1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về mô hình nhà nước kiểu mới ở việt nam năm đầu tiên sau cách mạng tháng tám (02

70 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước Đầu Tìm Hiểu Về Mô Hình Nhà Nước Kiểu Mới Ở Việt Nam Năm Đầu Tiên Sau Cách Mạng Tháng Tám (02/09/1945-19/12/1946)
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 570,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một dấu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta là vì sao trong năm đầu tiên của nền cộng hoà, khi Cách mạng tháng Tám vừa mới thành công, chính quyền nhà nước non trẻ vừa mới ra đời nhưng vẫn đứng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá, Đảng và Nhà Nước ta đang phấn đấu xây dựng đất nước ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh'' Trong đó nhiệm vụ cơ bản là xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân với mục đích là ''mọi người ai cũng

có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành'' Song một vấn đề hết sức quan trọng là chúng ta xây dựng nó trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm, những bài học của quá trình xây dựng nhà nước trước đó để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới ngày nay Bởi như có người đã từng nói ''chúng ta phải hỏi quá khứ, bắt nó giải thích cho hiện tại và đoán định cho tương lai'', hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết

''Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam'' Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tôn trọng quá khứ, giữ gìn những gì mà chúng ta đã làm được trước đó, để góp phần vào việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện đất nước trong điều kiện lịch sử mới với muôn vàn khó khăn và thử thách hiện nay

Một dấu hỏi lớn đặt ra cho chúng ta là vì sao trong năm đầu tiên của nền cộng hoà, khi Cách mạng tháng Tám vừa mới thành công, chính quyền nhà nước non trẻ vừa mới ra đời nhưng vẫn đứng vững trong suốt ba mươi năm chiến tranh giải phóng

và đến nay nó vẫn tiếp tục phát huy được vai trò của mình

Do vậy, với nội dung của đề tài ''Bước đầu tìm hiểu về mô hình nhà nước kiểu mới ở Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (02/09/1945-19/12/1946)'',

hy vọng nó sẽ là một nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy môn lịch sử trong giai đoạn lịch sử quan trọng này Đồng thời nếu có điều kiện

đi sâu nghiên cứu, phát triển thì nó sẽ là nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên

Trang 2

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay thì đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết, bài nói về nhà nước kiểu mới ở nước ta, song ở phạm vi của thời gian là “năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám” thì có một số tác phẩm sau đây đã đề cập với nhiều góc độ khác nhau

2.1 Cuốn ''Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam'' của tác giả Nguyễn Thị Phụng, xuất bản năm 1993 có đề cập một cách khá toàn diện về quá trình hình thành,

tổ chức, hoạt động và cả hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn ở mức độ chung chung, sơ lược

2.2 Cuốn ''Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật'' của Nhà xuất bản Pháp lý,xuất bản năm 1985 thì lại đề cập về vai trò của cá nhân Hồ Chủ Tịch thông qua bài viết bài nói chuyện, của Người về nhà nước trong đó có đề cập rất nhiều đến gian đoạn từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946

2.3 Cuốn ''Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghệp xây dựng nhà nước kiểu mới

và pháp luật ở Việt Nam'' xuất bản năm 1982 của Nguyễn Ngọc Minh, thì đề cập đến toàn bộ vai trò của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới và pháp luật ở nước ta Trong đó đối với giai đoạn năm đầu tiên của nền cộng hoà tác giả đề cập nhiều vấn đề về nhà nước và pháp luật với vai trò to lớn của Hồ Chủ tịch nhưng lại chưa nêu lên được cơ cấu tổ, chức và bản chất của nhà nước kiểu mới trong giai đoạn lịch sử này

2.4 Cuốn ''Hồ Chí Minh với nhà nước và pháp luật'' của Trung ương hội luật gia Việt Nam và hội luật gia Nghệ - Tĩnh, xuất bản năm 1989 cũng còn đề cập một cách chung chung về nhà nước kiểu mới trong năm đầu tiên của nền cộng hoà và còn thiếu những nhận xét, đánh giá của tác giả

2.5 Trong bài viết ''Bản chất nhà nước Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám'' của Văn Tạo, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 17 tháng 9 năm 1999 thị lại chỉ mới nêu và phân tích được rằng đó là nhà nước '' Của dân, do dân và vì dân''

Trang 3

2.6 Trong bài '' Cách mạng tháng Tám 1945 và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước XHCN của dân do dân và vì dân'' của Nguyễn Trọng Phúc, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 24 tháng 8 năm 2002 thì cũng có đề cập đến việc tổ chức hoạt động và bản chất nhà nước Việt Nam trong năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám nhưng còn sơ lược, chưa cụ thể và nặng về vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh

2.7 Trong bài ''Nhìn lại quá trình xây dựng nhà nước Việt Nam kiểu mới'' của Cao Văn Lượng, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 4 năm 2000, thì lại đề cập một cách dàn trải và thiếu trọng tâm đối với giai đoạn lịch sử này

Ngoài ra còn nhiều công trình ngiên cứu, nhiều bài viết khác có đề cập đến vấn

đề xây dựng nhà nước trong thời kỳ 1945-1946, nhưng tác giả không có điều kiện đi sâu nghiên cứu hoặc không có điều kiện để trích dẫn Nhưng trên cơ cở đó qua việc tham khảo, chọn lọc để phục vụ cho công trình nghiên cứu của mình

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Là nghiên cứu về nhà nước Việt Nam kiểu mới, được phản ánh trên các mặt: Quá trình hình thành nhà nước, sự ra đời và nội dung của nhữngvăn bản pháp luật đầu tiên, hoạt động và bản chất của nhà nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu là từ ngày 02/09/1945 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi kháng chiến ngày 19/12/1946

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu: Để phục vụ cho khoá luận tốt nghiệp này, tác giả dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau như sách, báo, tạp chí và các công trình khoa học mà

đề câp đến vấn đề xây dựng nhà nước trong giai đoạn lịch sử này

4.2 Phương pháp nghiên cứu: ở đây tác giả dựa vào nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như tổng hợp, phân tích, logic, lịch sử, đối chiếu, so sánhv.v… Trong đó có hai phương pháp chủ đạo là tổng hợp và phân tích

Trang 4

Ngoài mở đầu và kết luận,nội dung khoá luận được chia làm hai chương

Chương 1: Quá trình lựa chọn mô hình nhà nước ở Việt Nam (1858-1945)

Chương 2: Nhà nước Việt Nam kiểu mới năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (2/9/1945 - 19/12/1946)

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu……… 1

Nội dung……… 6

Chương I Quá trình lựa chọn mô hình Nhà nước ở Việt Nam (1858 - 1945)…… 6

1.1 Con đường cứu nước phong kiến với mô hình Nhà nước quân chủ chuyên chế (1858 - 1896)………

1.1.1 Cuộc kháng chiến chống Pháp của Vua tôi nhà Nguyễn………

1.1.2 Phong trào Cần Vương sự- tìm lại chế độ phong kiếnchuyên chế (1885- 1896) 1.2 Con đường cứu nước tư sản với kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa…………

1.2.1 Sĩ phu phong kiến Việt Nam với con đường cứu nước tư sản…………

1.2.1.1 Mô hình Nhà nước trong tư tưởng Phan Bội Châu………

1.2.1.2 Phan Châu Trinh với mô hình Nhà nước tư bản chủ nghĩa…………

1.2.2 Giai cấp tư sản Việt Nam và quá trình cứu nước trên lập trường tư sản 1.3 Con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản và sự hình thành mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa (1930 - 1945)………

1.3.1 Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản………

1.3.2 Xô Viết Nghệ Tĩnh - Mô hình đầu tiên về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam 1.3.3 Mặt trận Việt Minh bước phát triển mới về xây dựng chính quyền trong phong trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945)………

1.3.4 Khởi nghĩa từng phần và các hình thức chính quyền cách mạng Chương II Nhà nước Việt Nam kiểu mới năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám (2/9/1945 - 19/12/1946)………

2.1 Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà 2.2 Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước những điều kiện lịch sử mới…

2.3 Quá trình xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương 2.3.1 Xây dựng củng cố chính quyền Trung ương………

2.3.2 Xây dựng củng cố chính quyền địa phương………

2.3.3 Phát triển hệ thống các cơ quan chuyên chính………

2.4 Xây dựng nhà nước pháp quyền - hiến pháp đầu tiên………

2.4.1 Những văn bản pháp luật đầu tiên………

2.4.2 Hiến pháp 1946………

2.5 Những hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong năm đầu tiên của nền cộng hoà 2.6 Bản chất Nhà nước Việt Nam trong năm đầu của nền cộng hoà………

