Tìm hiểu những nét cơ bản về làng quê Việt Nam trong các sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bính dưới góc nhìn văn hóa để từ đó có cái nhìn cụ thể, toàn diện hơn về quê hương, đất nước và con n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI
VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Giảng viên hướng dẫn : ThS TRƯƠNG THỊ LINH Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ TỐ QUYÊN
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN !
Trước tiên con xin gởi lời tri ân đến công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ; công ơn dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của thầy cô thuộc khoa Ngữ văn trường Đại học Thủ Dầu Một, đặc biệt là thạc sĩ Trương Thị Linh đã hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn; sự động viên giúp đỡ của bạn bè để tôi có thể thực hiện tốt việc học cũng như hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
IV GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
VI CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
CHƯƠNG 1 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Văn hóa làng quê 8
1.2 Hình ảnh làng quê Bắc Bộ Việt Nam trong trang thơ Nguyễn Bính 9
1.3 Nguyễn Bính – Cuộc đời và thơ ca 13
1.3.1.Cuộc đời 13
1.3.2.Thơ ca 14
CHƯƠNG 2 17
ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 17
2.1 Hồn làng Việt trong thơ Nguyễn Bính 17
2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên thi vị thấm đượm tình nghĩa 17
2.1.2 Những chi tiết, tình tiết mang đậm nét văn hóa làng quê 21
2.1.2.1.Ngày Tết 21
2.1.2.2.Những ngày hội xuân 22
2.1.2.3.Mái tranh, mảnh vườn, lũy tre… 24
2.2.Con người chân chất hồn hậu quê mùa 28
2.2.1 Người mẹ tần tảo sớm hôm 28
2.2.2.Hình ảnh người chị tinh thần 30
CHƯƠNG 3 37
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN NHỮNG NÉT VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 37
Trang 53.1 Phương thức chiếm lĩnh cuộc sống của Nguyễn Bính 37
3.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 37
3.1.2 Giọng điệu nghệ thuật 39
3.1.3 Không gian và thời gian nghệ thuật 43
3.2 Hình thức thơ Nguyễn Bính 46
3.2.1 Thể thơ và cách thức thể hiện 46
KẾT LUẬN 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6DẪN NHẬP
Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông đã xuất bản bảy tập thơ, một truyện thơ, một kịch thơ và một số bài thơ lẻ chưa xuất bản Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với các nhà Thơ Mới, thơ ông bị đặt vấn đề và bị xem xét lại nên vai trò của ông trong tiến trình vận động của văn học dân tộc không được đánh giá cao Nhưng từ năm
1986 (thời điểm đánh dấu sự thay đổi của đất nước, văn học nghệ thuật được thật sự
“cởi trói”) đến nay, phong trào Thơ Mới được nhìn nhận và xem xét lại Điều đó góp phần khẳng định tài năng cũng như thành tựu và vị trí của thơ Nguyễn Bính trong dòng Thơ Mới nói riêng và trong nền văn học Việt Nam nói chung
Nguyễn Bính là nhà thơ của “chân quê”, những bài thơ của ông mang sắc thái dân dã, mộc mạc, bình dị Thơ của ông mang chất trữ tình, nhẹ nhàng và sâu lắng như những bài ca dao dân ca ngọt ngào truyền thống của Việt Nam Ngôn từ trong thơ Nguyễn Bính mộc mạc, bình dị, đậm đà bản sắc dân tộc, mang đậm sắc thái bình dân
Thành tựu nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính trong suốt hơn nửa thế kỉ qua đã góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng của việc khẳng định giá trị tư tưởng nghệ thuật trong thơ ông và những điều đó vẫn tiếp tục được đặt ra đối với giới nghiên cứu văn học Hơn nữa trong xu thế quay về khám phá và tôn vinh những giá trị mang bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính càng có một ý nghĩa lớn lao hơn Vì vậy đề tài này muốn được góp một phần nhỏ vào nhiệm vụ chung đó là nghiên cứu giá trị tư tưởng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính dưới góc nhìn văn hóa
Tìm hiểu những nét cơ bản về làng quê Việt Nam trong các sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bính dưới góc nhìn văn hóa để từ đó có cái nhìn cụ thể, toàn diện hơn về quê hương, đất nước và con người Việt Nam; khẳng định thành tựu và vị trí của thơ Nguyễn Bính trong dòng Thơ Mới nói riêng và trong nền văn học Việt Nam nói chung
Trang 7Nghiên cứu đặc trưng của văn hoá làng quê và nghệ thuật biểu hiện những nét văn hóa đó trong thơ Nguyễn Bính để thấy được tài năng và bút pháp sáng tạo của nhà thơ và những đóng góp to lớn của ông cho nền văn học nước nhà
Thơ ông luôn tôn vinh những giá trị tinh hoa của truyền thống văn hóa dân tộc, đặc sắc và đậm đà tình yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam Chính vì thế, việc nghiên cứu thơ ông dưới góc nhìn văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng
ta hiểu sâu hơn vốn hiểu biết của bản thân về văn hóa và con người Việt Nam trong những trang thơ Nguyễn Bính
1936, bài thơ Cô hái mơ là sáng tác đầu tay của Nguyễn Bính đăng trên báo Ngày nay chưa được sự chú ý của công chúng 1937, Nguyễn Bính đoạt giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn với tập Tâm hồn tôi thì tài năng thơ của ông ngày càng được khẳng định 1939, tập thơ Lỡ bước sang ngang của thi si sĩ đăng trên Tuần báo thứ Năm khiến tên tuổi của ông ngày càng vang dội và có sức hút lớn đối với độc giả
Nhiều ý kiến bình giá thơ ông Cụ thể:
1941, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân khẳng định tài năng
thơ Nguyễn Bính – một nhà thơ chân quê, người giữ hồn quê trong những vần thơ:
"Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy vườn cam bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [8; tr.73] Sự đánh giá của Hoài Thanh về thơ Nguyễn Bính xuất phát từ cảm nhận tinh tế và sắc sảo của một người thẩm định có nghề Đây cũng chính là ý kiến cơ bản và mở đầu cho lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính
1961, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên nhận xét về phương diện nội dung của thơ Nguyễn Bính có vẻ nghèo nàn: “Thơ ông kỹ thuật hơi
dễ, nhiều chỗ ngả sang vè đều là những lời than thở não nùng về cuộc thất tình với một nàng Oanh nào đó hoặc về bước sang ngang lỡ làng của một người chị tên Trúc "[23; tr 594] Tác giả khẳng định giá trị của những sáng tác của thi sĩ và khẳng định thơ lục bát là sở trường của Nguyễn Bính trong giai đoạn văn học 1932 - 1940:
“Trong nhiều bài ông từ bỏ được cái điệu rền rĩ sống sượng, giữ giọng trữ tình ở chỗ
Trang 8chừng mực hàm súc, đó là những bài có giá trị hơn cả của ông: "Hai lòng", "Thời trước", "Chờ mong" Về sau, ông cũng chuyển sang thể bảy chữ và cũng có nhiều bài chứa chan thi vị bình dân súc tích: "Cô lái đò", "Lời mẹ", “Lòng mẹ"” [23 ; tr 594]
1964, Các tác giả trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945 lại
có quan điểm khác hẳn những nhà nghiên cứu trước: “Giá trị nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính mang đậm phong cách thơ ca dân gian Nhưng nội dung của thơ ông rất nghèo nàn Ông rất dài lời về tình chị em, về tình yêu không thỏa mãn; tình cảm trong thơ ông nhiều khi loãng và giả tạo Có khi ông lại gán cho nông dân tình cảm của tiểu
tư sản thành thị ” [24, tr 159].
