933 Nguyễn Bính lên Đồng Hỷ (Thái Nguyên) dạy học Những năm đầu thập niên 1940- 1943, Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam Lúc này ông đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết, trong thời gian này ông gặp Đông Hồ, Kiên Giang và bắt

đầu sáng tác Khi các bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ đó về đây được đăng Nguyễn Bính được mệnh danh là “thi sĩ giang hồ”

Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, năm 1954, tập kết ra Bắc được bố trí phục vụ trong Hội Nhà Văn ở Hà Nội một thời gian

Năm 1956, ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa của nhóm Nhân văn – Giai

phẩm Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định và công tác ở Ty văn hóa thông tin Nam Định dưới sự kèm cặp của nhà văn Chu Tấn và quan chức địa phương Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hóa sơ tán vào huyện Lý Nhân

Ngày 20 tháng 1 năm 1966 Nguyễn Bính mất đột ngột trong lúc đang dạo chơi trong khu vườn của một người bạn ở phủ Lý Nhân Lúc này Nguyễn Bính mới được 48 tuổi, ông ra đi để lại sự nghiệp dang dở cùng với sự thương tiếc của bạn đọc

Năm 2000, Nguyễn Bính đã được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

Có thể thấy: Cuộc đời Nguyễn Bính chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn về mặt tình cảm săn sóc yêu thương của người mẹ, nhưng lại bù đắp nhiều về học vấn, chữ nghĩa, văn chương Chính những điều ấy đã tạo tiền đề thuận lợi cho từng bước vào nghề văn và trở thành một nhà thơ nổi tiếng sau này

Trước cách mạng ông là một nhà thơ lãng mạn thoát ly nổi tiếng vào giai đoạn cuối

cùng của phong trào Thơ mới với phong cách chân quê Ông đã sáng tác được:

+ 7 tập thơ: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một

nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây tần (1942)

+ 2 kịch thơ: Bóng giai nhân (1942), Nguyễn Trãi (1943)

+ 2 truyện thơ: Cây đàn tỳ bà (1944), Cô gái Ba Tư (1940)

+ 3 truyện : Ngậm miệng (1940), Thạch sương bồ, Không đất cắm dùi (1944)

Trang 12

Sau cách mạng sáng tác của ông phong phú hơn về mặt thể loại, song thành tựu xuất sắc nhất được độc giả yêu mến, ưa chuộng nhất là thi ca Bởi lẽ thơ là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông Ngọn gió cách mạng đã làm thay đổi khuynh hướng thẩm mĩ và bút pháp trong thơ ông.Từ một nhà thơ lãng mạn thoát ly ông trở thành nhà thơ hiện thực Xã hội chủ nghĩa

Các sáng tác gồm:

+ Thơ: Sóng biển cỏ, Ông lão mài gươm (1947), Mừng Đảng ra đời (1953), Trả ta

về (1955), Đồng Tháp Mười (1955), Giếng nước thơi (1957), Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962)

+ Truyện thơ: Trông bóng cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân (1858)

+ Kịch bản chèo: Cô Son (1961), Người lái đò sông Vị (1964)

+ Truyện: Sáng máu (1947)

+ Lí luận sáng tác: Cách làm thơ lục bát (1955)

Nhìn chung, cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp sáng tác của ông rất phong phú và đa dạng Mỗi chặng đường sáng tác của ông có những nét riêng, nhưng tài năng và tâm huyết của ông đều dồn vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám Thơ Nguyễn Bính "chân quê", giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như

ca dao trữ tình Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi Giáo sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: "Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu " Với lối viết giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng tư trong nền văn học Việt Nam

1.2 Nội dung và phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

1.2.1 Nội dung thơ Nguyễn Bính

Ở vào thời điểm của 60 năm trước đây có rất ít những nhà thơ có sự tiếp nối truyền thống văn học dân gian một cách nhuần nhụy, sống động như Nguyễn Bính Có thể nói ông là một hiện tượng đặc biệt và độc đáo trên thi đàn nước ta giai đoạn 1930-1945 Thơ ông mang một giai điệu riêng không thể nào pha trộn trong làng thơ ca thuở ấy Thơ ông mới mẻ, đầy sức lôi cuốn song lại thuần khiết đến độ tinh khiết, khồng hề biết đến sự lai tạp Và có lẽ, ông cũng là thi nhân đứng đầu về sự phổ cập thơ sâu rộng được quần chúng mến mộ đón chào với tất cả sự yêu thương, nồng nhiệt, chân tình và đằm thắm của giai đoạn này

Trang 13

Sinh thời, Nguyễn Bính là người có thiên phú về thơ Những bài thơ thuộc loại đầu

tay như Mưa xuân, Cô hái mơ, Lỡ bước sang ngang của ông đã được dư luận hết sức chú ý Khi tập thơ Tâm hồn tôi được nhóm Tự lực văn đoàn trao giải năm 1937 (lúc ông

19 tuổi), tên tuổi của ông bắt đầu toả sáng bên cạnh một vài cây bút đặc sắc khác của phong trào Thơ mới: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận Có điều, cây bút ấy đi theo một lối riêng, cần cù, nhẫn nại cầy xới và tiếp nối dòng thơ truyền thống Ông là một trong số không nhiều các nhà thơ lầm lũi ngược dòng trở về nguồn cội, đôn hậu, hồn nhiên đến mộc mạc, thuỷ chung và là điển hình nhất của chất quê thuần phác, lắng đọng và tinh kết lại, toả sáng nơi đầu ngọn bút

Nguyễn Bính viết về nông thôn, tạo dựng một bộ mặt nông thôn tương đối toàn diện trong thơ, khiến thơ ông gần như là cuốn bách khoa toàn thư, đồng thời hướng tới lượng độc giả đông đảo tuyệt đối của dân tộc Đó là mảnh đất màu mỡ bậc nhất của văn chương Việt Nam thuở ấy và vẫn còn tiếp tục là mảnh đất màu mỡ bậc nhất của văn chương hôm nay

Thơ ông không chỉ bộc lộ cái tôi thân phận, số phận nhỏ bé, mỏng manh đơn chiếc của một con người, một cá thể, mà luôn vươn tới một sự khái quát cao, rất cao về một tầng lớp, một thế hệ, một giai cấp, đặt chúng vận động trong mối quan hệ đa chiều, khăng

khít, liên thông của dòng chảy cuộc đời Cái gì khiến bài thơ Lỡ bước sang ngang đạt tới

sự phổ cập sâu rộng trong làng dân tộc ở những năm 1930-1940? Phải chăng tiếng thét xé lòng của người chị - người con gái bạc mệnh, một lần lên xe hoa trong bài thơ ấy cũng chính là cái nét điển hình nhất, khái quát nhất cho cái bi kịch, đại bi kịch của những người con gái nông thôn bị ép buộc, bị gả bán, bị phong tục và lễ giáo tước đoạt mất hạnh phúc,

và nhân phẩm, quyền sống quyền làm người?

