Hà Minh Đức đã có những nhận xét thật sâu sắc về nhân vật phụ nữ của Nguyên Hồng “…cái gốc là sự ổn định, không biến chất của những giá trị tinh thần và đạo lý của dân tộc thấm sâu trong
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh -o0o -
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn này đ-ợc hoàn thành d-ới sự giúp đỡ tận tình của cô giáo, thạc
sĩ Hồ Thị Mai Nhân dịp hoàn thành đề tài, em xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, thạc sĩ Hồ Thị Mai - ng-ời đã giúp đỡ, chỉ bảo em rất tận tình trong quá trình nghiên cứu!
Cũng nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, các thầy cô phụ trách th- viện, tr-ờng Đại học Vinh Xin cảm ơn cô giáo L-ơng Thị Bình, giáo viên tr-ờng cấp III Hoằng Hóa IV, Hoằng Hóa - Thanh Hóa, cùng bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này!
Vinh, ngày 25 tháng 4 năm 2006
Tác giả
Đỗ Thị Định
Trang 3Mục lục
Mục lục Trang Mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Lịch sử vấn đề 2
III Nhiệm vụ nghiên cứu 4
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu và phạm vi t- liệu 5
V Cấu trúc luận văn 6
Ch-ơng 1 Vị trí và phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng 1.1 Quá trình sáng tác của Nguyên Hồng 7
1.2 Đóng góp của Nguyên Hồng cho sự nghiệp văn học n-ớc nhà 9
1.3 Những nét chính phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng 12
Ch-ơng 2 Vẻ đẹp ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng tám - 1945 2.1 Những nổi khổ đau bất hạnh của ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng 20
2.1.1 Những nổi đau khổ về vật chất 21
2.1.2 Những nổi khổ đau về tinh thần 23
2.2 Những vẻ đẹp tinh thần của ng-ời phụ nữ Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng 27
2.2.1 Ng-ời phụ nữ giàu đức hy sinh 27
2.2.2 Ng-ời phụ nữ giàu khát vọng sống 30
2.3 Nhân vật phụ nữ với khát khao đổi đời 32
2.4 Nhân vật phụ nữ khát khao hạnh phúc cá nhân 34
Trang 4Ch-¬ng 3 NghÖ thuËt x©y dùng nh©n vËt phô n÷ trong truyÖn ng¾n
Nguyªn Hång tr-íc c¸ch m¹ng th¸ng t¸m 1945
3.1 Miªu t¶ ngo¹i h×nh 37
3.2 Miªu t¶ néi t©m 39
3.3 Ng«n ng÷ nh©n vËt 45
3.4 Ng«n ng÷ miªu t¶ nh©n vËt 48
3.5 Sù ph¸t triÓn tÝnh c¸ch nh©n vËt 50
3.6 Nh÷ng h¹n chÕ khi x©y dùng nh©n vËt 54
KÕt luËn 57
Tµi liÖu tham kh¶o
Trang 5Mở đầu Phần I: Giới thiệu chung
Một đời văn liên tục sáng tác trên bốn m-ơi năm để lại một khối l-ợng tác phẩm lớn cả tr-ớc và sau cách mạng Tác phẩm của Nguyên Hồng khá phong phú và đa dạng về thể loại, mỗi một thể loại đều mang một phong cách riêng
Ông đ-ợc nhà n-ớc truy tặng giải th-ởng Hồ Chí Minh (đợt I - 1966) phần th-ởng cao quý danh dự cho sự nghiệp sáng tác của ông
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyên Hồng hết sức phong phú và
đa dạng Đó là những ng-ời phu phen, thợ thuyền, gái điếm…vv trong đó đặc biệt hơn cả là ng-ời phụ nữ Ông dành rất nhiều tình cảm cho nhân vật phụ nữ từ cô gái quê cho đến những cô gái sống ở thành thị và đặc biệt là những ng-ời Mẹ Nguyên Hồng luôn cố tìm kiếm những vẽ đẹp tiềm ẩn bên trong tâm hồn họ Chọn đề tài “ Hình t-ợng ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng tám 1945” chúng tôi muốn đi sâu vào một vấn đề còn nhiều thú
vị ch-a đ-ợc đề cập đến, hoặc có đề cập đến thì ch-a đầy đủ ở ph-ơng diện này
Từ tâm điểm đó có thể khám phá ra những cống hiến cũng nh- những
đóng góp mới của nhà văn Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài sẽ phát hiện ra nhiều điều có ý nghĩa thiết thực soi sáng những thành công cũng nh- những hạn chế của tác giả Nếu thực hiện thành công đề tài sẽ góp phần dậy học tác giả ở
Trang 6tr-ờng phổ thông có hiệu quả hơn Trên đây là những lý do khiến chúng tôi chọn
đề tài này cho khóa luận của mình
II Lịch sử vấn đề
Với một đời văn nhiệt tình và sôi nổi hiếm có, một sức viết bền bỉ, một trái tim trìu mến với cuộc đời Nguyên Hồng đã khiến nhiều thế hệ ng-ỡng mộ Ông sớm đến với nghề văn và thành công ngay từ tác phẩm ban đâu “ Bĩ võ” (1938)
đ-ợc d- luận hoan nghênh và chúng ta có một Nguyên Hồng nhà văn trẻ triển vọng và nhiều tài năng Và cũng từ đây Nguyên Hồng đã cho ra mắt bạn đọc rất nhiều tác phẩm tiêu biểu “ Cuộc sống” (1942) “ Hai dòng sữa” (1943) “ Hơi thở tàn” (1944) “ Vực thẳm” (1944) “ Ngọn lửa” (1945),…
Cuộc đời Nguyên Hồng và tác phẩm của ông đã là đối t-ợng nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam Từ đó các nhà văn nhà nghiên cứu nhà phê bình văn học đã có rất nhiều trang viết hay với những công trình nghiên cứu có quy mô đồ sộ về tác phẩm của ông trên nhiều góc độ khác nhau Nh- cuộc đời, tác phẩm thế giới quan, ph-ơng pháp sáng tác, phong cách, thế giới nhân vật,…
Trang 7+ Vũ Ngọc Phan “ Tác phẩm Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng tám” Nguyên Hồng - thân thế và sự nghiệp, Nxb Hải Phòng 1997
+ Linh Thi “ Giọt lệ lớn của đoàn tàu chợ” Nguyên Hồng - ánh sáng và cát bụi, nxb hội nhà văn Hà Nội 1991
Trong các công trình trên các tác giả đã quan tâm tìm hiểu nhân vật phụ nữ trong sáng tác của Nguyên Hồng Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến nhiều kiểu nhân vật phụ nữ khác nhau ở nhiều ph-ơng diện khác và tìm hiểu họ ở nhiều hoàn cảnh khác nhau Hà Minh Đức đã có những nhận xét thật sâu sắc về nhân vật phụ nữ của Nguyên Hồng “…cái gốc là sự ổn định, không biến chất của những giá trị tinh thần và đạo lý của dân tộc thấm sâu trong cuộc sống của họ
Điều này càng thấy rõ ở các nhân vật nữ nhất là những bà Mẹ Nhân vật bà Mẹ ở Nguyên Hồng cho dù là bà Mẹ ở xóm nghèo thành thị hay nông thôn đều có những nét cơ bản giống nhau Tình yêu quê h-ơng ý thức xây dựng hạnh phúc gia đình tinh thần vị tha…” [3;121]
Vũ Ngọc Phan cho rằng “ những truyện ngắn của Nguyên Hồng, phần nhiều pha một giọng phóng sự chua cay và kín đáo phần nhiều dùng việc thay lời nên cái nghệ thuật của ông thật là sâu sắc…” [19; 213]
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết “ Nguyên Hồng con ng-ời và sự nghiệp” nhận xét “… chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng tất phải tìm đến
số phận những ng-ời phụ nữ Những thân phận bị rẽ rúng nhất, chịu nhiều tầng
áp bức bóc lột trong xã hội cũ ấy là những ng-ời đàn bà dân nghèo suốt đời nuôi chồng nuôi con…” [15;133]
Nhận xét của Phan Cự Đệ “ trong phạm vi chủ đề này ng-ời ta th-ờng nói
