1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong thơ nguyễn bính trước cách mạng tháng 8

110 613 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 345,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở những ý kiến quý báu có tính chất gợi mở, định hớng củacác nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về “Hình tợng tác giả trongthơ Nguyễn Bính trớc cách mạng” một cách cụ

Trang 1

nguyễn thị hải yến

Hình tợng tác giả trong thơ nguyễn bính

trớc cách mạng tháng tám

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh - 2007

Trờng đại học vinh

nguyễn thị hải yến

Hình tợng tác giả trong thơ nguyễn bính

Trang 2

nguyÔn thÞ h¶i yÕn

H×nh tîng t¸c gi¶ trong th¬ nguyÔn bÝnh

Trang 3

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Thầy giáo - PGS.TS Đinh Trí Dũng - ngời đã tận tình hớng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong tổ Văn học Việt Nam, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Vinh, tháng 12 năm 2007.

Tác giả

Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 4

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phơng pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc luận văn 6

Chơng 1 Khái niệm hình tợng tác giả và nhìn chung về vị trí của Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới 7

1.1 Khái niệm hình tợng tác giả 7

1.2 Các chặng đờng sáng tác của Nguyễn Bính 12

1.3 Nguyễn Bính là một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ mới .17

1.4 Nguyễn Bính - dấu nối giữa dòng thơ điền viên trung đại và bộ phận “chân quê” trong thơ ca hiện đại 20

Chơng 2 Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn Bính trong thơ 26

2.1 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Bính 26

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Bính 34

2.3 Sự tự thể hiện của Nguyễn Bính trong thơ 52

Chơng 3 Thể loại, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Bính 74

3.1 Thể loại 74

3.2 Giọng điệu 82

3.3 Ngôn ngữ 92

3.4 Hình ảnh 114

Kết luận 123

Tài liệu tham khảo 126

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn của thơ ca lãng mạn Việt Nam thời

kỳ 1932 - 1945 Tiếng thơ của ông góp vào thi đàn “thơ mới” một phong cách

riêng, cái đẹp riêng Nét riêng ấy dễ nhận thấy trong Thi nhân Việt Nam Hoài

Trang 5

Thanh đã chỉ ra đó là chất “quê mùa”, là “Hồn xa đất nớc” rất gần gũi với cadao, dân ca truyền thống: “Giá mà Nguyễn Bính sinh ra thời trớc, tôi chắc ngời

đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm” [58-309]

Nguyễn Bính đã dành đợc vị trí của mình trong văn học nhà trờng Thơ

ông đã đợc đa vào giảng dạy ở cả bậc phổ thông và đại học Chính vì vậy,Nguyễn Bính cần đợc tiếp tục nghiên cứu và khám phá để góp thêm một cáinhìn đặc sắc về thơ Nguyễn Bính, thấy đợc những giá trị văn chơng và đónggóp đáng quý của tác giả này vào làng thơ mới Việt Nam

1.2 Cho đến nay, tổng số công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính khôngphải là ít Gần một nửa thế kỷ qua, bạn đọc yêu thơ và các nhà phê bình đãkhông ngừng nghiên cứu, khám phá thơ Nguyễn Bính từ nhiều góc độ Có rấtnhiều công trình nghiên cứu công phu về thơ ông, tuy nhiên cha có công trìnhnào đi sâu tìm hiểu hình tợng tác giả trong thơ ông một cách có hệ thống.Luận văn này cố gắng góp một phần nhỏ làm rõ hơn vấn đề trên, cũng chính

là đi sâu hơn tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Bính Đề tài vì vậy mang ý nghĩakhoa học

1.3 Nghiên cứu hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Bính không chỉ có

ý nghĩa riêng biệt đối với một hiện tợng văn học cụ thể mà còn có ý nghĩa đốivới việc tìm hiểu một kiểu tác giả - kiểu chủ thể sáng tạo mang tính đặc thùcủa phong trào thơ mới Đề tài vì vậy mang ý nghĩa quan trọng về cả lý luận