1

6

6

6

6

8

10

10

10

12

14

16

16

18

20

23

26

26

29

32

33

41

42

44

44

47

48

Trang 6

2.6.1 Một Nhà nước của dân, do dân và vì dân………

2.6.2 Một Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ dựa trên cơ

sở liên minh công - nông - trí thức và thu hút nhân tài………

Kết luận………

Tài liệu tham khảo………

Phụ lục

Trang 7

Âu phát triển mạnh mẽ, đang chuyển dần sang giai đoạn chủ nghĩa để quốc, nhu cầu về thị trường, nguồn nguyên liệu và nguồn nhân lực càng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Vì thế các nước tư bản phương Tây ồ ạt tiến hành xâm lược thuộc địa, mà khu vực được họ chú ý nhất là châu Á- nơi làm thoã mãn nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản Trong khi đó các nước châu Á lại đang chìm trong''đêm trường trung cổ'', nên đây chính là điều kiện thuận lợi để các nước tư bản phương Tây tiến hành chiến tranh xâm lược Chính sự khủng hoảng nghiêm trọng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn cộng với vị trí địa lý đặc biệt và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên mà được ví là"rừng vàng , biển bạc , đất phì nhiêu "đã kích thích sự xâm lược của tư bản phương Tây mà đi đầu là tư bản Pháp Năm 1858, thực dân Pháp đã tiến hành nổ súng xâm lược nước ta, hòng biến nước ta thành thuộc địa của chúng và qúa trình xâm lược này đã được hoàn tất vào năm 1884, với hoà ước Pa-Tơ-Nốt mà triều đình Huế đã ký với Pháp

1.1 Con đường cứu nước phong kiến với mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế (1858-1896)

1.1.1 Cuộc kháng chiến chống Pháp của vua tôi nhà Nguyễn (1858-1884)

Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo tới dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng, chính thức tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta Ngay

Trang 8

lập tức triều đình Huế đã điều lực lượng quân đội, do tướng Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy lo việc chống giặc tại mặt trận Quảng Nam Tại đây quân xâm lược không thể tiến sâu vào được đất liền bởi quân đội nhà Nguyễn đã tìm mọi cách ngăn chặn Trước tình hình đó liên quân Pháp- Tây Ban nha lại kéo vào Gia Định Từ lúc kéo quân vào đây, quân xâm lược đã nhiều phen nguy ngập bởi sự phản kháng mạnh mẽ của quân đội nhà Nguyễn

và một số lực lượng yêu nước của nhân dân ta Nhưng với thái độ do dự, tư tưởng sợ Pháp và cầu hoà, cùng với sự yếu kém thối nát của chính quyền phong kiến buổi suy tàn nên thực dân Pháp lần lượt chiếm được ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Tiếp đó bè lũ thực dân hiếu chiến đã đem quân ra đánh Bắc kỳ và Trung kỳ Triều đình Huế đã cử nhiều tướng tài như: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Lưu Vĩnh Phúc, Hoàng Tá Viên ,… tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Nhưng kết quả là thực dân Pháp đã đặt được ách đô hộ trên toàn cõi nước ta mà nội dung chính được phản ánh trong hoà ước Hắc Măng và hoà ước Pa Tơ Nốt

Mặc dù cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của của vua tôi nhà Nguyễn đã thất bại – và đó là sự thất bại về chiến lược, sách lược trong đường lối kháng chiến chống một kẻ thù mạnh hơn ta cả một phương thức sản xuất Nhưng chúng ta thấy rằng cuộc kháng chiến chống xâm lược

đó phần nào thể hiện tinh thần tự vệ, tinh thần dân tộc, nhưng đây chính là cuộc kháng chiến bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến đang trong giai đoạn mục nát và"thối rữa" Chúng ta cần nhận thức một điều rằng những hoà ước mà triều đình Huế đã ký kết với Pháp là nhằm bảo vệ ngai vàng, bảo

vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, họ đã đặt quyền lợi của giai cấp, của dòng họ lên trên quyền lợi của dân tộc, để rồi dựa vào Pháp mà duy trì chế độ chuyên chế của mình Đến đây triều đình Huế thực chất chỉ còn là chính quyền phong kiến bù nhìn, làm tay sai cho Pháp để đàn áp và bóc lột nhân dân

Trang 9

ta Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nhằm bảo vệ chế độ phong kiến, bảo vệ ngai vàng của vua tôi nhà Nguyễn đã hoàn toàn thất bại nhưng ngai vàng phong kiến vẫn còn trên danh nghĩa, điều đó cho thấy con đường cứu nước chống thực dân Pháp xâm lược nhằm duy trì chế độ phong kiến chuyên chế đến lúc này đã thất bại Sự thất bại đó cũng là một điều dễ hiểu và dễ thừa nhận vì một nhà nước phong kiến chuyên chế đang trong cơn

"hấp hối" thì khó mà ''gượng'' dậy được, nó lấy đâu ra sức mạnh để tự vệ Điều này càng khẳng định rằng trong lúc các nước tư bản châu Âu đang chuyển mình sang giai đoạn chủ nghia đế quốc, hay một số nước ở châu Á như Nhật Bản, Thái Lan đang tiến hành cải cách đất nước, nhằm mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển thì chế độ phong kiến nhà Nguyễn vẫn trì trệ bảo thủ trong chính sách đối nội, đối ngoại Về chính sách đối ngoại trong lúc ánh sáng văn minh phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào các nước châu

Á thì nhà Nguyễn lại hoàn toàn cự tuyệt với nó, còn đối với nhà Thanh thì lại tôn sùng một cách mù quáng Bởi vậy sự tồn taị của mô hình quân chủ chuyên chế là không phù hợp với thời đại, không được lòng dân thì thất bại là tất yếu

1.1.2 Phong trào Cần Vương- sự tìm lại chế độ phong kiến

chuyên chế (1885-1896)

Hai hoà ước Hắc Măng (1883)và Pa-Tơ- Nốt (1884) được ký kết dưới

áp lực quân sự của thực dân Pháp, đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến Việt Nam đôc lập và sự đầu hàng của nhà Nguyển trước tư bản Pháp [28,63] Tuy nhiên điều chúng ta dễ nhận thấy là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của nhân dân ta, được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch

sử , chống giặc ngoại xâm thì không bao giờ mất đi mà nó vẫn âm ỉ cháy Riêng trong nội bộ triều đình Huế vẫn có một bộ phận những người yêu nước, kiên quyết đánh giặc, nhưng do tình thế trước mắt mà buộc phải ngồi im chờ

Trang 10

thời cơ và sẵn sàng hành động khi thời cơ đến, mà tiêu biểu cho số đó là Tôn Thất Thuyết TônThất Thuyết đã ra sức tập hợp lực lượng, sẵn sàng phế truất, trừ khử các ông vua, bon quan lại và hoàng thân quốc thích có tư tưởng thân Pháp hoặc sợ Pháp Nhưng công việc chuẩn bị của ông trong giai đoạn đầu bị thực dân Pháp phát hiện nên nhanh chóng thất bại Sáng ngày 05-07-1885,Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi, cùng đoàn tuỳ tùng chạy ra Quảng Trị Tại đây ông đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, nhưng do sự truy lùng gắt gao của quân Pháp, Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi vượt qua đất Lào, rồi đến vùng Hà Tĩnh Tại đây Hàm Nghi đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ hai vào ngày 20-09-1885 Hưởng ứngchiếu Cần Vương, nhân dân ta khắp nơi, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, văn thân yêu nước đã sôi nổi đứng lên chống Pháp [3,67] Về danh nghiã thì đây là phong trào Cần Vương, song trên thực tế nó lại là một phong trào yêu nước, đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân Pháp của nhân dân ta, chứ hoàn toàn không

có sự hiện diện của quân đội triều đình Phong trào Cần Vương đã lôi kéo đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, với nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra trên khắp các địa phương trong cả nước, như khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Hùng Lĩnh…Và kết quả cuối cùng là phong trào Cần Vương cũng đã thất bại, bởi sự đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp và mặt khác là do khâu tổ chức của phong trào

Điều chúng ta dễ nhận thấy là ngay từ đầu tên gọi của nó có nghĩa là giúp vua - nghĩa là nhằm ''khôi phục lại nước Việt Nam cũ'' hay nói cách khác

đi là xây dựng lại nhà nước quân chủ phong kiến ở Việt Nam nhằm khôi phục

và bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến [24,197] Điều này một lần nữa khẳng định lại rằng con đường cứu nước nhằm xây dựng lại kiểư nhà nước phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, so với tiến trình chung của lịch sử nhân loại, mà hiện thân của nó là triều đình phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy

Trang 11

giờ - đã không tranh thủ đươc sự ủng hộ rộng rãi và to lớn từ sức mạnh của nhân dân lao động - những người làm nên lịch sử Sự thất bại của phong trào Cần Vương có nghĩa là kiểu nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến đã hết vai trò lịch sử ở Việt Nam [24,197]