1968, Cùng với khuynh hướng đánh giá này, giáo sư Bùi Văn Nguyên, Hà
Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại, sau khi khẳng định thơ
lục bát của Nguyễn Bính thuộc khuynh hướng trở về với làn điệu ca dao đã có một đôi
điều đáng tiếc về thơ ông là "Nguyễn Bính về thực chất không phải là một nhà thơ của đồng quê Nguyễn Bính là một nhà thơ tiểu tư sản thích viết về nông thôntheo cảm xúc
và suy nghĩ riêng của mình Thơ lục bát của Nguyễn Bính còn thiếu cái chất phác bình
dị trong nội dung cảm xúc Tác giả hay thi vị hóa cuộc sống ở nông thôn Nguyễn Bính lại dùng nhiều từ sáo và màu mè để diễn tả những mối tình không được bù đắp, có tình cảm éo le bi đát " [22; tr 302].
1971, trong dịp kỷ niệm 5 năm ngày mất của thi sĩ Nguyễn Bính, Tạp chí Văn
số 189/1971 - Số đặc biệt - đã có rất nhiều hồi ký, bài viết đánh giá về cuộc đời và thơ của Ông Ở giai đoạn đó, có hàng chục ý kiến đánh giá thơ Nguyễn Bính nhưng đáng chú ý hơn cả là các ý kiến sau: Vũ Bằng cho rằng thơ Nguyễn Bính cảm được lòng người là nhờ ở "bệnh tương tư" Nhà nghiên cứu Đào Trường Phúc trong bài viết
Nguyễn Bính - Những mùa xuân tha hương khẳng định Nguyễn Bính là nhà thơ của quê hương, của cội nguồn, của tình hoài hương: "Tình hoài hương của Nguyễn Bính, như thế, vẫn không biến đổi gì từ cái bản chất đặc biệt phảng phất trong mỗi câu thơ,
từ Lỡ bước sang ngang đến những bài thơ cuối cuộc đời ông Nguyễn Bính trước sau
vẫn chỉ là một thi sĩ giang hồ, một thi sĩ tha hương” [25; tr 94]
1973, Các tác giả Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoàng Khung, Nguyễn
Đăng Mạnh, Nguyễn Trác trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập V, phần I (tái bản
Trang 9năm 1978 (có sửa chữa)), đánh giá thơ Nguyễn Bính không có gì thay đổi so với lần
xuất bản năm 1973 Các tác giả này đã khẳng định: "Nguyễn Bính đã tìm đến điệu thơ dân tộc và có được phần nào cái tình tứ duyên dáng mộc mạc của ca dao, Trong lúc thơ Mới đang đầy dẫy những cảm xúc phức tạp của cái "tôi" được nuôi dưỡng từ văn hóa Âu Tây, thơ Nguyễn Bính cũng được nhiều người ưa thích và khá được phổ biến Mượn giọng ca dao, Nguyễn Bính trở lại hình ảnh những giàn trầu, hàng cau, vườn dâu, bến đò, những nỗi lòng ngậm ngùi của người con gái "lỡ bước sang ngang", của
"cô lái đò", mơ "quan trạng", của "cô hàng xóm" quay tơ và đã đưa lại trong thơ Mới ít nhiều không khí của quê hương xa xưa” [21; tr 106] Nhưng ngay sau đó các
tác giả đã phê rằng "Nguồn thơ Nguyễn Bính cũng rất đơn điệu, chỉ quanh quẩn với những mối tình dở dang, ngậm ngùi với giọng than thở dài dòng, dễ dãi, nhiều khi giả tạo, nhạt nhẽo”[21; tr 106] Đồng thời cũng ở cuốn sách này, sau khi khẳng định giá
trị của xu hướng đi về đồng quê của Thơ Mới, các tác giả đã phê phán, đó "cũng chỉ là một xu hướng thoát ly": “Cho nên những cây bút được gọi là "tả chân" ấy chỉ vẽ nên những bức phong cảnh tĩnh ngưng đọng, có không khí cổ xưa, không hề có dấu vết của thời đại, không hề thấy cuộc sống khổ cực của người nông dân" [21; tr 106].
Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền Bắc, sự nhìn nhận đánh giá Thơ Mới chịu sự chi phối sâu sắc của đời sống chính trị Thơ Mới không những chưa được đặt đúng nấc thang giá trị của nó mà còn bị phê phán nặng nề Sự đánh giá thơ Nguyễn Bính một phần cũng chịu ảnh hưởng theo xu hướng chung đó
1982, Phan Cự Đệ trong cuốn Phong trào Thơ Mới (1932 -1945) sau khi đánh
giá sự tiếp thu thể thơ lục bát của thơ Mới nói chung và của Nguyễn Bính nói riêng đã
phê phán: "Ngay cả những câu ca dao có tính chiến đấu, có sức tố cáo hiện thực cũng không vào được thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư Rõ ràng là về mặt nghệ thuật thơ Mới có một số thành tựu nhưng cũng có nhiều hạn chế ” [12; tr 252]
Từ năm 1986, trong xu thế đổi mới, thơ Nguyễn Bính lại được tái bản và được các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý nhiều hơn Ngay trong năm này, hai nhà xuất bản
đã cho ra đời hai tuyển tập thơ Nguyễn Bính mở đầu cho việc định giá lại thơ ông Lời nói đầu trong cuốn Thơ Nguyễn Bính (tuyển tập của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh) viết: "Đó là những câu thơ mang phong vị đồng quê rất đậm đà, thân thuộc và
Trang 10cảm động Những câu thơ cứ như nhắn gửi, như lay gọi, khơi dậy những tình cảm quê hương của mỗi chúng ta” [18; tr 5] Còn trong Lời giới thiệu trong Nguyễn Bính - tuyển tập nhà văn Tô Hoài đã khẳng định: “Nguyễn Bính là nhà thơ của quê hương, là nhà thơ "tầm vóc, thật tầm vóc” [14; tr 4].