2.1 Thời kỳ trớc cách mạng năm 1945

Trang 6

Ngay từ khi “trình làng” bài thơ Cô hái mơ, đạt giải thởng của Tự lực

Văn Đoàn với Tâm hồn tôi và thực sự nổi tiếng với Lỡ bớc sang ngang, thơ

Nguyễn Bính đã chiếm đợc lòng yêu mến của đông đảo bạn đọc và sự chú ýcủa giới phê bình nghiên cứu Tuy nhiên, những bài viết, những công trìnhnghiên cứu về Nguyễn Bính ở giai đoạn này cha nhiều Trớc cách mạng thángtám, thẩm định hay nhất, gợi đúng cái “chân quê”của hồn thơ Nguyễn Bính

phải kể đến bài giới thiệu về Nguyễn Bính của Hoài Thanh trong Thi nhân

Việt Nam Hoài Thanh là ngời đầu tiên nhận ra vẻ đẹp kín đáo đậm đà của hồn

thơ Nguyễn Bính

Cùng với Hoài Thanh nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà

văn hiện đại cũng chỉ ra “thứ tình quê phác thực” đợc toát lên từ những câu

thơ mang dáng vẻ “thực thà","hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính [52,701].

Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là ở mảng thơ viết

về làng quê ngay trong những ngày thơ mới đang phồn thịnh với: “trăm hoakhoe sắc", hai nhà nghiên cứu đã có một cảm quan tinh tế, nhạy cảm trongviệc nhận diện những hồn thơ độc đáo, một nẻo đi riêng của Nguyễn Bính.Những ý kiến trên có ý nghĩa định hớng cho việc nghiên cứu Nguyễn Bính saunày

2.2 Thời kỳ từ 1945 đến 1975

Trong kháng chiến chống Pháp, những vần thơ xa của ông vẫn đợc trântrọng Tuy nhiên ở giai đoạn này do hoàn cảnh chiến tranh, đất nớc bị chiacách làm hai miền nên việc nghiên cứu văn học nói chung và thơ Nguyễn Bínhnói riêng có nhiều hạn chế

ở miền Bắc, nghiên cứu Nguyễn Bính còn ít và sự khẳng định cũng dèdặt Những năm 60, các công trình, bài viết về thơ mới, thơ Nguyễn Bính chỉ

điểm qua

ở miền Nam, nghiên cứu Nguyễn Bính đợc chú ý hơn Thơ NguyễnBính đợc chú ý hơn, đợc tái bản, giới thiệu trong giáo trình của đại học vănkhoa Sài Gòn, đợc đánh giá thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền

chiến Đáng chú ý hơn cả là Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thợng) - Sài Gòn 1968 của soạn giả Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam

văn học sử giản ớc tân biên của Phạm Thế Ngũ đợc xuất bản 1965, Lợc sử văn nghệ Việt Nam của Thế Phong (Vàng son,1974) với nhiều bài viết trên báo,

tạp chí, nhất là trong tập san Văn học số 60- số đặc biệt kỉ niệm Nguyễn Bính

- Sài Gòn 14/6/1966 với các bài: Cuộc đời Nguyễn Bính đi trong khói lửa

Trang 7

chiến tranh của Sơn Nam, Nguyễn Bính - thi sĩ suốt đời măc bệnh tơng t của

Vũ Bằng Nguyễn Bính nhà thơ bình dân, Nguyễn Bính một ngôi sao sáng

trên thi đàn dân tộc của Nguyễn Phan, Nguyễn Bính - nhà thơ kháng chiến tại Miền Nam của Thái Bạch Thời kỳ này, số lợng bài viết tơng đối nhiều, song

