Vì khi đến với một tác phẩm văn chương, người đọc bao giờ cũng phải tiếp cận với thế giới ngôn ngữ và chỉ qua đó họ mới có thể nhận thức được hệ thống các sắc điệu cuộc sống được tái hiệ
Trang 1TÁM CỦA NGUYỄN TUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI, 2016
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới TS Đỗ Thị Thu
Hương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo trong tổ Ngôn ngữ khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu
Xin cảm ơn bạn bè, gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Hà
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, đặc biệt là TS Đỗ Thị Thu Hương Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Hà
Trang 5Mục lục
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Vài nét về trường nghĩa Error! Bookmark not defined 1.2 Một số nét về tác giả Nguyễn Tuân Error! Bookmark not defined 2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Lịch sử nghiên cứu trường nghĩa 2
2.2 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Tuân từ góc độ ngôn ngữ 3
3 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 6
Nội dung 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Khái niệm trường nghĩa 7
1.2 Phân loại trường nghĩa 7
1.2.1 Trường nghĩa dọc 8
1.2.1.1 Trường nghĩa biểu vật (Trường biểu vật) 8
Trang 61.2.1.2 Trường nghĩa biểu niệm (Trường biểu niệm) 10
1.2.2 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính) 11
1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng (Trường liên tưởng) 11
1.3 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 12
1.3.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương 12
1.3.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 14
1.3.3 Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương 15
1.3.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 15
Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ CÁC TRƯỜNG NGHĨA TRONG CÁC SÁNG TÁC TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA NGUYỄN TUÂN 17
2.1 Trường con người 17
2.1.1 Trường nghĩa chỉ tên gọi của con người theo thứ bậc gia đình và chức vụ, nghề nghiệp 22
2.1.2 Trường nghĩa chỉ hoạt động của con người 30
2.1.2.1 Trường nghĩa chỉ hoạt động dời chỗ của người 30
2.1.2.2 Trường nghĩa chỉ hoạt động sử dụng vật gây sát thương của con người 32
2.1.2.3 Trường nghĩa chỉ hành động nói năng của con người 33
2.1.3 Trường nghĩa chỉ trạng thái, tâm lý của con người 35
2.1.4 Trường nghĩa chỉ hinh dáng, điệu bộ của con người 28
2.1.5 Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể của con người 24
2.2 Trường đồ vật 39
2.2.1 Trường chỉ đồ dùng sinh hoạt 39
2.2.2 Trường chỉ đồ vật gây sát thương 44
2.2.3 Trường chỉ đồ dùng để thờ 45
2.2.4 Trường chỉ đồ dùng để viết 42
2.2.5 Trường chỉ đồ dùng để uống Error! Bookmark not defined
Trang 72.3 Trường nghĩa chỉ thiên nhiên cảnh vật 46
2.4 Trường từ ngữ chỉ những thú chơi 49
Phần kết luận 55
Tài liệu tham khảo 57
Trang 8Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đúng như M.Gorki từng nói “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó cùng với các sự kiện, hiện tượng của cuộc sống
là chất liệu của văn học”
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể ngôn từ do người nghệ sĩ sáng tạo ra Bởi vậy đòi hỏi về tính hệ thống ngôn ngữ của nó là tất yếu Vì khi đến với một tác phẩm văn chương, người đọc bao giờ cũng phải tiếp cận với thế giới ngôn ngữ và chỉ qua đó họ mới có thể nhận thức được hệ thống các sắc điệu cuộc sống được tái hiện trong tác phẩm cũng như nắm bắt hệ thống ý tưởng của nhà văn Như vậy, rõ ràng tính hệ thống là điều kiện tiên quyết cho
sự thành công của mỗi tác phẩm Tiêu biểu cho hệ thống ngữ nghĩa của từ ngữ trong tác phẩm văn học là các trường nghĩa Khi các từ ngữ có sự phù hợp với nhau về trường nghĩa sẽ tạo ra sự cộng hưởng về ngữ nghĩa giữa các
từ và ý nghĩa mà hệ thống biểu đạt này chính là điều mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm
Xác lập nghiên cứu các trường nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ nói chung và nghĩa của từ nói riêng, đồng thời cũng giúp ích rất nhiều trong việc lựa chọn, kết hợp từ để tạo lời, phục vụ mục đích giao tiếp
1.2 Nguyễn Tuân là một trong những tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Phong cách của ông có ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp văn nghệ sĩ, đặc biệt là những bài học về sự nghiêm túc trong công việc viết văn Vấn đề nghiên cứu nội dung, tư tưởng hay nghệ thuật văn chương của nhà văn