Sang thập niên chín mươi, thơ Nguyễn Bính càng được xuất bản với số lượng lớn hơn và chưa bao giờ thơ ông lại được giới nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá một cách sâu rộng như vậy
1990, Tôn Phương Lan trong bài viết ''Nguyễn Bính - Nhà thơ chân quê" đã khẳng định màu sắc dân tộc đậm đà trong thơ Nguyễn Bính: "Khi Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đương thời chịu ảnh hưởng của Thơ phương Tây và chính đó đã đem lại cho phong trào Thơ Mới những nét đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho phong trào thơ một phong cách mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao ” [20; tr 74]
1992, cuộc hội thảo Thơ Mới diễn ra trong xu thế đánh giá, khẳng định giá trị
của phong trào thơ mới kết quả là cuốn sách Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca (60 năm phong trào Thơ Mới) ra đời trong sự đón chào của độc giả yêu thích Thơ Mới
do Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên Cũng trong năm này, vào ngày 12-06-1992, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm ngày sinh Nguyễn Bính Đây là cuộc gặp mặt có tính chất một cuộc hội thảo và đã có khá nhiều
ý kiến bình giá khẳng định tài năng cũng như nhân cách con người thơ Nguyễn Bính
Tiếp đến năm 1993, trong lời giới thiệu 150 bài thơ tình Nguyễn Bính, Lê Đình
Kỵ đã khẳng định thơ Nguyễn Bính vừa đậm đà giá trị truyền thống vừa mang sức sống của thời đại
1995, Hà Minh Đức với công trình Nguyễn Bính - Thi sĩ của đồng quê như một
cách nhìn nhận lại, công nhận giá trị trường tồn của những trang thơ Nguyễn Bính mà
hơn ba mươi năm trước tác giả đã có những nhận xét hạn chế về nó: “Có thể nói rằng trong thơ ca thời kỳ hiện đại, Nguyễn Bính là người có công hơn cả trên mảng thơ viết
về làng quê Ông đã khơi dậy ở mỗi người đọc tình cảm quê hương Ông yêu mến và trân trọng giới thiệu những hình ảnh đẹp tiêu biểu của làng quê Việt Nam mà mỗi cảnh vật, con người đều thấm đậm hồn quê ”[11; tr 14]
Trang 11Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bính (20/01/1996) đã
có hàng loạt bài viết về thơ ông được đăng tải trên các báo PGS PTS Trần Hữu Tá một trong những người tổ chức lễ kỷ niệm đó tại Tp Hồ Chí Minh - với bài viết
-Nguyễn Bính - Nhà thơ của nông thôn Việt Nam đã khẳng định: "Ông để lại cho đời non 2000 bài thơ, trong đó không hiếm những viên ngọc quý có sức lan tỏa lắng sâu
Đó quả thật là một hồn thơ thuần khiết, tài hoa, một khuôn mặt khả ái trong nền thơ hiện đại của dân tộc Có thể thấy giá trị của thơ ông trên nhiều phương diện khác nhau Nhưng nền tảng của giá trị thơ Nguyễn Bính, như trên đã nói đó là hồn quê, tình quê, lòng quê chân chất, sáng trong tình nghĩa "[32; tr 167]
Cũng trong năm này, nhà nghiên cứu Trần Mạnh Hảo với cảm quan tinh tế và
sự rung động sâu sắc của một nhà thơ trước hồn thơ Nguyễn Bính đã khẳng định rằng Nguyễn Bính là "nhà thơ hiện đại" Ông không nhất trí với cách đánh giá Nguyễn Bính
là nhà thơ chân quê, hồn quê, nhà thơ của ca dao mới, thậm chí là văn hóa làng quê
Việt Nam Ông viết: "Theo thiển ý của chúng tôi, thơ Nguyễn Bính là hành trình từ dân tộc tới hiện đại, đi tới tận cùng cái hồn Việt Nam nên nó đã bắt gặp hồn vía của nhân loại ” [13; tr 65]
Tóm lại, các nhận định của những nhà nghiên cứu phê bình văn học đã góp phần khẳng định vị trí và thành tựu của thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ Mới nói riêng và trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung Chúng ta có thể khẳng định thơ Nguyễn Bính là hồn thơ nặng tình nặng nghĩa với quê hương Ông là nhà thơ của chân quê, của hồn quê
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Bính đã để lại một khối lượng lớn thi phẩm nhưng cho đến nay chưa thể nói là đã sưu tập được đầy đủ Những sáng tác của ông trong những năm lặp lại hòa bình ở miền Bắc cũng rất giá trị nhưng như ở
phần lí do chọn đề tài đã nói “Hình ảnh làng quê Việt Nam” trong thơ ông xuất sắc
nhất là ở những sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Vì thế, khi tiến hành
đề tài nghiên cứu này chỉ chú trọng tìm hiểu, khảo sát hình ảnh làng quê Việt Nam trong các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trang 12V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với việc xác định giới hạn và phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn này sẽ sử dụng các phương pháp chính sau :
1 Phương pháp lịch sử
2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
3 Phương pháp so sánh
4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Ngoài ra, khi tiến hành làm luận văn, một số thủ pháp nghiên cứu khác sẽ được
sử dụng đan xen vào như thủ pháp thống kê, liệt kê…
VI CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề chung
Chương 2 Đặc trưng của văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính
Chương 3 Quan niệm nghệ thuật biểu hiện những nét văn hóa trong thơ
Nguyễn Bính
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Văn hóa làng quê
Văn hóa là khái niệm chỉ toàn bộ các giá trị vật chất cũng như tinh thần của
một dân tộc, một cộng đồng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [30; Tr 10]
Vai trò và vị trí của văn hóa đối với văn học là vô cùng to lớn, ngày nay văn hóa thâm nhập và phát triển vào nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Ở đây chúng ta tìm hiểu và giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học, nghĩa là nghiên cứu một nội dung trong tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa Văn học có vai trò to lớn trong việc bảo lưu và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống cũng như hiện đại:
“Văn học là sự tự ý thức văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với
hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [7; Tr 1]
Việc nghiên cứu và giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học được tiến hành như sau: Đặt văn học trong một bối cảnh văn hóa rộng lớn và nghiên cứu xem tác phẩm văn học ấy có những giá trị văn hóa nào, sắc thái văn hóa nào… được thể hiện ở từng khía cạnh nội dung trong tác phẩm ấy
Văn hóa làng quê là một khái niệm nhằm tôn vinh những giá trị đặc sắc về làng
quê, về con người và cảnh sắc ở làng quê gắn liền với tinh hoa văn hoá văn nghệ truyền thống dân tộc
Như chúng ta đã biết, tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam, vậy thì nó cũng gắn liền với làng quê, nghĩa là văn hóa làng quê tôn vinh cuộc sống cộng đồng làng xã và tính độc lập của con người ở làng xã
Trang 141.2 Hình ảnh làng quê Bắc Bộ Việt Nam trong trang thơ Nguyễn Bính
Hình ảnh làng quê Bắc Bộ Việt trong trang thơ Nguyễn Bính là một làng quê yên bình, thơ mộng và đẹp biết bao Làng quê ấy là cái nôi của nền văn minh châu thổ sông Hồng Được sinh ra và lớn lên nơi đây nên Nguyễn Bính đã sớm đắm mình trong những giá trị truyền thống văn hóa dân dã, thôn quê
Nhà thơ yêu quê hương một cách sâu sắc, hầu như tất cả các bài thơ của Nguyễn Bính đều viết về đề tài cảnh sắc làng quê Chính điều đó đã làm nên phong cách thơ chân quê, hay còn gọi là quê mùa của Nguyễn Bính Ngôn ngữ thơ của ông cũng mộc mạc, chân chất và tự nhiên như người nhà quê vậy nhưng lại dễ đi vào lòng người, đắm say bao thế hệ đọc và yêu thơ ông:
“Quê tôi có gió bốn mùa
Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi!”