thành tựu cha đáng kể

2.3 Thời kỳ từ 1975 đến nay

Có thể thấy từ sau năm 1975 và đặc biệt là từ khi đất nớc bớc vào thời

kỳ đổi mới (1985) đến nay, các nhà văn, nhà thơ xa và nay đợc đánh giá đúng

đắn hơn Đặc biệt, khi ngời ta đã có một cái nhìn thận trọng đúng đắn, sángsuốt hơn đối với văn học quá khứ, trong đó có phong trào thơ mới, thì NguyễnBính và thơ Nguyễn Bính thực sự đợc "hồi sinh" Cùng với Xuân Diệu, HànMặc Tử, Chế Lan Viên hàng loạt tập thơ, tuyển thơ Nguyễn Bính đợc tái

bản, lần lợt ra mắt bạn đọc Tuyển tập Nguyễn Bính (1986), Thơ tình Nguyễn

chọn lọc (1992) Điều đó đã đợc đề cập đến trong lời giới thiệu thơ Nguyễn

Bính với độc giả Xô Viết của nhà thơ Ilia Phônhiacốp: “Tôi rất thích thú khi

đ-ợc biết ở Việt Nam sau nhiều năm im lặng, tác phẩm của một nhà thơ tài hoa

nh Nguyễn Bính lại đợc xuất bản, lại thu đợc thành công to lớn Ngay cả trongbản dịch nghĩa bằng văn xuôi, thơ Nguyễn Bính đã gây một ấn tợng mạnh mẽ.Tôi đã đến thăm tỉnh Hà Nam Ninh, quê hơng nhà thơ, và có dịp mắt thấy tainghe là trong suốt những năm qua, những ngời đồng hơng luôn luôn nhớ vềNguyễn Bính” Thơ Nguyễn Bính đợc nhắc nhiều trong các bài giới thiệu,nghiên cứu, trong các chuyên luận về văn chơng Một số công trình nổi tiếng

có giá trị: Bốn mơi năm văn học (1986); Ngôn ngữ thơ Nguyễn Phan Cảnh (2001) Giáo trình văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức, Thơ mới - những bớc thăng trầm của Lê Đình

Kỵ (1989), Thơ với lời bình của Vũ Quần Phơng (1992), Nhìn lại một cuộc

cách mạng trong thơ ca của giáo s Hà Minh Đức chủ biên (1993); Thơ mới

nhiều bài báo viết về Nguyễn Bính trên các báo, trên các tạp chí nhất là vàokhoảng năm 1986 - 1996 kỷ niệm 20 năm và 30 năm ngày mất của NguyễnBính Bên cạnh đó là nhiều cuốn sách tập hợp các bài viết có hệ thống về

Nguyễn Bính nh: Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên (1991); năm 1992, Nxb Hội Nhà văn cho ra mắt Nguyễn Bính thi sỹ của yêu thơng do Hoài Việt

su tầm và biên soạn; năm 1996, Nxb Văn học ấn hành cuốn Nguyễn Bính thi

Trang 8

sỹ của đồng quê; năm 2003, Nxb Giáo dục giới thiệu cuốn Ba đỉnh cao thơ mới - Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử của tác giả Chu Văn Sơn Gần

đây nhất (9-2006), trên trang văn học của báo điện tử có đăng liên tiếp nội

dung cuốn sách (gồm 9 kỳ) Nguyễn Bính thi sỹ giang hồ của tác giả Trần Đình

Thu những công trình này đã thu hút đợc sự chú ý của ngời yêu thơ Đó làcha kể đến hàng loạt các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu phê bình có têntuổi của Việt Nam, đã viết về Nguyễn Bính với tình cảm yêu mến, trân trọng

và thán phục nh Tô Hoài, Lại Nguyên Ân, Đoàn Thị Đặng Hơng, Đỗ LaiThuý, Đoàn Đức Phơng, Tô Phơng Lan, Hà Bình Trị, Lê Quang Hng Nguyễn Bính còn trở thành nhiều đề tài, nhiều khoá luận tốt nghiệp cho sinhviên các trờng đại học, nhiều luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn trong cả nớc