là một điều cần thiết
Trang 9Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân thật xứng đáng ở tầm cỡ nhà văn lớn Nói đến ông, người ta nghĩ ngay đến một sự nghiệp văn học đồ sộ, rất mực tài hoa và độc đáo Do vậy, việc nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Tuân có thể dựa trên nhiều phương diện: cách thức xây dựng hình tượng nhân vật, các biện pháp thể hiện nghệ thuật… Đề tài khóa luận này sẽ tìm hiểu các tác phẩm của Nguyễn Tuân trước Cách mạng ở phương diện ngôn ngữ Bởi vì tìm hiểu về trường nghĩa trong tác phẩm trước Cách mạng của Nguyễn Tuân không chỉ có ý nghĩa tích cực trong tiếp nhận văn chương nói chung mà còn là việc làm cần thiết đối với giáo viên dạy Văn trong tương lai khi giảng dạy về các tác phẩm của Nguyễn Tuân
Chính vì lý do đó,chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:“Khảo sát trường
nghĩa trong các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu trường nghĩa
Vấn đề trường nghĩa đã thu hút được sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học như: Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán… Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về trường nghĩa Định nghĩa trường nghĩa của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là tập hợp từ đồng nhất với nhau
về ngữ nghĩa Năm 1973, Đỗ Hữu Châu có công trình Trường từ vựng và hiện
tượng đồng nghĩa, trái nghĩa Trong công trình này, Đỗ Hữu Châu nêu các
hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích các trường
từ vựng Năm 1975, Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường và việc nghiên cứu từ vựng Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống lý thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa
Trang 10Tuy nhiên tác giả mới chỉ nghiên cứu một số hệ thống từ ngữ tiêu biểu
để minh họa cho lý thuyết về tính hệ thống thuộc cấp độ từ vựng Những vấn
đề về trường từ vựng ngữ nghĩa trong tác phẩm văn chương vẫn chưa có sự quan tâm và tìm hiểu một cách thỏa đáng
Nghiên cứu trường nghĩa trong tác phẩm của một hay nhiều tác giả cụ thể cũng được sự quan tâm của nhiều người Nghiên cứu vấn đề này có một
số công trình như: Luận án Tiến sĩ “ Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật” – Nguyễn Thúy Khanh, năm 1996 Luận văn Thạc sĩ “ Tìm hiểu trường nghĩa biểu vật trong truyện cười dân gian Việt Nam” – Hoàng Đăng
Trị, năm 2015 Luận văn Thạc sĩ “Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài” – Phó Thị Hồng Oanh, năm 2013 Khóa luận tốt
nghiệp “Khảo sát trường nghĩa trong tác phẩm viết về người nông dân của Nam Cao” – Nguyễn Thị Thoa, năm 2006 Khóa luận tốt nghiệp “Khảo sát trường nghĩa chiến tranh trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh” - Lê Thị Là, năm 2001 Khóa luận tốt nghiệp “Khảo sát trường từ ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp” – Nguyễn Thị Hồng, năm 2010 Khóa luận tốt nghiệp “Khảo sát trường nghĩa màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh và Nguyễn Duy” – Trần Thị Thủy, năm 2011
2.2 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Tuân từ góc độ ngôn ngữ
Cũng ở góc độ ngôn ngữ, qua khảo sát, chúng tôi thấy đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Tuân Ví dụ như, “ Khảo sát sự hạn chế biểu vật trong văn Nguyễn Tuân” – Trần Thị Hải, năm 2003; “Tính hệ thống từ ngữ trong một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân” – Nguyễn Thị Ngọc Lan, năm 2015,…Đề tài này đã nghiên cứu tính hệ thống của từ ngữ trong một số tác phẩm của Nguyễn Tuân Khóa luận tốt nghiệp: “ Ngôn ngữ Nguyễn Tuân trong các bài viết về văn học nghệ thuật” – Đào Thị Hải, năm 2009 Đề tài này đã nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Tuân
Trang 11trong các bài viết về văn học để thấy được ông không những là bậc thầy về tiếng Việt trong truyện ngắn, tùy bút hay bút kí mà còn là nghệ sĩ tài hoa độc đáo khi bàn về văn học nghệ thuật Hay luận văn thạc sĩ: “ Đặc điểm ngôn từ
và giọng điệu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945” - Võ Vân Hà, năm 2009 Luận án này tập trung tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của nhà văn trong toàn bộ truyện ngắn của ông trước Cách mạng