đến sự gặp gỡ ở một mức độ nào đó giữa Nguyên Hồng với Gorki Hai nhà văn này đều xây dựng đ-ợc những hình t-ợng rất đẹp về những bà Mẹ đau khổ từ trong bóng tối của cuộc đời cũ v-ơn lên ánh sáng”… “ Nguyên Hồng tuyển tập Nguyên Hồng tập một Nxb văn học Hà Nội 1983”
Trang 8Ngoài ra còn có nhiều bài viết của Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Thạch Lam, Kim Lân, Bùi Hiển,… về ng-ời và văn của Nguyên Hồng
Điểm lại các bài viết và những nhận xét của các nhà nghiên cứu Chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã có những phát hiện chính xác một số đặc điểm
về nhân vật phụ nữ trong sáng tác của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng 8 -
1945 Nh-ng những nhận xét ấy còn rải rác ở những bài viết khác chứ ch-a đ-ợc trình bày trong những ch-ơng trình chuyên sâu lý giải vấn đề một cách hệ thống Vấn đề nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng đã đ-ợc Vũ Ngọc Phan gợi ra nh-ng ch-a đ-ợc chú ý nhiều Trên cơ sở ý kiến của những ng-ời đi tr-ớc, khoá luận muốn góp phần bé nhỏ của mình vào việc tìm hiểu nghiên cứu
“Hình t-ợng ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng tám 1945” để thấy đ-ợc những đóng góp và vị trí của nhà văn trong tiên trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại
III Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi mục đích chính là tìm hiểu “ Hình t-ợng ng-ời phụ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng tám 1945” với đề tài này chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau
+ Đi sâu nghiên cứu những truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng để trên cơ sở đó, khái quát thế giới nghệ thuật của nhà văn ở giai đoạn này
+ Xác định những yếu tố cơ bản những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Nguyên Hồng đã ảnh h-ởng đến con đ-ờng sáng tác của ông
+ Phân tích các truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng từ đó chỉ
ra những vẽ đẹp của ng-ời phụ nữ trong tác phẩm của ông Đồng thời cũng thấy
đ-ợc chủ nghĩa nhân đạo của ông và đặc tr-ng của kiểu nhân vật này
+ Phân tích tìm hiểu nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn tr-ớc cách mạng của Nguyên Hồng để thấy đ-ợc nghệ xây dựng nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của ông
Trang 9IV Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu vµ ph¹m vi t- liÖu
Trang 10V Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm ba ch-ơng
Ch-ơng 1: Vị trí và phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng
Ch-ơng 2: Vẻ đẹp của ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng 8 - 1945
Ch-ơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng tháng 8 - 1945
Trang 11Phần II: Nội dung chính
Ch-ơng 1
Vị trí và phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng
1.1 Quá trình sáng tác của Nguyên Hồng
Trong làng văn học hiện đại Việt Nam, ai đã từng tiếp xúc với Nguyên Hồng đều thấy rõ một điều: Ông là ng-ời rất rể xúc động, rất rể khóc, khóc khi nhớ đến bạn bè, khóc khi nhớ đến quê h-ơng về gia đình, khóc khi nhớ đến Bác
Hồ đến ơn Đảng đã đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân ta Ai biết đ-ợc trong cuộc đời mình Nguyên Hồng đã khóc bao nhiêu lần? Một con ng-ời giàu cảm xúc nh- vậy sống giữa cái xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến thì con ng-ời ấy đã đến với nghệ thuật nh- thế nào đây?
Nguyên Hồng có một tuổi thơ đấy tủi nhục và cay đắng, m-ời sáu tuổi Nguyên Hồng đã phải thôi học xa ng-ời bà nội mộ đạo đi theo mẹ và ng-ời bố d-ợng ra sống ở xóm cấm đất Hải Phòng Chính nơi đây Nguyên Hồng đã trở thành cậu giáo t- của mấy đứa trẻ nhỏ, con em của những ng-ời lao động nơi đây
Ngay từ nhỏ Nguyên Hồng đã sống hoà đồng với cuộc đời của những ng-ời lao động nghèo phố thị, lại sớm tiếp xúc với sách báo tiến bộ của thời kỳ mặt trận dân chủ Nguyên Hồng đã sớm thấy đ-ợc cái tăm tối, cái bất công ngột ngạt của xã hội thực dân phong kiến bấy giờ
Cũng chính ở cái mảnh đất Hải Phòng này Nguyên Hồng đ-ợc gặp Thế Lữ (1935) “ Nhà thơ ngõ nghề” đã nổi tiếng là chủ soái của phong trào thơ mới Từ
đó Nguyên Hồng nuôi -ớc vọng đi theo con đ-ờng văn ch-ơng của mình
Và từ đó chính trong cái ổ chuột của khu lao động xóm cấm mảnh đất Hải Phòng những trang đầu tiên của “ Bĩ võ” và “ Những ngày thơ ấu” đ-ợc hình thành “ Bĩ võ” đ-ợc in dần trên các báo rồi sau đó ngay lập tức bộ tiểu thuyết đầu tay này đã đ-ợc nhận giải th-ởng “ Tự lực văn đoàn” (1937) cũng chính trong giải th-ởng này Thạch Lam đã có lời nhận xét đầu tiên và khẳng định đầu tiên về nhà văn Nguyên Hồng của chúng ta “ đời chạy võ.… tác giả tả một cách rõ ràng tuy
Trang 12nhanh chóng và có khi hơi vội vã Văn lúc nào cũng minh bạch, giản dị một đôi khi thấm thía dung động, có nhiều đoạn đẹp đẻ và sâu sắc Những cảnh tả chân
Có thể khẳng định rằng Nguyên Hồng là một trong số ít nhà văn ngay từ
đầu cầm bút đã xác định đúng con đ-ờng nghệ thuật của mình là sẽ theo đuổi suốt đời nhà văn của những con ng-ời cùng khổ Của chủ nghĩa nhân đạo thống thiết Nguyên Hồng vừa viết văn vừa làm thơ nh-ng dù là viết văn hay làm thơ thì
ông cũng đều thống nhất ở một t- t-ởng ấy Với một cảm hứng nhiệt tình và sôi nỗi và lao động không biết mệt mỏi theo nh- cách nói của Nguyễn Tuân
“Nguyên Hồng là kẻ đam mê viết - một kẻ bị ám ảnh bởi công việc ngoài viết ra không biết gì đến ăn mặc, ăn mặc xềnh xoàng đến mức ng-ời ta t-ởng là lập dị” [20; 69]
Với một tần số làm việc nh- vậy ông đã để lại cho đời những tác phẩm xuất sắc Tác phẩm đầu tay là “ Bĩ võ” (xuất bản năm 1938) rồi “ Những ngày thơ ấu” (xuất bản năm 1940) rồi tiếp đó là tập truyện ngắn “ Bẫy hựu” (xuất bản năm 1940) và đến tác phẩm cuối cùng đang viết dở “ Núi rừng Yên Thế” (xuất bản năm 1981)
Có thể nói từ những tác phẩm đầu tay cho đến những tác phẩm cuối cùng thì ngòi bút của Nguyên Hồng lúc nào cũng lao động và sáng tạo không biết mệt mỏi Ng-ời ta gọi ông là “ Nhà văn của những xóm thợ” “ Những ng-ời cùng khổ”
“Gorki của Việt Nam” ng-ời đã đem vào trong trang sách muối mặn mồ hôi và
đất bụi của cuộc đời Pierie Abraham trong một lần tiếp Nguyên Hồng ở Việt Nam đã gọi thân tình nhà văn lớn này là ng-ời của đất thật là ng-ời của đất
Trang 13Nguyên Hồng chỉ là một ng-ời Việt Nam bề ngoài bình th-ờng nh- nhiều ng-ời Việt Nam khác Nh-ng thực ra lại cũng có thể nói không dể bất kỳ ai đã có những phẩm chất cao quý trong tâm hồn khi nghĩ về con ng-ời nh- Nguyên Hồng Vậy thì đến với Nguyên Hồng chính là đến với một nhân cách, một nhà văn nhân bản, nhân bản bắt nguồn từ lao động của con ng-ời Nhân bản tr-ớc hết