Trước Cách mạng tình yêu là một đề tài đậm nét nhất trong thơ Nguyễn Bính Có nhà nghiên cứu đã nói rằng: Toàn bộ bảy tập thơ ông viết đều có thể thu gọn trong một chữ yêu Con người thơ đa tài và đa tình ấy, luôn mang trong trái tim mình một tình yêu

cháy bỏng Vì thế, có người đã nhận xét "thơ Nguyễn Bính đầy những tương tư" Đề tài

vĩnh cửu có tầm nhân loại này, chiếm một khối lượng áp đảo trong thơ ông, làm nên vẻ đẹp lung linh riêng, đằm thắm, đắm đuối, nồng nàn, là phần đóng góp quan trọng bậc nhất của ông với làng thơ

Thơ ông là sự đan quyện, hoà hợp một cách tài hoa của hai yếu tố siêu và thực

Trong bài Chân quê, anh chàng tình nhân, sau khi đã ra đến "mãi con đê đầu làng" để đón

người yêu đi tỉnh trở về, đã thực sự khổ sở, day dứt trước cái ma lực thị thành đang từng

Trang 14

bước làm biến đổi cô gái quê, chí ít là ở ngoại hình:

Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi (Chân quê)

Xót xa đến bàng hoàng, đến ngỡ ngàng, chàng trai chỉ còn biết hạ mình, đau đớn:

Nói ra sợ mất lòng em Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa

(Chân quê)

Tương tự, cũng tâm thái ấy, trong bài Đêm cuối cùng, anh con trai si tình nọ lại thảng thốt khi thấy người yêu mình xem diễn Nhị Độ Mai một cách quá hồn nhiên vô tư giữa các chàng trai lạ, đến nỗi không kìm nén được, chàng trai đành trách: Sao em lại

đứng với người đi xem ? Trách đấy, mà cũng là yêu quá đấy thôi, là ghen quá đấy thôi!

Khi tác giả kết thúc bài thơ Chân quê bằng hai câu thơ :

Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

"Thực chất đã vươn tới cái siêu, đã khái quát lên thành một nhận xét có tính quy

luật Sự không cưỡng lại được của nông thôn trước sức tấn công và cám dỗ của nền văn minh công nghiệp thành thị Mọi vẻ dường như bình yên, tĩnh lặng, êm đềm nơi thôn dã đang từng giờ từng phút tích tụ trong lòng nó những mâu thuẫn nội tại Nhất định cái thời

điểm bùng nổ để biến đổi ấy sẽ đến" [29; Nguyễn Bính cây đàn độc huyền trong dàn thi

ca 1930-1945 – Trần Đăng Thao, google]

Trước Nguyễn Bính chừng 30 năm, thi hào Tú Xương cũng đã từng chứng kiến cảnh đời dâu bể như thế, cũng đành thở dài bất lực như thế Dẫu không là người cùng thời song trên bình diện cảm hứng tâm trạng, thơ của hai ông có phần giống nhau Điều khác nhau căn bản là ở chỗ: Tú Xương là nhà thơ thành thị, còn Nguyễn Bính là thi sĩ của chân quê

1.2.2 Phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính mang đến cho người đọc sự nhẹ nhàng, mộc mạc, hồn nhiên Đọc thơ Nguyễn Bính ta như được thâm nhập vào hồn quê chân chất mộc mạc ấy và thơ Nguyễn Bính sẽ còn mãi với thời gian Ông đã rất thành công khi đã có những khám phá nghệ thuật hết sức độc đáo, sử dụng nhuần nhuyễn ca dao, dân ca Tình quê, hồn quê vào thơ Nguyễn Bính một cách tự nhiên, không trau chuốt, không dàn dựng mà nguyên sơ, mộc mạc nhưng lại vô cùng sâu sắc

Trang 15

Nghệ thuật thơ Nguyễn Bính nổi bật với phong cách“chân quê”từ không gian,

thời gian nghệ thuật, cách sử dụng ngôn từ, thể thơ cũng như thi tứ trong các sáng tác của ông Nguyễn Bính đã tạo cho mình lối đi nghệ thuật riêng, cày xới và ươm trồng cho mình một vườn thơ mang đậm chất “nhà quê” hiện đại đặc sắc từ đó khẳng định được phong cách thơ độc đáo của riêng mình

1.2.2.1 Không gian nghệ thuật làng quê cổ truyền

Không gian trong thơ Nguyễn Bính chính là không gian làng quê ở đồng bằng Bắc

Bộ Không gian ấy được gói gọn trong những ruộng dâu, ao bèo, cây đa, giếng nước, sân đình… Tất cả được ông cụ thể hóa trong từng chi tiết

Lợn không nuôi đặc ao bèo Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn Giếng thơi mưa ngập nước tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều

(Qua nhà)

Không gian trong thơ Nguyễn Bính mang màu sắc lãng mạn, đó là không gian tâm

tưởng vừa mộng, vừa thực, vừa ảo lại mang tính ước lệ dân gian quen thuộc: “mưa thưa,

mưa bụi”của mùa xuân, “hương sen” của mùa hạ, “giời cao gió cả trăng như ban ngày”

của mùa thu

Không gian mùa xuân đã trở thành không gian nghệ thuật mang tính ước lệ chất chứa bao nhiêu cảm xúc Nói đến cảnh xuân quê nhà, Nguyễn Bính thường nói đến đường làng, đồng lúa, con đê, hoa bưởi, hoa xoan, hoa cam… Những hình ảnh ấy rất chân thực, rất thường nhưng rất có hồn ấy lại là cái chỗ để Nguyễn Bính khác người và hơn người

“Lúc này, không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phản ánh cuộc sống khổ của những con người lao động, những số phận kém may mắn” [16; http:/yume.vn]

Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng (Hoa và rượu)

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày

(Mưa xuân)

Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính có thể thấy mưa xuân là cái hồn vía

Trang 16

“Trong thi pháp, không gian nghệ thuật hết sức quan trọng, là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại, các ngôn ngữ đặc trưng mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học” [16;http:/yume.vn/] Và nó trở thành phương thức để nhà thơ chuyển tải những thông điệp, tư tưởng, tình cảm của mình

Trước cách mạng không gian nghệ thuật thơ Nguyễn Bính mang tính chất ước lệ tượng trưng: hình ảnh thôn Đoài, hàng cau, giàn trầu… được thi vị hóa trở thành những biểu tượng của làng quê Việt Nam Còn sau cách mạng, không gian hiện thực được hiện lên Đó là hình ảnh quê hương trong thời đại mới, hướng tới không gian của đời sống rộng lớn mang những cảm xúc âm hưởng sử thi Không gian hiện thực gắn liền với tâm trạng con người trong thời đại mới:

Quê tôi đó, bạn ơi, là thế đó

Mà nghìn năm rặt những tiếng kêu thương Sung sướng làm sao, bỗng một ngày: có Đảng (Bài thơ quê hương)