Như vậy, xét ở lĩnh vực ngôn ngữ, các tác phẩm của Nguyễn Tuân được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau Tất cả những nghiên cứu này đều là những tư liệu rất quý giá để chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu về phong cách nghệ thuật trong văn ông, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Tuy nhiên, những nhận xét đánh giá đó chưa thực sự trở thành một hệ thống toàn diện và chưa cos công trình nào khảo sát hiệu quả việc sử dụng trường nghĩa trong việc biểu hiện chủ đề trong văn Nguyễn Tuân
Do đó, qua việc tìm hiểu, điều tra, chúng tôi nhận thấy tính chất bổ ích
của vấn đề định nghiên cứu và quyết định lựa chọn đề tài: “Khảo sát trường
nghĩa trong các sáng tác trước Cách mạng của nhà văn Nguyễn Tuân”
3 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, tập hợp từ ngữ trong sáng tác của Nguyễn Tuân, khóa luận nhằm chỉ ra một số trường từ ngữ được sử dụng nhiều trong sáng tác trước Cách mạng của ông, từ đó thấy được phong cách tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ứng với mục đích nêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 12- Tổng hợp các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê và phân loại ngữ liệu
- Phân tích và miêu tả một số trường nghĩa trong sáng tác của Nguyễn Tuân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài này là các trường nghĩa trong các sáng tác trước Cách mạng của Nguyễn Tuân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu được khảo sát trong các sáng tác trước Cách mạng của
Nguyễn Tuân, tiêu biểu là tập truyện ngắn “ Vang bóng một thời”, “ Chiếc
lư đồng mắt cua”, “ Tóc chị Hoài” và hai tập tùy bút: Tùy bút 1 và Tùy bút
2
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, miêu tả
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: Khóa luận góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về trường nghĩa, đồng thời làm rõ hơn tính hệ thống từ ngữ trong các tác phẩm văn chương
- Về mặt thực tiễn:
Trang 13+ Đề tài góp phần vào việc khai thác những đặc sắc trong tác phẩm của Nguyễn Tuân về mặt ngôn ngữ, qua đó thấy được tài năng bậc thầy của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ
+ Hi vọng khóa luận này sẽ đem lại cho độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Tuân một cái nhìn toàn diện hơn về tác giả, đồng thời khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh, sinh viên trong quá trình xem xét và thẩm định tác phẩm của Nguyễn Tuân
+ Đề tài khóa luận này sẽ góp phần thiết thực vào việc giảng dạy và học tập các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong nhà trường Người giáo viên cần cho học sinh thấy được khả năng sử dụng từ ngữ ưu việt, linh hoạt của nhà văn
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc làm 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Miêu tả trường nghĩa trong các sáng tác trước Cách mạng
tháng Tám của Nguyễn Tuân
Trang 14Nội dung CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm trường nghĩa
Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa Lý thuyết về trường nghĩa ra đời mấy chục năm gần đây Tư tưởng
cơ bản của lý thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, song có thể quy về hai khuynh hướng chủ yếu sau:
- Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu thị
- Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi của tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa
Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng – ngữ nghĩa Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù liên quan đến trường nghĩa Ông đã vận dụng lý thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa Trước tiên, trường là một tập hợp bao chứa những đối tượng
có tính tương liên với nhau Tập hợp đó tồn tại một cách khách quan, có mối liên hệ nội tại chặt chẽ và làm nên một giá trị chung Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm về trường nghĩa như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi
là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ
1.2 Phân loại trường nghĩa
Trang 15F.de.Saussure trong giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan
hệ ngữ nghĩa) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Theo hai dạng quan hệ đó có thể có 2 loại trường nghĩa là trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc
Trong giáo trình “Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã giới thiệu hai trường nghĩa dọc gồm trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm rồi đến trường tuyến tính và kết thúc bởi một trường nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng từ ngữ trong tác phẩm văn chương là trường liên tưởng