1.2 Con đường cứu nước tư sản với kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa

Đầu thế kỷ XX, sự thức tỉnh của châu Á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở châu Âu đã ít nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam, làm xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới, làm nảy sinh các phong trào yêu nước và cách mạng mà đại biểu xuất sắc là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can…Họ tổ chức các phong trào như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân Bởi lúc này do chính sách khai thác thuộc địa đã phần nào tác động đến toàn bộ nền kinh - tế xã hội Việt Nam, dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng của một số sỹ phu yêu nước Mặt khác nó cũng làm cho các giai tầng trong xã hội Việt Nam có những chuyển biến nhất định và xuất hiện một số giai cấp mới, mà tiêu biểu là giai cấp tư sản Vừa mới ra đời, giai cấp tư sản đã bước ngay lên vũ đài lịch sử tiến hành đấu tranh đòi lại nền độc lập cho dân tộc Tất thảy họ đều muốn cứu nước, muốn đòi quyền lợi cho giai cấp mình nhưng theo những con đường cách mạng khác nhau dưới tư tưởng tư sản nhằm thiết lập một mô hình nhà nước hoàn toàn khác với mô hình nhà nước phong kiến,

đó là mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa

1.2.1 Sỹ phu phong kiến Việt Nam với con đương cứu nước tư sản

Như đã nói ở trên, tiêu biểu cho tầng lớp sỹ phu phong kiến tư sản hoá Việt Nam đã chịu những tác động mạnh mẽ từ bên ngoài và những chuyển biến trong nước, sau sự thất bại của phong trào Cần Vương nên họ đã đi tìm con

Trang 12

đường cứu nước mới là con đường cứu nước tư sản mà đại diện tiêu là Phan

Bội Châu, Phan Châu Trinh…

1.2.1.1.Mô hình nhà nước trong tư tưởng Phan Bội Châu

Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, ở thôn Sa Nam, xã Đồng Liệt, tổng Xuân Liễu, thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An - mảnh đất "địa linh nhân kiệt" Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước, ông đã từng đậu giải nguyên khoa thi hương(1900) tại trường thi Nghệ

An Phan Bội Châu tham gia hoạt động yêu nước từ rất sớm Nhưng trong giai đoạn đầu Phan Bội Châu chưa vượt qua được tư tưởng bạo động ở thời kỳ Cần Vương, của anh hùng lục lâm và những người trong đảng Cần Vương[33,4], qua việc tổ chức đánh thành Nghệ An (1901) Qua thất bại Phan Bội Châu ngày càng trưởng thành về mọi mặt và bước đầu ông đã thấy được vai trò to lớn cua nhân dân trong sư nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nên ông đã tiến hành đi trong Nam, ngoài Bắc để tập hợp lực lượng Năm

1905, Phan Bội Châu sang cầu viện Nhật Bản Mặc dù việc cầu viện không thành nhưng qua viêc tiếp xúc với các chính khách Nhật, tận mắt thấy được

sự phát triển của Nhật Bản và tiếp xúc với Lương Khải Siêu cùng với những

"Tân thư", "Tân sách" mà ông được tiếp xúc trước đó đã làm phong phú thêm

tư tưởng dân chủ trong con đường cứu nước của ông

Lúc đầu tư tưởng dân chủ trong con đường cứu nước của Phan Bội Châu là thành lập một tổ chức để tập hợp lực lượng, xây dựng tiềm lực để tiến hành kháng chiến chống Pháp giành lại độc lập cho dân tộc, sau đó thiết lập chế độ quân chủ lập hiến như ở nước Anh, nước Nhật…Phan Bội Châu cùng với Nguyễn Hàm và một số người khác đã lập ra hội Duy Tân do Cường Để làm chủ hội (1904) Việc chọn một người trong dòng dõi hoàng tộc để làm chủ hội Duy Tân không có nghĩa là nhằm mục đích khôi phục lại nhà Nguyễn

Trang 13

mà chỉ là biện pháp mang tính chất sách lược, là phương tiện để đạt được mục đích chứ không phải là mục đích[33,6] Vì theo như Phan Bội Châu kể lại thì đây là sáng kiến của Nguyễn Hàm nhằm tập hợp lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc còn sau khi đã giành được độc lập cho dân tộc thì sẽ thiết lập một chế độ nhà nước mà Cường Để đóng vai trò"đại diện" trong chế

độ, còn chính quyền thực sự vẫn nằm trong tay ba viện, trong đó hạ viện là nơi đề ra các nghị quyết và hạ viện thì do dân bầu ra theo chế độ phổ thông đầu phiếu Lực lượng tham gia bầu cử là mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, lớn bé…Trong chế độ đó theo Phan Bội Châu thì báo chí sẽ được tự do, giáo dục sẽ không mất tiền, quan thuế được phân bổ đúng đắn, hình phạt thể xác được bãi bỏ…Những đạo luật được ban hành là luật lệ được dựa trên cơ sở luật lệ của Nhật Bản và Châu Tử Cương lĩnh đưa

ra như một nguyên lí của một chế độ quân chủ lập hiến, chứ không phải là nền quân chủ chuyên chế kèm theo một nghị viện bù nhìn [33,7]

Đến khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công(1911), Phan Bội Châu càng ngưỡng mộ Tôn Trung Sơn, nên ông đã từ Thái Lan về Trung Quốc hoạt động Tai đây ông đã thành lập Việt Nam Quang Phục Hội(1912) sau khi đã tuyên bố giải tán Duy Tân hội mà mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục lại nền độc lập cho nước nhà và thành lập một chính thể mới,

đó là chính thể dân chủ cộng hoà và ông tuyên bố rằng" đầu óc quân chủ " đã xếp vào một xó

Như vậy chúng ta thấy được rằng từ một con người được đào tạo trong môi trường Nho giáo, Phan Bội Châu đã thoát ra khỏi nó và đi tìm một tư tưởng mới đó là tư tưởng dân chủ tư sản với ý thức là sau khi hoàn thành mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc sẽ thành lập một nước theo mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa cho dù nó là quân chủ hay dân chủ Mặc dù sau này khi tiếp xúc với tư tưởng vô sản, Phan Bội Châu đã có

Trang 14

sự thay đổi về tư tưởng của mình theo lập trường vô sản, nhưng trong tư tưởng của ông đã từng chứa đựng tư tưởng dân chủ tư sản

1.2.1.2.- Phan Châu Trinh với mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa

Phan Châu Trinh sinh năm 1872, ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quãng Nam Năm 1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân, năm sau đỗ phó bảng, ông được vào học trường Hậu Bổ rồi ra làm quan với chức Thừa biện bộ lễ Tại triều đình ông được chứng kiến cảnh mục nát hủ bại của quan trường nên sinh ra chán nản, có khi vài tháng không đến cơ quan [33,14] Trong khoảng thời gian đó, ông cũng đã được gặp gỡ và giao du với nhiều người có tư tưởng cải cách, canh tân như Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ… Được đọc các sách "Tân thư", "Tân văn" của Lương Khải Siêu, Khang Hiểu Vi, tư tưởng dân quyền của Ruxô, Môngtexkiơ,… phong trào duy tân ở Nhật Bản, cách mạng ở Mỹ, ở Pháp Từ đó đã hình thành trong ông tư tưởng dân chủ tư sản nhưng theo xu hướng cải cách Phan Châu Trinh có đóng góp rất lớn trong việc truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản mà cốt lõi là vấn đề dân quyền Ông kịch liệt phản đối chế độ quân chủ phong kiến, ông cho rằng phong kiến là sâu mọt của dân, đục khoét của nước, là thủ phạm làm cho nước Việt Nam lụn bại và mất độc lập nên chủ trương của Phan Châu Trinh là thủ tiêu chế độ phong kiến Phan Châu Trinh cũng kịch liệt lên án chính sách cai trị, bóc lột, dung túng của thực dân Pháp đồng thời ông cũng rất đề cao vai trò của người dân, ông cho rằng việc cứu nước tuỳ thuộc vào người dân nhưng muốn có được điều đó thì phải khai dân trí, trấn dân khí, hậu dân sinh [33,14] Phan Châu Trinh chủ trương xây dựng một xã hội có pháp luật và quyền thuộc về người dân Phan Châu Trinh chủ trương áp dụng chế độ Tam quyền phân lập ở Việt Nam Mà cụ thể là xây dựng bộ máy nhà nước, một hệ thống chính trị bao gồm 2 viện, tổng thống, chính phủ và các bộ trưởng Tổng thống, chính phủ cũng từ 2 viện mà ra Trong nước có hiến pháp và mọi

Trang 15

người phải luôn tôn trọng hiến pháp, nếu vi phạm pháp luật thì từ tổng thống cho đến dân thường đều bị trừng phạt như nhau, các quan án ở một viện riêng gọi là viện tư pháp Quyền tư pháp, quyền hành chính của chính phủ và quyền lập pháp của nghị viện đều đứng riêng và những người trong hệ thống chính trị ấy đều do quốc dân lựa chọn qua bầu cử

