Bên cạnh những nhà thơ tình " rất mới " khác nh Xuân Diệu, Lu Trọng L, Hàn Mặc Tử...thì Nguyễn Bính đã tạo nên một phong cách riêng biệt, không thể trộn lẫn vào bất cứ tên tuổi nào, và t
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa ngữ văn
- -kiều thị phơng thảo
Thơ tình Nguyễn bính trớc Cách mạng tháng tám
khoá luận tốt nghiệp
CHuyên ngành: Văn học Việt nam niên khoá : 2001 - 2006
Vinh - 2006
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đinh Trí Dũng cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu để chúng tôi hoàn thành khoá luận này Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, ngời thân và tất cả bạn bè đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm khoá luận tốt nghiệp.
Vinh, tháng 5 năm 2006 Sinh viên: Kiều thị Phơng Thảo
Trang 3
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài:
1.1 Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tình nổi lên nh một hiện tợng
đặc sắc trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Bên cạnh những nhà thơ tình " rất mới " khác nh Xuân Diệu, Lu Trọng L, Hàn Mặc Tử thì Nguyễn Bính đã tạo nên một phong cách riêng biệt, không thể trộn lẫn vào bất cứ tên tuổi nào, và trớc hay sau ông đều không có đợc
1.2 Thơ tình Nguyễn Bính là chuỗi những cung bậc cảm xúc tình yêu đợc
thể hiện một cách tinh tế, ý nhị và trong sáng Đọc thơ ông ngời ta cảm nhận
đợc tình yêu của một hồn thơ rất đỗi phong phú và cực kì nhạy cảm
1.3 Tiếp cận hồn thơ Nguyễn Bính với đề tài Thơ tình Nguyễn Bính trớc
Cách mạng tháng Tám chúng tôi nhằm làm rõ hơn một phơng diện độc đáo
của Nguyễn Bính trong nội dung cũng nh trong nghệ thuật thơ Tìm hiểu vấn
đề này chúng ta sẽ hiểu đợc vì sao thơ tình Nguyễn Bính lại dễ đi vào lòng ngời và đợc đông đảo độc giả yêu thích đến vậy
1.4 Nguyễn Bính là tác giả có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc, là
một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ mới, tác phẩm của ông đã đợc đa vào giảng dạy ở chơng trình phổ thông Thực hiện đề tài này vì thế, ít nhiều
sẽ có những đóng góp phục vụ cho việc dạy và học tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trờng phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong suốt thời gian nhiều thập kỉ qua thơ Nguyễn Bính đã trở thành
đối tợng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình yêu thích thơ
Trang 4ông và đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ viết về ông với quy mô và hớng tiếp cận khác nhau ở đây, do tính chất của khoá luận chúng tôi chỉ xin
điểm xuyết một số ý kiến tiêu biểu, gắn với vấn đề cần giải quyết của khoá luận
Ngời ta biết đến Nguyễn Bính từ khi Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh và Hoài Chân ra đời Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu công phu, có
tính khoa học cao đã đợc giới thiệu nh : Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê
(Hà Minh Đức ), Đờng về chân quê của Nguyễn Bính ( Đỗ Lai Thuý ), Nguyễn Bính - thi sĩ của thơng yêu ( Hoài Việt ) và hàng loạt các bài viết,
các công trình nghiên cứu của các nhà văn, các học giả nổi tiếng nh Mã Giang Lân, Đỗ Đình Thọ, Nguyễn Huy Thông, Lê Đình Kỵ cùng với các bài viết của các nhà giáo, sinh viên, học sinh đã đợc giới thiệu trên các tạp chí và các phơng tiện thông tin đại chúng
Là một thi sĩ của thơng yêu, vấn đề thơ tình Nguyễn Bính đợc độc giả
quan tâm một cách đặc biệt và là vấn đề đã đợc đề cập khá nhiều Có thể nói, các tác giả khi bàn về Nguyễn Bính không thể không nói đến tình yêu trong thơ ông bởi đây là một cảm hứng nổi bật xuyên suốt trong các sáng tác của
Trang 5ngời thơng mình, mê luôn cả ngời không thơng mình, mê ngời có thể yêu
th-ơng đợc mà mê luôn cả ngời mà mình không quyền yêu thth-ơng Yêu quá lố,
mê quá xá rút cuộc không làm gì đợc thì tơng t" [1,274]
Đỗ Đình Thọ trong bài viết Nguyễn Bính - nhà thơ của tình yêu đã có
một nhận định mang tính khái quát về nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Bính: "Nguyễn Bính đến với bạn đọc nh một cô gái quê kín đáo, mặn mà, duyên dáng Ngời đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha,
đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca dao Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu lắng và tế nhị hợp với phong cách và điệu tâm hồn của ngời á Đông" [1,316] Điều đặc biệt, Đỗ Đình Thọ đã thấy đợc mối quan hệ độc đáo giữa hiện thực cuộc đời và thơ tình Nguyễn Bính:
"Thực ra thơ tình của Nguyễn Bính chính là cuộc tình duyên lỡ dở của bản thân ông ( ) Tiếng nói trong thơ tình Nguyễn Bính là tiếng nói chân thực, nói thay cho những kiếp ngời bị xã hội đẩy họ vào chân tờng không lối thoát" [1,319] Cũng trong bài viết này Đỗ Đình Thọ còn cho thấy lí do mà thơ tình Nguyễn Bính đợc nhiều ngời a thích: "Thành công của thơ ông chính
là ông đã có nhiều câu đợc nhiều ngời thuộc và coi đó là tiếng lòng của chính mình " [1,320]
Đoàn Đức Phơng thì đi sâu vào cái độc đáo của thơ tình Nguyễn Bính qua bài viết: Bản sắc độc đáo của thơ tình Nguyễn Bính Ông nhận xét:
"Thơ tình Nguyễn Bính lại phù hợp với tâm hồn ngời bình dân bởi hồn thơ Nguyễn Bính là hồn ca dao, có rất nhiều câu thơ nh thể ca dao tình yêu" [1,312] Trong bài viết này, tác giả Đoàn Đức phơng đã có một nhận định mang tính khái quát về những sắc thái tình yêu đợc thể hiện trong thơ tình Nguyễn Bính: "Với Nguyễn Bính, những rung động sâu xa, thầm kín của tình yêu đã đợc diễn tả thật mộc mạc mà tinh tế ở nhiều cung bậc khác nhau: từ lúc còn ngây thơ trong sáng mới bớc vào tuổi yêu đơng cho đến khi phải