(Quê tôi)
Nhà thơ miêu tả bức tranh làng quê mình thật thanh bình, thơ mộng và tràn đầy những kỉ niệm tươi rói Quê hương là tất cả trong cuộc sống của Nguyễn Bính, nhà thơ muốn giữ vẹn nguyên những giá trị chân quê, không muốn thay đổi nó mặc dù phải hòa nhập với cuộc sống tha hương Nhà thơ nhớ thương quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình đến từng gốc cây, ngọn cỏ, từng ngọn gió, làn sương, từng tiếng chuông chùa sớm hôm văng vẳng với không khí bình yên, đẹp đẽ… luôn tồn tại trong tiềm thức của nhà thơ với biết bao yêu thương, trìu mến, chỉ vậy thôi nhưng là tất cả đối với một người con tha hương
Nguyễn Bính đã có công phát hiện vô vàn những vẻ đẹp tinh tế của thôn quê mà mắt thường không nhận ra được Cảnh quê ở đây rất đẹp, nó được xây dựng từ những
kỷ niệm dễ gợi cảm nhất trong tâm linh con người về một miền quê thanh bình, hạnh phúc, đẹp một cách chân thực kiểu cổ điển chỉ có trong tưởng tượng Cuộc sống thực lam lũ, khổ đau không cho người ta sống như mong ước thì thơ là niềm khao khát, là ước nguyện của con người, cũng vì thế cảnh quê trong tâm tưởng tác giả đồng thời là giấc mộng ngàn đời Phải chăng đối với nhiều người, ý niệm về quê hương, về nhà quê ngày xưa phải là một ý niệm đẹp, thú vị, đáng nhớ, một nông thôn trong cảnh điền
Trang 15viên lý tưởng đáng mơ ước? Người ta tiếp nhận khung cảnh trong thơ không phải vì nó giống thực mà vì nó giống như mơ ước, mơ ước của nhiều người qua suốt nhiều đời
Đặc biệt, trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã gợi được cái thần thái của văn hóa làng quê Đọc thơ Nguyễn Bính, người ta như sống lại những ngày hội xuân, những ngày hội làng, những đêm hát chèo, một buổi lễ chùa, những nét tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán, lớp học thầy đồ, những trò vui dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng…
Ngày tết là ngày hội vui vẻ, tưng bừng nhất của làng quê vốn yên ả, thanh bình;
là ngày trai thanh gái lịch có dịp gặp gỡ, giao duyên; là ngày lão ông thong thả ngoạn cảnh, đề thơ; là ngày lão bà hối hả sắm sửa lễ vật lên chùa cầu chúc cho cả gia đình một năm mới bình an, mạnh khoẻ, hạnh phúc… Và không thể thiếu những hạt mưa bụi giăng giăng giữa trời, màu sắc xanh mướt của cây cối đâm hoa kết trái, của không khí đất trời vào xuân:
“Tháng giêng vừa Tết đầu xuân Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam Mưa xuân rắc bụi quanh làng
Bà già sắm sửa hành trang đi chùa Ông già vào núi đề thơ
Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè”
Mùa xuân là mùa của tình yêu đôi lứa, mùa của những ước hẹn, thề bồi, sự rung động của những tình cảm trắng trong của đôi lứa đang yêu và bắt đầu yêu Và nhất là không thể thiếu sự nhớ nhung, sự mơ mộng của một cô gái đang vào tuổi yêu:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay.”
(Mưa xuân)
Nếu ở Kinh Bắc xưa, mùa xuân là hội quan họ thì ở các làng quê Bắc Bộ khác, mùa xuân là ngày hội của những đêm hát chèo, cũng là mùa của các trò vui dân gian
Trang 16thật giản dị mà thanh thản, sảng khoái ở chốn đồng quê như: đánh đu, đánh cờ người, thả thuyền giấy, leo cột mỡ…
“Hiu hiu gió quạt trăng đèn, Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi
Ăn gỏi cá, đánh cờ người, Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.”
(Anh về quê cũ)
Ai xa quê mà chẳng nhớ thương quê cũ; nhất là khi cuộc sống hiện tại xung quanh quá u ám, bế tắc, ngột ngạt, những lời quê thấm đẫm hương đồng gió nội lại càng khiến người ta xúc động đến nao lòng Giữa những kẻ tha hương, Nguyễn Bính đem lời quê ra kể, người ta lắng nghe không phải vì nó giống như thật mà vì đó là những kỷ niệm thiêng liêng về quê hương còn giữ lại trong tâm linh con người - quê hương là vẻ đẹp bất biến trong hoài niệm của người xa quê Có lẽ vì thế mà thơ tha hương của Nguyễn Bính mang tính tượng trưng ước lệ rất cao:
“Mưa nhè nhẹ, nắng thanh thanh Nên thơ, ôi cả xứ mình nên thơ!