và luôn luôn là sản phẩm của nhân dân tạo ra trong quá trình đấu tranh xã hội xây dựng cuộc sống, nó bao gồm mọi phẩm chất, mọi thuộc tính, mọi t- chất làm nên giá trị của con ng-ời
Quá trình tìm đến với văn ch-ơng và nghệ thuật của Nguyên Hồng đã phần nào thể hiện tài năng của ông và ông đã làm đ-ợc điều đó bằng số l-ợng tác phẩm của ông để lại và những ghi nhận của bạn bè về ông
1.2 Đóng góp của Nguyên Hồng cho sự nghiệp văn học n-ớc nhà
Dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 đã sản sinh những tên tuổi lớn Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng Mỗi một nhà văn đã tạo dựng cho mình một phong cách, một thể giới tinh thần riêng rât đáng chân trọng Và tất cả họ đã đóng góp cho nền văn học n-ớc nhà một kiểu sáng tác mới, một thể loại văn học mới ra đời, mỗi ng-ời một kiểu không ai giống ai Nh-ng họ đều có một t- t-ởng chung và ph-ơng pháp sáng tác
độc đáo Tất cả họ đã tạo nên một dòng văn học đó là văn học hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan để lại một di sản văn học khá đồ sộ với hàng chục cuốn tiểu thuyết và hàng trăm truyện ngắn bao quát một thời kỳ dài trong văn học Ngô Tất Tố nhà văn nhà báo lớn đã chiếm lĩnh sâu sắc đề tài nông thôn qua những tiểu thuyết và phóng sự tiêu biểu Vũ Trọng Phụng một quãng đời lao
động ngắn ngũi đã bộc lộ rõ tài năng sáng tạo với những điển hình sắc nét có giá trị vững bền cho nến văn học n-ớc nhà Hay Nam Cao một cây bút hiện thực phê phán sâu sắc đã xây dựng đ-ợc những điển hình nghệ thuật bất hủ để lại cho đời
Đến với Nguyên Hồng ông lại đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán một khía cạnh khác Ta thấy trong sáng tác của Nguyên Hồng không có những
Trang 14cảnh s-u thuế thúc giục hàng ngày hay cảnh t-ợng ng-ời nông dân hàng ngày
đến mùa lại phải chạy vạy lo thuế má cho bọn địa chủ c-ờng hào Mà nhân vật của Nguyên Hồng th-ờng là con ng-ời chịu th-ơng chịu khó, nhẩn nhục chịu
đựng lo cho con cho chồng là những con ng-ời lao động nơi thành thị Nh-ng họ luôn biết giữ phẩm hạnh nhân phẩm của mình Nguyễn Đăng Mạnh gọi Nguyên Hồng là nhà văn của xóm thợ, Gorki Việt Nam
Ngay từ khi còn sống Nguyên Hồng đ-ợc không ít bạn đọc biết đến qua các sáng tác của mình Và qua t- t-ởng của một nhà văn mới, một tâm hồn tha thiết với cuộc sống với văn ch-ơng Nguyên Hồng đã để lại cho bạn đọc một khối l-ợng tác phẩm lớn
Về tiểu thuyết Bĩ võ (1938), Cữa biển (1976), Núi rừng Yên Thế ch-a hoàn thành (1981)
Về truyện ngắn có tập truyện ngắn Bẩy hựu (1940)
Về ký những ngày thơ ấu (1940)
Di cảo Núi rừng Yên Thế tập II
Ng-ời con gái họ d-ơng Hoa trái đất
Và hàng trăm truyện ngắn và vừa khác Và cho đến bây giờ sáng tác của Nguyên Hồng vẫn đ-ợc giới bạn đọc chân trọng và giữ vị trí số một trong nền văn học Việt Nam Cho đến bây giờ giới nghiên cứu vẫn tiếp tục có những công trình nghiên cứu về văn và Ng-ời của Nguyên Hồng
Về ph-ơng diện nghệ thuật thì Nguyên Hồng đã xây dựng đ-ợc nhiều kiểu nhân vật với nhiều tính cách khác nhau Hiền lành, đôn hậu hay dữ tợn độc ác
đều có cả từ ng-ời già hay trẻ em Vì đây là những mẫu hình nhân vật ông đã từng tiếp xúc và có thật ở ngoài đời Từ những nhân vật là ng-ời dân lao động chịu th-ơng chịu khó cho đến những nhân vật l-u manh tha hoá, hay những đứa trẻ thơ có cuộc đời đau khổ đầy bất hạnh nh- em bé Hồng trong tác phẩm Những ngày thơ ấu Tất cả những nhân vật đó đã đi vào trong văn của Nguyên Hồng rất
Trang 15tự nhiên và sinh động và một điều nữa ta còn thấy ở Nguyên Hồng ông đã xây dựng đ-ợc những nhân vật sống mãi với thời gian Khi nhắc đến Nguyên Hồng là
ta lại nhớ đến những điển hình nghệ thuật nh- Tám Bính trong “ Bĩ võ” (1938) hay nhân vật tôi trong “ Những ngày thơ ấu” hay Năm Sài Gòn… nh- trong công trình nghiên cứu một đời sáng tác trong đau khổ Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm của V-ơng Trí Nhà ông nhận xét “ Một khi cần ghi nhận đóng góp của Nguyên Hồng với lịch sử văn học n-ớc nhà, điều đầu tiên và gần nh- cuối cùng
mà các nhà nghiên cứu hay làm là phân tích cuộc đời những cụ Cam, Gái đen,
Mẹ la, Xim… những nhân vật thuộc loại d-ới đáy của xã hội vậy mà vẫn là những tâm hồn t-ơi sáng tất cả điều đó là đúng” [16; 214]
Có thể nói, Nguyên Hồng là cây bút đôn hậu luôn h-ớng tới cái cao đẹp trong sáng với niềm tin yêu thắm thiết đối với con ng-ời, cho nên tiếng nói mới riêng biệt của Nguyên Hồng góp vào dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam tr-ớc 1945 về căn bản, vẫn là một tiếng nói yêu th-ơng nhân đạo, có phê phán nh-ng không mĩa mai trào lộng nh- Nguyên Công Hoan không trì triết và đau
đớn nh- Nam Cao hay sâu cay nặng nề nh- Vũ Trọng Phụng, mà sôi nổi, lạc quan, tràn đầy một lòng tin ở ngày mai t-ơi sáng vì ông nhìn thấy đ-ợc những phẩm chất đẹp đẽ ở những con ng-ời nghèo khổ hôm nay Và quả thật “ Ng-ời -a tạc t-ợng, đúc chuông” làm đẹp cho đời ấy là ng-ời không màng danh lợi đã cống hiến cho đời trọn vẹn một chữ tâm một tấm lòng
Có thể nói những sáng tác của Nguyên Hồng giúp cho ng-ời đọc hiểu đ-ợc nổi khổ của những hạng ng-ời, nhất là ng-ời nông dân lao động trong xã hội cũ tr-ơc cách mạng và đặc biệt là nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của ông Và khi ta đọc các tác phẩm của ông giúp chúng ta tin vào con ng-ời giúp thanh lọc tâm hồn ng-ời đọc, với những sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi Nguyên Hồng
đã góp một tiếng nói mới vào nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung
Trang 161.3 Những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng
Có thể nói Nguyên Hồng có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo Điều
đó có lẻ là do tính cách của ông chi phối vì ông là con ng-ời đa sầu đa cảm và
ông là ng-ời rất rể xúc động dẫn đến văn của ông lúc nào cũng nhẹ nhàng và
đằm thắm và ông luôn tỏ ra thông cảm và đồng cảm với nhân vật của ông Điều
đó thể hiện qua những tác phẩm của Nguyên Hồng và ông đặc biệt có một lòng tin t-ởng vào con ng-ời và nhân vật của mình nh- con chiên tin vào chúa vậy
Nguyên Hồng là ng-ời dể xúc động và hay khóc, vui ông cũng khóc buồn
ông cũng khóc, và khóc cả khi nhân vật minh đã h- cấu xây dựng trong tác phẩm