Trang 6lòng ai đó rồi nhớ nhung tơng t, từ những nỗi khắc khoải mong chờ giận hờn khi hò hẹn đến những đau đớn xót xa khi cách trở biệt ly" [1,311] Hơn nữa,
Đoàn Đức Phơng đã cho thấy nét độc đáo của thơ tình Nguyễn Bính: "Vì mang đậm hồn quê nên thơ tình Nguyễn Bính không quá lãng mạn bay bổng,
mà chủ yếu lại là đắng cay chua xót , đau thơng, do vậy thơ tình của ông rất
đậm đà chất thế sự" [1,313]
Thanh Việt trong bài viết Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng có
chung nhận định với các tác giả khác: "Thế giới thơ tình Nguyễn Bính là một
đóng góp thành công trong việc phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm: nhớ thơng, tơng t, mong chờ, giận hờn, trách móc, xót xa, biệt ly, mộng mơ, ớc mong hạnh phúc đến thất tình tan vỡ" [1,321] Bên cạnh đó, Thanh Việt còn phát hiện nét khác biệt của thơ tình Nguyễn Bính qua so sánh với thơ tình của một số nhà thơ mới khác: "Thơ Nguyễn Bính không đắm đuối ca ngợi tình yêu hởng lạc nh Vũ Hoàng Chơng, Đinh Hùng ( ) Nguyễn Bính có ý thức trong yêu đơng, không để tình yêu làm cho tha hoá, biến chất, không thể để những ham muốn trong tình yêu lứa đôi lôi cuốn vào vòng truỵ lạc Tác giả Thanh Việt khẳng
định: "Điều đó làm nên nét đặc sắc của thơ tình Nguyễn Bính" [1,325]
Nhìn chung, các công trình, bài viết của các tác giả đã có những phát hiện, những kiến giải cực kì quan trọng và sâu sắc về thơ tình Nguyễn Bính trớc cách mạng tháng Tám Tuy nhiên vì những lí do khác nhau, những hớng tiếp cận khác nhau mà vấn đề thơ tình Nguyễn Bính mới chỉ đợc khai thác ở
mức độ khái quát chung hoặc ở một khía cạnh cụ thể Vấn đề thơ tình Nguyễn Bính trớc Cách mạng tháng Tám không phải là mới , đi vào nghiên
cứu vấn đề này qua công trình Thơ tình Nguyễn Bính trớc Cách mạng tháng Tám chúng tôi nhằm làm rõ hơn nét độc đáo, riêng biệt tạo thành phong cách
thơ Nguyễn Bính với cái nhìn khái quát, toàn diện, thống nhất Sự kế thừa
Trang 7những thành quả của những ngời đi trớc sẽ tạo đà cho chúng tôi giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đề ra.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Đề tài này chọn mảng thơ tình Nguyễn Bính trớc Cách mạng tháng Tám làm đối tợng nghiên cứu Chúng tôi khảo sát chủ yếu qua các tập thơ:
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khoá luận này của chúng tôi sẽ đi vào giải quyết những vấn đề sau:
3.2.1 Tìm hiểu những tiền đề tạo cảm hứng tình yêu trong Thơ mới và sự thể
hiện tình yêu trong Thơ mới 1932 - 1945 qua một số nhà thơ tiêu biểu
3.2.2 Thông qua việc khảo sát các bài thơ tình của Nguyễn Bính từ đó khái
quát những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong mảnh thơ tình của ông
3.2.3 Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ tìm hiểu thêm về nhà thơ Xuân
Diệu để có một cái nhìn đối sánh nhằm khẳng định các giá trị trong sáng tác của Nguyễn Bính cũng nh vị trí của ông trong lịch sử văn học dân tộc
4 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu:
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 8Giới hạn nghiên cứu của đề tài này là trong mảng thơ tình Nguyễn Bính trớc Cách mạng tháng Tám - 1945 Đề tài chủ yếu tập trung phân tích, làm rõ đặc sắc của thơ tình Nguyễn Bính - cái tạo nên sự khác biệt trong thơ tình của ông với thơ tình của các nhà thơ mới đơng thời.
4.2 Phơng pháp nghiên cứu :
Để thực hiện khoá luận này chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau: phơng pháp thi pháp học, phơng pháp phân tích, phơng pháp thống
kê, phơng pháp so sánh
5 Cấu trúc khoá luận:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cảm hứng tình yêu trong thơ mới 1932 - 1945
Chơng 2: Đặc sắc thơ tình Nguyễn Bính
Chơng 3: Bớc đầu so sánh thơ tình Nguyễn Bính và Xuân Diệu
Trang 9Chơng 1
Cảm hứng tình yêu trong thơ mới 1932-1945
1.1 Những tiền đề cho cảm hứng tình yêu trong thơ mới:
1.1.1 Bối cảnh lịch sử kinh tế- xã hội:
Thời kì 1930-1945 là thời kì của những cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, từ đó dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực t tởng và ý thc hệ "Đó là thời kì chủ nghĩa thực dân kiểu cũ sắp đến ngày cáo chung trên bán đảo Đông Dơng, thực dân Pháp ngày càng phơi trần
bộ mặt thâm hiểm và tàn bạo, còn bọn phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng Châu á - Thái Bình Dơng"[10,303] Cũng trong thời kì này, sự xuất hiện và dần lớn mạnh của Đảng cộng sản Đông Dơng nh một xu thế tất yếu của thời đại cũng đã tạo nên một sức mạnh có tầm ảnh hởng đến toàn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
Với công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tạo nên những biến đổi cả về hình thức và t tởng của xã hội Việt Nam theo hớng t sản hoá Những chuyển biến đó bắt nguồn từ những biến đổi trong kết cấu kinh tế - xã hội cũng nh trong tâm lí và t tởng con ngời
Xã hội Việt Nam biến đổi, trớc hết là sự phát triển của công nghiệp, thơng mại, rồi các đô thị lớn ra đời, và cùng với đó là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu t sản mới, đây chính là một sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội
Đời sống của ngời Việt Nam, do đó cũng có một sự đổi thay mạnh mẽ :
"Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây Chúng ta dùng đèn
điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp Còn gì nữa ! Nói làm sao cho xiết những
điều thay đổi về vật chất, phơng tây đã đa tới giữa chúng ta! Cho đến những
Trang 10nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày
tr-ớc Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây" [4,10] Cuộc Âu hoá đã từ thay đổi những tập quán hằng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động t tởng và tất yếu nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa Tất cả những hình thức mới của đời sống, t tởng mới trong suy nghĩ và nhất là những ảnh hởng của văn hoá Pháp ngày càng thấm sâu vào cuộc sống tinh thần và vật chất của nhân dân ta Trong xã hội xuất hiện những vấn đề mới và cách nhìn, cách giải quyết những vấn đề đó cũng theo một cách khác
Có thể nói trong xã hội mới này, tầng lớp nhạy cảm nhất là tầng lớp trí thức tiểu t sản, họ có nhu cầu khẳng định mình, nhu cầu bày tỏ, bộc lộ, lí giải chính bản thân mình Biểu hiện cao nhất của nhu cầu ấy chính là tình cảm lứa đôi
1.1.2 Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân:
Sự gặp gỡ với văn hoá phơng tây, đặc biệt là văn hoá t sản Pháp giai
đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã tạo nên một sự thay đổi mạnh mẽ trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn năm nay Sự thay đổi ấy diễn ra không chỉ trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần, mà
ở giai đoạn này con ngời còn có ý muốn quẫy đạp, bứt ra khỏi cái vòng kiềm toả của xã hội cũ để đợc thể hiện mình, đợc sống với bản chất đích thực của mình
Sự xuất hiện ngày càng nhiều của một thế hệ mới - lớp thanh niên
"Tây học" không hề biết đến "cửa Khổng sân Trình" đã làm thay đổi ý thức xã hội Họ có những nhu cầu mới, khát vọng mới, và trong khi mà thế giới xung quanh (đời sống sinh hoạt thị thành) lại đang t sản hoá ngày càng mạnh, họ cảm thấy bừng tỉnh về ý thức cá nhân Cái tôi t sản, tiểu t sản xuất hiện, nó hăng hái tấn công vào lễ giáo, phong tục, nói chung là ý thức hệ phong kiến già cỗi đã từng trói buộc tinh thần, tình cảm con ngời từ hàng ngàn năm nay Chủ nghĩa cá nhân trở thành một ngọn cờ hấp dẫn, một khẩu
Trang 11hiệu tập hợp của nó Lúc này, văn thơ là địa hạt chủ yếu để cái "tôi" tự khẳng
định Thơ ca là nơi có thể nói đầy đủ tiếng lòng của nó và nó tìm đến nắm lấy thơ ca.Thơ cũ lúc đó lại là "cái ngục giam hãm tình tứ" với niêm luật chặt chẽ, những quy tắc nghiệt ngã; nó cảm thấy" hồn thơ ngạt giữa gông cùm" , "trái tim bị đè không dám đập" (Xuân Diệu - Tao Đàn, số đặc biệt
về Tản Đà, 1939) Nó muốn phá tung cái ngục với những "gông cùm" của ý thức hệ phong kiến phủ định cá nhân để giải phóng trái tim của nó Nó tuyên bố: "Tình chúng ta đã đổi mới , thơ chúng ta cũng phải đổi mới" [4,11] Yêu cầu đổi mới thơ ca chính là yêu cầu khẳng định cái "tôi", yêu cầu giải phóng tình cảm, cá tính của cái "tôi" Lúc đó, yêu cầu này trở nên mãnh liệt, khẩn thiết
Phong trào Thơ mới ra đời, mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hoá trong cảm thụ thẩm mĩ Cái tôi trong Thơ mới, ở một chừng mực nào đó, đã nói lên đợc một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân Nó làm cho thế giới tâm hồn của con ngời ngày càng đợc mở rộng và phong phú Và cái mới của Thơ mới chính là đã coi cái tôi cá nhân nh một một quan điểm, một t cách để nhìn đời và phát ngôn với mọi ngời Sự ý thức cá nhân ấy đã lấy cái tôi cá nhân làm đề tài, thậm chí là
đề tài trung tâm, và biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân ấy chính là trong
đề tài tình yêu lứa đôi
Sự xuất hiện của ý thức cá nhân đã mở rộng thế giới cảm xúc, cảm giác, đồng thời mở rộng chủ đề, đề tài văn học không chỉ trong Thơ mới mà trong văn học nói chung
1.1.3 ý thức thẩm mĩ mới:
Với sự biến đổi của bối cảnh lịch sử kinh tế xã hội và sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, tất yếu dẫn đến những thay đổi về quan niệm, ý thức thẩm mĩ trong văn học
Trang 12ý thức thẩm mĩ mới đã đem đến những quan niệm mới về sự đa dạng với những tiêu chuẩn đánh giá mới, với sự chấp nhận những thị hiếu khác nhau, những quan niệm hạnh phúc khác nhau cũng nh những con đờng khác nhau để đạt tới ý thức thẩm mĩ mới thể hiện trớc hết ở đề tài tình yêu cá nhân Tình yêu cá nhân ở những năm đầu thế kỉ XX của xã hội Việt Nam đ-
ợc các tác giả quan niệm, nhìn nhận mới mẻ hơn Họ đặt ra vấn đề tự do yêu
đơng và tự do thể hiện tình yêu của mình Họ quan niệm tình yêu là một phần tất yếu của cuộc sống và đó cũng chính là bản năng tự nhiên, phổ biến của con ngời Về mặt xã hội, tình yêu đợc xem là một thứ tình cảm đợc xã hội hoá, mang tính nhân văn sâu sắc Tình yêu là sự biểu hiện gắn liền với sự phát triển của ý thức cá thể trong xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, tình yêu giúp con ngời sống đúng với mình hơn, sống thật với mình hơn Họ yêu đ-
ơng, mơ mộng khác các cụ ngày xa nhiều lắm Trong bài diễn thuyết của mình Lu Trọng L đã nói: "Các cụ ta a những màu đỏ choét, ta lại thích màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng
gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi nh đã làm một việc gì tội lỗi cái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân nhng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già giặn, cái tình trong giây phút, cái tình nghìn thu"[4,11] ý thức thẩm mĩ mới về tình yêu cá nhân đã đợc biểu hiện cụ thể thành các hình tợng văn học trong Thơ mới
Cũng ở đầu thế kỉ XX, với đề tài tình yêu, ngời ta còn nhận ra vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi Vẻ đẹp ấy trớc hết là ở bản năng tính dục, nó khơi dậy
thế giới cảm giác của con ngời, khát khao đợc hởng thụ ái ân, đó là những phút thăng hoa trong cảm giác Tình yêu lứa đôi còn là vẻ đẹp của sự hài hoà vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội của hai cá thể ngời Sự hoà hợp
Trang 13đó giúp con ngời giải thoát khỏi sự cô đơn, ly cách, tránh những tội lỗi, u t Tình yêu thiêng liêng hoá con ngời, giúp con ngời sống tốt đẹp hơn.