1.2.1 Trường nghĩa dọc
1.2.1.1 Trường nghĩa biểu vật (Trường biểu vật)
Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra các nghĩa biểu vật của các
từ về trường nghĩa biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, chất liệu… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của các từ về mặt biểu vật,
là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của các từ Như vậy, nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi danh từ trên
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ và các trường nghĩa biểu vật nhỏ này lại có thể tiếp tục phân chia thành các trường nhỏ hơn
Ví dụ, trường nghĩa biểu vật về mắt:
+ Trường nghĩa chỉ bộ phận của mắt: lông mày, lông mi, mí, mi, lòng
đen, lòng trắng, con ngươi, khóc, nước mắt, lệ, lụy,…
Trang 16+ Trường nghĩa chỉ đặc điểm của mắt:
Trường nghĩa đặc điểm ngoại hình: bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, dao
cau, phượng, ngài, lươn, lá răm , him, lưỡi mác, huyền, đen, trắng dã, tròn…
Trường nghĩa đặc điểm về năng lực của mắt: đờ đẫn, sắc, lờ đờ,
mù, lòa, tinh anh, tốt, kém, toét,…
Trường nghĩa cảm giác của mắt: chói, quáng, hoa, cộm, xót…
Số lượng từ ngữ và tổ chức từ ngữ trong các trường lớn hoặc trong các trường nhỏ là khác nhau Trong các ngôn ngữ khác nhau thì có sự khác nhau càng lớn Các miền trong các trường cũng rất khác nhau Có những miền trống, có những miền có mật độ cao Điều này khẳng định tính dân tộc và tính ngôn ngữ của các trường biểu vật
Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật cho nên từ có thể nằm trong các trường khác nhau, từ đó dẫn đến hiện tượng giao thoa, thẩm thấu giữa các trường Hai trường biểu vật giao thoa khi gặp một hoặc một số từ của trường này nằm trong trường kia Số lượng các từ chung của hai trường càng ít thì tính độc lập
của chúng càng cao Chẳng hạn như, trường nghĩa người sẽ gồm các từ: đầu,
tóc, mình, chân, tay, mắt, mũi, miệng, răng, da, lưỡi, ruột, gan, máu, xương,
ăn, uống, đạp, đi, chạy, nhảy, la, hét… Trường động vật sẽ gồm các từ: đầu, mình, đuôi, bụng, cổ, sừng, răng, lưỡi, ruột, gan, máu, xương, ăn, uống, đi, chạy, nhảy, hú, hót… và hầu hết các từ thuộc trường động vật đều nằm trong
trường người như các từ: đầu, mình, chân, tay, máu, xương, đi, chạy, ăn
uống… Ta nói trường người và trường động vật giao thoa, thẩm thấu vào
nhau
Trong một trường biểu vật, quan hệ của các từ ngữ đối với trường là không giống nhau Những từ có nghĩa biểu vật gần với từ trung tâm sẽ gắn chặt với trường tạo thành lõi của trường Ngoài lõi là các lớp từ gắn bó với trường theo chiều hướng lỏng lẻo dần
Trang 171.2.1.2 Trường nghĩa biểu niệm (Trường biểu niệm)
Trường nghĩa biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm” [4, tr 176] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo)…
(phục vụ sinh soạt) gồm dụng cụ để đặt: bàn, giá, gác, xích đông; dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng; dụng cụ để chứa, đựng: tủ, rương,
vali, hòm, chạn, thúng, chai, lọ; dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, khăn, khố, váy, giày, dép; dụng cụ để che phủ: màn, mùng, chăn, chiếu…
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường biểu niệm nhỏ và cũng có những “miền” với mật độ khác nhau Từ có nhiều nghĩa biểu niệm, bởi vậy một từ có thể đi vào nhiều nghĩa biểu niệm khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “giao thoa, thẩm thấu” vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những lớp từ ở ngoại vi Khi nói hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, chúng ta đã đề cập đến các từ điển hình cho cấu trúc biểu niệm Các từ điển hình này tạo thành những cái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm Nhờ chúng mà sự tồn tại của một trường biểu niệm mới được khẳng định Cũng chính nhờ sự đối chiếu với chúng, ta mới biết một từ có thể thuộc bao nhiêu trường biểu niệm khác nhau
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật, trường biểu niệm là dựa trên
sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có trường biểu vật Nhưng khi cần phân biệt một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì phải dựa vào các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm
Trang 18Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ta phải sử dụng hết nét nghĩa biểu vật Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường Nhưng cũng nhờ các trường, chúng ta hiểu thêm sâu sắc ý nghĩa của từ