Như vậy tư tưởng cốt lõi của Phan Châu Trinh là lật đổ chế độ phong kiến thối nát, hụ bại, mất hết tư cách về chính trị, dựa dẫm vào Pháp và ông chủ trương xây dựng một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam theo chế độ tam quyền phân lập, trong đó quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là ngang nhau

và đều thông qua lá phiếu của cử tri mà bầu ra Trong xã hội thì ông chủ trương xây dựng một xã hội mà mọi người ngang nhau về quyền lợi và nghĩa

vụ từ tổng thống cho đến thứ dân, mọi người đều được bình đẳng với nhau trước pháp luật, được tự do ngôn luận, tự do hội họp Nhưng mô hình nhà nước dân chủ tư sản mà Phan Châu Trinh chủ trương xây dựng không phải được tiến hành bằng một cuộc cách mạng để cứu nước, cứu dân, dành độc lập rồi tiến lên xây dựng chế độ xã hội, mà nó lại được tiến hành bằng con đường cải cách, dựa vào thực dân Pháp làm cho dân giàu, nước mạnh rồi đứng lên dành quyền độc lập thông qua sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, đó quả là một điều không tưởng

1.2.2 Giai cấp tư sản Việt Nam và quá trình cứu nước trên lập

trường tư sản

Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau giai cấp công nhân Việt Nam, trong quá trình hình thành và phát triển của mình, giai cấp tư sản Việt Nam luôn bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép Do hoàn cảnh lịch sử đó nên giai cấp tư sản vừa non yếu về kinh tế lại vừa bạc nhược về chính trị [3,254] Cũng trong quá trình hình thành và phát triển đó, giai cấp tư sản Việt Nam bị phân hoá thành hai

Trang 16

bộ phận là tầng lớp tư sản mại bản - có quyền lợi kinh tế, chính trị gắn liền với thực dân xâm lược nên rất phản động, còn bộ phận thứ hai là tầng lớp tư sản dân tộc tuy non yếu về mọi mặt song ít nhiều họ cũng có tinh thần dân tộc Trong quá trình đấu tranh cách mạng thì tầng lớp tư sản dân tộc cũng phân hoá thành 2

xu hướng là xu hướng cách mạng quốc gia và xu hướng cải lương tư sản

Xu hướng cải lương tư sản đã thành lập được một số tổ chức như

đảng Lập Hiến, đảng Thanh Niên, đảng Thanh Niên Cao Vọng, đảng An Nam Độc Lập,… họ cũng đã tiến hành được một số hoạt động trong nước như:

Phong trào tẩy chay Hoa kiều, chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá (1919) Phong trào chống độc quyền mua bán thóc gạo ở Nam Kỳ, chống độc quyền cảng Sài Gòn (1923)

Đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và đòi thả Nguyễn An Ninh (1925 - 1926)

Song, những cuộc đấu tranh theo xu hướng cải lương chủ yếu đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế mà ít đếm xỉa đến quyền lợi về chính trị nên khi bọn thực dân đế quốc nhân nhượng cho một số ít quyền lợi thì họ sẵn sàng thoả hiệp và để cho phong trào quần chúng vượt qua Đồng thời các tổ chức Đảng mà họ tổ chức ra lại chưa có một đường lối đấu tranh rõ ràng, mục tiêu

Trang 17

Qua mục tiêu đấu tranh của Việt Nam Quốc Dân Đảng cho ta thấy rõ ràng rằng mục tiêu đấu tranh mà họ đặt ra là nhiệm vụ dân tộc và dân chủ tức

là chống đế quốc và phong kiến Sau đó đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, đây là một con đường nếu được tiến hành có phương pháp, được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của quần chúng nhân dân thì sẽ đạt được những mục tiêu ban đầu đặt ra Song trong tổ chức và hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng lại lỏng lẽo, kết nạp đảng viên không có sự sàng lọc nên đã để cho

kẻ thù cài vào và phá tổ chức đồng thời tiến hành khủng bố, bắt bớ Cho đến khi trong tình thế vô cùng khó khăn cấp bách thì Việt Nam Quốc Dân Đảng lại phát động khởi nghĩa với mục tiêu là "Không thành công thì cũng thành nhân" nên đã hoàn toàn thất bại Cuộc khởi nghĩa này đã đi vào lịch sử với tên gọi khởi nghĩa Yên Bái, kể từ đây Việt Nam Quốc Dân Đảng hoàn toàn chấm dứt con đường cứu nước của mình theo khuynh hướng dân chủ tư sản Đây cũng là mốc đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn con đường cứu nước theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam và nhường chỗ cho khuynh hướng vô sản Nói như giáo sư Trần Văn Giàu thì chính các phong trào cách mạng này đã ''tạo nên một vườn ươm màu mỡ cho khuynh hướng cách mạng vô sản nảy mầm và bén rễ''

1.3 Con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản và sự hình thành mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa (1930 - 1945)

1.3.1 Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản

Trước sự bất lực của con đường cách mạng theo khuynh hướng tư sản, dân tộc ta, nhân dân ta đã hoàn toàn tự nguyện lựa chọn con đường cách mạng vô sản cho chính sự phát triển của lịch sử dân tộc Sở dĩ nói dân tộc ta, nhân dân ta là người lựa chọn con đường cách mạng vô sản là vì con đường được lựa chọn là cho lịch sử dân tộc và phải được chính chủ thể của nó lựa

Trang 18

chọn Vậy quá trình lựa chọn được bắt đầu từ khi nào? Được khẳng định từ lúc nào và trong bối cảnh như thế nào? Chúng ta biết rằng cuộc chiến tranh thế giới thứ I kết thúc, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc phát triển đến độ sâu sắc, các nước tư bản đế quốc dù thắng hay thua, trong chiến tranh đều bị suy yếu Đây chính là điều kiện thuận lợi cho cách mạng vô sản nổ ra và dành thắng lợi Do đó, trong cuộc chiến tranh này cuộc cách mạng vô sản đầu tiên thắng lợi ở nước Nga Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới trong lịch sử Đồng thời năm

1919, Lênin còn sáng lập nên một tổ chức mang tính chất quốc tế của giai cấp

vô sản, đó là Quốc tế cộng sản, nó đã đi vào lịch sử với tên gọi Quốc tế thứ

ba Tổ chức này chủ trương ủng hộ cách mạng thuộc địa, gắn cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và trực tiếp chỉ đạo các cuộc cách mạng ở thuộc địa Đặc biệt trong giai đoạn lịch sử này các Đảng cộng sản ở các nước phương Đông thuộc địa và các nước châu Âu như Đảng cộng sản Pháp, Đảng cộng sản Trung Quốc - là hai Đảng có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình Việt Nam Mặt khác, sau chiến tranh thế giới, để bù lại những thiệt hại mà cuộc chiến này gây ra, tư bản Pháp không ngừng tăng cường chính sách cai trị về chính trị, bóc lột về kinh tế ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng bằng cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, theo đó luồng tư tưởng vô sản đã tràn vào nước ta

Về bối cảnh trong nước lúc này, giai cấp công nhân Việt Nam cũng đã chuyển mình, đấu tranh từ tự phát sang tự giác Từ đó chúng ta có thể xác định là con đường cách mạng vô sản ở nước ta đã xuất hiện quá trình chọn lựa

từ những năm 20 của thế kỷ XX, nó gắn liền với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc vào Việt Nam Đặc biệt là sau khi Nguyễn

Ái Quốc trở về Quảng Châu - Trung Quốc, thành lập nên tổ chức Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên thì các lực lượng tiến bộ ở Việt Nam lại biết nhiều

Trang 19

hơn về tư tưởng vô sản, đặc biệt là giai cấp công nhân, nhờ phong trào vô sản hoá của hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên tiến hành Quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản càng được khẳng định khi cùng một lúc ra đời 3

tổ chức cộng sản là An Nam Cộng Sản Đảng, Đông Dương Cộng Sản Đảng

và Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn vào năm 1929 và lịch sử đã chính thức lựa chọn con đường cách mạng vô sản vào đầu năm 1930 bằng sự kiện khởi nghĩa Yên Bái nổ ra và thất bại, cùng với nó là Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời Một vấn đề đặt ra ở đây nữa là tại sao không từ bỏ con đường cách mạng

tư sản và lựa chọn con đường cách mạng vô sản ngay từ đầu, vì rằng con đường cách mạng theo khuynh hướng tư sản đã đi được 20 năm nhưng vẫn chưa có kết quả, còn khuynh hướng vô sản thì mới xuất hiện - rất tốt nhưng cần phải kiểm nghiệm qua thực tiễn, lịch sử cần phải có thời gian bởi "Thời gian là thước đo của chân lý"

Như vậy là qua quãng thời gian gần một thập kỷ kiểm nghiệm qua thực tiễn, cuối cùng đến năm 1930 con đường cách mạng vô sản đã chính thức được lịch sử dân tộc lựa chọn và từ đây con đường cách mạng Việt Nam hoàn toàn đi theo con đường cách mạng vô sản, điều đó có nghĩa là sau khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ thì sẽ tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và mô hình nhà nước sẽ được xây dựng là nhà nước xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Xô Viết Nghệ Tĩnh - Mô hình đầu tiên về Nhà nước kiểu

mới ở Việt Nam

Sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào đầu năm 1930 đã đánh dấu sự lựa chọn dứt khoát con đường cách mạng vô san của lịch sử dân tộc ta Ngay trong Hội nghị thành lập Đảng, Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, điều lệ Đảng Cương lĩnh đầu tiên này của Đảng đã xác định: Nhiệm

vụ của cách mạng Việt Nam là chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền, đánh