Nhìn một cách tổng quát, qua các thời kì lịch sử khác nhau, thơ NguyễnBính cũng có nhiều thăng trầm nhng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính

ít có những khác biệt, những mâu thuẫn gay gắt, không tạo ra những cuộc bútchiến, những tranh luận căng thẳng Về căn băn bản các ý kiến đánh giá vềNguyễn Bính khá thống nhất Dù ở thời nào Nguyễn Bính vẫn đợc xem là nhàthơ “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê”, “là thi sỹ đồng quê”, “Thi sỹ yêu th-

ơng ” và các nhà nghiên cứu đều khẳng định đó chính là cái hay, cái hơn ngờicủa Nguyễn Bính Với một bề dày lịch sử, thơ Nguyễn Bính đã đợc nhiều nhànghiên cứu xem xét ở rất nhiều góc độ, từ nội dung đến hình thức, từ t tởngphong cách đến thế giới nghệ thuật

Trên cơ sở những ý kiến quý báu có tính chất gợi mở, định hớng củacác nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về “Hình tợng tác giả trongthơ Nguyễn Bính trớc cách mạng” một cách cụ thể, có hệ thống, hy vọng làm

rõ hơn cái độc đáo của phong cách và con ngời thơ Nguyễn Bính

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Nh tên đề tài đã nêu, đối tợng nghiên cứu của luận văn là: Hình tợng tácgiả trong thơ Nguyễn Bính trớc cách mạng tháng tám Vấn đề này cho đến naycha đợc tìm hiểu một cách có hệ thống và hoàn chỉnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có tham vọng khảo sáttoàn bộ các sáng tác của Nguyễn Bính, mà chỉ nghiên cứu hình tợng tác giả

qua 7 tập thơ của ông sáng tác trớc cách mạng tháng 8 năm 1945: Lỡ buớc

sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hơng cố nhân (1941), Một nghìn cửa

Trang 9

sổ (1941), Ngời con gái ở lầu hoa (1942), Mây tần (1942), Mời hai bến nớc

(1942)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Khảo sát thơ Nguyễn Bính trớc cách mạng để xác định những đặctrng của hình tợng tác giả trên phơng diện nội dung - chủ yếu là cái nhìn nghệthuật và sự tự thể hiện của tác giả trong thơ

4.2 Khảo sát đặc trng hình tợng tác giả Nguyễn Bính trên phơng diệnhình thức thể hiện - giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính

5 Phơng pháp nghiên cứu

Hình tợng tác giả là vấn đề thể hiện cái Tôi độc đáo cá nhân, thể hiệncái Tôi trong ý thức nghệ thuật và ý thức xã hội của tác giả Chúng tôi cố gắngphân tích lý giải vấn đề này từ góc độ thi pháp học Chúng tôi vận dụng nhiềuphơng pháp khác nhau nh: Thống kê phân loại, phân tích, so sánh, hệ thống

để tìm hiểu nghiên cứu vấn đề

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Khái niệm hình tợng tác giả và nhìn chung về vị trí của

Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới

Chơng 2 Cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn Bính

trong thơ

Chơng 3 Thể loại, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

Chơng 1

Khái niệm hình tợng tác giả và nhìn chung về

vị trí của Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới

1.1 Khái niệm hình tợng tác giả

Tác giả cũng nh tác phẩm là những khái niệm cơ bản đợc sử dụng nhiềunhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học Theo Bakhtin tác giả là ngờilàm ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức ra nội dung, hình thức, cái nhìn nghệthuật trong tác phẩm Lý luận văn học hiện đại đã chỉ ra khả năng vô cùng tolớn của quá trình đồng sáng tạo của độc giả Quá trình tiếp nhận cho phép độc