1.2.2 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp những từ có thể kết hợp với một từ gốc để có thể tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong
ngôn ngữ Chẳng hạn, trường tuyến tính của từ “đi”: nhanh, chậm, khập
khiễng, tập tễnh…; lên, xuống, ra, vào…; học, làm, chơi, chợ, giày, dép, tất,…
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ trường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại văn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng (Trường liên tưởng)
Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra Chẳng hạn, trường liên tưởng của từ “đỏ” bao gồm
các đơn vị từ vựng: dâu tây, dưa hấu, áo, quần, môi, lửa, máu…
Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng
từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ nằm trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật,
Trang 19trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có cấu trúc quan hệ đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm
Song trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới
do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng
có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân
Các trường liên tưởng không ổn định nên có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Những trường liên tưởng lại có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, hiện tượng sáo chữ, sự ưa thích dùng từ nào đấy để nói hay viết, né tránh các từ nhất định… Do vậy, ta thấy chỉ xét về diện mạo, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương cũng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với một tác phẩm văn học của thời đại khác Cho nên các chuyến đi của các văn nghệ sĩ không chỉ có ý nghĩa thường xuyên đổi mới tư tưởng, tình cảm, vốn sống mà còn là thường xuyên cải tạo, đổi mới ngôn ngữ của mình
1.3 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương
1.3.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương
Từ ngữ có thể chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ Có nhận xét như sau: các từ trong một trường biểu vật thường lôi kéo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định
Nếu các từ chuyển theo ẩn dụ thì thường xảy ra sự chuyển trường biểu vật, có nghĩa là các từ thuộc trường biểu vật này kéo theo nhau chuyển sang trường biểu vật khác tạo nên hiện tượng được gọi là cộng hưởng ngữ nghĩa
Trang 20Ví dụ: từ “lửa” chuyển sang trường tình cảm, trạng thái tâm lý thì kéo
theo các từ hừng hực, rực, bốc, nhen nhóm, đốt, tàn… cùng chuyển sang trường đó (nhen nhóm một tình yêu)
Trong văn chương, các từ ngữ trong một câu văn, một đoạn văn thường kéo theo nhau theo cùng một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật Có thể nói tới hình ảnh chủ đạo (tức ẩn dụ, hoán dụ) của đoạn văn, câu văn (hay của một tác phẩm), hình ảnh chủ đạo thuộc trường biểu vật nào thì kéo theo các từ khác cùng trường với nó:
Không đâu, gió nén từ tám hướng đang bung ra Một cơn bão đang đến Lao vào Nam Lào, con thuyền Việt Nam hóa chiến tranh của Nich Xơn đã lao vào trung tâm một cơn bão lớn Bão nổi ở Cha Kia, La Tương… Bão quật sang đỉnh cao 500 xoáy vụn tiểu đoàn 39… Bão dập xuống đồi 456 xẻ nát tiểu đoàn 3 và cuốn sạch chỉ huy lữ đoàn 4… Bão xoáy lốc trên ngọn 550 vùi luôn tất cả những khẩu pháo hạng nặng cùng với lữ đoàn số 147… Bão dồn gió thép về bản Đông
(Báo Quân Đội nhân dân, ngày 9-4-1971)
Hình ảnh chủ đạo là bão táp kéo theo các từ gió, nén, hướng trung tâm,
nổi, quật, dồn, cuốn, lốc…
Hình ảnh chủ đạo có khi được nói rõ ra, có khi được hiểu ngầm qua các
từ cùng trường trong đoạn văn
Mặt khác, với văn chương, sáng tạo trong hình ảnh ngôn ngữ thường là sáng tạo cục bộ, bắt nguồn từ nguyên mẫu đã có từ trước, nguyên mẫu được chứa trong các ẩn dụ, hoán dụ truyền thống Điều này giải thích tính truyền thống và tính sáng tạo trong các hình ảnh văn chương Bên cạnh đó, tác động của trường biểu vật còn thể hiện ở cái gọi là các lực hướng tâm và li tâm của trường Theo HanSprerber, nguồn gốc chủ yếu của sáng tạo văn học và chuyển nghĩa là các lực cảm xúc Do đó, ở mỗi cá nhân cũng có những phạm
Trang 21vi tư tưởng riêng, những ám ảnh riêng, gây ra những lực cảm xúc riêng ở từng người Chúng tác động theo hai hướng: một mặt chúng “bành trướng” ra lấn vào các phạm vi tư tưởng và từ ngữ khác và hút về mình những từ ngữ thuộc những lĩnh vực khác