Thơ mới ra đời, xét về mặt nội dung, là do nhu cầu thể hiện những t ởng, tình cảm, thị hiếu mới của một lớp công chúng mới trong xã hội Vấn
t-đề tình yêu trong Thơ mới đợc quan niệm, nhìn nhận với nhiều nét mới so với cách nhìn nhận của nền văn học trớc đó Thơ mới xuất hiện mang theo những quan niệm mới về giá trị đích thực của tình yêu lứa đôi, đó là những phút giây căng tràn nhựa sống, những cảm xúc yêu đơng rất thật, rất con ng-ời
1.2 Cảm hứng tình yêu trong Thơ mới 1932 - 1945:
Chủ đề tình yêu xuất hiện rất nhiều trong thơ ca nói riêng và trong văn học nói chung Tìm hiểu về Thơ tình Nguyễn Bính trớc Cách mạng tháng Tám chúng ta không thể đặt nó ra ngoài mạch cảm hứng chung về tình yêu
trong Thơ mới 1932 - 1945
Đề tài tình yêu không phải đến chủ nghĩa lãng mạn, đến Thơ mới mới xuất hiện, mà ta thấy trong văn học trung đại đã có rất nhiều tác phẩm nói về tình yêu Mối tình vàng đá của Kim - Kiều, tình yêu đầy trái ngang trắc trở của Phạm Thái và nàng Quỳnh Nh, hay những cảm xúc tình yêu trong thơ của Tú Xơng, Tản Đà Thế nhng, ta thấy tình yêu trong văn học trung đại
là một thứ tình cảm, cảm xúc rất chung chung :
Ai ơi, còn nhớ ai không Trời ma một mảnh áo bông che đầu ( áo bông che đầu - Tú Xơng )
Nớc non nặng một lời thề Nớc đi, đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nớc thề non
Trang 14Nớc đi cha lại, non còn đứng trông.
( Thề non nớc - Tản Đà )
Không chỉ trong cảm xúc mà việc thể hiện tình yêu đó trong thơ ca cũng có nhiều hạn chế với những quy tắc, khuôn phép, những điển cố, ớc lệ của văn học trung đại Vì thế, tình yêu trong văn học trung đại không mang dấu ấn cá nhân mà là thứ tình cảm chung của mọi đôi lứa Hơn nữa, trong nền văn học trung đại, tình yêu lứa đôi chỉ dừng lại và gắn liền với tình nghĩa chứ không đơn thuần là rung động của con tim, là những cảm xúc không thể nào lí giải đợc mà ngời ta vẫn thờng nói là trái tim có những lí lẽ riêng của
nó Tình yêu trong văn học trung đại, bởi vậy, đã không nói lên đợc một cách
sâu sắc, tinh tế những rung cảm của một trái tim yêu đơng
Đến chủ nghĩa lãng mạn, thứ tình yêu ấy mới cất lên thành điệu riêng Khi ý thức về cái tôi cá nhân đợc thức tỉnh, cùng với sự tác động của thời đại mới, tình yêu trở thành một nhu cầu tình cảm mãnh liệt và việc thể hiện tình yêu đó nó nói lên đợc cái tự do của cá nhân mỗi ngời Hơn bất cứ lĩnh vực nào, cảm xúc yêu đơng chiếm vị trí hàng đầu trong thi ca Dờng nh nhà thơ nào cũng có thể viết về tình yêu, và cảm xúc cũng đắm say, đằm thắm Không phải ngẫu nhiên mà những đỉnh cao Thơ mới đều là những nhà thơ tình Thơ mới ra đời đã đem đến những cảm xúc tình yêu đợc thể hiện một cách tinh tế, phong phú và đa dạng với những tên tuổi: Thế Lữ, Lu Trọng L, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chơng, Nguyễn Bính
Phải nói rằng, tình yêu trong Thơ mới là một cảm hứng xuyên suốt cả chặng đờng phát triển cho đến lúc suy tàn của Thơ mới, và ở mỗi tác giả tình yêu lại mang một sắc thái khác nhau Tuy nhiên, ở đây do giới hạn của khoá luận, chúng tôi chỉ xem xét, khảo sát thơ tình của các tác giả tiêu biểu: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Vũ Hoàng Chơng, Nguyễn Bính
Không phải tình cờ mà Xuân Diệu đợc xem là một nhà thơ tình kiệt xuất, là ông hoàng của thơ tình yêu Thơ tình Xuân Diệu là sự thăng hoa của
Trang 15cảm xúc, sự thăng hoa của toàn bộ các giác quan Trong tình yêu, Xuân Diệu rất sợ khoảng cách, cả khoảng cách về tâm hồn và khoảng cách về thể xác, khoảng cách thời gian lẫn khoảng cách không gian Thi sĩ kiếm tìm một cách tuyệt vọng sự hợp nhất tâm hồn và sự hợp nhất thể xác Với Xuân Diệu sự hợp nhất này là sự hợp nhất vô biên và tuyệt đích:
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt !
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng
Trong say sa anh khẽ bảo em rằng
"Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm" !
( Xa cách )
Bởi thế, Xuân Diệu luôn khao tình yêu một cách cháy bỏng Thi sĩ thấy tình yêu là một nguồn nớc mát mà mình là một kẻ vợt qua sa mạc đầy nắng và gió, ông nh luôn luôn bị cơn khát siêu hình dày vò mình:
Trời cao trêu nhử chén xanh êm
Biển đắng không vơi nỗi khát thèm
Nên lúc môi ta kề miệng chén
Trời ơi! Ta muốn uống hồn em.
Xuân Diệu tìm đến tình yêu, xem đó nh là một phơng tiện hữu hiệu nhất để giúp ông có thể níu giữ thời gian và tìm lại thời gian, vì trớc tiên Xuân Diệu vẫn là một thi sĩ say mê cái đẹp, say mê cuộc sống, tuổi trẻ Tình yêu là sự sống, sự sống là mùa xuân, mùa xuân là tuổi trẻ, nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu cũng đồng nghĩa với tuổi trẻ mùa xuân:
Xuân của đất trời nay mới đến
Trang 16Trong tôi, xuân đã đến lâu rồi
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vờn thơm ngát của hồn tôi!