Hội xuân gió loạn đuôi cờ Làng xa vào đám nhặt thưa trống chèo”
(Xuân về nhớ cố hương)
Ngày tết, lễ hội với không khí tưng bừng, náo nhiệt với rất nhiều trò chơi dân gian, rất nhiều màu sắc đi vào thơ ông một cách ngọt ngào, tha thiết Không những thế, khung cảnh làng quê còn hiện lên với nét đặc biệt của tín ngưỡng tôn giáo qua những câu thơ sau:
“Gió chiều cầu nguyện đâu đây Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu
Sư già quét lá sau chùa
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông”
(Chùa vắng)
Hàng ngàn năm nay, hình ảnh những mái chùa cổ kính đã gắn với xóm thôn Việt Nam, đấy là nơi nguyện cầu, nơi nương náu của những gì sâu thẳm trong cõi tâm
Trang 17linh người Việt Chỉ bằng vài nét vẽ chấm phá, Nguyễn Bính đã tả đúng cái tĩnh lặng, thanh sạch - nét “thần” của một ngôi chùa ở làng quê Việt truyền thống
Một nét đẹp văn hóa ở làng quê Việt Nam xa xưa là ước mơ về sự vinh hiển, là giấc mơ quan trạng Giấc mơ ấy trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Nguyễn Bính:
“Thế rồi vua mở khoa thi Thế rồi quan trạng vinh quy qua làng”
Với người nông dân chân lấm tay bùn, ước mơ đổi đời bằng giấc mơ quan trạng
là ước mơ suốt đời của họ Khi đã giành được thứ bậc cao trong thi cử, họ sẽ được nhà vua “ân tứ’ ban cho cờ biển vinh quy, rồi được trọng dụng làm quan, hưởng cuộc đời đầy vinh hoa phú quý, bổng lộc cao sang, cả họ được nhờ Có người đỗ quan trạng cũng là niềm vinh dự lớn nhất, là điều vẻ vang, đáng tự hào nhất của một làng quê Phải chăng trong cuộc đời nhiều lam lũ, nhọc nhằn sau lũy tre làng, người ta muốn thay đổi kiếp sống thì chỉ có mỗi cách thực tế nhất và cũng cao sang nhất là đỗ đạt vinh quy như thế?
Nguyễn Bính không chỉ tài hoa khi dựng cảnh những ngày hội quê mà ông còn rất am hiểu và khéo léo khi đặc tả những nét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, qua những nét dáng bề ngoài của người quê Đây là hình ảnh một chú bé mà người ta có thể bắt gặp đâu đó trên đường thôn:
“Tuổi thơ tóc để gáo dừa Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cần ong”
(Tiền và lá)
Đây là trang phục ngày thường rất mộc mạc mà duyên dáng, đáng yêu của cô gái quê - tất cả cùng in sâu trong tâm khảm của anh trai làng đang ghen bóng ghen gió:
Trang 18“Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
(Chân quê)
Trong thơ ông, hình ảnh làng quê thường được xây dựng từ kỷ niệm, từ cái ngày xưa, với những gì đẹp đẽ, gợi cảm nhất còn lại trong tâm linh: thôn Đoài, thôn Đông, gian nhà nhỏ, hàng cau, vườn trầu… Những cảnh ấy có ở mọi miền quê, mọi thời, chúng tạo nên những nét riêng của làng mạc nước mình, chúng gợi tới những gì
xa xưa, bền vững mà tâm hồn người Việt Nam nào cũng từng cảm nhận, từng ghi nhớ Đặc biệt, Nguyễn Bính có tài dựng lên cái hồn của Việt Nam nông nghiệp, một chất thơ đồng nội chân thực, hồn hậu:
“Trưa hè một buổi nắng to Gió tây nổi cánh đồng ngô rào rào”
(Trưa hè)
“Nhà tôi có một vườn dâu
Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần Hoa đỗ ván nở mùa xuân Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm”
(Nhà tôi)
Nông thôn Việt Nam trong những câu thơ trên thấm đượm một chất thơ của hương đồng gió nội, chân chất thật thà tình quê đậm đà tha thiết Nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám khác xa nông thôn Việt Nam ngày nay bởi tiến trình công nghiệp hoá nhưng nó vẫn rất gần gũi với nông thôn xa xưa, một nông thôn có rặng tre làng, tâm tình con người cũng hồn hậu và khép kín
1.3 Nguyễn Bính – Cuộc đời và thơ ca
1.3.1 Cuộc đời
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuối xuân đầu hạ năm Mậu Ngọ (1918) trong một gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Trang 19Thuở bé Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Nguyễn Bính là người rất có năng khiếu, ông bắt đầu làm thơ từ lúc 13 tuổi, năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác
văn học Ông được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi
(1937) Năm 1943 Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với
truyện thơ Cây đàn tỳ bà
Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giữ những trách nhiệm trọng yếu như phụ trách hội văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Gía, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh* Rạch Gía, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu tám Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công Tháng 11-1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm 1956 ông làm chủ bút tuần báo "Trăm hoa" và
đã cho đăng báo một số bài viết
Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, ông công tác tại văn hóa thông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước
Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hóa Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ (20-1-1966) lúc đến thăm một người bạn ở xã Hòa Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp sang
tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ "Quê hương", một bài thơ có những nét
báo hiệu một giai đoạn mới trong đời thơ ông
Trang 20tập thơ có giá trị : Tâm hồn tôi (1940) ; Lỡ bước sang ngang (1940) ; Hương cố nhân (1941) ; Một nghìn cửa sổ (1941) ; Người con gái ở lầu hoa (1942) ; Mười hai bến nước (1942) ; Mây tần (1942) ; Bóng giai nhân (Kịch thơ – 1942) ; Truyện tỳ bà
(truyện thơ – 1944)
Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ : Ông lão mài gươm (1947) ; Đồng tháp mười (1955) ; Trả ta về (1955) ; Gửi người vợ miền Nam (1955) ; Trông bóng cờ bay (1957) ; Tiếng trống đêm xuân (1958) ; Tình nghĩa đôi ta (1960) ; Đêm sao sáng (1962)
Nhìn chung cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính rất phong phú và đa dạng Mỗi chặng đường sáng tác của ông đều có vẻ riêng song sức mạnh và tâm huyết sáng tác của nhà thơ có lẽ dồn vào giai đoạn trước
cách mạng