Thí dụ: Trước đây 28 năm, phạm vi tư tưởng trung tâm của nước ta là chiến đấu, chúng ta thấy những từ ngữ thuộc trường quân sự, lấn sang các
trường khác: Mặt trận văn hóa, kinh tế, chiến dịch trừ sâu; vũ khí tư tưởng… lấn sang cả tình yêu: tấn công, bao vây…
1.3.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương
Khi phản ánh một hiện tượng nào đó vào tác phẩm, người viết “khắc họa” nó bằng ngôn ngữ của mình Đối với một đoạn thơ thường chứa đựng một cái gì đồng nhất về nghĩa xuất phát từ các phương diện của hiện thực, tạo thành sự vật được nhận thức của tác phẩm Để làm nổi bật cái đồng nhất đó,
từ ngữ diễn đạt cũng phải chứa cái gì đó chung, phù hợp với nhau tạo nên hiện tượng được gọi là sự cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ Sự cộng hưởng ngữ nghĩa này dựa trên nét nghĩa đồng nhất vốn có trong các từ, nói khác đi, dựa trên nét nghĩa chung cho một trường (hay một nhóm từ ngữ trong một trường) biểu niệm
Trở lại với đoạn văn viết về chiến thắng Nam Lào 1971 đã dẫn ở trên, ngoài sự thống nhất về trường biểu vật gió bão, các từ còn thống nhất về nét
nghĩa “cường độ mạnh”: bão, nén, nổi, lao, quật,… cả đến đối tượng tức nạn
nhân của cơn bão và của các vận động mạnh mẽ, cũng là những sự vật to
khỏe: tiểu đoàn, lữ đoàn,… những khẩu pháo hạng nặng… Việc sử dụng
những tập hợp từ ngữ như trên đã tạo ra hình ảnh về quân sự với những “sức mạnh” của một “cơn bão lớn”
Sự cộng hưởng về ngữ nghĩa không chỉ xảy ra đối với các từ ngữ mà nó còn có thể chi phối cấu trúc cú pháp, cả ngữ âm, tiết tấu,… Do đó, người viết
Trang 22thường phối hợp tất cả các yếu tố, các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra sự toàn bích về hình thức cho tác phẩm của mình
1.3.3 Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương
Trong ngôn ngữ văn chương, có những trường nghĩa ngang vượt ngoài chuẩn mực Đây là những sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ trong cách dùng
từ ngữ Những kết hợp bất thường này có thể được chấp nhận rộng rãi, trở
thành những kết hợp bình thường Suối, bờ,… trong ngôn ngữ thơ có thể kết hợp với tóc thành suối tóc với vai thành bờ vai Chúng chưa thành thành tố của trường nghĩa ngang của hai từ tóc và vai trong khi mây đã đi vào trường nghĩa ngang bình thường của tóc: tóc mây
1.3.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương
Trường liên tưởng có hiệu lực lớn, giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng
từ trong các tác phẩm văn học, giải thích những hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói hay viết, sự né tránh hoặc kiêng kị những từ nhất định
Không nói đến những sự sai biệt về chủ đề, về tư tưởng, về các chi tiết thực tế, về hình tượng… Chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ cũng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với tác phẩm văn học của thời đại khác Một tác giả đã từng sáng tác có hiệu quả trong thời kỳ trước thường gặp khó khăn trong các sáng tác thời kỳ sau, đặc biệt là các thời kỳ đã xuất hiện những thay đổi rất căn bản trong xã hội Đó không chỉ vì người đó
đã mang quá nặng những “nghiệp chướng” của thời đại mình mà còn vì ngôn ngữ của mình đã bị ràng buộc quá sâu nặng với các trường liên tưởng cũ
Do đó, mỗi người nghệ sĩ phải gắn bó với cuộc sống, với thời đại để không chỉ thường xuyên đổi mới tư tưởng, vốn sống, tình cảm mà còn để thường xuyên cải tạo, đổi mới ngôn ngữ của mình
Trang 23Tiểu kết:
Ở chương này, chúng tôi đã tổng hợp các vấn đề lý thuyết về trường nghĩa, nêu được khái niệm trường nghĩa, đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa Cách phân loại trường nghĩa, bao gồm : trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính và trường liên tưởng Đồng thời chỉ
ra mối quan hệ giữa các trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương Những hiểu biết đã trình bày trên sẽ được vận dụng khi chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê và nhận xét các trường từ ngữ trong các sáng tác trước Cách mạng của Nguyễn Tuân
Trang 24CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ TRƯỜNG NGHĨA TRONG CÁC SÁNG
Thống kê tập truyện ngắn “Vang bóng một thời”, “Chiếc lư đồng mắt
cua”, “Tóc chị Hoài”, và hai tập tùy bút, chúng tôi tập hợp được những
đơn vị từ vựng)
Cụ Thượng, cụ Hồ Viễn, ông Phó sứ, cậu Chiêu, cô Tú, cậu Năm, ông Kinh lịch, cụ Lớn, người con trưởng, ông
Cử Hai, ông huyện Thọ Xương, tiểu bộc, bà tài Vầy, thầy thơ lại, viên quản ngục, đao phủ,…