1.2.2.2 Thời gian nghệ thuật mang màu sắc dân dã

Trần Đình Sử đã có những lí giải, nhận xét về thời gian nghệ thuật: “Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được cảm nhận bằng tâm lí, qua chuỗi liên tục các biến đổi có ý nghĩa thẩm mỹ xảy ra trong thế giới nghệ thuật…” [28;63]

Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính mang đậm sắc thái dân gian Đó là thời gian của tâm tưởng, thơ ông rất hay dung các từ: thuở ấy, thuở trước, năm xưa, ngày xưa, cái ngày, một buổi… để nói về thời gian Chúng luôn làm trạng ngữ tạo hoàn cảnh Thời gian nghệ thuật là một thứ trộn lẫn xưa và nay Nơi thôn xóm dân dã, tâm hồn con người không chịu ràng buộc bởi những tính toán chi li về thời gian:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay (Mưa xuân)

Cái ngày cô chửa có chồng

(Qua nhà)

Có những lúc thời gian nghệ thuật trong thơ ông lại mang tính chính xác cao, thời gian làm thay đổi chính các sự vật:

Nàng hãy vui đi dẫu một ngày

Dẫu phần ba phút, góc tư giây

Trang 17

Và: Một buổi sớm mai đến Sài Gòn

Thân em chẳng khác con chim con

Hay: Sáng nay sau một cơn mưa lớn

Hà Nội bừng lên những nắng vàng

Sau khi đi theo cách mạng, ý thức cái tôi cá nhân thay đổi chuyển sang ý thức cái tôi công dân ngòi bút của ông mang đậm tính hiện thực.Và thời gian được cảm nhận một cách thật chính xác:

Kể mùa đã hết mùa xuân

Kể năm đã hết một phần tư năm

1.2.2.3 Thể thơ truyền thống

Nói đến chất nghệ thuật dân gian trong thơ Nguyễn Bính chúng ta không thể không nói đến thể thơ lục bát – thể loại điển hình nhất của ca dao dân ca Thơ lục bát đã có truyền thống lâu đời với sự tuần hoàn đều đặn của hai câu sáu tám, với vần chân và vần lưng bao giờ cũng hiệp vần theo thanh bằng, rất thích hợp với giọng kể lể, lời tâm sự Nguyễn Bính đã phát huy kế thừa thể loại lục bát với phong cách thơ mộc mạc đã mang đến vẻ đẹp hồn nhiên tươi thắm cho chất trữ tình đồng quê trong thơ Nguyễn Bính Trong những sáng tác trước cách mạng thì thể lục bát chiếm số lượng lớn gần một nửa trong số những sáng tác của ông Khi lựa chọn thể thơ lục bát Nguyễn Bính đã phát huy cao độ đặc trưng của thể thơ này (uyển chuyển, nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu kết hợp với phong cách thơ mộc mạc, dịu dàng trong thơ ông để tạo nên những vần thơ hết sức riêng, độc đáo Ông thường dùng kiểu ngắt nhịp truyền thống (nhịp chẵn) mang âm hưởng buồn, tha thiết, hài hòa như ca dao truyền thống:

Em ơi / em ở / lại nhà

Vườn dâu em đốn / mẹ già em thương

(Lỡ bước sang ngang)

Cũng là thôi / cũng là đành

Sang sông lỡ bước /riêng mình chị sao

(Lỡ bước sang ngang)

Đó là nhịp 2/2/2 - 4/4 - 3/3 thường thấy của ca dao

Nhưng cũng có những bài thơ phá cách về quy luật thanh điệu tạo tiết tấu mới

Hôm nay / dưới bến / xuôi đò

Trang 18

Thương nhau / qua cửa tò vò / nhìn nhau

Anh đi đấy / anh về đâu?

(Không đề)

Thơ lục bát của Nguyễn Bính rất tự nhiên, mượt mà không gò ép Dường như nó

đã thấm nhuyễn vào hồn thơ Nguyễn Bính Theo thi sĩ Mộng Tuyết thì Nguyễn Bính làm thơ lục bát rất dễ dàng: “Bính viết lục bát nhanh như văn xuôi” [34; 52] Đọc thơ Nguyễn Bính ta như được thưởng thức những khúc nhạc êm dịu của ca dao

Tình tôi là giọt thủy ngân

Dù nghiền chẳng nát dù lăn vẫn tròn

Tình cô là đóa hoa đơn Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn

(Tình tôi)

Những bài thơ lục bát của ông của thường có một thi pháp hết sức độc đáo

“Nguyễn Bính đã kế thừa và vận dụng những sự thay đổi trong giới hạn mà luật thơ cho phép Có thể nói ông là một trong những nhà cách tân lớn của thể thơ cả nội dung lẫn hình thức; kết hợp chặt chẽ với thi pháp dân gian trong ông mở rộng sức thể hiện của nó Với ông, thể thơ dân tộc đã phát triển tới đỉnh cao của nó trong thi đàn hiện đại” [33;264]:

Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm

Bên cạnh thể thơ mang dấu ấn dân tộc còn yếu tố khiến thơ Nguyễn Bính mang đậm màu sắc cốt cách người Việt đó chính là cách lựa chọn ngôn ngữ

Trang 19

1.2.2.4 Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị theo lối dân gian

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính là ngôn ngữ trong sáng, giản dị, rất giàu màu sắc hình ảnh, không cầu kì khuôn sáo mà gần gũi, chân thành Nhà thơ đã biểu hiện thế giới tình cảm thông qua những sự vật cụ thể gần gũi và thân quen:

Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn

Có đàn trâu trắng lội qua sông

Có cô thơ nhuộm về ăn tết

Sương gió đường xa rám má hồng

(Không đề)

Ngôn ngữ thơ ông còn giàu nhạc điệu, chất chứa tâm trạng:

Đây tình duyên của đôi ta

Đến đây là…đến đây…là thế thôi

Nguyễn Bính còn làm tăng sức biểu hiện của thơ bằng việc sử dụng thành thạo các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ… Trong thơ Nguyễn Bính khi nói về tình yêu ông

hay sử dụng hình ảnh sóng đôi, như “hoa-bướm”; “cau-trầu”; “bến-đò” Ông đã tạo ra

những hình ảnh so sánh ví von hết sức chân thực tạo nên những hình ảnh thơ sống động Ngôn từ trong thơ nguyễn Bính diễn tả đơn vị theo thời gian lối nói của người dân

quê: tầm tầm (Tầm tầm trời xứ đổ mưa); năm tao bảy tuyết(Năm tao bảy tuyết anh hò

hẹn); eo óc (Thôn gà eo óc ngoài xa)…

Nguyễn Bính còn sử dụng rất nhuần nhuyễn các thành ngữ dân gian: chín nhớ

mười mong, một nắng hai sương, cách trở đò ngang… Ngoài ra, ông còn rất tài tình trong

việc sử dụng số đếm trong thơ:

Nhà em cách bốn quả đồi

Cách ba quả núi, cách đôi cánh rừng

(Xa cách)