Trang 20

đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [25,171] Nhiệm vụ cụ thể của cuộc cách mạng đó là về xã hội thì dân chúng được tự do, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo công nông hoá Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ Công - Nông - Binh, tổ chức ra quân đội Công - Nông Về kinh tế: Thì thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thâu hết sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công - nông - binh, thâu hết ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo,

mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật làm 8 giờ [33,46] Tiếp đến trong Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 do đồng chí Trần Phú chủ trì cũng đã xác định: Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là tiến hành làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thiết lập nền chuyên chính công - nông, giai đoạn sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập nền chuyên chính vô sản

Đảng vừa mới ra đời đã lãnh đạo ngay một phong trào cách mạng 1930

- 1931 Đảng không phát động phong trào mà phong trào tự nó bùng nổ dưới

sự lãnh đạo của Đảng, phong trào ra đời cùng với Đảng, Đảng lãnh đạo đưa phong trào chuyển từ tự phát lên tự giác và phát triển đến đỉnh cao Có thể khẳng định không có Đảng vẫn có phong trào cách mạng 1930 - 1931, nhưng không có Đảng lãnh đạo thì không thể có đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh Phong trào cách mạng 1930 - 1931 phát triển một cách mạnh mẽ hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó tiêu biểu nhất là phong trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh Phong trào bắt đầu bùng nổ từ ngày 1/5/1930 nhân ngày Quốc tế lao động với cuộc tổng bãi công của công nhân Bến Thuỷ, sau đó là những cuộc biểu tình khổng lồ của quần chúng từ nông thôn kéo đến huyện lỵ, đây là những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ như 3.000 nông dân huyện Nam Đàn, 20.000 nông dân huyện Thanh Chương, 3.000 nông dân huyện Can

Trang 21

Lộc,…[32,206] Những cuộc đấu tranh ngày một rầm rộ đó đã hạ uy thế chính trị của chính quyền đế quốc và phong kiến, làm cho bọn tổng lý cường hào ở Nghệ - Tĩnh run sợ Liền sau những cuộc thị uy ấy, những cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ, sôi nổi, dồn dập liên tiếp của quần chúng

ở các thôn, xã, tổng từ ngày 2/9/1930 đến tháng 6/1931 đã làm tan rã và sụp

đổ từng mảng bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến ở cơ sở Quá trình sụp đổ của chính quyền địch cũng đồng thời là quá trình hình thành các

Xô Viết ở hàng trăm làng, xã Ở Nghệ An, Nông hội nắm được chính quyền ở các làng xã thuộc huyện Thanh Chương, Nam Đàn, một phần huyện Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Diễn Châu Tại Hà Tĩnh chính quyền Xô Viết được thành lập ở 172 xã [25,206] phần lớn ở các huyện Can Lộc, Thạch Hà

và Đức Thọ Trong suốt khoảng thời gian tồn tại, các chính quyền Xô Viết đã nắm vững chuyên chính công-nông: Kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng; bãi bỏ các thể chế và mọi thứ thuế do đế quốc đặt ra; chia lại ruộng đất cho nông dân; bắt địa chủ giảm tô chính, bỏ tô phụ; tổ chức cho nông dân giúp đở lẫn nhau trong sản xuất; lập các lớp cho nhân dân học chữ quốc ngữ; vận động nhân dân bài trừ các hủ tục mê tín …

Sự thiết lập các "Xã bộ nông" để đứng ra làm nhiệm vụ của chính quyền cách mạng, trước hết nó thể hiện chức năng chuyên chính với kẻ thù

Có thể nói những biện pháp trên đây của chính quyền Xô Viết đã thực sự tạo

ra một xã hội mới ở nông thôn, nhân dân được sống trong tình dân tộc, bình đẳng và bác ái Xã hội mà người dân lao động được làm chủ cuộc sống của mình Xô Viết Nghệ - Tĩnh là sản phẩm lịch sử trong thời kỳ Đảng vừa mới ra đời, chưa lường hết những khó khăn phức tạp của cuộc đấu tranh với bộ máy thực dân phong kiến, trong lúc tình thế cách mạng chưa thuận lợi, phong trào

có phần nóng vội và nhận thức của quần chúng có phần đơn giản, nên cuối cùng đã thất bại Tuy vậy chính quyền Xô Viết đã để lại nhiều ý nghĩa và bài

Trang 22

học kinh nghiệm quý báu về vấn đề xây dựng chính quyền và giữ vững nền chuyên chính công - nông Trước hết nó chứng minh rằng mô hình nhà nước

vô sản (chính quyền công - nông) là mô hình phù hợp, đáp ứng những nguyện vọng cấp thiết của nhân dân lao động, nói cách khác nó chứng minh bằng thực tiễn tính đúng đắn của định hướng về nhà nước mà Đảng ta đã đề ra trong các văn kiện đầu tiên trong ngày đầu thành lập Đảng Đồng thời chính quyền Xô Viết là sự "phác thảo" đầu tiên về một hình thái nhà nước mới ở Việt Nam, về mô hình chính quyền ở nông thôn nếu được chuẩn bị và chỉ đạo chặt chẽ chắc chắn sẽ trở thành hiện thực Có thể nói chính quyên Xô Viết Nghệ - Tĩnh nó gần giống như là mô hình chính quyền Xô Viết ở nước Nga sau cách mạng Tháng Hai(1917)

1.3.3 Mặt trận Việt Minh - bước phát triển mới về xây dựng chính quyền trong phong trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945)

Bước vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa các nước

đế quốc với nhau và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với Liên Xô ngày càng trở nên căng thẳng dẫn đến năm 1939, cuộc chiến tranh thế giơi thứ hai bùng

nổ Nước Pháp đế quốc nhanh chóng nhảy vào cuộc chiến Lợi dụng tình thế chiến tranh, các nước đế quốc thực dân đã mạnh tay bóp nghẹt các phong trào dân chủ trong nước và thực hiện chính sách hà khắc đối với thuộc địa Đối với nước ta: Những thành quả mà chúng ta đã giành được trong cao trào dân chủ

1936 - 1939 đều bị bọn đế quốc, phong kiến tìm mọi cách thủ tiêu Trước tình hình mới, Đảng ta chủ trương chỉ đạo chiến lược các hội nghị trung ương Đảng lần thứ 6( 11-1939) , lần thứ 7 (11- 1940), lần thứ 8 (5 - 1945) đều đã xác định: nhiệm vụ lâu dài và trước mắt của cách mạng Việt Nam vẫn là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, song vấn đề dân tộc được đặt lên trên hết và trước hết tức là nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc, giành

Trang 23

chính quyền về tay nhân dân, còn nhiệm vụ chống phong kiến chưa đặt ra trực tiếp : Đúng như Hội nghị trung ương 8(5/1941) đã xác định " mâu thuẫn giữa các dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật và bè lũ tay sai là mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết một cách cấp bách" [25,509], đồng thời đặt hẳn vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của mỗi nước bằng việc thành lập ở Việt Nam mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, ở Lào mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và ở Campuchia mặt trận Khơ Me độc lập đồng minh

và phương thức tiến hành là đấu tranh chính trị kết hợp với khởi nghĩa vũ trang

Mà như chúng ta đã biết thì một cuộc khởi nghĩa nổ ra và giành thắng lợi thì phải có ba yếu tố: Thứ nhất là phải có sự chuẩn bị đó là chuẩn bị về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; thứ hai là phải có thời cơ; và thứ ba là phải có quyết tâm cao để chớp thời cơ giành chính quyền Trong điều kiện thứ nhất thì việc thành lập mặt trận Việt Minh là một hình thức nhằm đáp ứng công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa giành thắng lợi sau này Mặt trận Việt Minh được thành lập chính thức vào ngày 19 - 5 - 1941 bao gồm các

tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc lấy tên là "Hội cứu quốc" Hội đã

đề ra hai mục tiêu cơ bản trong chương trình cứu nước đó là:

Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập

Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do

Đồng thời trong chương trình cứu nước, mặt trận Việt Minh đã đề ra những chính sách căn bản về đối nội, đối ngoại:

Về chính trị: Thực hiện phổ thông đầu phiếu , ban hành quyền tự do dân chủ cho nhân dân, tổ chức quân đội cách mạng, tịch thu tài sản của bọn

đế quốc và Việt gian phản quốc, thực hiện nam, nữ bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết

Trang 24

Về kinh tế : Bỏ thuế thân và các thứ thuế do đế quốc đặt ra; đặt thuế mới nhẹ và công bằng; mở mang các ngành kinh tế