Nội dung

Trang 10

giả có thể mở ra nhiều cách hiểu khác nhau về tác phẩm, vì vậy tác giả nóichung, hình tợng tác giả nói riêng là những vấn đề đang đợc đặt ra nghiên cứu.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hình tợng tác giả là phạm trù thể

hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mìnhtrong tác phẩm Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái Tôi trongnhân cách mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tợngcủa tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: vănbản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể hoặc nhânvật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra ng-

ời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [27,149]

Định nghĩa đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng nhcái Tôi trong nghệ thuật Trớc hết chúng ta thấy rằng cái Tôi nhân cách gópphần lớn vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giá vai trò của cá nhântrong cuộc sống Cái Tôi do đó là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhâncách, có thể coi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thành những tình cảmxã hội của con ngời và xác định mặt cá tính của nhân cách Cái Tôi với sự tự ýthức về chủ thể, về các vấn đề đời sống cá nhân với t cách là một cá tính là

điều không thể thiếu đợc trong tác phẩm trữ tình Nói cách khác, sẽ không cótác phẩm trữ tình nếu thiếu đi sự tự ý thức về chủ thể của cái Tôi cá nhân Từcái Tôi nhân cách hình thành nên cái Tôi nghệ thuật Nh vậy sự tự ý thức củatác giả trong tác phẩm chính là hạt nhân của hình tợng tác giả

Điểm thứ hai cũng đáng lu ý ở đây là việc “xây dựng ra hình tợng ngờiphát ngôn văn bản với một giọng điệu nhất định” Đây cũng chính là hệ quảcủa sự tự ý thức của bản thân cái Tôi nghệ thuật Nhng ta cũng có thể thấyrằng “hình tợng phát ngôn trong văn bản” có thể chỉ là hình tợng khách quannằm ngoài tác giả, mặc dù trong một chừng mực nhất định nó chính là nhânvật mang t tởng của tác giả Nói một cách khác “hình tợng ngời phát ngôntrong văn bản” cho ta một nhân vật đồng dạng với tác giả, nhng bản thân sựmiêu tả của tác giả về chính mình thì phải xét tiếp ở khía cạnh khác

Nh vậy, chúng ta phải xem xét “cái Tôi trữ tình” nh là sự biểu hiện trựctiếp của cái Tôi trong nghệ thuật Theo nghĩa hẹp “cái Tôi trữ tình” là hình t-ợng cái Tôi - cá nhân cụ thể, cái Tôi- tác giả tiểu sử với những nét riêng t , làloại nhân vật trữ tình đặc biệt khi miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chínhmình Theo nghĩa rộng thì “cái tôi trữ tình” là nội dung, đối tợng, phẩm chất

Trang 11

của trữ tình Quan niệm này hiểu “cái tôi trữ tình” nh một khái niệm phổ quátcủa trữ tình, phân biệt trữ tình với các thể loại khác Hình tợng tác giả trongthơ từ cơ sở cái Tôi trữ tình theo nghĩa rộng chủ yếu tập trung đi sâu vàonghiên cứu cái Tôi trữ tình theo nghĩa hẹp, cụ thể là cái Tôi tác giả trong thơ

ở đây ta chú ý đến các dạng thức thể hiện của cái Tôi trữ tình trongthơ Theo Pôxpêlôp, có ba dạng biểu hiện của cái Tôi trữ tình Phổ biến nhất làcái Tôi trữ tình tự thuật tâm trạng Cái Tôi ở đây đồng dạng nhất hoặc gần gũinhiều nhất với cái Tôi của tác giả Dạng thứ hai là cái Tôi trữ tình nhập vai.Dạng thứ ba là cái Tôi trữ tình hóa thân