Các đại từ “tôi”; “ta”; “anh”; “em”; „mình”… tạo ra vùng mở của ngữ nghĩa rất

tự nhiên, đậm chất quê khó xac định đối tượng là ai

Có thể thấy, ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính rất gần với thơ ca dân gian, gần với lối

cảm, lối nghĩ của “con người dân quê” Kể cả ở những sáng tác sau cách mạng vẫn mang

Trang 20

màu sắc dân gian mộc mạc, giản dị, lời nói hàng ngày rất dân gian mà không quê kệch Các biện pháp tu từ không còn mang tính chất ước lệ khuôn sáo mà gắn bó với đời sống:

Sông đỏ phù sa, nước lớn rồi Nhà bè khói bếp lững lờ trôi (Chiều thu)

Trong thơ Nguyễn Bính luôn mang sắc thái dân gian Cái mạnh của Nguyễn Bính trong thơ là trong âm điệu

1.2.2.5 Về cách sử dụng thi liệu, thi tứ

Nguyễn Bính là người chân quê chính vì vậy mà ông thổi vào các sự vật cái hồn quê của mình Thi liệu trước cách mạng trong thơ ông mang sắc thái dân gian gần gũi với thôn quê, đó là vào mùa xuân gợi sự nhớ nhung, nỗi niềm của người con gái, chờ đợi tình yêu:

Xuân đã đem nhớ mong trở về Lòng cô lái ở bến sông kia

Cô hồi tưởng lại ba xuân trước Trên bến cùng ai đã nặng thề

Giọng thơ tự sự mang đậm chất cái tôi “trữ tình” trong Thơ mới Nhưng nếu như

hồn thơ Thế Lữ thật mở rộng với Cây đàn muôn điệu, mãnh liệt rắn rỏi với Nhớ rừng… Đặc biệt Xuân Diệu đã mang tới một nguồn sống dạt dào để “yêu”, nồng nàn với cuộc sống với những tác phẩm mang đậm dấu ấn cái tôi của “nhà thơ mới nhất trong những

nhà thơ mới”… Còn Nguyễn Bính cái tôi trữ tình độc đáo ấy lại là sự “quê mùa” Những

ai đã từng nghe thơ Nguyễn Bính không thể không rung động khi nghe những khúc nhạc tâm hồn của “người quê” Giọng thơ cất lên, người ta thấy ngay cái hồn của làng mạc, vườn tược, ruộng đồng …

Sau cách mạng, thơ ông chuyển sang bút pháp tái hiện những sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến dân tộc vào trong sáng tác của mình

Trang 21

Khi có giặc những tre làng khắp nước

Đều xả thân làm ngọn mác mũi chông

(Bài thơ quê hương)

Như vậy, bút pháp lãng mạn trữ tình trong thơ mới chuyển sang bút pháp tự sự trữ tình sau cách mạng và cũng đạt được một số thành công nhất định

Nguyễn Bính nhà thơ của hồn quê, chân quê Trong thơ Nguyễn Bính sử dụng thông thạo điêu luyện thể thơ lục bát thông qua một số hình ảnh quen thuộc gợi lên tình cảm quê hương, cách ví von so sánh gần với dân ca, cảm xúc trữ tình nhuần nhuyễn trong nghệ thuật Thơ ông mang màu sắc riêng và ở đâu ông cũng làm dấy lên được cái hồn quê Hồn quê là sự hòa điệu của nhiều yếu tố nội dung và hình thức nhưng nổi bật là điệu quê, lối nói quê và lời quê

Tiểu kết

Trong các nhà Thơ mới, Nguyễn Bính đã đem hồn thơ của mình mà giao hoà cùng hồn quê và hồn dân tộc Thơ ông có sự tích hợp và phát huy độc đáo những truyền thống thơ ca, văn hoá dân gian với tiếng thơ hiện đại, đã tạo ra một phong cách thơ không trùng

lă ̣p với ai t ạo nên một sức sống mới mang đậm chất “chân quê” với hồn quê mộc mạc,

bình dị Nguyễn Bính đã cống hiếncho thi ca Việt Nam những trang thơ đầy tâm huyết, rất chân thành, giản dị, lắng đọng, sâu xa.Thơ ông có một giọng riêng không lẫn vào vào với các nhà thơ khác, luôn đổi mới, muôn màu muôn vẻ với kiểu kết hợp hòa âm kì diệu của thể lục bát đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật Ông viết về đề tài thôn quê với cảnh thiên nhiên, con người quê với kết tinh nghệ thuật đặc sắc được tạo nên bởi không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu… thể hiện rõ phong cách giản dị chân quê của thi sĩ Cả bảy tập thơ vẫn chung một mạch thơ rất gần với ca dao, dân ca, gần với những sinh hoạt văn

hóa dân gian, gần với cảnh quê, cách nói, cách cảm, cách nghĩ của những “con người

quê” chất phác nơi thôn xóm bình dị ở vùng quê Bắc Bộ Chính vì vậy, thơ ông dễ đi vào

lòng người

Tài năng của nhà thơ Nguyễn Bính đã được ghi nhận, tôn vinh bằng những đánh giá đầy trân trọng của bạn thơ, các nhà phê bình văn học và chính xác hơn hết là lòng yêu mến của bạn đọc nhiều thế hệ Trải qua thời gian với biết bao thay đổi, những vần thơ của ông vẫn được nhắc đến bởi nó bồi đắp cho mỗi chúng ta lòng yêu thương, gợi nhắc chúng

ta không quên quê hương, nguồn cội

Trang 22

CHƯƠNG 2 CON NGƯỜI QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

Con người quê là những người sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn họ là những người nông dân sống cuộc đời bình dị - gắn bó với công việc làm ăn vất vả,lao động cần mẫn Họ mang những nét cảm nét nghĩ rất đời thường, văn hóa tư tưởng theo lối bình dân.Nhịp sống của họ diễn ra bình lặng, không ồn ào, không vội vã, không bon chen như chốn thị thành

Con người quê còn có thể là những người sinh ra ở làng quê nhưng rời làng ra tỉnh, đến những vùng đất khác Nhưng ở họ vẫn giữ nét đẹp trong lối sống, văn hóa truyền thống của người dân quê

2.1 Không gian sống của con người quê

Con người quê trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu sống ở làng quê, trong một không gian êm đềm thơ mộng Một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, gắn với công việc quen thuộc nơi thôn dã

Trong thơ Nguyễn Bính, không gian làng quê rất đẹp, rất thơ mộng và trữ tình Nó không chỉ mộc mạc chân chất như trong ca dao mà còn ít nhiều được chau chuốt mang sắc màu thi vị Ở nơi đó cảnh sắc thiên nhiên đẹp như trong thế giới cổ tích nhưng rất đỗi thân thuộc, con người hòa đồng với thiên nhiên mang dáng nét một thế giới của cuộc sống

(Anh về thôn cũ)