Về văn hoá giáo dục: Huỷ bỏ nền giáo dục nô lệ, xây dựng nền giáo dục quốc dân, lập các trường chuyên môn để đào tạo nhân tài; khuyến khích

và giúp đỡ trí thức phát triển tài năng

Về xã hội: Thi hành luật lao động, lập nhà thương, nhà dưỡng lão, xây dựng các nhà chiếu bóng, nhà diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện…để nâng cao trí dục cho nhân dân

Về ngoại giao: Huỷ bỏ những điều ước do bọn thống trị đã ký với bất

cứ nước nào; ký những hiệp ước giao hảo và bình đẳng với mọi nước về các phương diện, chủ trương các dân tộc bình đẳng; kiên quyết chống những sự xâm phạm đến quyền tự do độc lập của nước Việt Nam; liên hiệp với tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới

Với những chính sách tiến bộ và phù hợp như trên, Mặt trận Việt Minh

đã nhận được sự ủng hộ nhanh chóng và đông đảo của các tầng lớp nhân dân

Tổ chức của mặt trận phát triển mạnh mẽ và rộng khắp đến tận các thôn xã trong cả nước Từ chỗ là một tổ chức tập hợp quần chúng chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền, mặt trận đã phát triển và vươn lên thực hiện những chức năng của một chính quyền cách mạng, đặc biệt hơn là ở những vùng căn

cứ địa và những vùng mới giải phóng Vì vậy việc thành lập mặt trận Việt Minh được đánh giá là một sự sáng tạo của Đảng ta trong quá trình đấu tranh giành chính quyền Trong khi chưa giành được chính quyền, mặt trận Việt Minh đã thực hiện hai chức năng cơ bản đó là: chức năng tập hợp quần chúng

để chống đế quốc và chức năng là một chính quyền cách mạng nhằm trấn áp

kẻ thù và xây dựng cuộc sống mới Đó là hình thức tiền chính phủ vừa tránh

Trang 25

được xu hướng nóng vội, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể, vừa mang lại hiệu quả cao trong lúc chờ đợi thời cơ đến

1.3.4 Khởi nghĩa từng phần và các hình thức chính quyền cách mạng

Cùng với việc thành lập mặt trận Việt Minh, Đảng ta còn xúc tiến xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng Sau khi khởi nghĩa Bắc Sơn(9-1940), đội du kích đầu tiên do Đảng lãnh đạo đã được thành lập sau phát triển thành Cứu quốc quân Tổ chức này cùng với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (thành lập trên cơ sở đôi tự vệ vũ trang Cao Bằng), đã hợp nhất lại thành Việt Nam giải phóng quân (5- 1945) Tại căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn -

Võ Nhai và Cao Bằng, phong trào cách mạng phát triển rất mạnh Đặc biệt ở Cao Bằng đã xuất hiện một hình thức chính quyền khá sớm, đó là các "xã hoàn toàn", các "châu hoàn toàn" Chính quyền đó trên thực tế đã giải quyết tất cả mọi công việc trong việc tổ chức đời sống nhân dân Đó là sự tập dượt để nhân dân làm quen với công việc quản lí chính quyền Việc xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang là những khâu chuẩn bị quan trọng trong việc thực hiện chủ trương khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở từng địa phương để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Đó cũng chính là đặc điểm của quá trình hình thành nhà nước cách mạng ở nước ta

Cuối năm 1944 đầu 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương Do dự đoán trước tình hình, nên ngay trong đêm 09- 03-1945, Ban thường vụ trung ương Đảng đã họp và ra bản chỉ thị quan trọng "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" Bản chỉ thị nhận định: Cách mạng Việt Nam đã bước vào thời kỳ "tiền khởi nghĩa'' và phát đông một phong trào kháng Nhật mạnh mẽ trong toàn quốc Đặc biệt là bản chỉ thị đã đề cập tới

Trang 26

nhiệm vụ thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân với các hình thức cụ thể như sau:

Trên phạm vi toàn quốc, thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng Việt Nam theo hình thức của một chính phủ lâm thời

Ở những vùng dân quân, du kích hoạt động, ở các căn cứ địa cách mạng, thành lập các "uỷ ban nhân dân cách mạng" và "uỷ ban công nhân cách mạng"

Ở các nhà máy hầm mỏ, làng ấp, đường phố, trại lính, trường học, công sở…thành lập các uỷ ban dân tộc giải phóng

Những hình thức chính quyền trên đây đã xác định rõ chức năng, nhiệm

vụ theo điều kiên của từng vùng, từng công sở Tiếp theo đó, trước tình hình vùng giải phóng ngày càng mở rộng, ngày 16-4-1945, tổng bộ Việt Minh lại

ra chỉ thị về việc thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng các cấp Trong phạm vi

cả nước thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức chính quyền cách mạng lâm thời Bản chỉ thị xác định rõ thành phần uỷ viên trong các uỷ ban

và nêu rõ 4 nhiệm vụ cụ thể của các uỷ ban là: Bảo vệ và bênh vực quyền lợi

về mọi mặt cho nhân dân; Tổ chức huấn luyện chính trị quân sự ; bảo vệ trật

tự trị an, ngăn ngừa và diệt trừ Việt gian; phân xử các xung đột, xích mích trong nội bộ nhân dân Bản chỉ thị trên đây đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xây dựng chính quyền cách mạng và tập dượt cho nhân dân nắm chính quyền khi tổng khởi nghĩa giành thắng lợi

Tháng 6 - 1945 khu giải phóng : Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà được thành lập Trong khu giải phóng một uỷ ban lâm thời khu giải phóng đã làm nhiệm vụ lãnh đạo toàn khu về mọi mặt và uỷ ban cũng đã thực hiện hai nhiệm vụ đó là trấn áp sự chống đối của kẻ thù, bảo vệ cách mạng và tổ chức

Trang 27

xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân Đây cũng là một hình thức rất thích hợp đối với nước ta trong giai đoạn khởi nghĩa từng phần

Tháng 8 - 1945, thời cơ tổng khởi nghĩa đã chín muồi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc ở Tân Trào (13/8/1945) đã quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Trước tình hình đó, một vấn đề đặt ra là phải có một chính phủ lâm thời mang tính chất hợp pháp để lãnh đạo nhân dân Trong điều kiện hết sức gấp rút và muôn vàn khó khăn ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn quyết định bằng mọi giá phải nhanh chóng triệu tập Hội nghị Quốc dân Đại hội Cũng trong ngày đó, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc đã ra quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội bao gồm 60 đại biểu trong cả nước, đại diện cho các đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng dân tộc, tôn giáo trong cả nước

đã khai mạc ở Tân Trào Đại hội đã tiến hành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đồng thời qui định quốc ca, quốc kỳ Từ đó đến ngày khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành khởi nghĩa dành chính quyền trong phạm vi toàn quốc

Về mặt nhà nước, Cách mạng tháng Tám đã giành được 2 thắng lợi có

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM(2/9/1945-19/12/1946)

Trang 28

2.1 Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Bước vào năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng, rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Đó là chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối cùng Ở Châu Âu, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh không điều kiện (8/5/1945), ở Châu Á, quân phiệt Nhật Bản cũng đã

hạ vũ khí đầu hàng Đồng minh (14/8/1945) Điều đó đã đẩy quân Nhật ở Đông Dương vào tình thế tuyệt vọng như rắn mất đầu, hoang mang dao động đến cực

độ Có thể thấy tình thế cách mạng xuất hiện ngay từ khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), nhưng đến lúc này thời cơ mới thực sự chín muồi Ở trong nước thì khí thế cách mạng của quần chúng bốc cao chưa từng thấy Khắp nơi nổ ra những cuộc biểu tình, mít tinh, thị uy có tới hàng ngàn người tham gia Hàng triệu quần chúng sẵn sàng đứng dậy khởi nghĩa, ủng hộ Việt Minh giành chính quyền, đánh đuổi bọn cướp nước và bán nước, các tầng lớp trung gian đã ngã hẳn về phía cách mạng Tuy nhiên, cách mạng nước ta lúc này cũng gặp không ít khó khăn: Các thế lực Mỹ, Tưởng, Anh, Pháp đều có những mưu đồ riêng đối với Đông Dương Bọn Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội gọi tắt là bọn Việt Quốc và Việt Cách theo chân quân đội Tưởng trở

về nước, mưu toan cướp chính quyền Lợi dụng lúc giao thời thời, bọn phản động trong nước cũng ráo riết hoạt động chống phá cách mạng Trong khi đó thì lực lượng phát xít Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và tổng bộ Việt Minh đã quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tiếp sau đó là Hội nghị toàn quốc của Đảng (13/8/1945) và Đại hội quốc dân (16/8/1945) cũng đã ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng

Khắp nơi quần chúng hưởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa đã đồng loạt nổi dậy Ở những vùng xa xôi dù chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa nhưng căn

cứ vào tình hình cụ thể ở các địa phương và vận dụng chỉ thị "Nhật - Pháp bắn

Trang 29

nhau và hành động của chúng ta" đã lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa Ngày 14/8/1945, lực lượng vũ trang Quãng Ngãi giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh lỵ