Với lối viết giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000, Nguyễn Bính đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Trang 21TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bằng những hiểu biết về nhà thơ Nguyễn Bính, về những trang thơ đậm chất làng quê của ông đã phần nào giúp chúng ta có nền tảng để lý giải những nét văn hóa trong thơ ông Khái niệm "văn hóa làng quê" chính là cơ sở để ta có thể hình dung một bức tranh về làng quê Việt Nam thanh bình và thơ mộng, làng quê ấy có sự dung hòa giữa cảnh sắc và cuộc sống của con người làng quê; và đặc biệt hơn là nghệ thuật biểu hiện những giá trị văn hóa ấy trong thơ Nguyễn Bính Qua đó, chúng ta sẽ càng thêm yêu Nguyễn Bính hơn – Một thi sĩ của hương đồng gió nội, của làng quê Việt Nam
thân thương
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
2.1 Hồn làng Việt trong thơ Nguyễn Bính
2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên thi vị thấm đượm tình nghĩa
Ở Nguyễn Bính, quê hương là hình bóng đất nước, là những nơi nhà thơ có vô vàn kỉ niệm của thủa thiếu thời với tiếng hát ru ầu ơi, tiếng võng đưa kẽo kẹt, thủa bắt chim, bắt bướm, hái trăng trên cánh đồng sao… là tiếng gọi tha thiết trong tâm hồn những người xa quê Đi vào thế giới thơ Nguyễn Bính, một khung cảnh làng quê với thiên nhiên tươi đẹp hiện ra: với tràn trề nhựa sống, có hương hoa thơm ngát cả bốn mùa, có những cánh bướm đủ màu sắc rập rờn trước gió, có những cơn mưa xuân báo hiệu cuộc sống mới với những điều tốt lành Quê hương yêu dấu được hiện lên trong
kí ức, trong tưởng tượng nên nó lung linh, huyền ảo vô cùng Hãy lắng nghe nhà thơ nhớ về thôn Vân, quê mẹ:
“Thôn Vân có biếc có hồng Biếc trong nắng sớm, hồng trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay Quả lành trĩu nặng từng cây
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen Hiu hiu gió quạt trăng đèn…”
(Anh về quê cũ)
Chỉ vài câu thơ nhưng Nguyễn Bính đã lột tả được cái thần của cảnh quê với không gian rộng lớn, thời gian từ bình minh cho đến hoàng hôn, màu sắc rực rỡ của cuộc sống như hiện ra lung linh huyền ảo với nắng biếc, nắng hồng; trên bờ đê, những chú bé chăn trâu đang say sưa với cánh diều vi vút trên bầu trời xanh, cả những vườn cây trĩu quả… Thiên nhiên hữu tình gắn bó với nhau, khung cảnh nên thơ chợt làm cho lòng người thanh thản, xua đi bao nỗi cực nhọc đắng cay Thiên nhiên ấy đã góp phần tạo thêm màu sắc cho thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính Với những cánh bướm và giậu mồng tơi, mưa xuân bay và làng quê vào hội, giàn trầu không và hàng cau liên phòng, con đê làng và sự hẹn hò chờ đợi, nhớ mong… Nguyễn Bính đã tạo nên một
Trang 23khuôn mặt làng quê của riêng mình, đó cũng là hình ảnh chung của nhiều làng quê Việt Nam, nhất là ở xứ Bắc
Thi sĩ đã đưa ta về với làng cũ, có mái đình, cây đa, cầu ao, giếng nước… những con đường làng gạch, mùa đông lả tả những chiếc lá vàng rụng trên mặt đường, với những hồ nước mùa thu trong veo, và mùa hè nở xòe bông sen thơm ngát… Ở nơi
đó đã diễn ra những hội hè đình đám, nếp sống văn hóa tinh thần của dân tộc mà mãi đến bây giờ vẫn làm cho tâm hồn ta rạo rực, bâng khuâng
Đã qua rồi không khí ngày xưa nhưng tiếng trống chèo trong thơ Nguyễn Bính vẫn mãi ngân vang, không thôi lay động lòng người
“Hội làng mở giữa mùa thu Giời cao gió cả giăng như ban ngày”
(Đêm cuối cùng)
Làng quê vào hội, cuộc sống vốn dĩ thanh bình, yên ả, mộc mạc, bình dị bỗng dưng xao động Những đêm trăng thanh, gió mát khao khát chờ đợi tiếng trống chèo, nơi đó những chàng trai cô gái gửi trao những ánh mắt làm duyên, tất cả cùng đắm say lòng mình trong tiếng trống, điệu hát thân thương Những đêm hội chèo và đôi lứa yêu nhau được miêu tả trong cảnh sắc thiên nhiên đẹp và biết bao xao xuyến:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo Thôn Đoài hát tối nay”
(Mưa xuân)
Mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa của đôi lứa yêu nhau, không khí tưng bừng náo nhiệt của những lễ hội dân gian, và là mùa của mọi sắc màu tươi mát, bừng dậy sức sống mãnh liệt:
“Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mướt như nhung Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay bướm về vòng”
(Xuân về)
Trang 24Làng quê nào cũng có những làng như vậy, những giây phút tĩnh tâm, hồi sinh
để rồi lại bước vào nhịp tuần hoàn quen thuộc của thời vụ, và có lẽ nhộn nhịp nhất là không khí hội xuân Người cao niên đi lễ chùa, tuổi trẻ với những đêm hát Mùa xuân
là mùa của tình yêu hạnh phúc Nguyễn Bính đã vẽ nên bức tranh mùa xuân toàn là một màu tươi trẻ Trời xanh, lá xanh, lúa cũng xanh mướt, thậm chí mùa xuân ấy cũng bắt đầu từ cái “thắt lưng xanh” của thôn nữ:
“Mùa xuân là cả một màu xanh Giời ở trên cao lá ở cành Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng anh”
(Mùa xuân xanh)
Dân ta có câu “Đất quê, chùa làng, phong cảnh bụt” điều này được thể hiện
trong thơ Nguyễn Bính thật đậm nét Người quê không thích phân chia ranh giới giữa nhà này và nhà khác để khi có việc chỉ cần băng ngang vườn, có chăng chỉ là một giậu mồng tơi Giậu mồng tơi tưởng chừng ngăn cách được tình duyên đôi lứa nhưng không thể ngăn bướm mang lời của chàng trai đến hỏi thăm cô gái mình thầm yêu trộm nhớ:
“Tầm tầm trời cứ đổ mưa Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm
Cô đơn buồn lại thêm buồn Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?”
(Người hàng xóm)
Có người cho rằng thi sĩ chân quê này là người miêu tả những cánh bướm đẹp
và gợi cảm nhất trong Thơ Mới Có lẽ chúng ta cũng không xa lạ gì những câu thơ trữ tình, nồng nàn, tha thiết của nhà thơ khi miêu tả cánh bướm như có hồn, như là nhịp cầu giao duyên của tình yêu đôi lứa:
“Qua giậu tầm xuân thấy bướm nhiều Bướm vàng vàng quá, bướm yêu yêu
Em sang bắt bướm vườn anh mãi Quên cả làng Ngang động trống chèo.”