bị chết thì ông cũng khóc “ Gái đen” trong tác phẩm Cữa biển Có thể nói mỗi dòng chữ ông viết ra là một dòng n-ớc mắt xuất phát từ tận đáy lòng ông ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình Nguyên Hồng vốn xuất thân từ một gia đình theo đạo cơ đốc nh-ng chính ông cũng là một chúa cơ đốc tự nguyện đem xác phàm của con ng-ời trần thế để rồi lại hiển thánh Không phải bằng một phép màu nào mà bằng những trang viết mà còn nói mãi với đời những tình cảm thống thiết của ông
Giải thích một đặc điểm tính cách không phải là công việc đơn giản máy móc, nh-ng đây có thể xem là một trong những lý do đã bồi đắp nên tính nhạy cảm nói trên của Nguyên Hồng và phong cách của ông khi ông xây dựng những nhân vật của mình Con ng-ời ấy thiếu tình th-ơng và dể thông cảm với những ng-ời bất hạnh Thì điều đó giải thích phần nào lý do vì sao khi đọc các tác phẩm của Nguyên Hồng ta thấy có một phong cách rất đặc biệt không giống với các cây bút khác cùng thời kỳ và cùng dòng văn học
Tình hình xã hội Việt Nam lúc đó để có xuất hiện dòng văn học hiện thực phê phán Nh- chúng ta đã biết xã hội Việt Nam tr-ớc cách mạng tháng tám
1945 là một xã hội hỗn độn bởi sự xâm l-ợc của thực dân Pháp Có thể nói sự gặp gỡ với ph-ơng tây “ là cuộc biến thiên lớn nhất của lịch sử Việt Nam từ mấy m-ơi năm thế kỷ” [8; 26]
Trang 17Tr-ớc khi Pháp sang xâm l-ợc, Việt Nam là một xã hội phong kiến ph-ơng
đông, con ng-ời ta gắn bó với họ hàng, làng xã bền chặt Nh-ng từ khi Pháp sang xâm l-ợc với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp xã hội Việt Nam
đã biến động dữ dội, làng xóm xơ xác nông nghiệp phá sản, thành thị xuất hiện
ở nông thôn thì bọn quan lại phong kiến câu kết với ph-ơng tây da sức bóc lột ng-ời dân lao động Ng-ời dân phải sống trong cảnh khốn cùng khổ sở, và trong
số đó có một số ng-ời không chịu nổi cảnh t-ợng khổ cực đó đành phải bỏ quê h-ơng kéo nhau ra thành thị để kiếm sống Một số kiếm đ-ợc việc làm thì làm công nhân cho các nhà máy hầm mỏ, còn phần lớn trở thành anh lái xe con sen,
vú em và trong số đó có những ng-ời trở thành gái điếm những kẻ l-u manh tha hóa,…
Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn nhục nhã sang h-ớng
“T- sản” Ng-ời dân Việt Nam “Bàng hoàng ngơ ngác” tr-ớc sự đổi thay đó Nh-ng cái mới vẩn thâm nhập nó làm thay đổi sự suy nghĩ của con ng-ời tác động
đến tâm lý xã hội, cuộc sống tràn ra khỏi luân th-ờng đạo lý nhân tình thế thái
Trong đời sống tinh thần của ng-ời Việt Nam một khát vọng và một nổi
đau đớn xuất hiện Mỗi con ng-ời có thể phải đ-ợc sống nh- một cá nhân có cá tính Nh-ng đất n-ớc đã dơi vào tay giặc làm ngẹt thở cả dân tộc
Lúc này dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 ra đời với những cây bút có tên tuổi nh- Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trong Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng Cũng trên văn đàn lúc bấy giờ đã xuất hiện một dòng văn học của nhóm “ Tự lực văn đoàn” ng-ời đứng đầu là Nhất Linh, Khái H-ng, Hoàng Đạo dòng văn học “ Tự lực văn đoàn” chủ yếu đi vào ngợi ca tình yêu nam nữ và thói ăn chơi của đám dân thành thị mặc dù dòng văn học này cũng nhìn thấy đ-ợc cái tù túng cái lạc hậu của xã hội lúc bấy giờ nh-ng họ tìm một h-ớng giải quyết là xây dựng một nền văn hóa hiện đại đặt căn bản trên những cá nhân
tự do Còn các nhà văn hiện thực phê phán họ lại có một cái nhìn và quan điểm t- t-ởng khác, có thể nói là xát thực với đời sống xã hội Việt Nam lúc bấy giờ hơn
Trang 18Các nhà văn này phần lớn là có xuất thân từ tầng lớp dân nghèo cũng có ng-ời xuất thân trong gia đình quan lại nh-ng t- t-ởng của họ lại h-ớng về ng-ời dân lao động (Nguyễn Công Hoan) nên các sáng tác của họ hầu nh- là các nhà văn
đó đã đứng ở chổ đứng của các tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê Họ đã thấy rõ đ-ợc thực trạng lạc hậu của xã hội và có yêu cầu cải cách ở những tầm mắt của những nhà văn hiện thực phê phán đổ dồn vào sự nghèo khổ và bất công của xã hội mà tầng lớp dân nghèo d-ới đáy xã hội phải gánh chịu C-ơng lĩnh phát triển xã hội của họ đặt ở việc là phải giải thoát các tầng lớp d-ới khỏi những
áp bức bất công của xã hội Số kẻ thù mà họ hình dung có cả đế quốc và quan lại
địa chủ nh-ng rõ hơn cả là tầng lớp ng-ời giàu có tr-ởng giả Đại diện cho dòng văn học hiện thực phê phán là Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng Những sáng tác của họ nhằm nói lên nổi khổ cực của tầng lớp dân nghèo
mà cụ thể là những ng-ời nông dân lao động nghèo khổ Và họ nhằm mục đích là
tố cáo xã hội thực dân phong kiến đang chà đạp lên cuộc đời của ng-ời dân lao
động Nếu nh- Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng đều nói lên nổi khổ cực của ng-ời nông dân bị bần cùng hóa bởi những hủ tục lạc hậu với những s-u thuế nặng nề Thì đến với Nguyên Hồng ta lại bắt gặp một phong cách khác một dọng văn khác một kiêu nhân vật khác Ông cũng viết về nổi khổ cực của ng-ời dân lao động của lớp ng-ời d-ới đáy nh-ng chủ yếu là lớp ng-ời d-ới đáy ở thành thị khi miêu tả những ng-ời nghèo và ng-ời tha hóa Nguyên Hồng tỏ ra cảm thông với họ hơn, điều này có khác với Vũ Trọng Phụng về kiểu nhân vật tha hóa Nguyên Hồng khi miêu tả những ng-ời cùng khổ sống ở thành thị cuộc sống của họ đầy rẩy những lam lủ, họ phải lo cuộc sống gia đình miếng
ăn cái mặc tất cả đều đè nặng lên đôi vai của ng-ời phụ nữ Mặc dù vất vả nh-ng
họ không bao giờ buông suôi phó mặc cuộc đời mình cho số phận, hay sống buông thả đi theo tiếng gọi của đồng tiền, không bao giờ họ gục ngã tr-ớc mọi cám dổ của cuộc đời Trong tác phẩm (Đây, bóng tối) Mũn mặc dù cuộc sống vất vả lo chạy vạy sống b-ơn trãi với đời để lo cho chồng cho con đ-ợc hạnh phúc
Trang 19đ-ợc ấm no, để rồi sau này mãi lo bán hàng nàng đã chết một cách thê thảm bỏ lại chồng con bơ vơ Hay Láng trong tác phẩm (Láng) mặc dù cô có thể sẳn sàng
có đ-ợc một cuộc sống sung s-ớng nếu cô đồng ý lấy con nhà bà Bá nh-ng cô đã không làm nh- vậy cô đã chọn cuộc sống đạm bạc để yêu Tỵ có cùng cảnh nh- cô để rồi lại còn lo cho các em của cô có một cuộc sống hạnh phúc Nhân vật của Nguyên Hồng dù có cuộc sống khó khăn đến đâu nh-ng họ không bao giời để cho cuộc đời mình bị vẩn đục bị xã hội lôi kéo, mà họ luôn có một tâm hồn thanh khiết, sống h-ớng tới ngày mai tốt đẹp hơn tin ở t-ơng lai tin ở chính bản thân mình Phải chăng đó cũng chính là niềm tin vào t-ơng lai tin vào cuộc sống của chính Nguyên Hồng niềm tin ấy ông gữi vào trong những nhân vật của mình Hay qua cuộc đời đau khổ của Tám Bính Nguyên Hồng đã tìm ra một chuỗi những nguyên nhân xã hội đã đẩy Tám Bính vào con đ-ờng h- hỏng tha hóa Đó