Từ ngày 14 đến 18/8/1945, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,… hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng Một số địa phương ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà, lần lượt giành chính quyền

Ngày 16/8/1945, một đơn vị quân giải phóng đã tiến công thị xã Thái Nguyên và ngày 17/8 tiến công thị xã Tuyên Quang Một số địa phương ở Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An nổi dậy

Ngày 17/8/1945, một số vùng ở ngoại ô Hà Nội đã khởi nghĩa giành thắng lợi

Ngày 18/8/1945, lực lượng khởi nghĩa ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Mỹ Tho giành chính quyền Đó là những nơi giành được chính quyền sớm nhất trong cả nước [3,366]

Đặc biệt ở Hà Nội, dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Thành uỷ Hà Nội, ngày 17/8 đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Nhà hát thành phố Trong buổi mít tinh, cán bộ Việt Minh đã lên diễn đàn báo tin cho đồng bào biết phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh; đồng thời trình bày tóm tắt đường lối chủ trương cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân tham gia

và ủng hộ Việt Minh, đã đảo chính phủ bù nhìn thân Nhật của Trần Trọng Kim và chuẩn bị tham gia khởi nghĩa Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình, tuần hành thị uy, quần chúng vừa đi vừa hô khẩu hiệu:

- Ủng hộ Việt Minh

- Đả đảo bù nhìn

Trang 30

- Việt Nam hoàn toàn độc lập

Đoàn biểu tình bắt đầu từ Quảng trường Nhà hát thành phố đã rầm rộ đi qua các phố lớn ở Hà Nội Cả Hà Nội bừng bừng khí thế tiến công sôi sục khởi nghĩa

Ngày 18/8, Uỷ ban quân sự cách mạng chuyển từ ngoại thành vào trong nội thành để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền và đúng 11 giờ ngày 19/8, uỷ ban khởi nghĩa đã đọc lời kêu gọi khởi nghĩa giành chính quyền, sau đó lực lượng quần chúng có các đội tự vệ chiến đấu hỗ trợ từ nhà hát lớn kéo đến chiếm đóng các cơ quan đầu não của địch Đến tối ngày 19/8/1945 cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi

Tin thắng lợi ở Hà Nội bay đi khắp nơi, nhân dân ở các tỉnh hầu khắp trong cả nước đồng loạt nổi dậy giành chính quyền, trong đó đặc biệt quan trọng là giành chính quyền ở Huế (23/8) và ở Sài Gòn (25/8) và đến ngày 28/8 cuộc cách mạng đã thành công trong cả nước Chính quyền về tay nhân dân

và đến ngày 30/8/1945 chính quyền thực dân phong kiến hoàn toàn bị thủ tiêu trên toàn cõi Việt nam

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Uỷ ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội

Ngày 27/8, Uỷ ban dân tộc giải phóng triệu tập cuộc họp các thành viên trong uỷ ban, đã tiến hành cải tổ uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Đại hội quốc dân Tân Trào bầu ra thành Chính phủ cách mạng lâm thời, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và nhân sĩ tiến bộ

Ngày 28/8, danh sách các thành viên của Chính phủ lâm thời được công

bố trên các báo ở Hà Nội, gồm 15 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch

Trang 31

Chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử trước đông đảo nhân dân Hà Nội và các vùng phụ cận, Chính phủ lâm thời cách mạng đã ra mắt quốc dân, đồng bào và, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn độc lập, Tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, độc lập, tự do ra đời

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó đã phá tan hai xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và của phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hàng ngàn năm Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, dưới chế độ dân chủ cộng hoà, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người tự do, làm chủ nước nhà

Tuy nhiên như Lênin đã từng nói: ''Giành chính quyền đã khó nhưng giữ chính quyền còn khó hơn'' Vì trong bối cảnh quốc tế và trong nước lúc này vô cùng phức tạp Sau ngày 2/9/1945, tình hình cách mạng Việt Nam như ngàn cân treo sợi tóc Do đó để xây dựng và giữ vững chính quyền là vấn đề

vô cùng quan trọng hàng đầu của cách mạng Việt Nam lúc này, để tạo điều kiện đưa cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới với nhiều khó khăn và thách thức mới

2.2 Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước những điều kiện lịch sử mới

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, thắng lợi hoàn toàn thuộc

về phe Đồng minh chống phát xít, loài người đã được cứu khỏi thảm hoạ phát xít Từ trong cuộc chiến tranh này các nước Ba Lan, Bungari, Hungari, Tiệp Khắc, Nam Tư, Anbani, Rumani, Đông Đức, Bắc Triều Tiên, Mông Cổ được giải phóng, lập nên chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự ra

Trang 32

đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới khiến cho phong trào đấu tranh

vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới có chỗ dựa vững chắc, hình thành thế tiến công từ nhiều phía vào phe đế quốc chủ nghĩa Tuy nhiên cuộc chiến tranh thế giới thứ II đã tàn phá nặng nề đối với tất cả các nước tham chiến, nhất là đối với các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa, đăc biệt là Liên Xô Sau chiến tranh, Liên Xô phải lo dồn sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát huy vai trò trụ cột của mình đối với cách mạng Thế giới, Liên Xô vừa phải xây dựng đất nước, lại còn giúp cho các nước Đông Âu về chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật và kinh nghiệm để các nước này nhanh chóng phục hồi và xây dựng thành những nước xã hội chủ nghĩa Với những đóng góp to lớn trong cuộc chiến tranh chống phát xít và khôi phục kinh tế, uy tín chính trị của Liên Xô đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhân dân thế giới Liên Xô cũng đã khích lệ, động viên tinh thần đối với nhân dân lao động bị áp bức ở các châu lục đứng dậy giành chính quyền Tuy nhiên Liên Xô chưa có điều kiện để giúp đỡ một cách mạnh mẽ về mặt vật chất cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Trãi qua cuộc chiến tranh khốc liệt, các nước đế quốc cũng bị suy yếu

về nhiều mặt, trong lúc phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Châu Á, Châu Phi và phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước Châu Âu phát triển mạnh mẽ Các Đảng cộng sản ở các nước Châu Âu - những người có công lớn trong cuộc chiến tranh chống phát xít chiếm đa số ghế trong Quốc hội, tham gia chính phủ liên hiệp đã phát động phong trào dân sinh dân chủ, đòi tăng lương, giảm giờ làm, ủng hộ phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa

Lúc này cách mạng Trung Quốc đã giải phóng được phần lục địa phía Bắc với gần 100 triệu dân (trên 450 triệu dân) nhưng cuộc nội chiến giữa lực

Trang 33

lượng cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo với lực lượng Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đang diễn ra quyết liệt [30,33] Đối với Mỹ, mặc dù chiến tranh thế giới thứ II đã làm hơn 350 ngàn người thiệt mạng và tổn thất

240 tỷ đô la [30,34] Nhưng chính trong cuộc chiến tranh này nhờ vị trí địa lý cách xa các chiến trường chính nên Mỹ có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng giàu lên trong chiến tranh Vì thế sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ trở thành một siêu cường số một Thế giới về mọi mặt, là nước độc quyền về vũ khí hạt nhân Với sức mạnh về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu làm bá chủ thế giới Lợi dụng sự suy yếu của các nước phương Tây sau chiến tranh, Mỹ đã dùng viện trợ kinh tế để khống chế các nước này

Mỹ đã lôi kéo các nước tư bản Châu Âu vào chính sách ngăn chặn, bao vây chủ nghĩa cộng sản Liên Xô và các nước gắn bó với Liên Xô, khống chế phong trào giải phóng dân tộc trên các lục địa Á, Phi, Mỹ La Tinh

Từ những phân tích trên đây cho ta thấy đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ II là ba trào lưu cách mạng thế giới có bước phát triển mới, cùng tiến công vào chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân từ nhiều phía với nhiều góc độ khác nhau và từ đó ta cũng rút ra nhận định rằng mâu thuẫn chủ yếu diễn ra sau chiến tranh thế giới thứ II là mâu thuẫn giữa một bên là hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với các lực lượng cách mạng đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội với một bên là phe đế quốc chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu, cùng các lực lượng phản động tay sai Cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam do Đảng cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc cách mạng dân chủ nhân dân Cuộc cách mạng thành công dẫn đến sự ra đời của một Nhà nước Việt Nam độc lập

do Đảng cộng sản lãnh đạo tại một địa bàn chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á, có sức cổ vũ rất lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới vùng lên giải phóng Nó là đòn tiến công trực diện đánh vào dinh luỹ của chủ nghĩa