(Hết bướm vàng)
Trang 25Nguyễn Bính còn miêu tả thiên nhiên làng quê dưới con mắt của người đang yêu Tình yêu làm cho người ta cảm thấy yêu đời, cảm nhận mọi thứ đều màu hồng Cái gì cũng trở nên mới lạ, dòng sông bỗng trở nên xanh hơn, ánh nắng vàng rực rỡ tỏa sáng cả một khung trời Dưới con mắt của kẻ đang yêu, thiên nhiên đã trở thành nơi người ta thổ lộ tình cảm ngây thơ, trong sáng của mình:
“Cái ngày cô chưa có chồng Đường gần tôi cứ đi vòng cho xa Lối này lắm bưởi nhiều hoa
Đi vòng để được qua nhà đấy thôi”
(Qua nhà)
Dưới con mắt của kẻ đang yêu cảnh nào mà chẳng đẹp, chẳng nên thơ, chàng
trai mượn cái cớ “Lối này lắm bưởi nhiều hoa” để được đi vòng qua nhà cô ấy Thiên
nhiên đã trở thành nơi để anh chàng mượn cớ vịn vào và thổ lộ nỗi lòng mình
Nguyễn Bính miêu tả cảnh vật nhưng ông không sa vào chi tiết mà chỉ dựng cảnh, tạo không khí để gợi tình cảm Thiên nhiên trong thơ ông dường như cũng có linh hồn, có thế giới riêng của nó, cũng ngượng ngùng, cũng e lệ như người con gái tuổi vào yêu:
“Đèo cao cho suối ngập ngừng Nắng thoai thoải nắng - chiều lưng lửng chiều”
Ngòi bút của nhà thơ khi viết về thiên nhiên luôn tạo cho người đọc những ấn tượng khó quên, ấn tượng về cái làng quê chân chất nhưng tươi đẹp biết bao, bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh sắc làng quê thật tươi đẹp và thanh bình
Trong thơ ông, hình ảnh làng quê thường được xây dựng từ kỷ niệm, từ cái ngày xưa, với những gì đẹp đẽ, gợi cảm nhất còn lại trong tâm linh: thôn Đoài, thôn Đông, gian nhà nhỏ, hàng cau, vườn trầu…
“Nhà tôi có một vườn dâu
Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần
Hoa đỗ ván nở mùa xuân
Lứa dâu tháng tháng, lứa cần tháng năm”
(Nhà tôi)
Thi sĩ có những câu thơ thật đẹp về một nông thôn yên bình, no ấm, thanh bình,
Trang 26khung cảnh làng quê hiện ra đẹp như tranh lụa, mơ màng như giấc chiêm bao
Đặc biệt, Nguyễn Bính có tài dựng lên cái hồn của Việt Nam nông nghiệp, một chất thơ đồng nội chân thực, hồn hậu:
“Trưa hè một buổi nắng to
Gió tây nổi cánh đồng ngô rào rào”
(Trưa hè)
Trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã miêu tả được cảnh sắc làng quê
làm tôn vinh giá trị của văn hóa làng quê
2.1.2 Những chi tiết, tình tiết mang đậm nét văn hóa làng quê
Ngày tết đặc biệt là Tết Nguyên Đán là ngày lễ hội cổ truyền, là ngày thiêng liêng và có lịch sử lâu đời nhất nước ta Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam
Ngày tết, mọi người quây quần bên nhau và giữa các thành viên chúc tết nhau thật đầm ấm Ngày tết trong thơ Nguyễn Bính thể hiện trọn vẹn niềm khao khát đoàn
tụ và sum họp giữa các gia đình Việt
Nguyễn Bính có khá nhiều bài thơ viết về tết: “Tết của mẹ tôi”, “Xuân về”,
“Xuân tha hương”…
Ở bài thơ “Tết của mẹ tôi”, tác giả không chú trọng miêu tả không gian ngày
tết mà kể lại công việc chuẩn bị đón tết rất bận rộn của người mẹ cũng như tấm lòng của bà dành cho chúng Điều đó thể hiện không khí đầm ấm, sum vầy giữa các thành viên gia đình với nhau, và qua đó thể hiện được cái chất ngày tết Việt Thấp thoáng trong bài thơ là phong tục, tập quán ăn tết của người Việt Nam: Mổ lợn, đồ xôi, tiếng pháo chuột nổ, thờ cúng ông bà và cả những điều kiêng kỵ giản đơn, vui vui và lành mạnh :
"Mẹ tôi gọi cả các em tôi Đến bên mà dặn: "Sáng ngày mai Các con phải dậy sao cho sớm Đầu năm năm mới phải lanh trai
Mặc quần mặc áo lên trên nhà
Trang 27Chớ có cãi nhau, chớ có quấy Đánh đổ đánh vỡ như người ta"
(Tết Của Mẹ Tôi)
Ở bài thơ “Xuân tha hương”, cũng viết về đề tài ngày tết, nhưng mạch thơ lại
thể hiện sự đau xót ngậm ngùi của nhà thơ bởi vì ngày đó không được đoàn tụ với chị trong sự sum vầy đầm ấm của ngày tết
"Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng Chao ôi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng"
(Xuân tha hương)
Hai câu thơ “Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng” như
muốn nhấn mạnh nỗi nhớ quê hương của tác giả khi xa quê Nếu như ở bài thơ “Tết
của mẹ tôi” có nỗi niềm phấn chấn biết bao nhiêu thì bài thơ “Xuân tha hương” lại
cay đắng, xót xa biết bao nhiêu
Ngày tết là nét văn hóa tâm linh trong đời sống người Việt Đây là một nét văn hóa mang tính tập thể của dân tộc Việt Nam Cảnh tết có một sức hút vô hình trong tâm hồn người Việt Hình ảnh quê hương cũng được hiện lên trong tình cảm của những con người ngày tết
2.1.2.2 Những ngày hội xuân
Mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi, nảy nở Dân ta có câu: “Ngày mới khởi đầu bằng bình minh và một năm khởi đầu bằng mùa xuân” Mùa xuân là mùa của sự sống mới, cảnh sắc và đất trời tươi đẹp, tưng bừng sức sống càng làm cho con người thể hiện rõ đời sống tâm linh của mình qua các dịp lễ hội đầu xuân
Đoàn Văn Cừ và Anh Thơ cũng hay làm thơ về mùa xuân và lễ hội Cái đặc sắc của hai tác giả này là miêu tả rất cụ thể bằng hàng loạt chi tiết, hàng loạt hình ảnh với niềm mong muốn lưu giữ được thật nhiều những nét đẹp thanh tao của cảnh sắc và cuộc sống xa xưa của làng quê, đất nước Việt Nam
Cái nhìn về mùa xuân và ngày hội của Nguyễn Bính có phần khác với hai tác giả trên Ông chỉ điểm xuyến bằng vài nét của cảnh để nhằm mục đích chính là cảnh
Trang 28đặt hai đối tượng này vào vị trí khách thể để miêu tả và tái hiện Hồn thơ ông đã nhập vào cảnh, hòa quyện với cảnh khéo đến mức cảnh mùa xuân và lễ hội ấy mờ dần mờ dần và tâm trạng tác giả, "nỗi niềm mùa xuân và lễ hội" hiện dần và choáng ngợp tất cả:
"Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong"
(Xuân về)
Có thể nói cảnh sắc làng quê như ngập tràn vào không gian của mùa xuân, của
sắc hoa tươi thắm: “Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”, và những cánh hoa xuân ấy như đang điểm tô cho ngày hội chèo làng Đặng, và những giọt “mưa xuân phơi phới bay”
càng làm cho cảnh sắc ngày hội tuyệt đẹp hơn
Trong thơ Nguyễn Bính, hình ảnh của những con người trong đám hội đều chứa đầy tâm trạng: Khi háo hức rạo rực, khi bâng khuâng hụt hẫng Bằng trực giác và bằng
cả tâm thức, Nguyễn Bính trải lòng với những "nỗi niềm mùa xuân lễ hội"
“Tháng giêng vừa Tết đầu xuân
Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam
Mưa xuân rắc bụi quanh làng
Bà già sắm sửa hành trang đi chùa
Ông già vào núi đề thơ
Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè”
(Tỳ bà truyện)
“ Mưa nhè nhẹ, nắng thanh thanh
Nên thơ, ôi cả xứ mình nên thơ!