là làng quê Bính với những định kiến cổ hủ lâu đời xem tội chữa hoang là tội tày
đình xấu xa phải chịu sự phỉ báng của ng-ời đời và hình phạt hạng nề nhất mà không chịu đ-ợc hình phạt nặng nề đó là bỏ làng ra đi và Bính đã ra đi bỏ lại làng quê với bao nhiêu hủ tục lạc hậu Đằng sau làng quê với những định kiến lâu đời kia là bản chất lang sói của bọn c-ờng hào rồi thói vô l-ơng tâm của bọn cảnh sát chỉ tin vào một lời vu oan của một mụ đàn bà mà cho Bính là hạng “ Theo trai” rồi tấn Bính vào “ Lục xì” rồi kể từ đó Bính đã tr-ợt dài trên con đ-ờng tha hóa, làm gái điếm làm đời chạy võ vớ Năm Sài Gòn… nh-ng tất nhiên nguyên nhân làm cho Bính tha hóa nh- vậy là do xã hội đ-a đẩy và một phần là do tính cách của cô gây nên đó là đức tính thuỷ chung và cả tin nhất là lòng vị tha của một ng-ời phụ nữ Mặc dù tr-ợt dài trên con đ-ờng tha hóa nh-ng từ trong sâu thẳm trái tim của mình Bính lúc nào cũng mong có ngày hoàn l-ơng và luôn nghĩ về cha mẹ và nhất là đứa con của mình nh-ng cuộc đời đã không để cho Bính một con đ-ờng quay về và cuối cùng nàng đã bị bắt có thể nói khi để cho Tám Bính dơi vào cảnh cùng đ-ờng nh- vậy Nguyên Hồng rất đau đớn tr-ớc số phận nhân vật của mình vì ông luôn tin lòng h-ớng thiện của con ng-ời Mỗi lần Bính xa
Trang 20ngã là mỗi lần Nguyên Hồng rất đau đớn cho nhân vật của mình ông tỏ ra cảm thông chia sẽ đồng cảm với họ nhiều hơn Bính dơi vào con đ-ờng tha hóa là do nguyên nhân xã hội phong kiến đã đ-a đẩy một ng-ời con gái ngây thơ nh- Bính vào con đ-ờng đó chứ không phải bản chất của nàng Điều này khi so sánh nhân vật nữ của Nguyên Hồng với nhân vật nữ của Vũ Trọng Phụng ta thấy Vũ Trọng Phụng luôn mất niềm tin ở cuộc sống dẫn đến mất niềm tin ở con ng-ời ông cho rằng ng-ời phụ nữ bản chất của họ là dâm và họ sẳn sàng tha hóa bất kì lúc nào nhất là khi cho tiếp túc với tình và tiền thì họ lập tức tha hóa một cách nhanh chóng nh- nhân vật Huyền trong (Dứt tình) ở nhân vật này Vũ Trọng Phụng xây dựng cô là một cô gái lẳng lơ coi tình yêu là chò đùa và cô dể dàng thay đổi nó
để thoả mản sở thích của mình Sỡ dĩ Vũ Trọng Phụng xây dựng những nhân vật nh- vậy là vì ông mất niềm tin ở cuộc đời này Đó là chỗ khác giữa Nguyên Hồng và Vũ Trọng Phụng Nếu nh- Thạch Lam ông đứng ở địa khác để cảm thông với những ng-ời ở tầng lớp d-ới đáy của xã hội Thạch Lam ông vốn xuất thân trong một gia đình tiểu t- sản nh-ng ông lại có một tấm lòng cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp dân nghèo d-ới đáy xã hội Điều đó nỗi rõ trong tác phẩm của ông, khi viết về họ ông tỏ ra đau đớn cho số phận của họ trong tác phẩm (Tối
ba m-ơi) nói về hai cô gái Liên và Huệ làm cái nghề gái điếm nh- khi tết đến hai cô không biết sẽ cúng ai đây và lấy cái gì để làm bàn thờ Hai cô cảm thấy cuộc
đời của mình thật tối tăm vô nghĩa sống mà không biết đến tổ tiên, tết đến gia
đình ng-ời ta sum vầy còn mình thì bơ vơ ngoài đ-ờng Thạch Lam tỏ ra hết sức thông cảm cho hai cô và ông tỏ ra đau đớn cho thân phận của họ Hay trong tác phẩm (Đói) nói về đôi vợ chồng Sinh và Mai vì đói quá không có ăn cuộc sồng nghèo túng vì lo cho chồng Mai phải bán thân để có miếng ăn, đến đây thì quả là
đau đớn cho những kiếp ng-ời sống trong xã hội cũ cuộc đời của họ thật chớ chêu và chua sót vì miếng ăn cái mặc không còn cách nào khác họ phải đi làm cái nghề bán thân Thạch Lam tỏ ra hết sức thông cảm với những số phận éo le nh- thế này gi-ờng nh- có một mối đồng cảm nào đó giữa ông và nhân vật của
Trang 21ông Đó là Thạch Lam đứng ở tầng lớp khác để cảm thông để chia sẽ với nhân vật của mình thì Nguyên Hồng thì đứng ngay trong tầng lớp mình để cảm thông
để chia sẽ cuộc sống nghèo khó của ng-ời dân nghèo Với một tuổi thơ đầy cay
đắng và một thời thanh niên làm đủ nghề để kiếm sống và ở ph-ơng diện này làm cho Nguyên Hồng xây dựng nhân vật của mình một cách sắc nét hơn
Xét về khuynh h-ớng xã hội điểm khác biệt giữa Nguyên Hồng với các cây bút chủ chốt của dòng văn học hiện thực phê phán là ở điểm ông mong muốn xã hội tốt đẹp hơn và con ng-ời hảy làm điều thiện và lòng tin ở con ng-ời Điểm tựa đó là lòng tin đó là l-ơng tri là tính thiện là sự biết điều, là phẩm chất ng-ời Nh- vậy bằng cách riêng của mình Nguyên Hồng cũng bắt tay vào việc vận động xây dựng một nền văn hóa ngày càng văn hóa hơn - Đây là một nhân tố quan trọng làm cơ sở cho nhân quyền
Nguyên Hồng là ng-ời luôn quan niệm rằng văn không những là chữ mà còn là hồn là ý tứ là ngôn ngữ là bản sắc là phong cách, văn phải đích thực là đứa con của mình với quan niệm nh- thế Nguyên Hồng đã đến với bàn viết thận trọng
và thành kính nh- một tín đồ đến với bàn thờ chúa Khi viết tập Cửa biển sau này Nguyên Hồng kể “ Tôi bỏ hẳn tập bản thảo đầu với hơn 150 trang khổ rộng, giấy màu hồng nọ Tôi viết bản thảo thứ hai, bản thảo thứ ba, nhà tôi chép lại, tôi lại sữa và ch-a đăng báo mấy ch-ơng đánh máy, đăng báo rồi tôi lại sữa đ-a nhà xuất bản đánh máy duyệt in, vẩn sữa Nhà in sắp chữ máy chọn vẹn cũng vẩn sữa Vẫn sợ nhạt loảng, vẫn lo sự giả tạo vẫn phải sao thật tĩnh táo với mình nếu có chút gì gian dối.” [8;61]
Trong thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, thấy sự chi phối rỏ nét của một lối nhìn riêng của nhà văn đối với hiện thực, một tấm lăng kính có độ chiết quan riêng, cấu tạo bởi nhiều yếu tố t- t-ởng văn hóa khác nhau Đó là tinh thần lạc quan của ng-ời dân lao động, là triết lý không thành văn của họ về cuộc đời,
là những giấc mơ đẹp trong những truyện cổ tích Mặt khác cảm quan tôn giáo của Nguyên Hồng đã khúc xạ vào nhân vật, khiến cho nhân vật của ông đẹp đẻ
Trang 22ngay cả trong những tình huống thảm khốc nhất Có ng-ời nói, đọc văn Nguyên Hồng thật nặng nề căng thẳng Ông nh- muốn dồn lên vai nhân vật mình tất cả những đau th-ơng, bất hạnh của kiếp ng-ời Đây là một cảm nhận không sai Bởi Nguyên Hồng là cây bút hiện thực phê phán, nhân vật của ông là hiện thân của những nỗi khổ của con ng-ời Việt Nam tr-ớc cách mạng tháng tám Nh-ng bên cạnh đó, do ảnh h-ởng của cảm quan tôn giáo Nguyên Hồng đã lấy đau th-ơng làm sức nặng thử thách sức bền của đức tin - một thủ pháp nghệ thuật nhất quán
khi xây dựng tất cả các nhân vật Và nh- vậy cảm hứng chủ đạo của Nguyên
Hồng không phải nghiêng về phía đau th-ơng phê phán sót th-ơng mà nghiêng về phía ngợi ca và khẳng định Đó là cái nhìn thánh thiện trong cảm
hứng nhân đạo thống thiết của nhà văn Vì thế Nguyên Hồng bao giờ cũng chủ