Trang 34

thực dân Do tính chất triệt để của cách mạng Việt Nam đã khiến cho các thế lực đế quốc và phản động quốc tế lo ngại và tìm cách chống phá nhằm thủ tiêu nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ Chính phủ Mỹ, từ chỗ ngăn chặn Pháp trở lại Đông Dương trong thời kỳ Tổng thống Rudơven với ý đồ tranh giành ảnh hưởng của Pháp ở vùng này, đã dần dần đi đến chỗ ủng hộ Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương nhằm lôi kéo Pháp vào việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Châu Âu Đồng thời dựa vào Pháp để giữ Đông Dương, ngăn chặn "làn sóng đỏ" ở khu vực này khi mà Mỹ chưa có điều kiện Nước Anh thì vì quyền lợi ích kỷ dân tộc của mình cũng đã ủng hộ Pháp quay trở lại Đông Dương Còn Pháp thì muốn nhanh chóng trở lại Đông Dương để bóc lột, vơ vét xứ sở giàu có này, đồng thời nếu để mất Đông Dương hoặc để cho Đông Dương độc lập thì hệ thống thuộc địa của Pháp cũng dễ bị tan rã ở các khu vực khác Thực hiện âm mưu trên, Pháp ráo riết chuẩn bị lực lượng quân đội viễn chinh và triển khai công việc xâm lược lại Đông Dương như lời tuyên bố của Đờ Gôn ngày 8/12/1943 tạ An Giê Ri là "sẽ giải phóng Đông Dương" [30,38]

Quá trình tái xâm lược được bắt đầu từ ngày 23/9/1945, được sự giúp

đỡ của quân Anh và quân Nhật, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh tái xâm lược nước ta Đến thời điểm này trên đất nước ta

đã có mặt tới 30 vạn quân chính quy của các nước Anh, Pháp, Nhật và Tưởng, trong đó có 20 vạn quân Tưởng, 6 vạn quân Nhật, trên 2 vạn quân Anh - Ấn,… cùng nhiều tổ chức, đảng phái phản động đang lăm le lật đổ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn bộ Nhà nước non trẻ này Ngoài việc phải

lo đối phó với giặc ngoài xâm lược và bọn phản động, chúng ta còn phải đối phó với hai thứ giặc khác là "giặc đói" và "giặc dốt" là hậu quả của chế độ thực dân để lại Tất cả những điều này đã đẩy nước ta vào một tình thế hết sức hiểm nghèo như "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng Đảng và Chính phủ ta vẫn

Trang 35

kiên quyết giữ vững mục tiêu cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập thống nhất cho Tổ quốc với chính sách ngoại giao "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"

2.3 Quá trình xây dựng và củng cố chính quyền từ trung ương

2.3.1 Xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền Trung ương

Đối với chính quyền trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định là bằng mọi giá phải giữ vững chính quyền Trung ương làm cho nó phát huy được vai trò là chính quyền cách mạng cao nhất để phục vụ cho mục tiêu độc lập dân tộc là trên hết Chúng ta biết rằng ngay sau khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thành công, ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với uỷ ban dân tộc giải phóng đã về Hà Nội, đến ngày 27/8/1945 thì cải tổ thành chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhiều uỷ viên Việt Minh trong chính phủ đã đặt lợi ích dân tộc của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân, tự nguyện rút ra khỏi chính phủ để nhường chỗ cho một số nhân sĩ tham gia Thành phần chính phủ lâm thời bao

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh , NXB chính trị quốc gia - 2003 5.Võ Nguyên-Giáp-(2002), Mấy suy nghĩ về bài học của cách mạng tháng Tám đối với sự nghiệp đổi mới ngày nay, Tạp chí cộng sản số 25 tháng 9/2002. Trang 6 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh" , NXB chính trị quốc gia - 2003 5.Võ Nguyên-Giáp-(2002"), Mấy suy nghĩ về bài học của cách mạng tháng Tám đối với sự nghiệp đổi mới ngày nay
Tác giả: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh , NXB chính trị quốc gia - 2003 5.Võ Nguyên-Giáp-
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia - 2003 5.Võ Nguyên-Giáp-(2002")
Năm: 2002
6. Nguyễn Duy-Gia-(1996), Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 10 tháng 5/1996. Trang 15 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới
Tác giả: Nguyễn Duy-Gia-
Năm: 1996
7.-Lê Mậu-Hãn-(2003), Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: -Lê Mậu-Hãn-
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
13. Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945- 1954, NXB quân đội Nhân dân 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945- 1954
Nhà XB: NXB quân đội Nhân dân 1994
14.-Hồ Chí-Minh-(1971), Trách nhiệm của cán bộ và nhân dân đối với chính quyền cách mạng, NXB Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm của cán bộ và nhân dân đối với chính quyền cách mạng
Tác giả: -Hồ Chí-Minh-
Nhà XB: NXB Sự thật Hà Nội
Năm: 1971
15.-Hồ Chí-Minh-(1966), Về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Sự thật Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: -Hồ Chí-Minh-
Nhà XB: NXB Sự thật Hà nội
Năm: 1966
17.Hồ Chí-Minh-(1979), Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, NXB sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ
Tác giả: Hồ Chí-Minh-
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1979
18.Nguyễn Ngọc-Minh-(1982), Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới và pháp luật ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội 19.Hồ Chí-Minh-(1995), Toàn tập, tập 1 - 6, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 20.Hồ Chí -Minh-(1989),Với Nhà nước và pháp luật NXB trung ương hội luật gia Việt Nam , Tỉnh hội luật gia Nghệ -Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới và pháp luật ở Việt Nam, "NXB Khoa học xã hội 19.Hồ Chí-Minh-(1995), Toàn tập, tập 1 - 6, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 20.Hồ Chí -Minh-(1989),"Với Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc-Minh-(1982), Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu mới và pháp luật ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội 19.Hồ Chí-Minh-(1995), Toàn tập, tập 1 - 6, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 20.Hồ Chí -Minh-
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội 19.Hồ Chí-Minh-(1995)
Năm: 1989
21.Nguyễn Văn-Nhật-(1997), Huy động lực lượng toàn dân - nguồn gốc sức mạnh để giữ vững chính quyền chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiên, Viện sử học và NXB văn hoá thông tin. Trang 56 - 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động lực lượng toàn dân - nguồn gốc sức mạnh để giữ vững chính quyền chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiên
Tác giả: Nguyễn Văn-Nhật-
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin. Trang 56 - 74
Năm: 1997
22.Trịnh-Nhu-(1997), Xây dựng Đảng để giữ vững chính quyền, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiến, Viện sử học và NXB văn hoá thông tin. Trang 112 - 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng để giữ vững chính quyền, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiến
Tác giả: Trịnh-Nhu-
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin. Trang 112 - 129
Năm: 1997
24.Vũ Thị-Phụng-(1993),Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị-Phụng-
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1993
25. Những sự kiện lich sử Đảng, tập 1 (1920 - 1945),NXB sự thật Hà Nội - 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lich sử Đảng
Nhà XB: NXB sự thật Hà Nội -1976
26.Dương Trung-Quốc-(2002),Từ Cách mạng tháng Tám đến Tuyên ngôn độc lập,Tạp chí Cộng sản số 25, Tháng 9/2003.Trang 6- 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Cách mạng tháng Tám đến Tuyên ngôn độc lập
Tác giả: Dương Trung-Quốc-
Năm: 2002
27.-Trần Thị-Rồi-(2000),Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc tổ chức chính phủ ở Việt Nam thời kỳ 1945- 1954, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3 năm 2000. Trang 11-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc tổ chức chính phủ ở Việt Nam thời kỳ 1945- 1954
Tác giả: -Trần Thị-Rồi-
Năm: 2000
28.Văn- Tạo-(1999), Bản chất Nhà nước Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám, tạp chí Cộng sản số17 tháng 9/1999.Trang 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất Nhà nước Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Văn- Tạo-
Năm: 1999
29.Tổng kết cuộc kháng chiến chống thưc dân Pháp , Thắng lợi và bài học, NXB quốc gia Hà Nội - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thưc dân Pháp , Thắng lợi và bài học
Nhà XB: NXB quốc gia Hà Nội - 1996
30.Hồ Văn-Thông-(1996), Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, Tạp chí Cộng sản số 20 thang 10/1996. Trang 23- 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
Tác giả: Hồ Văn-Thông-
Năm: 1996
31.Nguyễn Văn -Thảo-(2003),Những đặc điểm chủ yếu trong hoạt động của quốc hội , chính phủ và nền hành chính nước ta hiện nay , Tạp chí Cộng sản số 25 tháng 9/2003. Trang 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm chủ yếu trong hoạt động của quốc hội , chính phủ và nền hành chính nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn -Thảo-
Năm: 2003
32.Nguyễn Tố-Uyên-(1997), Vấn đề giữ vững chính quyền để, chuẩn bị kháng chiến lâu dài, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiến, Viện sử họcvà NXB văn hoá thông tin.Trang 22- 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giữ vững chính quyền để, chuẩn bị kháng chiến lâu dài, nửa thế kỷ nhìn lại ngày toàn quốc kháng chiến
Tác giả: Nguyễn Tố-Uyên-
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin.Trang 22- 37
Năm: 1997
33.Nguyễn Trọng -Văn-(2001),Các khuynh hướng chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, tủ sách đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khuynh hướng chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Trọng -Văn-
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w