Những hình ảnh trong bài thơ không phải là hình ảnh nhà thơ tự tô vẽ hay tưởng tượng ra mà là hình ảnh thực của thôn Vân – quê ngoại nhà thơ - một mảnh đất sum suê cây trái và đủ các loại hoa: “Hoa lan, hoa huệ, hoa cúc, hoa từ tiên, hoa hồng quế… mặt nước ao ngòi luôn có những hoa sen, hoa súng, hoa ấu và hoa chanh… Những vùng bờ ao

um tùm những những cây dâu quả thắm chen những gốc cam, ổi, táo, chay, nhãn, vải, dừa cũng không thiếu Trước cửa nhà thấp thoáng những giàn đỗ biển, giàn nho, giàn thiên lí

Trang 23

riêng biệt” [37;279] Tuy nhiên, trong cái vẻ đẹp thơ mộng của thôn Vân ấy, bạn đọc cũng

dễ dàng nhận ra cái nhìn riêng đầy thi vị và chất chứa tình quê của nhà thơ

Trong thơ Nguyễn Bính, không hề có hình ảnh làng quê lam lũ với những con

người vất vả một nắng hai sương mà là hình ảnh một làng quê thanh bình êm ả nên thơ,

đẹp như một bức tranh lụa:

Xứ mình lắm bướm nhiều hoa

Bờ tơ là lộc tay ngà vin xanh Mưa nhè nhẹ nắng thanh thanh Nên thơ! Ôi cả xứ mình nên thơ

Trên nền cảnh bức tranh thiên nhiên làng quê ít nhiều đã được thi vị hóa ấy, Nguyễn Bính khắc họa hình ảnh con người quê gắn bó hòa hợp với không gian thiên nhiên cảnh sắc mộc mạc nơi thôn dã Một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, gắn bó với ruộng đồng, với mảnh vườn, với ao bèo, với rau cần, rau muống, với mái nhà gianh, với công việc đồng áng, dệt vải chăn tằm…

Nhà em có một giàn giầu Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

(Tương tư) Nhà tôi có một vườn dâu

Có dàn đỗ ván, có ao rau cần

(Nhà tôi) Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn

(Người hàng xóm)

Ở nơi ấy, người và cảnh vật như hòa chặt vào nhau khó tách bạch, đầy ắp tâm trạng của con người:

Trang 24

Lợn không nuôi đặc ao bèo Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn Giếng thơi mưa ngập nước tràn

Ba gian đầy cá ba gian nắng chiều

(Qua nhà) Một thửa vườn hoang bên cạnh ao Xương rồng cỏ bãi lẫn rau sam Vườn này ngày nhỏ anh còn nhớ

Đã nhảy qua vườn bẻ trộm cam

(Vườn xưa)

Có thể thấy rằng cuộc sống của người dân quê trong thơ Nguyễn Bính ít nhiều bị thi vị hóa nhưng vẫn giữ được những nét thân thuộc gần gũi của cuộc sống con người ở chốn ruộng đồng ta xưa Ta hiểu đó chính là cuộc sống trong hoài niệm và trong khát vọng của nhà thơ Trở về với kí ức và hoài niệm có thể xem như đó là một cách để nhà thơ thoát li thực tại

2.2 Con người quê vừa “chân quê” lại vừa “hiện đại”

Vào cái thời Nguyễn Bính làm thơ, xã hội Việt Nam đang dần đô thị hóa Những sinh hoạt đô thị làm nảy sinh nhiều vấn đề Lúc này, làng quê không còn được bao bọc trong sương mai mà nó chan chứa cái thi vị của đời sống thành thị - tức đời sống hiện đại

Vì thế, con người quê trong thơ Nguyễn Bính ít nhiều chịu ảnh hưởng của phong trào Âu hóa đang thịnh hành khắp nước ta lúc bấy giờ làm thay đổi cách ăn mặc phục sức đến lối cảm, lối nghĩ và cách sống của con người nơi thôn dã Ngay cả chính nhà thơ cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc sống văn minh chốn thị thành ấy

Nguyễn Bính tuy không sinh ra trong một gia đình nông dân làm ruộng nhưng sống chủ yếu ở nông thôn nên ông cũng là một “thôn dân”, một người nhà quê, kẻ quê theo cái nghĩa đối lập với thị dân, kẻ chợ Nhưng Nguyễn Bính cũng ra tỉnh nhiều lần như những người dân quê lúc bấy giờ, hơn nữa ông còn có những khoảng thời gian vui với cái thú giang hồ ở chốn thị thành Cuộc sống thị dân hiện đại vốn lạ lẫm ấy đã tác động đến tâm hồn và cả nếp sống, nếp cảm của nhà thơ Ông ít nhiều bị lai căng không còn mang bản chất “chân quê” chính gốc nữa Tuy nhiên, Nguyễn Bính “chỉ là kẻ quá giang, người lái đò qua lại giữa hai bến bờ nông thôn và thành thị, Đông và Tây trên khúc sông của buổi giao thời” [33; 210] Chính vì thế, thơ ông là những “con sóng vỗ về cả hai

Trang 25

phía vừa mang màu sắc chân quê vừa hiện đại” Và hình ảnh con người quê hiện ra trong thơ Nguyễn Bính cũng vừa quen thuộc như người quê trong ca dao, vừa mới mẻ mang bóng dáng thành thị lúc bấy giờ

Những con người quê ấy vẫn mang những dáng nét chân quê cổ truyền từ cách ăn mặc đến lối cảm, lối nghĩ

Họ chủ yếu vẫn ăn mặc theo lối cổ truyền với áo tứ thân, quần nái đen, yếm lụa sồi, khăn mỏ quạ, dây lưng đũi, áo nâu… mà đây đó trong thơ Nguyễn Bính đã ghi nhận:

Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa (Xuân về)

“Yếm đỏ”, “khăn thâm” đây là những trang phục rất điển hình của những cô gái thôn quê trong những dịp lễ hội Còn đây lại là những trang phục của cô gái khi đi lấy chồng được cha mẹ sắm cho nào là “quần lĩnh tía”; “áo đồng lầm”, nào “gương, lược, hoa tai”

Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía Này gương, này lược, này hoa tai

(Lòng mẹ)

Song cũng có khi người quê trong thơ Nguyễn Bính ăn theo lối tân thời của thị

thành và sự thực ấy được nhà thơ ghi lại trong bài Chân quê:

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi

Tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng: Con người quê trong thơ Nguyễn Bính mặc dù

có thay đổi về lối ăn mặc, phục sức theo lối tỉnh thành nhưng căn bản vẫn giữ nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người chân quê Họ đo đếm thời gian theo mùa, cảm nhận thời gian theo bóng nắng, ánh trăng, tiếng gà gáy, hoặc theo nếp sinh hoạt có tính qui luật

rất gần với con người quê trong ca dao

Người xưa trong ca dao thường đo đếm thời gian theo qui luật bốn mùa hoặc cảm nhận thời gian theo bóng nắng, ánh trăng, tiếng gà gáy…