Thơ tình Xuân Diệu luôn bộc lộ một tình cảm sôi nổi, yêu đời, yêu cuộc sống Tuy nhiên, thi sĩ càng say đắm lại càng cô đơn, càng hi vọng thì càng nhiều thất vọng, cuồng nhiệt, đam mê chỉ gặp những lạnh lẽo, hững hờ:
Lòng anh là một cơn ma lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai
Nhng dù có đau khổ vì điều đó, ta thấy thi sĩ không bao giờ thất vọng, chán nản Ông vẫn luôn thể hiện tình yêu dào dạt của mình, và thậm chí ta thấy dờng nh tình càng hờ hững, ông càng yêu nhiều hơn, mạnh mẽ hơn Thơ tình Xuân Diệu là sự trộn lẫn hai trạng thái tình yêu: sung sớng vì yêu và đau khổ vì yêu Nhng dù sung sớng hay đau khổ, lúc nào và bao giờ thi sĩ cũng khát khao đợc yêu, đợc giao cảm, hoà hợp, chia sẻ với tình nhân, với cuộc
Chiếm lĩnh thơ tình yêu, Hàn Mặc Tử là một kẻ mang trong mình niềm khao khat vô giới hạn, say mê và săn lùng cái tột cùng của nó Những
đau đớn, dày vò từ bệnh tật của ông nh đẩy ông ra xa, tạo một khoảng cách với mọi ngời, do đó trong sự cô độc, ông đã tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng với những mối tình vừa có thực trong đời thơ của ông vừa ở trong mộng tởng, ớc ao vì tình yêu giúp Hàn Mặc Tử vợt thoát khỏi nỗi đau bệnh tật và sự cô độc của số phận:
Mơ khách đờng xa, khách đờng xa
Trang 17hết tuyệt vọng lại điên cuồng hi vọng Tình yêu, với ông vừa là một phơng
tiện để thoát khỏi nỗi cô đơn, nhng vừa là cái đích cuối cùng trong cuộc chạy
đua với tử thần Bởi vây, tình yêu ở đây chính là hiện thân của sự sống Tình yêu với Hàn Mặc Tử vừa là lẽ sống vừa là nỗi đau Ông cứ đi về giữa hai bờ chênh vênh của niềm hạnh phúc và nỗi tuyệt vọng Hàn Mặc Tử đã đem lại một giọng điệu lạ trong thơ tình của Thơ mới 1932 - 1945
So với các nhà thơ trong phong trào Thơ mới nh Thế Lữ, Lu Trọng L, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chơng, Nguyễn Bính thì thơ tình Huy Cận có số lợng không nhiều nhng qua số ít bài thơ tình mà ông đã sáng tác chúng ta có thể thấy một số đặc tính nổi bật của tình yêu trong thơ Huy Cận trớc Cách mạng tháng Tám Đó là một cảm xúc tình yêu đơn sơ, trong trắng, gắn liền với những xôn xao thầm kín, những rung động nhẹ nhàng của “một thời thơ trẻ” Những tình cảm ấy đợc Huy Cận diễn tả hết sức tinh tế trong
áo trắng, Học sinh, Đi giữa đờng thơm, Tựu trờng, Tự tình, Gánh xiếc
Trong những mối tình đầu đời trong sáng ấy, thi sĩ thờng hiện lên với hình
ảnh một chàng trai trẻ luôn ngơ ngác và vụng dại:
Có chàng ngơ ngác và vụng dại
Em đến trăm năm còn trẻ dại
Trang 18Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc
Yêu ngời cỡi ngựa uốn chân tơ.
Thơ tình Huy Cận thờng gắn liền với những rung cảm mới mẻ, ngỡ ngàng khiến cho ngời trong cuộc e dè, ngần ngại, ngơ ngác và luôn ở trong trạng thái chờ đợi:
thoáng âm hởng ngậm ngùi, đau thơng:
Lòng tôi đây trọn một đời thơng nhớ
Hồn tôi đây thiên hạ bỏ đìu hiu
Ngời nhìn xem, chân tôi muốn dấu rõ
Thùng gai đời dây tay với tình yêu.
Ngay cả trong tình yêu và bằng tình yêu, Huy Cận vẫn không thể vợt thoát khỏi sự cô đơn mà nó luôn hiện hữu một khoảng cách trong tâm hồn thi nhân
Thơ tình Vũ Hoàng Chơng đợc khơi nguồn từ những tình cảm nhớ
th-ơng, những kỉ niệm thuở ban đầu lu luyến và kết thúc ở những mối tình đắm say nhiều tuyệt vọng Vũ Hoàng Chơng thờng tạo ra một trạng thái say tình
Thực tế, điều mà trạng thái say đem lại chính là nỗi đau. ám ảnh của cơn say
và cơn đau ấy theo thi nhân vào trong đời thực Với Vũ Hoàng Chơng, say
chính là một phơng tiện để ông hoá giải nỗi cô đơn thực tại hòng đạt đến trạng thái hoà hợp tuyệt đối, lí tởng Tình yêu lí tởng này cũng chính là sự
Trang 19cảm thông sâu xa giữa con ngời và con ngời, giữa con ngời và thế giới, nó xoá đi khoảng cách, đánh thức ân ái:
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rợu, rợu nữa và quên, quên hết
(Say đi em)
Vũ Hoàng Chơng luôn nỗ lực để đạt đợc niềm khao khát tình yêu
nh-ng điều đó cành-ng cho làm ônh-ng nhận thức sâu sắc hơn về sự hiện hữu của khoảng cách, đắm mình trong mơ mộng càng làm cho thi nhân ý thức rõ hơn
về thực tại Tình yêu trong thơ Vũ Hoàng Chơng là một cơn say đầy bi kịch,
ông không thể yêu hết mình, say hết mình mà chơi vơi giữa đờng biên giới hạn trong việc truy tìm vẻ đẹp lí tởng của tình yêu đôi lứa:
- Em ơi! lửa tắt bình khô rợu,
Đời vắng em rồi say với ai ?
(Đời vắng em rồi say với ai)
- Mộng yêu đơng ấp ủ quá siêu trần
Cánh vĩ đại vớng trong lồng thực tế.
(Lí tởng)
Đó là con ngời luôn đắm mình trong nỗi những đam mê cùng với một
lí trí tỉnh táo đến tàn nhẫn Nếu tình yêu là một cơn say thì bi kịch của Vũ Hoàng Chơng là ông đã không thể say hết mình, say quên mình Khao khát
toàn hơng và tận mĩ, luôn tìm kiếm con đờng đạt đến những nguồn tuyệt đối
rốt cuộc thi nhân chỉ thấy mình hoài công bày giãi ý cao siêu Cái còn lại
cuối cùng là nỗi buồn đau, mỏi mệt, chán chờng:
Có ai say để quên sầu Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn.
Trang 20(Chén rợu đôi đờng)
Thơ tình Vũ Hoàng Chơng hết sức đặc biệt - đó là một thứ tình đầy
đam mê lại cũng đầy chán chờng, bệ rạc, thậm chí có khi nó trở thành một thứ tình cảm sa đoạ, trụy lạc Vũ Hoàng Chơng luôn tìm đến cõi tình để say,
để yêu và để đắm chìm trong trời quên, chỉ lu lại đó là những vần thơ tình mạnh mẽ, quyết liệt mang phong cách Vũ Hoàng Chơng
Với Nguyễn Bính, thơ tình của ông chủ yếu gắn với mảng thơ chân quê Thơ tình Nguyễn Bính thể hiện một tình cảm hết sức đôn hậu, đầy tình yêu thơng Những rung động sâu xa, thầm kín của tình yêu đã đợc diễn tả thật mộc mạc mà tinh tế ở nhiều cung bậc khác nhau: Từ lúc còn ngây thơ trong sáng mới bớc vào tuổi yêu đơng:
Năm đã qua rồi trong lớp học
Tôi ngồi nghe Uyển đọc bài thi
Hai ta trẻ lắm tình thơ dại
Chẳng biết yêu nhau phải những gì ?