động ngòi bút của mình trong sự đối lập giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối giữa linh hồn và thể xác giữa thánh thiện và tầm th-ờng… Nguyễn Tuân - một nhà văn kiêu bạc, một ng-ời bạn thân của Nguyên Hồng nhận xét “ Tôi la một thằng thích phá đình phá chùa, mà anh thì đúng là một ng-ời -a tạc t-ợng đúc chuông” là vì thế
Chủ tr-ơng văn ch-ơng của Nguyên Hồng là làm thay đổi xã hội làm cho xã hội tốt đẹp hơn thì con ng-ời ta hảy biết th-ơng yêu vào ngày mai, vào chính bản thân mình, và đặc biệt là vào cuộc cách mạng của dân tộc ta do Đảng và Bác
Hồ lãnh đạo Khi miêu tả cuộc sống của ng-ời lao động hay số phận của ng-ời nông dân, hay là sự tha hóa của con ng-ời nơi thành thị Giọng văn của ông lúc nào cũng chân thật giản dị, đằm thắm đôi khi có phần còn ngờ nghệch nói nh- lời nhận xét của Thạch Lam trong lần trao giải th-ởng “ Tự lực văn đoàn” tác phẩm (Bĩ võ) Giọng văn của ông không có cái gân guốc sâu cay, hay chào phúng nh- Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Qua đó thấy đ-ợc tầm lòng tin yêu cuộc sống của ông và lòng tin vào con ng-ời nh- con chiên tin vào chúa
Điều này do ảnh h-ởng của Nguyên Hồng theo đạo thiên chúa Điều đặc biệt là Nguyên Hồng có một niềm tin ở ng-ời lao động và tâm hồn đẹp đẽ của họ
Trang 23Nguyên Hồng trãi hồn mình trên những trang giấy với những con ng-ời cùng khỗ để hiểu họ yêu họ nh- chính bản thân mình , m-ợn hình t-ợng của nhà thơ pháp A.MyTxê, có thể nói Nguyên Hồng nh- con chim bồ nông mẹ đã rút duột mình để nuôi một đàn con đói Quan niệm “ nhà văn tìm thấy tâm hồn mọi ng-ời qua chính bản thân mình” đã đ-a thế giới tâm hồn của Nguyên Hồng và văn phẩm của ông đến chổ bất tử
Trang 24mà Nguyên Hồng đã nhìn thấy và có phần cảm thông sâu sắc với họ Đó là điều hiển nhiên vì sao trong các truyện ngắn thời kỳ đầu của Nguyên Hồng số phận ng-ời phụ nữ lại hiện lên nột cách khá đa dạng và phong phú nh- vậy Có thể nói
đó là bức tranh thu nhỏ về những số phận của ng-ời phụ nữ trong xã hội cũ
2.1 Những nổi khổ đau bất hạnh của ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng tr-ơc cách mạng
Trong các tác phẩm của mình, Nguyên Hồng đã miêu tả một cách chân thực, nhiều cảm th-ơng số phận của ng-ời phụ nữ trong xã hội cũ Trong xã hội
đó họ là những ng-ời chịu nhiều nỗi đau nỗi áp bức tủi cực nhất Qua những trang viết của Nguyên Hồng ta có cảm giác d-ờng nh- tạo háo sinh ra họ là để gánh chịu nhiều mọi nỗi đau th-ơng bất hạnh, mọi nỗi cơ cực của cuộc đời Có thể khẳng định rằng ng-ời phụ nữ trong xã hội cũ là ng-ời chịu nhiều hy sinh nhất, cả đời làm việc quần quật vì chồng vì con, gia đình là vậy rồi lại còn chịu những cảnh d- luận xã hội dè bỉu chê bai đàm tiếu, tất cả đều đổ lên đầu ng-ời
Trang 25phụ nữ điều đó đ-ợc thể hiện một cách sinh động có thể nói là khá đầy đủ trong tác phẩm của Nguyên Hồng viết thời kỳ tr-ớc cách mạng tháng tám 1945
2.1.1 Những nỗi đau khổ về vật chất
Đây là những con ng-ời nghèo túng và khốn đốn hết sức Tác phẩm của Nguyên Hồng đã dựng lại một bức tranh đen tối và cảnh đời của họ một cuộc sống lam lũ cơ cực bần cùng Nếu nh- Nam Cao, hay Ngô Tât Tố, Nguyễn Công Hoan miêu tả các nhân vật phụ nữ của mình ở những tình cảnh miêng ăn cái đói nỗi s-u thuế cho chồng cho con nơi làng quê với bọn c-ờng hào địa chủ để thấy
đ-ợc nổi cực khổ của họ ở làng quê thì Nguyên Hồng lại đón họ ở nơi đầu của thành phố khi họ mới b-ớc chân ra thành thị đẻ kiếm sng, với nh-ỡng cảnh đời lang thang hay buôn thúng bán b-ng Mũn trong (Đây, bóng tối) khi ng-ời chồng
bị mù một mình nàng phải buôn bán lạn lội để kiếm tiền trang trãi cho gia đình,
để Nhân chồng nàng - và các con sống vui vễ êm ấm công việc này đâu phải dễ chịu gì? Nàng phải chịu bao nhiêu sự ức hiếp, sức đè nén chúng ta hãy nghe một
đoạn đối thoại giữa Mũn và ng-ời vú già để hiểu thêm những cực khỗ của nàng
“- Hôm nay, nó lại dám nặng vé hay sao mà mợ ăn qua quýt vài hạt cơm thế?
Mợ nhĩ, nó ức hiếp mợ thật, nếu thêm vài cân bánh chực chốn vé, nó bắt
đ-ợc, nó tha phạt mợ, nh-ng lại lấy chỗ bánh thừa ây đi và “ đẻo” thêm dăm su thì cũng quá tội
- Hay mợ để tôi đội đi bán, chứ nó đuổi, xô xé đạp dập cả chân Mợ, s-ớt cả mặt mày Mợ thì mợ đi chợ sao đ-ợc?” [5;85]
Và rôì chính trong sự lần hồi buôn bán vất vã cực nhọc ấy với bao nhiêu ức hiếp tàn ác đó Mũn đã chết Nàng chết trong lúc tranh nhau bán bánh ở bến tàu thật tội nghiệp! Chính cái số phận của Mũn đó cũng là số phận của bao ngời phụ nữ khác làm cái nghề buôn bán nhỏ nhặt đó Đó là Mợ Du trong tác phẩm cùng tên
Mợ Du cũng chết trong cái cảnh thảm th-ơng, chết ở nhà ng-ời khác trong khi đó lại không có một ai thân thích, chết mà không biết đ-ợc con mình bây gìơ ở đâu
Trang 26Mợ chết trong cảnh cô đơn “… Một ng-ời ở nhờ ở vả, chết đột nhiên và cô đơn không ai thân thích ma chay một ng-ời khốn nạn nh- thế nhan nhản ra muôn xem lúc nào chã có” [5;195]
Biết bao nhiêu số phận cùng quẩn xung quanh cái chết của họ là những câu hỏi không giải đáp Có một điều chắc rằng kiếp sống của họ là những ngã đ-ờng
bế tắc nhức nhối Câu chuyện về họ cũng là những thông điệp đầy n-ớc mắt gửi lại cuộc đời này
Tromg tác phẩm (Hai Mẹ con) cuộc đời của bà Mẹ Th-ởng cũng chật vật trãi nhiều cùng quẫn Trên đôi vai gầy bao giờ cũng nặng một gánh hàng “ Gió rét lúc sáng sớm và s-ơng đặc của đêm khuya lắm phen làm bà rùng mình và chép miệng thở dài Cả nắng tháng năm thổi bóng đ-ờng đi” [5;134] Nh-ng bà vẫn không nghĩ một buổi chợ nào và rồi sự chăm chỉ tần tảo lăn lộn đó cũng chẳng làm cho cuộc sống của bà sáng hơn Vẫn đói rét, vẫn khỗ sở, vẫn thiếu thốn
“càng đầu tắt mặt tối thì lại càng công nợ càng thiếu thốn… thấm thía bà nhận thấy rằng càng cố công cố sức bao nhiêu bà chỉ làm giàu cho những ng-ời giàu sẵn ăn mặc, thừa nứa tiêu pha phung phí” [5;135] Ng-ời Mẹ ấy bà đã nhận ra sự khổ cực của mình và đã biết đ-ợc mình là kẻ bị bóc lột sức lao động và ý thức
đ-ợc mình chỉ là để làm giàu cho kẻ khác, nh-ng đáng buồn thay là bà lại không sao thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy Bà chỉ biết có một cách duy nhất là khuyên con không nên đi phu vào đồn điền để rồi lại làm cái kiếp trâu ngựa cho bọn nhà giàu đời bà đã khỗ rồi bà không muốn con mình lại phải khổ nh- bà nữa