Bốn mùa xuân hạ thu đông Thiếp ngồi dệt vải những trông ngóng chàng (Ca dao)

Trang 26

“Đó là cách cảm nhận thời gian theo cách của người bình dân, thể hiện thời gian quay tròn, tuần hoàn với nhịp điệu chậm rãi, một miền thời gian ít biến động, cho nên họ không việc gì phải vội vàng [11;16]

Người quê trong thơ Nguyễn Bính cũng có nếp đo đếm thời gian rất gần với người xưa

trong ca dao, chỉ có điều họ đo thời gian bằng lứa tằm, lứa dâu, lứa cần hoặc mùa lễ hội…

Hoa đỗ ván nởmùa xuân Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm (Nhà tôi)

Trong bài Mưa xuân của Nguyễn Bính, người mẹ thôn quê đã xác định “mùa xuân

đã cạn ngày” khi thấy “hội chèo đi ngang ngõ”:

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày

(Mưa xuân)

Mang theo nếp cảm nghĩ theo mùa của người xưa nên con người quê trong thơ Nguyễn Bính cũng chẳng bao giờ tất bất ngược xuôi Họ sống theo nhịp sống mùa vụ rất thong thả, thanh nhàn, thời gian quay tròn, tuần hoàn với nhịp điệu chậm răi, ít biến động, quanh năm suốt tháng dệt lụa:

Em là con gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già (Mưa xuân)

Họ thong thả ngay cả thời khắc hẹn hò yêu đương:

Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em ăn giập miếng trầu em sang (Chờ nhau)

Ngoài ra, con người quê còn mang dáng nét của con người hiện đại

Người quê trong thơ Nguyễn Bính không hoàn toàn bó mình trong lũy tre làng mà thường xuyên ra tỉnh, hoặc đi tha hương chốn kinh thành, chốn phồn hoa đô hội nên ít nhiều chịu ảnh hưởng tác động của nếp sống, nếp nghĩ, nếp cảm của con người thị thành Nói theo cách nói của Nguyễn Bính thì họ đã để cho “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” nên đời sống tâm hồn của họ có nhiều biến tấu khá phức tạp, không còn nguyên vẹn nét chân quê nữa

Trang 27

Có những lúc người quê trong thơ Nguyễn Bính vẫn giữ nếp cảm, nếp nghĩ rất mộc mạc, hồn nhiên của con người nơi thôn dã:

Từ cái cách họ mơ ước:

Giá đừng có dậu mồng tơi Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng (Người hàng xóm)

Đến nỗi tương tư trong tình yêu:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ, mười mong một người

(Tương tư)

Và:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử lào xem được mấy thưng (Nhớ)

Tất cả đều khiến cho ta lầm tưởng đấy là lối nói, lối nghĩ, lối bộc bạch tình cảm

của con người trong ca dao, của con người ở ruộng đồng ngày xưa

Tuy nhiên, trong tâm hồn người dân quê của Nguyễn Bính cũng có những biến thái

tinh vi phức tạp, khó nắm bắt của tâm hồn con người hiện đại, đặc biệt là những kẻ đang yêu:

Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi Tôi buồn tự hỏi hay tôi yêu nàng?

Không, từ ân ái nhỡ nhàng Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!

Có gì như thể nhớ mong Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng

…Đêm qua nàng đã chết rồi Nghẹn ngào tôi khóc quả tôi yêu nàng (Người hàng xóm)

Yêu hay là không yêu? Những băn khoăn tự hỏi, sự giả định, khẳng định rồi lại phủ định, phủ định rồi lại khẳng định tình yêu đối với cô hàng xóm của chàng trai trong

Trang 28

Người hàng xóm thật phức tạp, khó hiểu tựa như trạng thái tâm lí và xúc cảm của một

chàng trai chốn thị thành chứ không phải của một anh trai làng Chỉ có tâm hồn con người hiện đại mới có diễn biến phức tạp như thế

Có thể thấy trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện không ít những con người quê vừa mang nếp sống, nếp cảm, nếp nghĩ của con người “chân quê” vừa có đời sống nội tâm phong phú và phức tạp như con người thành thị

Bao năm đi giữa kinh thành Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi

Cả kinh thành có những ai

Cả kinh thành có một người mắt nhung (Mắt nhung)

Khác xa với những hình ảnh cô gái trong ca dao mang đậm chất quê mùa, cô gái

trong bài Xa cách của Nguyễn Bính lại có lối nghĩ phức tạp và rắc rối

Nhà em cách bốn quả đồi Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy, anh đừng thương em (Xa cách)

Mới nghe ta như tưởng người con gái xin “đừng thương em” là thật nhưng thực ra

là cách nói ngược lại Tình cảm của người nói được giấu kín theo thứ tự giảm dần từ bốn,

ba, đôi, rồi cuối cùng lại là “xa cách quá chừng” Hàm ẩn trong đó có cái gì đó thật oái

ăm điệu đà, trớ trêu trong tình yêu trai gái Phải chăng nó ẩn chứa cái kiểu tư duy ỡm ờ,

úp mở của một cô gái vốn chân quê nhưng giờ đã hít thở bầu không khí của Thơ mới Ẩn náu trong lòng cô gái giờ đây không còn là trái tim thuần phác nữa Mà trong nó chứa những băn khoăn, trăn trở của một cô gái quê với “cái tôi” phức tạp

2.3 Con người quê đa dạng, phong phú về lứa tuổi

Nguyễn Bính được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê”, thi sĩ “chân quê” Chính

vì vậy, con người làng quê trong thơ nguyễn Bính mang dáng vẻ “chân quê phác thực”

gắn bó với đồng ruộng, với những công việc làm ăn vất vả nơi thôn dã Hình bóng những con người quê ấy cứ phảng phất, thấp thoáng trong thơ Nguyễn Bính đủ mọi đối tượng, mọi lứa tuổi

Trang 29

Đọc thơ Nguyễn Bính, ta gặp cả một thế giới những con người quê mộc mạc dân

dã: “những cụ già tóc bạc hiền như Phật”; từng đàn con trẻ chạy xun xoe”, “những cô

em bé so màu áo”; “những gã thư sinh biếng chải đầu”, những cô thôn nữ với “chiếc thắt lưng xanh”, với “yếm đỏ khăn thâm” trên đường làng đi trẩy hội chùa, những cô gái

hái mơ, cô hàng xóm, anh lái đò với giấc mơ hoa mang vẻ đẹp mộc mạc, dung dị của cuộc sống nơi thôn dã và cả sư thầy già quét lá khô trong chùa:

Gió chiều cầu nguyện đầu đường Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu

Sư già quét lá sau chùa,

Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông

(Chùa vắng)

Rồi cả hình ảnh những em bé chúm chím đôi môi tìm sữa, cười trong mơ

Dịu dàng bé khép làn mi…

Chúm đôi môi nhỏ, bé tìm sữa tươi

Mẹ buông dây võng ra ngồi Ngây thơ bé vẫn nhoẻn cười trong mơ (Trưa hè)