(Chẳng biết yêu nhau phải những gì)
Cho đến khi phải lòng ai đó rồi nhớ nhung tơng t:
Trang 21Đến những trạng thái khác nhau của tình yêu: sầu tủi, ghen tuông, rồi
thất tình và oan nghiệt:
Cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cời
Những lúc có tôi, và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.
(Ghen)
Ngời có đôi tôi rất một mình
Phong trần đâu dám mắt ai xanh
Đêm nay giăng rụng về bên ấy
Gác trọ còn nguyên gió thất tình.
(Một mình)
Cha lo ngại lắm con là gái
Chả có bao giờ biết mặt cha
Con mời sáu tuổi xuân đơng độ
Cha bốn năm mơi chửa trót già
Cha buồn tiễn khách nơi hiu quạnh
Con thẹn che đàn nửa mặt hoa
Chàng chàng thiếp thiếp vui bằng đợc
Bố bố con con chẳng chận ra.
(Oan nghiệt)
Thực ra thơ tình của Nguyễn Bính chính là cuộc tình duyên lỡ dở của bản thân ông Tiếng nói trong thơ tình Nguyễn Bính là tiếng nói chân thực, nói thay cho những kiếp ngời bị xã hội đẩy vào chân tờng không lối thoát
Đó là tình cảnh lỡ bớc sang ngang của ngời con gái về nhà chồng trong tâm
trạng ai oán xót xa:
Ngời ta pháo đỏ rợu hồng
Trang 22Mà trên hồn chị một vòng hoa tang.
(Lỡ bớc sang ngang)
Hay những mối tình tan vỡ vì cuộc đời bạc bẽo, lòng ngời đổi thay:
Ai đem nhuộm lá cho vàng Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta ? (Rắc bớm lên hoa)
Nói chung, thơ Nguyễn Bính thể hiện một tình yêu nhân duyên vừa trong sáng, ban sơ, vừa đậm đà, ý vị Cũng có khi tình yêu ấy gặp phải những
đổ vỡ, bi kịch nhng những đổ vỡ trong thơ tình yêu Nguyễn Bính đợc ông nói rất tế nhị mà không kém phần sâu sắc, mãnh liệt Những vần thơ chân quê ấy
là những cảm xúc và tâm trạng riêng trên hành trình đến với cuộc đời, nó đã tạo ra trong thơ ông một mạch riêng đầy xúc động và sâu sắc
Nhìn chung, đề tài tình yêu là một cảm hứng rất nổi bật trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945 Thơ tình trong Thơ mới có thể xem là sự nở rộ, một sự khoe sắc, khoe tài của gần đủ mặt các nhà thơ Mỗi ngời một vẻ, mỗi ngời một cung bậc, các nhà Thơ mới đã đa thơ tình yêu lên đến đỉnh điểm của thơ ca lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945
Chơng 2
Đặc sắc thơ tình Nguyễn Bính
Trang 23Tâm hồn Nguyễn Bính là một tâm hồn đằm thắm, bắt rễ từ những hoa
đồng cỏ nội, những ao muống vạt cần, những mồ hôi và nớc mắt, những lam
lũ thờng nhật của quê hơng gắn bó suốt cuộc đời mình dù có lúc ông phải lênh đênh khắp xứ ngời Thơ Nguyễn Bính, vì vậy luôn toát lên một tình yêu thơng mãnh liệt với con ngời, với cuộc sống, đúng nh một câu thơ của chính
ông: Tôi là thi sĩ của thơng yêu.
2.1 Đặc sắc về nội dung:
2.1.1 Tình yêu của một hồn thơ chân quê:
Đối với Nguyễn Bính, đờng vào thơ ông khá nhẹ nhàng, thơ mộng nh cảnh làng quê yên ả đã truyền cho ông vốn sống và sự cảm nhận cái chân - thiện - mĩ qua khung cảnh làng quê với bờ tre cong nghiêng bóng bên đồng lúa vàng với những hội hè thôn dã, những mối tình chân quê của trai thanh gái đạm đã thêu dệt nên hồn thơ Nguyễn Bính
Làng quê Việt Nam là nguồn thi hứng vô tận của bao đời thi sĩ, tự ngàn xa và cho đến hôm nay Bờ tre xanh ôm lấy những làng tre thân thơng,
rũ xuống nghiêng nghiêng trên đồng lúa vàng thơm ngát mùi hơng Cánh cò bay, cây đa giếng nớc đầu làng, lễ hội đình chùa đền miếu, nhịp trống chèo rộn rã Rồi thì hơng bởi hơng cam, hơng chanh, hơng cau thơm ngát cùng với câu hát dân ca hiện lên trong trẻo, thanh khiết của khung cảnh một làng quê với bao lớp ngời chung sống, gắn bó thân thơng Hình bóng của làng quê thôn dã tự ngàn đời đã đi vào thi ca Chúng ta thấy từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến đến Tản Đà, Tế Hanh, Anh Thơ khi khắc hoạ hình ảnh làng quê đều đã nói lên tình cảm thân thiết và đậm đà bản sắc văn hoá của dân tộc ở Nguyễn Bính lại khác, cảnh sắc quê hơng Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính không đơn thuần chỉ là thiên nhiên, trong thơ ông đó
là cảnh sắc của tình yêu và thơ mộng Ông không làm thơ tả cảnh quê hay phong tục nh Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân Ông là nhà thơ của tình
Trang 24yêu, tình yêu nơi thôn xóm, tình yêu của những đêm hội làng, ngời ta đi xem chèo và hò hẹn, đợi chờ, thắc mắc:
Phờng chèo đóng Nhị độ mai Sao em lại đứng với ngời đi xem ? Mấy lần tôi muốn gọi em
Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ.
(Đêm cuối cùng)
Nguyễn Bính hiểu sâu sắc tâm lý những trai làng, gái làng thời ấy,
có nét tâm lý gợi lên dáng dấp sinh hoạt của một thời Nông thôn ta trớc cách mạng khác xa nông thôn hôm nay nhng lại gần gũi với nông thôn Việt Nam
xa xa Đời sống nh ngng đọng lại sau luỹ tre xanh Tâm tình con ngời đợc quy định bằng nền kinh tế tiểu nông khép kín Những cô gái chăn tằm dệt vải chỉ đi từ khung cửi đến nơng dâu, và cô gái lái đò thì cũng chỉ quen với một khúc sông, một cái bến Chỉ đêm hội làng là dịp tụ hội trai thôn nọ gái thôn kia Những mối tình quê nảy nở, bao nhiêu vui buồn, mơ ớc, nhớ mong, đau khổ xôn xao lên, nhng vẫn xôn xao trong sự tĩnh lặng cố hữu của quê hơng Ngòi bút Nguyễn Bính có biệt tài diễn tả những mối tình quê thơ và mộng
ấy Một niềm vui không nén đợc khi đi hội:
áo mỏng che đầu ma nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
Trang 25Chính những tâm tình ấy đã làm cho cảnh quê Nguyễn Bính bâng khuâng xao xuyến và có sức khêu gợi, đánh thức trong tâm hồn chúng ta những kỉ niệm về một miền quê có thực và cả một miền quê chỉ có trong hoài niệm Cảnh thực dới ngòi bút Nguyễn Bính cũng trở thành mơ, gợi nhớ rất xa vào dĩ vãng Thấp thoáng trong cảnh ấy bao giờ cũng là một niềm luyến tiếc, luyến tiếc một mối tình đã qua hoặc, nhiều khi, là một sự dâu bể
không đâu, xa vắng
Giếng thơi ma ngập nớc tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.