Rồi cuộc sống khổ sở của những ng-ời tù trong tác phẩm (Tết cảu tù đàn bà) Những ng-ời phụ nữ này “ trừ một ít kẻ giàu có bị tù vì bị bỏ thuốc phiện hay mua nhầm đồ chộm cắp, còn toàn là những ng-ời cùng khỗ can án r-ợu muối lậu Rất it kẻ an cắp và lừa đảo mà có bị khép những án đó, chỉ là bị khép oan, chủ ruộng chủ điền không bóc lọt đ-ợc chồng con họ nữa thì th-a họ vì tội ấy những tội mà họ nhận thấy chính là của những kẻ ăn sung mặc s-ớng bằng mồ hôi n-ớc mắt của họ suốt cuộc đời” [5;153] Đúng là những cảnh đời oái ăm, oan
Trang 27trái đầy bóng tối Nhà văn đã cho ng-ời đọc thấy đ-ợc cuộc sống khắc nhiệt dồn lên vai phụ nữ mọi bất hạnh khổ đau
Từ những cuộc đời và số phận của những ng-ời phụ nữ tác phẩm của Nguyên Hồng có ý nghĩa khái quát cho mọi cuộc đời, mọi số phận của những con ng-ời lớp d-ới xã hội tr-ớc cách mạng Nguyễn Đăng Mạnh đã từng có nhận xét sâu sắc “ ông muốn nói cho đủ cho thoả thê những nôĩ cực khổ vô cùng của ng-ời dân nghèo trong xã hội cũ Đồng thời một tinh thần khắc kỷ mang màu sắc cơ đốc giáo khiến ông cứ muốn miêu tả nhân vật mình theo hình ảnh chúa chịu nạn, hứng lấy mọi nỗi đoạ đầy cho tất cả thế gian” [11;86]
2.1.2 Những nổi đau khổ về tinh thần
Đây là kiểu nhân vật tự nguyện gánh chịu những nổi bất hạnh vì một lý t-ởng nào đó giống nh- sự hy sinh của chúa Giêsu Trong những truyện ngắn tr-ớc cách mạng kiểu nhân vật phụ nữ của Nguyên Hồng “ Chịu nạn” vì lý t-ởng
đạo đức (theo nghĩa rộng) Cội nguồn tinh thần “ Chịu nạn” của ng-ời phụ nữ trong sáng tác của Nguyên Hồng là ở trái tim nhất là trái tim giàu đức hy sinh của họ Ng-ời phụ nữ trong xã hội cũ là ng-ời chịu nhiều nổi khổ đau bất hạnh hơn cả Những ng-ời đàn bà dân nghèo suốt đời tần tảo nuôi chồng nuôi con, nuôi em bằng sức lao động cần cù, nhẩn nại của mình Bất kể nắng m-a họ vẩn làm việc với một sức lao động bền bỉ “ Tr-a nay y đi chợ này Tinh s-ơng gà gáy ngày mai y đã đi chợ khác (…) đâu phải trên vai y chỉ có một sức đè nén của thời tiết, mà còn bao nhiêu nặng nề của gánh ngô, đỗ, thóc gạo, dây khoai, bèo lợn, chân rạ, gốc tre và bao nhiêu lo toan về sự nuôi nấng chồng con về sự đóng góp cho họ hàng làng mạc” (Một tr-a nắng) [5;300] Vậy đấy trên đôi vai gầy gò của cô gái quê đâu chỉ có gánh nặng về vật chất mà còn cả gánh nặng về tinh thần Khi đã về nhà chồng thì trên đôi vai ấy phải gánh cả giang sơn nhà chồng một mình phải lo toan tất cả mà không một lời than vản hay kêu ca họ coi đó là trách nhiệm là bổn phận khi b-ớc chân về nhà chồng họ chỉ biết chịu đựng và hy sinh
Họ không bao giờ chịu khuất phục hay lùi b-ớc tr-ớc một thế lực nào Dù cho
Trang 28cuộc đời họ lắm phen phải điêu đứng hay phải đứng tr-ớc một sự lựa chọn hết sức nghiệt ngã Gi-ờng nh- tạo hóa sinh ra họ là để gánh chịu tất cả sự nghiệt ngã của số phận cuộc đời Từ những ng-ời con gái (Cô gái quê, Láng) cho đến những bà Mẹ (Vực thẳm) không ai thoát khỏi nổi khổ vì miếng cơm manh áo cho chồng cho con Không ai không phải thực hiện cái bổn phận “ Không cần ai kiểm soát và không có tên tuổi của đời đời kiếp kiếp của những ng-ời đàn bà” (Láng) [5;313]
Nguyên Hồng tỏ ra rất hiểu và th-ơng cảm cho những con ng-ời luôn cảm thấy mình yếu ớt hèn kém, con ng-ời đó đôi khi cứ triền miên trong sự chịu
đựng, họ cam chịu nh- một định mệnh “ Họ mênh mông thấy mình yếu ớt hèn mọn quá d-ới một định mệnh ghê gớm, cái định mệnh nh- đ-ợc hầu hết những ng-ời đàn bà an nam cần lao tin t-ởng và khuất phục” (Linh hồn) [5;418] Ng-ời phụ nữ sống trong xã hội cũ ng-ời ta sống một cuộc đời khắc nghiệt tăm tối họ coi đó là một định mệnh mà không bao giờ tránh khỏi và gần nh- họ coi đó là cái nghiệp mà họ phải gánh chịu Cả cuộc đời ng-ời mẹ hy sinh cho con cái đến cả
nụ c-ời cũng hiếm hoi có đ-ợc trên môi bà “ Suốt một đời mẹ tôi, tôi ch-a đ-ợc lần nào nghe mẹ tôi c-ời to, c-ời luôn mấy tiếng nh- cả những dịp c-ời kia mẹ tôi cũng để phần cho chúng tôi cho xung quanh thôi” (Vực thẳm) [5;293]
Và có một điều đau đớn là khi chúng ta đọc lời một co gái nói về mẹ mình
“Cha tôi khuất không để lại cho mẹ tôi một cái gì đáng tiền của và những công
nợ mắc vì cha chết, lại chất một gánh nặng thêm trên đôi vai mẹ tôi, tiền ma chay, tiền cúng giổ và bao nhiêu thứ tiền khác… lo ăn lo mặc cho cha tôi không
đủ còn phải lo một thứ cần thiết cho những ai giàu có” vừa là một sự th-ơng xót, hàm ý phê phán cái kiếp nhẩn nhục chịu đựng của những ng-ời đàn bà “ làm việc nh- cái máy” (Vực thẳm) [5;282] Chồng lên cái khổ vì nghèo túng, thiếu thốn những ng-ời đàn bà này lại còn phải chịu đựng một nổi khổ cực khác nữa đó là tập tục phong kiến đè nén chói buộc, bũa vây, siết chặt cuộc đời họ lại “ Ng-ời
đàn bà Việt Nam cằn cổi vì cùng khổ, vì con cái nheo nhóc vì bị cầm xích bởi
Trang 29những thành kiến, phong tục, lể nghi đè nén nặng nề” Lòng nhẩn nhục đó nếu có
sự chống đối thì chỉ bộc lộ qua tiếng khóc Tiếng khóc nh- một sự giải toả, một
sự phản ứng lại xã hội “ Họ đã để tất cả lòng phẩn uất kêu lên trong tiếng khóc những lúc họ không thể chịu đựng đ-ợc chứ không biết tìm cách tự giải phóng thoát khỏi những sự át chế bằng năng lực dồi dào của mình” (Hai mẹ con) [5;132]
Điều đáng nói là những thế lực đó đã ăn sâu vào tâm lý con ng-ời và đã
ám ảnh đới sống của họ Đó còn là cuộc đời Mợ Du (Mợ Du) Mợ Du có cuộc đời
đầy đau khổ “ những lễ giáo sự khinh bỉ, nguyền rủa của gia đình vì mợ mắc tội tình tứ với một anh thợ may trẻ có duyên” [5;189] mợ không đủ sức chịu đựng phải đi tha ph-ơng cầu thực kiếm sống trốn tránh không ng-ời cảm thông chia
sẽ Đến đây ta lại thấy Mợ Du gần với bà Mẹ trong “ Những ngày thơ ấu” cũng nói về cảnh ng-ời đàn bà đã dám v-ợt qua mọi lể giáo phong kiến để đi tìm hạnh phúc cho riêng mình ở ph-ơng diện này Nguyên Hồng không nhìn nhân vật của mình ở phía tiêu cực mà ông luôn trân trọng nâng niu nhân vật của mình, ở đây
ông muốn nhìn nhận và đánh giá nhân vật nữ này ở điểm tích cực là dám đứng lên chống lại lể giáo phong kiến những tập tục lạc hậu đã trói buộc đè nén ng-ời phụ nữ họ dám bứt ra để tìm hạnh phúc cho mình Ta thấy khi nói về Mợ Du Nguyên Hồng có phần cảm thông sâu sắc với nhân vật này d-ờng nh- có phần
đồng cảm với họ Nh-ng những bà Mẹ này không vứt bỏ hoàn toàn quá khứ của mình Mợ Du luôn lén lút về thăm lại đứa con thân yêu của mình, tình mẩu tử luôn day dứt trong lòng ng-ời mẹ trẻ, bà luôn tìm mọi cách về thăm con Nh-ng rồi cuộc
đời của Mợ Du cũng không thoát khỏi cái định mệnh trớ trêu là Mợ Du sau này phải chết trong cảnh cô đơn nơi đất khách Thật là chua sót cho một kiếp ng-ời