Và đặc biệt hình ảnh những con người quê chuẩn bị trong ngày hội được Nguyễn

Bính miêu tả trong Tỳ bà truyện:

Mưa xuân rắc bụi quanh làng

Bà già sắm sửa hành trang đi chùa Ông già vào núi đề thơ Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè

Hình ảnh người cha cũng được nhắc đến nhiều trong thơ Nguyễn Bính: “Cha dậm

gạo, mẹ vần cơm” hay “Cha già ngừng chén biếng ngâm thơ/ Đưa mắt nhìn theo hút dặm mờ” Rồi hình ảnh của những chàng trai mang nỗi niềm tương tư về tình yêu:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư)

Xuất hiện nhiều hơn cả vẫn là hình ảnh người “phụ nữ chân quê” Đó là những cô

thôn nữ xinh đẹp, khỏe khoắn toát lên vẻ đẹp trong trắng ngây thơ: “Lòng trẻ còn như cây

Trang 30

lụa trắng”; hình ảnh người mẹ, người chị hiện lên với dáng vẻ chịu thương chịu khó, giàu

đức hi sinh Mỗi người một vẻ Nhưng tất cả ở họ đều mang vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – mang những nét căn bản của người phụ nữ truyền thống thường gặp trong ca dao dân ca

Trong thơ Nguyễn Bính, hình ảnh người phụ nữ quê căn bản vẫn là người phụ nữ của truyền thống Trước hết, họ là những người gắn bó với ruộng đồng, bến đò, vườn dâu,

ao bèo, giàn đỗ ván… nghĩa là gắn với cảnh vật thiên nhiên và công việc làm ăn vất vả quanh năm nơi thôn dã Nhưng ở họ cũng ít nhiều chịu sự tác động của xu thế hiện đại hóa đang xâm nhập vào Việt Nam lúc bấy giờ nên vừa quen lại vừa lạ Quen bởi nét đẹp

“chân quê”, lạ bởi nét đẹp “hiện đại” Nhưng dù với dáng nét nào, người phụ nữ quê trong thơ Nguyễn Bính cũng “làm khổ” biết bao người, khiến ai từng đọc thơ Nguyễn Bính thì không thể nào quên những hình ảnh ấy Bởi vậy mà người phụ nữ quê trở thành nhân vật trung tâm trong thơ Nguyễn Bính Trước hết ta phải kể đến là hình ảnh người mẹ

2.3.1 Hình ảnh người mẹ

Quê hương là nơi chúng ta sinh ra và lớn lên, là nơi gắn bó với biết bao kỉ niệm của mỗi con người Khi chúng ta rời xa quê hương yêu dấu, chúng ta mới cảm nhận được những tình cảm sâu nặng nơi chôn nhau cắt rốn của mình Trong tâm hồn chúng ta từ khi cất tiếng khóc chào đời, nằm êm ả trong chiếc nôi đầy lời ru ngọt lịm của mẹ, ru sớm, ru chiều đầy đặn qua tháng năm Chính vì vậy, mỗi lần nhắc đến quê hương là hình bóng mẹ lại hiện về

Người mẹ là hiện thân của những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, tần tảo, lam lũ, hi sinh cho chồng con, quán xuyến gia đình… Trong phong trào Thơ mới cũng có rất nhiều người dành những trang thơ của mình để viết về mẹ Người mẹ trong thơ Đoàn Văn Cừ là người mẹ mẫu mực, giỏi công việc nội trợ gia đình, trong dịp tết Nguyên đán cổ truyền thể hiện rõ nhất đức tính cao quý của người đàn bà nước Nam:

U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân Dặm biểu mây bay sắc trắng ngần Lại dẫn chúng tôi về nhận họ Bên miền quê ngoại của hai thôn

(Đường về quê mẹ)

Với Lưu Trọng Lư, đó là hình ảnh người mẹ không bao giờ phai trong kí ức cũng như trong những kỉ niệm về tuổi thơ:

Trang 31

Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ Hãy còn mường tượng lúc vào ra

(Nắng mới)

Trong thơ Nguyễn Bính, ta thấy những bài thơ viết về mẹ khá nhiều, chủ yếu là người mẹ ở chốn làng quê Ông mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ (3 tháng tuổi) nhưng những bài

thơ về mẹ của ông lại rất ấn tượng, cảm động Lòng mẹ, Tết của mẹ tôi, Lỡ bước sang

ngang, Mưa xuân, Những bóng người trên sân ga… là nỗi niềm khát khao chân thành của

nhà thơ về tình mẹ, lòng mẹ Mỗi bài thơ khắc họa một nét đẹp khác nhau về người mẹ

Tết của mẹ tôi là bức tranh toàn cảnh, mẫu mực về đức hi sinh, chịu thương chịu

khó và đầy những phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam xưa Mỗi độ tết đến xuân về thì nhà nhà rộn ràng, người người náo nức để chào đón những niềm vui hạnh phúc đầu năm với đầy đủ mọi thứ trên đời Tất cả đều từ bàn tay tần tảo của người mẹ, từ những cái chắt chiu bé nhỏ của mẹ trong những ngày lam lũ mà ra Nguyễn Bính đã thấy được và thay ta nói lên những điều đáng kính ấy:

Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều

Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều

(Tết của mẹ tôi)

Mẹ phải tất bật lo lắng, chuẩn bị một cái tết cổ truyền cho cả nhà thật cảm động

Mẹ phải làm mọi thứ từ quét dọn nhà cửa, nuôi lợn tết từ trước, đi chợ mua sắm tết, làm

cỗ bàn… khi tất cả mọi thứ đã được lo chu toàn xong thì cũng là giờ phút thiêng liêng của đêm giao thừa đã đến, người mẹ đâu đã được nghỉ ngơi Mẹ ngồi trước ban thờ thành tâm cầu kinh cho cả gia đình bình an Quả là trong cái đức tin của người mẹ bao giờ cũng có nhà cửa, chồng con:

Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức Lẩm nhẩm cầu kinh Đức Chúa Bà

Tấm lòng người mẹ không những yêu thương, chăm sóc cho mọi thành viên hiện hữu trong gia đình mà còn thành kính, mong muốn sự hiển linh của ông bà tổ tiên về ăn tết vui vẻ với con cháu, sự sum họp, chan hòa giữa người đã khuất và người còn đây:

Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi Rón rén lên bàn thờ ông tôi Đôi mắt người trông thành kính quá Ngước xem hương cháy đến đâu rồi

Trang 32

Ba ngày tết thoáng chốc trôi qua, sự mệt nhọc kia chưa hết thì người mẹ lại tiếp tục với công việc, với cuộc sống “Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con”

Bài thơ Tết của mẹ tôi đã khắc họa trọn vẹn chân dung một người mẹ với đầy đủ

những đức tính dáng trọng của người phụ nữ truyền thống trong mỗi gia đình người Việt, qua đó tô đậm tình mẹ của người phụ nữ quê đất Việt