(Qua nhà)
Em đi phố huyện tiêu điều lắm
Trờng huyện giờ đây kiểu khác rồi
Mà đến hôm nay anh mới biết
Tình ta nh chuyện bớm xa thôi.
(Trờng huyện)
Nguyễn Bính là thi sỹ của đồng quê, con ngời và cảnh vật của làng quê
thấm đợm hồn quê cho nên thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính không bình lặng mà cũng nh hoà vào tâm trạng con ngời, hoà vào cảm xúc của con ngời Thiên nhiên vừa nhộn nhịp tơi vui, vừa nh dự báo một điều gì sẽ đến, sẽ đi trong tình yêu lứa đôi Tình yêu của tuổi trẻ ở làng quê chân thành, tha thiết nhng cũng dè dặt, ngại ngùng Nguyễn Bính đã mợn khung cảnh thiên nhiên của làng quê để cho trai gái bày tỏ nỗi lòng Dậu mồng tơi ngăn cách nhng
đã có cánh bớm trắng đi về làm dịu nổi cô đơn Những cánh bớm dập dìu bay trong thơ Nguyễn Bính góp phần tô điểm cho cảnh vật thêm xanh tơi và tạo không khí yêu đơng Nguyễn Bính là ngời miêu tả những cánh bớm đẹp và gợi cảm nhất trong Thơ mới:
Qua dậu tầm xuân thấy bớm nhiều
Bớm vàng vàng quá, bớm yêu yêu
Em say bắt bớm vờn anh mãi
Quên cả làng Ngang động trống chèo.
Trang 26(Hết bớm vàng)
Làng quê trong thơ Nguyễn Bính là làng quê của tình ngời, tình nghĩa
và của tình yêu lứa đôi Nguyễn Bính là nhà thơ của chân quê thôn dã, nhng cái chân quê thôn dã trong hồn thơ Nguyễn Bính là cái tình quê Ông rất giỏi miêu tả cảnh vật nhng ông ít miêu tả tỉ mỉ cảnh quê bởi cảnh quê đã quá quen thuộc nên ông chỉ dựng lên những nét chấm phá của cảnh, tạo không khí để gợi tình cảm khiến cho ngời đọc cảm nhận và rung động một cách nhẹ nhàng, êm dịu:
- Lúa thì con gái mợt nh nhung.
(Xuân về)
Hay: - Sáng giăng chia nửa vờn chè
(Thời trớc)
Hoặc: - Đèo cao cho suối ngập ngừng
Nắng thoai thoải nắng chiều lng lửng chiều.
(Đờng rừng chiều)
Tóm lại, bằng cái nhìn tinh tế, say đắm, ông nhận ra hồn quê sâu đậm
ẩn chứa trong cảnh vật Những hình ảnh làng quê trong thơ Nguyễn Bính không chỉ dừng lại ở mức tả mà bao giờ cũng có hồn, có khả năng làm rung
động chúng ta Những thôn Đoài, thôn Đông, con đò, bến nớc, giàn giầu, hàng cau, dậu mồng tơi, khung cửi đều nh… nói lên tiếng nói của trai gái yêu nhau Thiên nhiên cảnh vật làng quê Việt Nam chỉ là cái nền để nhà thơ bộc lộ cảm xúc: những mối tình trai gái, những cuộc đời mộc mạc, những nhớ thơng dang dở Đó chính là cái riêng, cái đặc sắc của thơ Nguyễn Bính.…
2.1.2 Tình yêu đơn phơng với nhiều khổ đau, trắc trở:
Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con ngời Thơ tình Nguyễn Bính là những tình duyên lỡ dở của chính bản thân ông Có lẽ vì lỡ
dở nên bao trùm lên hầu hết thơ ông là giọng điệu buồn, tơng t một mình, phân ly đau khổ Trong đời ng… ời ai chẳng từng yêu và đợc yêu và tránh…sao khỏi những cuộc tình tan vỡ Thơ Nguyễn Bính, vì thế không chỉ nói lên tiếng lòng của mình và còn thác lời cho những thân phận tình yêu khác:
Trang 27Yêu, yêu, yêu mãi thế này!
Tôi nh một kẻ sa lầy trong yêu
Trên xóm mai vàng dới đế kinh
Có một buổi chiều qua lối ấy
Tôi về dệt mãi mộng ba sinh
(Ngời con gái ở lầu hoa) Đêm nay ngồi khóc trong trang lạnh
Trăng đắm chìm đi gió thở dài
Tôi nhớ đến ngời - ôi! diệu vợi
ở lầu hoa ấy trong rừng mai
(Diệu vợi)
Tâm trạng tình yêu đơn phơng này đợc Nguyễn Bính khắc họa đậm nét trong bài thơ Qua nhà Thi nhân yêu lắm, những mong qua nhà để đợc thấy
bóng giai nhân, thoả lòng mong nhớ:
Cái ngày cô chửa có chồng
Đờng gần tôi cứ đi vòng cho xa
Lối này lắm bởi nhiều hoa
(Đi vòng để đợc qua nhà đấy thôi)
Một hôm thấy cô cời cời
Tôi yêu, yêu lắm nhng hơi mếch lòng.
Mếch lòng, ngại ngùng không nói dù rằng rất yêu, để rồi cam chịu ngậm ngùi một mối tình không thổ lộ, phải xót xa khi ngời mình yêu đi lấy chồng:
Trang 28Từ ngày cô đi lấy chồng
Gớm sao có một quãng đồng mà xa
Bờ rào cây bởi không hoa
Qua bên nhà, thấy bên nhà vắng teo.
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính là tình yêu của những mối tình xa cách, trắc trở, nhớ mong:
Nhớ nhung trắng xóa cả mây trời Trắng xóa hồn tôi, ai nhớ tôi?
Cô hái mơ ơi!
Chẳng trả lời nhau lấy một lời
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng.