Bộ phận cơ thể (117 đơn
vị từ vựng)
Mắt (25 lần), tay (15 lần), tóc (8 lần), chân (6 lần), môi (5 lần), móng
Trang 25tay (5 lần), tai (4 lần), vai (3 lần), râu (3 lần), răng (3 lần), ngực (2 lần), trán, cổ, bàn tay, gáy, đầu, rốn, lưng, thái dương,…
điệu bộ (55 đơn vị từ vựng)
Lom khom (3 lần), rón rén (3 lần), khom khom (3 lần), hấp tấp (3 lần), lấm lét (2 lần), mon men (2 lần), co ro (2 lần), thong dong, chập chờn, tập tễnh, loay hoay, e dè, kính cẩn, đủng đỉnh, hì hục, loạng choạng, vụng về, lững thững, nghênh ngang, đạo mạo, lúi húi, khẽ khàng, rình mò, chập chững, khom mình, né mình, khép nép,…
chỗ ( 67 đơn vị từ vựng)
Chạy (16 lần), đi (7 lần), nhảy (7 lần), lùi (3 lần), chạy miết (2 lần), tiến (2 lần), nhảy nhót (2 lần), leo (2 lần), bò (2 lần), rảo bước, chồm,
Trang 26trườn, lách mình,chạy tuốt, lẩn, chạy tới tấp, chạy vụt, xộc,…
Hoạt động sử dụng vật gây sát thương
( 33 đơn vị từ vựng)
Chém (11 lần), múa (6 lần), múa lượn, đưa, phạt, chống, giật, gọt, cắt, tập bắn, rút súng, chĩa, hoa không, phát, đấm, quơ, buộc, giật, phóng,…
Hoạt động nói năng
( 71 đơn vị từ vựng)
Nói (15 lần), quát (6 lần), lẩm bẩm (4 lần), bảo (3 lần), nói chõ (3 lần), kêu (3 lần), khe khẽ (2 lần), bô bô (2 lần), thì thầm (2 lần), nói mê (2 lần), hét (2 lần), cằn nhằn, làu bàu, bậm bẹ, lè nhè, chửi đổng, bép xép, to tiếng,
dạ, thưa, nhao nhao,…
tâm lý (430 đơn vị từ vựng)
Vui vẻ (25 lần), buồn (22 lần), sợ hãi (17 lần), sung sướng (13 lần), nhớ (13 lần), mệt mỏi (8 lần), rùng mình (7 lần),
Trang 27cảm động (7 lần), bực mình (6 lần), điên cuồng (5 lần), hốt hoảng (4 lần), tức giận (3 lần), ung dung (2 lần), kinh động (2 lần), hoàn hồn, tươi tỉnh, khoái trá, băn khoăn, tư lự, lạnh lùng,
Đồ vật dùng
để uống ( 35 đơn vị từ vựng)
Chén ( 93 lần), ấm đồng ( 9 lần ), khay trà ( 5 lần), chén quân ( 2 lần), chén tống ( 2 lần), ấm chén, ấm đất độc ẩm, bộ
đồ trà, ấm độc ẩm, bình tích, ấm con chuyên trà,
Trang 28ấm quý, ấm song, máy hâm nước trà,…
Đồ vật để viết ( 33 đơn vị từ vựng)
Giấy lụa, giấy lệnh hội, giấy thi, giấy Tàu bạch, giấy, bút, lụa trắng, thoi mực, giấy bản, cây bút thỏ, bút Tảo Thiên Quân, bút Song Lan, bút Thanh Chi, bút Nhất Chi, bút Kiều Lan, bút Lan Trúc, mực Kiêu kị, thoi Hoàng tam sương, mực hiệu Diệu tự, tấm lụa bạch, chậu mực, thoi mực, nghiên bút, thủy trì, bút nho,…
Đồ vật gây sát thương ( 27 đơn vị từ vựng)
Thanh quất, gươm, bút chì, dao, súng, thanh bảo kiếm, súng đoản
mã, súng thập bát, chầy, búa, đục, bào, tràng, cưa, dao găm, tên vàng, tên bạc, cung sừng, xiềng,…
Đồ vật dùng
để thờ ( 6 đơn
Bát nhang, bàn thờ, cây đèn đế, chiếc lư đồng,
Trang 2912 lần), sông ( 8 lần), trăng ( 7 lần), ánh sáng (
5 lần), trời đất ( 5 lần), mây ( 4 lần),…
2.2 Miêu tả trường nghĩa trong các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân
2.2.1 Trường con người
2.2.1.1 Trường nghĩa chỉ tên gọi của con người theo thứ bậc gia đình và
chức vụ, nghề nghiệp
Trang 30Dùng thứ bậc trong gia đình, chức vụ nghề nghiệp để gọi tên nhân vật là phép cải danh của Nguyễn Tuân Ông gọi nhân vật bằng chính nghề nghiệp của nhân vật hay lấy thức bậc trong gia đình để thay tên gọi Đây là cách gọi rất phổ biến trong đời sống, nhất là thời xưa Qua những trang văn tài hoa của Nguyễn Tuân, nó còn được biến hóa linh hoạt tạo sự bất ngờ, gây hứng thú Theo kết quả thống kê, có khoảng 70 đơn vị từ vựng thuộc trường nghĩa chỉ
tên gọi theo chức vụ nghề nghiệp và thứ bậc gia đình như: cụ Thượng, cụ Hồ
Viễn, ông Phó sứ, cậu Chiêu, cô Tú, cậu Năm, ông Kinh lịch, cụ Lớn, người con trưởng, ông Đầu Xứ Anh, ông Đầu Xứ Em, ông Cử Hai, ông huyện Thọ Xương, tiểu bộc, bà tài Vầy, thầy thơ lại, viên quản ngục, đao phủ,…
Với cách gọi tên như vậy, Nguyễn Tuân đã đưa chúng ta trở về với không khí của chế độ phong kiến thuở trước Ở đó có sự phân cấp thứ bậc quan chức, đứng đầu là nhà vua, tiếp đến là hai hàng quan văn và quan võ,
thứ đến là quan Phủ, quan Huyện như: Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường (Chữ
người tử tù), ông huyện Thọ Xương (Đèn đêm thu), ông Huyện Khỏe (Xác ngọc lam), ông Phó sứ (Đánh thơ), quan án Trần (Vườn xuân lan tạ chủ)…
Người ta không gọi tên riêng của những người giữ chức quan đó mà xưng hô với nhau bằng chức vụ, địa vị xã hội hay thứ bậc gia đình Gọi như vậy vừa đảm bảo tính chất tôn nghiêm lịch sự, vừa không sợ phạm húy, một điều tối kị trong cách xưng hô phong kiến Còn với Nguyễn Tuân, việc nhà văn lấy chức