Hội xuân gió loạn đuôi cờ
Làng xa vào đám nhặt thưa trống chèo”
Trang 29Mùa xuân và lễ hội trong thơ Nguyễn Bính đẹp một cách thi vị và thanh bình Cái đẹp đó được tạo nên chủ yếu từ sự giao hòa giữa cảnh vật và đời sống nội tâm con người Mùa xuân trôi qua, có cô gái đi lấy chồng, có cô gái âm thầm tiếc nuối mùa xuân qua và chờ đợi mùa xuân sau trở lại Mùa xuân là dịp để con người quây quần sum tụ bên nhau trong niềm vui và hạnh phúc, nhưng nó cũng là dịp để những ai xa quê nhớ về ký ức, nhớ về cố hương
Nguyễn Bính không miêu tả những bức tranh mùa xuân, lễ hội một cách chi tiết đến từng đường nét, mà bức tranh này thể hiện một cảnh sắc dung hòa giữa vạn vật và đất trời, nêu bật được nét văn hóa đời sống tâm linh của con người, bức tranh ấy chứa đựng những cung bậc cảm xúc của con người, và nó khơi dậy niềm khát khao được trải lòng với trời đất, vạn vật của mỗi người Việt Nó thấm sâu vào tâm trí con người
để thức dậy tình đời, tình người Có thể nói mùa xuân và ngày hội càng làm ta thêm yêu quê hương, yêu làng quê da diết hơn
2.1.2.3 Mái tranh, mảnh vườn, lũy tre…
+ Mái tranh, mảnh vườn:
Hình ảnh một mái tranh và mảnh vườn nhà luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người làng quê Mỗi người có một ấn tượng riêng về làng quê Điều đó phụ thuộc vào cách nhìn nhận và tình cảm của mỗi người với quê hương Nhưng mái tranh
và mảnh vườn là hai biểu tượng không thể thiếu ở làng quê, khi nói đến làng quê người ta thường nhớ đến mảnh vườn nhà
Trần Đăng Khoa đã trải lòng với quê hương qua:
“Mái gianh ơi hỡi mái tranh Trải bao mưa nắng mà thành quê hương”
(Về thăm Cô Bưởi)
Vì yêu quê hương mà nhà thơ đã cảm nhận hình bóng non sông từ một thi liệu rất nhỏ nơi thôn quê, đó là “mái gianh”, điều đó cho thấy tình cảm sâu đậm của ông với chốn thôn quê dân dã “Mái gianh” ở đây không còn đơn thuần là một thi liệu nhỏ nhoi nữa mà nó còn là giá trị tinh thần thấm sâu trong tâm khảm con người, nó là điều
kết tinh nên quê hương xứ sở “Trải bao mưa nắng mà thành quê hương”
Còn trong thơ Nguyễn Bính, chúng ta càng cảm nhận điều này sâu sắc hơn
Trang 30Cũng đồng nghĩa với hình ảnh “mái gianh”, nhưng Nguyễn Bính dùng từ có sắc thái
“chân quê, mộc mạc” hơn, đó là từ “nhà”, tuy chân quê, mộc mạc nhưng nó gợi được
sự gần gũi và thân thiện hơn, càng làm ta thêm yêu làng quê hơn Có thể nói ông đã dẫn dắt người đọc đến với thi liệu “mái gianh” bằng cảm xúc
"Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau một dậu mùng tơi xanh rờn"
(Người Hàng Xóm)
"Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng"
(Tương tư)
''Mái gianh" trong thơ Nguyễn Bính có một sắc thái tình cảm độc đáo riêng Nó
đã thấm vào nỗi khắc khoải da diết trong hồn thơ ông Tuy chỉ được sử dụng bốn lần nhưng "mái gianh" đã gắn vào thơ Nguyễn Bính như một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng của làng quê, của quê hương yên bình và ấm áp :
"Chốn này đây nhiều mái gianh Nhiều hoa tim tím lắm trời xanh Nhiều bươm bướm trắng nhiều tơ trắng
Ta nhớ ai đâu chốn "thị thành"
(Không đề)
Trong dân gian thường đặt “mái tranh” so sánh với “tòa ngói cao” với ý niệm
đề cao cái nghèo, trân trọng cái nghèo “Mái tranh” là biểu hiện của sự nghèo khổ nhưng luôn tiềm ẩn những giá trị tốt đẹp về tình người, tình làng quê
"Mái gianh" ở làng quê là nơi che chở cho cuộc sống yên ấm và thanh bình của những con người giản dị, sáng trong tình nghĩa :
"Sang năm ra ở riêng rồi
Vợ tôi dệt lụa, tôi ngồi ngâm thơ Lụa may áo bán còn thừa
Tôi đem thay giấy viết thơ chung tình Giăng câu này dưới mái gianh , Nhà cô thôn nữ, vợ anh học trò"
(Nhà Cô Thôn Nữ)