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi
Trang 29(Cô hái mơ) Rừng mơ hiu hắt hay là lòng thi nhân hắt hiu bởi tình yêu đơn phơng,
yêu tha thiết mà ngời ta không bao giờ biết cho, và chỉ có nhà thơ phải ôm mộng sầu vì yêu mà chẳng dám nói ra:
Lâu nay tôi thấy ở lòng tôi
Nh có tơ vơng đến một ngời Ngời ấy nh… ng mà chẳng nói Tôi đành ngậm miệng nữa mà thôi.
(Vẩn vơ)
Đơng nhiên là ngời đẹp vô tình không biết đến tình yêu đơn phơng của thi nhân, dù thi nhân có đớn đau âm thầm với ngời trong mộng:
Cô chẳng bao giờ biết đến tôi
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi Mấy đêm dan díu ngời trong mộng Mộng tỉnh, canh tàn, lệ ớt rơi.
(Nhặt nắng)
Tình yêu, nhất là tình yêu đơn phơng bao giờ cũng tìm đợc chỗ bám víu vu vơ nhất để mơ mộng Mơ mộng một tình yêu không tởng, một mái ấm hạnh phúc lứa đôi, mơ mộng một tình yêu trong hoài niệm…
Em ạ ! Ngày xa vua nớc Bớm Kén nhân tài mở Điệp lang khoa Vua không lấy trạng, vua thề thế Con bớm vàng tuyền đậu thám hoa.
Vua liền gọi gả con gái yêu Nàng đẹp nh em chả nói điêu Vua nuông hai vợ chồng phò mã
Cho nhởn xem hoa sớm lại chiều.
(Truyện cổ tích)
Mộng tởng rồi tơng t, thơ tình Nguyễn Bính diễn tả trạng thái tơng t của những đôi trai gái thôn quê rất chân thực:
Trang 30Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời Gió ma là bệnh của trời
Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng.
(Tơng t)
Tơng t là trạng thái cảm xúc cao nhất của tình yêu Khi đó, tình cảm không còn ở trạng thái bình thờng trong yêu đơng nữa mà nh trở thành một căn bệnh, một căn bệnh không chết ngời nhng không kém phần xót xa, đau
2.1.3 Tình yêu mang đậm tính truyền thống:
ở một góc độ tiếp cận khác của thơ tình Nguyễn Bính, chúng ta thấy thơ ông không chỉ dừng lại ở một tình yêu đơn phơng với nhiều khổ đau, trắc trở, mà nổi bật trong thơ Nguyễn Bính còn là một tình yêu mang đậm tính truyền thống
Thơ Nguyễn Bính không đắm đuối ca ngợi tình yêu hởng lạc nh Vũ Hoàng Chơng, Đinh Hùng Nguyễn Bính có ý thức trong yêu đ… ơng, không
Trang 31để cho tình yêu làm cho tha hóa, biến chất, không thể để những ham muốn trong tình yêu lứa đôi cuốn vào vòng truỵ lạc:
Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ !
Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngày.
(Giời ma ở Huế)
Thơ Nguyễn Bính luôn luôn thể hiện một nỗi khát khao, sự khát thèm
về một mái ấm gia đình hạnh phúc, một hạnh phúc đơn sơ giản dị:
Nhà gianh thì sẵn đấy
Vợ xấu có làm sao Cuốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao.
(Hôn nhau lần cuối)
Chắc hẳn con ngời sinh ra ai cũng mong muốn mình đợc hạnh phúc, vợ chồng yêu thơng nhau, cùng chia sẽ với nhau mọi vui buồn trong cuộc sống, một gia đình với tình yêu chân thành và tự nguyện Thơ Nguyễn Bính nh một nỗi lòng, một tâm sự luôn muốn vơn lên tới hạnh phúc nhỏ bé, dung dị, th-ờng nhật ấy:
Vợ tôi giăng võng gốc dừa
Đặt con tôi ngủ giữa tra mùa hè.
Trang 32(Hoa với rợu)
Thơ Nguyễn Bính cũng là bài ca về hôn nhân, đó là kết quả cuối cùng của tình yêu viên mãn Mọi cố gắng của tình yêu chân chính đều hớng tới cái quả hạnh phúc tròn đầy mà cả hai ngời hằng mong muốn Tình yêu của Nguyễn Bính không thoát li đời thờng đó để tang bồng tiên cảnh nh một số thi nhân đơng thời Nguyễn Bính hoài niềm về giấc mơ tình yêu trong mộng
ảo nhng rất gần gũi với cuộc đời và có mối liên hệ với cuộc đời thật:
Sáng giăng chia nửa vờn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
(Thời trớc)
Bởi đời thờng hiện tại bấy giờ là ngột ngạt, là nghiệt ngã cho nên cái hình ảnh vui vầy, những cảm giác êm dịu, niềm hạnh phúc yêu thơng đều chỉ là hình ảnh mong manh trong tâm thức của tác giả Những hình ảnh mong manh, thơ mộng đó đã chắp cánh cho nhà thơ bay bổng trong giấc mơ hoài niệm của mình Đó là những giấc mơ nhiều lần hiện lên trong thơ Nguyễn Bính dới nhiều hình thức, nhiều góc độ
Thơ Nguyễn Bính thờng mang những khát vọng, những ớc mơ, do vậy
ông cũng thờng nói về những giấc mơ Ôg tởng tợng, chiêm bao sự thành đạt của công danh và sự vinh quy, cùng với nó là sự trọn vẹn của một tình yêu:
Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem giăng sáng dãi lên vờn chè.
(Thời trớc) Tng bừng vua mở khoa thi
Trang 33Tôi đỗ quan Trạng vinh quy về làng Võng anh đi trớc võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.
(Giấc mơ anh lái đò)
Nguyễn Bính thờng ví bớm với ngời, lấy bớm thay cho ngời, hay ví mình là bớm "Bớm" cũng chính là một giấc mơ của nhà thơ - giấc mơ Hồ
Điệp, và đã có khi nhà thơ tự nhận mình là Điệp lang (chàng bớm) Bằng giấc mơ bớm, Nguyễn Bính sống lại nhiều phút giây tuyệt vời đẹp đẽ:
Em ạ ! Ngày xa vua nớc Bớm Kén nhân tài mở Điệp lang khoa Vua không lấy trạng, vua thề thế Con bớm vàng tuyền đậu thám hoa.
Vua liền gọi gả con gái yêu Nàng đẹp nh em chả nói điêu Vua nuông hai vợ chồng phò mã
Cho nhởn xem hoa sớm lại chiều
Qua hàng trăm bài thơ tình trớc Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Bính
đã tạo ra một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo, riêng biệt, đó là những đặc sắc nghệ thuật của không gian tình yêu - không gian chân quê, về thể loại, về
ngôn ngữ - thủ pháp tu từ