vụ nghề nghiệp của nhân vật để gọi tên như: thầy bát, thầy thơ lại, thầy quản,
đao phủ (Chữ người tử tù), tiểu bộc (Loạn âm), bõ già (Hương cuội)… vừa
tạo cho tác phẩm của mình không khí trang trọng, thiêng liêng vừa nói lên được phần nào đặc điểm tính cách của nhân vật
Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân đã dùng một hệ
thống các từ Hán Việt để chỉ chức danh của một số loại người trong xã hội
phong kiến xưa: viên quan coi ngục, thầy thơ lại, thầy bát, lính tỉnh, lính
Trang 31canh, ngục quan, đao phủ… Đây chính là những “công cụ” trực tiếp của chế
độ phong kiến để trừng trị những con người đi ngược lại lợi ích của nó Những cách định danh này như dựng lên một bức thành thống trị phong kiến vừa kiên cố vừa bảo thủ, vừa tàn nhẫn một cách lạnh lùng
Nhân vật quản ngục, mới nghe cái tên, người ta đã thấy được tính cách, bản chất của nhân vật: “tàn nhẫn, lừa lọc, hỗn loạn, xô bồ” Nhưng chỉ đến khi đọc và tìm hiểu tác phẩm, người đọc mới nhận ra và cảm phục, trân trọng con người, thiên lương của quản ngục
Nguyễn Tuân còn gọi tên nhân vật bằng thứ bậc trong gia đình như: cậu
ấm Hai, cô chiêu Tần (Vườn xuân lan tạ chủ), mợ ấm cả, mợ ấm hai
(Hương cuội), cụ Thượng (Đèn đêm thu)… Những cái tên như: cô Chiêu, cô
Tú, cậu ấm Hai gợi cho chúng ta hình ảnh những cô cậu con nhà giàu, được
sống nhàn hạ, sung sướng, được chăm bẵm, nuông chiều, không phải vất vả,
lam lũ Hay nghe đến tên “cụ Thượng”, chúng ta cũng hình dung được đây là
một người cao tuổi nhất ở trong làng, có chức sắc, địa vị
Như vậy, với cách dùng chức vụ nghề nghiệp và thứ bậc gia đình, Nguyễn Tuân đã làm phong phú thêm thế giới tên gọi cho các nhân vật của mình, đồng thời phần nào thể hiện được đặc điểm, tính cách nhân vật, đem đến cho người đọc cái nhìn đầu tiên về nhân vật
2.2.1.2 Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể của con người
Có thể nói nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân được miêu tả hết sức tỉ mỉ, chân thực từ hành động, ngôn ngữ, trạng thái tâm lý cho đến từng bộ phận cơ thể Theo kết quả thống kê, có khoảng 117 từ chỉ bộ phận cơ
thể được nhà văn sử dụng, trong đó có nhiều từ lặp lại nhiều lần: mắt (25 lần),
tay (15 lần), tai (4 lần), vai (3 lần), râu (3 lần), chân (6 lần), răng (3 lần), môi (5 lần), tóc (8 lần), móng tay ( 5 lần), ngực (2 lần), trán, cổ, bàn tay, gáy, đầu, rốn, lưng, thái dương… Không phải nhân vật nào cũng được đề cập đến
Trang 32tất cả các bộ phận trên Mỗi nhân vật ở mỗi tác phẩm hiện lên với một vài bộ phận Thông qua những từ ngữ miêu tả các bộ phận của cơ thể, chúng ta cũng biết được đặc điểm ngoại hình và nghề nghiệp của mỗi nhân vật
Hình ảnh những nhà nho trong các truyện ngắn “Hương cuội”, “Đèn
đêm thu”, “Chén trà trong sương sớm” được hiện lên sinh động với phong
thái ung dung của bậc hiền triết Đây là bức tranh đầy đủ về những con người tài hoa đang hưởng thụ niềm vui cuộc sống an nhàn Hình ảnh của họ hiện lên
cụ thể và sinh động hơn qua hệ thống trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con
người như: tóc, râu, cặp mắt, lông mày, cùi tay, gối… và một trường chỉ tính chất đi kèm: bạc, hoa râm, ngả màu, lim dim…
Cụ Kép trong “Hương cuội” hiện lên với: lông mày – bạc, tóc – bạc,
râu – bạc, mắt - nhấp nháy Qua các từ chỉ bộ phận cơ thể kết hợp với các từ
chỉ tính chất, cụ Kép hiện lên như một ông bụt hiền lành, tốt bụng, một người đang sống và hưởng thụ cuộc sống an nhàn, thanh thản Qua đó, người đọc có thể hình dung được chân dung của những bậc cố nhân luôn tìm được sự an nhàn để sống thoải mái, vui vẻ bên con cháu trong những ngày cuối đời
Cũng miêu tả về những người lớn tuổi nhưng Bố Ô trong truyện ngắn
“Bố Ô” lại hiện lên với một diện mạo, phong thái hoàn toàn khác Ông cụ
cũng được nhắc đến với các từ chỉ bộ phận cơ thể như: râu, tóc, lông mày,
miệng, mắt, cánh tay, khuỷu tay, con ngươi và cũng gắn với các từ chỉ tính
chất: tóc râu – trắng, mặt – trắng, lông mày – trắng Và có lẽ, vì thế nên ông
được các cô gánh rượu gọi trêu là ông tiên Nếu chỉ dừng lại ở đây, người đọc
sẽ tưởng Bố Ô cũng như cụ Kép, cụ Thượng được sống an nhàn, hưởng lạc
Nhưng ông cụ lại được miêu tả với: tay – cử chỉ đại nghịch, mắt – đỏ rực, con
ngươi – muốn phọt ra, cánh tay – cong, gân mặt – hằn oẹo Cuộc sống của Bố
Ô lại càng bề tắc và khó khăn hơn khi hai chân không đi được, không đứng dậy được, cả ngày chỉ nằm trên chõng tre Cuộc đời không mấy may mắn,