Ai đã đọc bài thơ Lòng mẹ hẳn không thể quên được hình ảnh người mẹ chăm chút, sắm sửa cho con gái khi con gái đi lấy chồng: “Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía/ Này

gương, này lược, này hoa tai” và không ngớt dặn dò, động viên con trước khi về nhà

chồng Lời người mẹ thật mộc mạc, thật chân quê, càng mộc mạc chân quê chừng nào thì càng tự nhiên chừng ấy Ta có cảm giác như giây phút ấy bà mẹ nhà quê nào cũng phải

“mắng yêu” con như thế, không ai có thể làm khác được:

Gái lớn ai không phải lấy chồng Can gì mà khóc, nín đi không Nín đi mặc áo ra chào họ

Rõ quý con tôi các chị trông

Mắng đấy nhưng mà cũng thương lắm đấy! Giây phút ấy, lòng mẹ quả là ngổn ngang trăm mối: Vừa mừng là con gái đã lớn, trưởng thành, đã có hạnh phúc; xong lại vừa lo cho con về làm dâu nhà người không biết rồi có thuận chèo mát mái Người mẹ cố

tỏ ra vui vẻ đưa tiễn con về nhà chồng, nhưng sau đó là những giọt nước mắt cô đơn, đau khổ của mẹ:

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi Con ạ đêm nay mình mẹ khóc Đêm nay mình mẹ lại đưa thoi

Trong thơ Nguyễn Bính bạn đọc bắt gặp không ít hình ảnh người mẹ lẻ loi bóng chiếc khi các con đã đi xa, kẻ đi lấy chồng, người đi lính chốn ải xa…

Trong bài Những bóng người trên sân ga, nhà thơ lưu lại trong kí ức hình ảnh một

bà mẹ đưa tiễn con đi ra trận ải xa Tàu chuyển bánh rồi, mẹ vẫn đứng lặng lẽ rất lâu trên sân ga như để níu giữ mãi trong tâm trí hình ảnh đứa con của mình Bà mẹ lưng còng đứng đó lặng lẽ một mình Hình dáng mẹ đổ dài như một dấu chấm hỏi trên sân ga vắng

vẻ khiến bạn đọc không thể không cảm thấy xót xa:

Trang 33

Tàu chạy rồi bà vẫn đứng Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

(Những bóng người trên sân ga)

Và cuộc sống của người mẹ khi vắng bóng con cái cũng được tác giả khắc họa cụ thể trong nhiều bài thơ Hình ảnh người mẹ “lưng còng” một lần nữa lại xuất hiện trong

bài thơ Không đề nhưng trong cảnh ngộ khác: Bà có hai cô con gái thì đã đi lấy chồng cả

hai, một mình bà đứng tủi ngồi sầu:

Xóm Tây bà lão lưng còng

Có hai cô gái lấy chồng cả hai Gió thu thổi ngắn than dài

Bà đem áo rét phơi ngoài cửa thưa

Trong bài Lỡ bước sang ngang ta gặp lại hình ảnh người mẹ lặng lẽ ngồi se tơ bên cửa, nhớ thương cô con gái lấy chồng xa

Mẹ ngồi bên cửa se tơ Thời thường hỏi: chị mày giờ ra sao?

(Lỡ bước sang ngang)

Hầu hết những người mẹ trong thơ Nguyễn Bính đều là những người phụ nữ chốn thôn quê Ở họ hội tụ đầy đủ những vẻ đẹp đáng trân trọng của người mẹ ta từng gặp

trong ca dao Tuy nhiên trong thơ Nguyễn Bính có còn xuất hiện hình ảnh người mẹ với

những dáng nét mới mà người mẹ trong ca dao chẳng mấy khi xuất hiện Đó là người mẹ

đã dám từ bỏ nếp cũ, mạnh dạn bước đi bước nữa trong cuộc sống hôn nhân gia đình

Người mẹ ấy cũng đã từng: “Trọn đời vất vả triền miên/ Chăm lo bát gạo, đồng tiền cho

con” Và khi con cái khôn lớn, trưởng thành bà mẹ ấy bắt đầu nghĩ đến khát vọng hạnh

phúc của bản thân Người mẹ ấy gọi các con lại và bày tỏ lòng mình:

Kể con giờ cũng lớn khôn rồi Dưới suối cha con hẳn ngậm cười

Mẹ muốn bước đi thêm bước nữa Còn đàn em nhỏ cậy con nuôi

Mẹ cũng không mong sướng lấy mình Nhưng mà số phận bắt điêu linh

Ngày đăng: 18/11/2016, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bảo (1998), Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
2. Lê Bảo (2005), Thơ Việt Nam – tác giả, tác phẩm lời bình, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam – tác giả, tác phẩm lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Bính (1999), Hương cố nhân, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương cố nhân
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
4. Nguyễn Bính (1999), Lỡ bước sang ngang, Nhà xuất bản văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỡ bước sang ngang
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
5. Nguyễn Bính (1999), Mây Tần, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hò Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mây Tần
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hò Chí Minh
Năm: 1999
6. Nguyễn Bính (1999), Một nghìn cửa sổ, Nhà xuất bản Hương Sơn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nghìn cửa sổ
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Hương Sơn Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Bính (1999), Mười hai bến nước, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười hai bến nước
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
8. Nguyễn Bính (1999), Người con gái ở lầu hoa, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người con gái ở lầu hoa
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
9. Nguyễn Bính (1999), Tâm hồn tôi, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn tôi
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
10.Đoàn Văn Cừ (1960), Thôn ca, tập thơ, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thôn ca, tập thơ
Tác giả: Đoàn Văn Cừ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1960
11. Ngô Thị Ngọc Diệp (2001), Nguyễn Bính – Nhà Thơ mới, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính – Nhà Thơ mới
Tác giả: Ngô Thị Ngọc Diệp
Năm: 2001
12. Phan Cự Đệ (2003), Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2003
13. Hà Minh Đức (1995), Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1995
14. Hà Minh Đức – Đoàn Đức Phương (2003), Nguyễn Bính về tác giả và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức – Đoàn Đức Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
15. Trường Văn Đức, Tản mạn về mùa xuân, goole.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn về mùa xuân
16. Vũ Minh Đức, Cao học K22 Văn học nước ngoài – ĐHSP Hà Nội, Không gian nghệ thuật trong văn học, http://yume.vn/thaygiaovanchuong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian nghệ thuật trong văn học
17. Thụy Khuê (2009), Nguyễn Bính, http://thuykhue.free.fr/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính
Tác giả: Thụy Khuê
Năm: 2009
18. Mã Giang Lân (2003), Thơ hiện đại Việt Nam những lời bình, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ hiện đại Việt Nam những lời bình
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
19. Vũ Nam (1993), Giai thoại Nguyễn Bính, Nhà xuất bản Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại Nguyễn Bính
Tác giả: Vũ Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 1993
20. Nhiều tác giả - Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Nhiều tác giả - Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w