Có thể thấy rằng vực thẳm không chỉ là số phận của một gia đình, đó còn
là số phận chung của bao gia đình, bao thân kiếp của ng-ời phụ nữ Việt Nam tr-ớc năm 1945 Từ một mảnh đời của gia đình mình, với một cảm hứng nhân văn thống thiết, Nguyên Hồng đã bênh vực cho ng-ời phụ nữ bị bêu riếu, bị
Trang 30khinh rẻ vì khát vọng hạnh phúc nh- Mợ Du (Mợ Du) đến (Vực thẳm) tuy cũng
là chuyện của một nhà, nh-ng sức khái quát của ngòi bút đã đ-a câu chuyện mang tầm khái quát chuyện của muôn nhà Để cho ng-ời kể chuyện là một cô gái - ng-ời con cũng là nhân chứng cho tất cả những gì sảy ra trong gia đình mình, ng-ời con gái có nhiều thuận lợi trong việc khám phá những tâm t- tình cảm, con gái là ng-ời hiểu mẹ mình nhất, cũng là ng-ời dể sẽ chia, đồng cảm với những nổi niềm của những ng-ời mẹ trong gia đình hơn ai hết Vì thế truyện ngắn vực thẳm đã khai thác một cách sâu sắc bi kịch của gia đình, bi kịch của số phận ng-ời phụ nữ trong xã hội cũ Nó đem cho ng-ời đọc sự hấp dẫn riêng - đ-ợc nghe chính ng-ời trong cuộc kể về cuộc sống rất nổi riêng t- của gia đình mình
Nguyên Hồng còn hay viết về tr-ờng hợp ng-ời phụ nữ lấy phải ng-ời chồng vũ phu và trở thành một vât hy sinh cho những cơn giận cá, chém thớt của hắn mỗi khi số phận đẩy hắn vào tình huống bế tắc cùng quẫn (Ng-ời mẹ không con) kể về cuộc đời ngoi ngóp của Mụ Mão Bà chịu sự rẻ rúng bội bạc của hai
đời chồng Suốt câu chuyện ta chỉ bắt gặp ở mụ cái t- thế “ Thẩn thờ” , “ Chua xót” , “ Hoang mang” , “ Lẳng lặng” , “ Đau đớn” , “ Tê tái” , “ Bứt rứt” , lúc nào cũng chỉ muốn nhắm mắt chạy trốn những ám ảnh [5; 243, 248] đó cũng là nổi lòng của biết bao nhiêu số phận của những ng-ời phụ nữ lúc bấy giờ Hay cuộc đời của bà vợ Lão Đen (Bố con lão đen) bà vợ này phải chịu bao nổi đày đoạ, đánh
đập sĩ vã của ng-ời chồng luôn r-ợu chè cờ bạc “ Bà bị đè nén d-ới hắn mặt dằn mạnh xuống đất, mắt mụ vợ những lúc cố ng-ớc vẫn lấp lánh, và càng giẩy giụa, những gợn sóng trong mắt mụ vợ càng loang loáng chiếu vào cặp mắt điên cuồng của Lão Đen
- H-! H-! H-!
- ối giời đất thiên địa ơi, ối giời cao đất dày ơi, tôi chết mất tiếng kêu hổn hển của mụ vợ đã khản đặc và ngấp ngoãi mà vẫn không ai vào can” [5;213]
Trang 31Những ng-ời phụ nữ của Nguyên Hồng th-ờng chịu nhiều tai -ơng, nghịch cảnh của đời sống nh-ng họ không hề kêu ca phàn nàn hay chịu khuất phục tr-ớc hoàn cảnh, ch-a bao giờ họ để cho tâm hồn mình bị vẩn đục bởi những ý nghĩ mông lung vớ vẩn Họ luôn cố gắng giữ tâm hồn mình trong sáng dù đứng tr-ớc
đầy rẩy những cạm bẩy của cuộc đời Nhân vật phụ nữ của Nguyên Hồng có một sức chịu đựng hy sinh cao cả gần nh- bậc thánh Họ sống vì ng-ời thân lấy hạnh phúc niềm vui của ng-ời khác làm lẻ sống cho mình
Có thể nói từ đặc điểm nhân vật phụ nữ có “ nỗi đau khổ về tinh thần” của Nguyên Hồng ta có thể gọi kiểu nhân vật của Nguyên Hồng là nhân vật trái tim khác với kiểu nhân vật t- t-ởng, nhân vật hành động, nhân vật cảm giác trong tác phẩm của các nhà văn khác Đây là một nét đặc tr-ng thi pháp nhân vật phụ nữ của Nguyên Hồng
2.2 Những vẽ đẹp tinh thần của ng-ời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng tr-ớc cách mạng
Mong muốn khám phá bản chất đích thực và ý nghĩa sự tồn tại của con ng-ời nói chung và ng-ời phụ nữ nói riêng không chỉ riêng gì Nguyên Hồng mà
nó còn thấy trong các sáng tác của các nhà văn khác cùng thời với ông nh- Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng…vv trong đó luôn tồn tại cái nhìn bi quan và cái nhìn lạc quan về ng-ời phụ nữ ở Nam Cao nhân vật phụ nữ có cái gì đó xấu xí với cách sống nhỏ nhen ích kỉ… Vũ Trọng Phụng nhân vật nữ th-ờng là lố lăng, kệch cỡm… đến Nguyên Hồng ông lại góp một tiếng nói riêng, mới mẽ khi viết về ng-ời phụ nữ Nhân vật nữ của ông hiện lên trong tác phẩm không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn đẹp về cả tâm hồn Điều đó thất rõ trong các truyện ngắn viết ở thời kỳ tr-ớc cách mạng của ông
Nguyên Hồng ít khi ca ngợi vẽ đẹp của ng-ời phụ nữ bình th-ờng, trong hoàn cảnh bình th-ờng Ông luôn đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le, bi đát, chất lên vai nhân vật của mình thật nhiều đau th-ơng để thử thách sức bền của đức tin
Trang 32để vĩnh cữu hóa vẻ đẹp thánh thiện của tâm hồn họ Nguyên Hồng ca ngợi vẽ đẹp của đức hy sinh cao cả của ng-ời phụ nữ trong nỗi khổ đau bất hạnh Đó là nhân vật Láng (Láng) cô đã coi sự chia sẽ sự đùm bọc cho đàn em còn cốt yếu hơn hạnh phúc của mình “ Trong sự chồng con của Láng bao giờ cũng phải trọn vẹn cái tình của Láng bên canh đời Láng… bất cứ khi nào hể nghĩ đến ba đứa em Láng không có họ hàng thân thuộc bao bọc là Láng lại không cầm nỗi n-ớc mắt” [5;323] Đó là một sự hy sinh cao cả mà không phải bất cứ một ng-ời con gái nào cũng có thể làm đ-ợc nh- Láng, Láng bây giờ đã đến tuổi đi lấy chồng lo hạnh phúc cho bản thân mình Nh-ng Láng đã không nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình mà còn phải lo cho đàn em của mình nữa Láng là một cô gái đẹp trong làng
có biết bao ng-ời nhòm ngó để ý mong -ớc đ-ợc Láng về làm vợ Nh-ng Láng
đã quyết định chọn ng-ời bạn đời của mình là Tỵ một ng-ời con trai cũng có hoàn cảnh nh- Láng cũng đông em cũng nghèo khổ phải chăng Láng chọn Tỵ là vì Tỵ có hoàn cảnh nh- Láng sẽ dể thông cảm cho Láng hơn và yêu th-ơng Láng cũng sẽ yêu th-ơng những đứa em của Láng Với một ng-ời nh- Láng ta dể hiểu vì sao Láng lại từ chối cuộc sống giàu sang của gia đình Bà Bá để bằng lòng với cuộc sống đạm bạc nh-ng đầy tình ng-ời với Tỵ Khi xây dựng nhân vật Láng là một ng-ời con gái đầy bản lĩnh với một tâm hồn cao quý sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của ng-ời khác Luôn đứng vững tr-ớc biết bao nhiêu là cạm bẩy cám
dổ của tiền bạc và cuộc đời Điều đó cho thấy một điều Nguyên Hồng luôn đặt niềm tin vào nhân vật của mình, điều đó có căn nguyên bởi vì ông luôn có niềm tin vào con ng-ời và cuộc đời này Điểm này ta thấy Nguyên Hồng không giống
Vũ Trọng Phụng, Vũ Trọng Phụng ông luôn mất niềm tin ở nhân vật của mình
đặc biệt là nhân vật nữ ông cho rằng đã là phụ nữ thì ai cũng dâm Con ng-ời luôn bị mất niềm tin không có lập tr-ờng ông nói khi cho nhân vật của mình tiếp xúc với tình và tiền thì lập tức con ng-ời ta bị tha hóa ngay Huyền trong (Dứt tình) căn nguyên mà làm cho Vũ Trọng Phụng có cái nhìn bi quan về nhân vật nữ
là vì ông thiếu niềm tin ở cuộc sống ở con ng-ời ông gọi xã hội này là xã hội chó