Song ở dạng nào thì nhà thơ cũng là sự thống nhất của hai con ngời: thứnhất là con ngời có số phận nhất định, kinh nghiệm sống, những tâm trạng,những quan điểm sống nhất định; thứ hai là nhân vật của chính những bài thơcủa mình, chính là đối tợng hóa chính bản thân mình Điều quan trọng là biếnnhững nét nhân cách của nhà thơ thành hình tợng tác giả Hay nói cách khác

nó là sự thống nhất nhng không đồng nhất giữa cái Tôi nhà thơ trong cuộcsống và cái Tôi trữ tình trong tác phẩm Sự không đồng nhất là quy luật điểnhình hóa nghệ thuật, và cái Tôi nhà thơ khác với cái Tôi nghệ thuật hóa Cụthể hình tợng tác giả thống nhất nhng không đồng nhất với cái Tôi nhà thơtrong cuộc sống

Qua sự phân tích trên, có thể thấy rõ một số nội dung cơ bản: thứ nhất

là vai trò của sự tự ý thức của cái Tôi tác giả trong tác phẩm Thứ hai là trongquá trình xây dựng văn bản nhà văn đồng thời xây dựng ra hình tợng ngời phátngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định Nghĩa là đã có cái hạt nhân kếtcấu của hình tợng, phơng tiện biểu hiện, hình thức biểu hiện của hình tợng.Nhng vấn đề là ở chỗ cái Tôi nghệ thuật là trung tâm của tất cả các vấn đềthuộc về tác phẩm cũng nh loại hình tác phẩm và loại hình tác giả Cho nên sự

tự ý thức của tác giả trong tác phẩm nghệ thuật về vai trò xã hội và vai trò vănhọc là một điểm quan trọng nhng cha đặc trng Cái đặc trng của hình tợng tácgiả thiết nghĩ chính là ở chỗ tác giả tự biến mình thành một hình tợng nghệthuật, nghĩa là tác giả hiện hình trong tác phẩm nh một nhân vật có đủ t tởng,quan điểm nghệ thuật, có giá trị thẩm mỹ riêng

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng thừa nhận sự tồn tại

của khái niệm “Hình tợng tác giả” gắn liền với sự phát triển của nhân tố sángtạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cách tác giả nhập sâu vào cơ

Trang 12

cấu nghệ thuật của tác phẩm, xem xét hình tợng tác giả với t cách là chủ thể tổchức ngôn ngữ, ngời trần thuật hiện diện trong tác phẩm “Để kết nối lời tự sự,lời trần thuật với hình tợng tác giả trong ý thức nghệ thuật phải xác lập đợc t t-ởng về quyền h cấu nghệ thuật, là cái sẽ đợc hợp thức hóa hình ảnh tác giả”.

Bên cạnh đó, Vinôgrđôp hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thểngôn từ Song dẫu có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không thể bỏqua đợc “Chiều sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sỹ” Có vẻ nh sự trình bày của

ông phần lớn bám vào “Giọng điệu cá nhân”, ngôn từ tác giả còn thiếu rànhmạch, khó nắm bắt khái niệm của thuật ngữ Ngời đọc rất khó phân định rahình tợng tác giả có phải là sự tự ý thức của tác giả thể hiện trong tác phẩmhay tác giả với t cách là ngời tổ chức ngôn từ nghệ thuật

So với các quan niệm của các tác giả trên, Trần Đình Sử là ngời có đónggóp quan trọng trong việc làm rõ khái niệm hình tợng tác giả một cách rõ nét.Theo Trần Đình Sử hình tợng tác giả cũng giống nh hình tợng nhân vật - đều

là những sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm văn học, song chúng khác nhau ởnguyên tắc sáng tạo Nếu hình tợng nhân vật đợc sáng tạo theo nguyên tắc hcấu, đợc miêu tả theo những quan niệm nghệ thuật về con ngời và theo tínhcách nhân vật, thì hình tợng tác giả đợc biểu hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện

sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới nhân vật.Trong giao tiếp ngời

ta có nhu cầu tự biểu hiện mình với ngời đối thoại nh là uyên bác, hào phóng,hiếu khách theo những yêu cầu tiến bộ của xã hội cũng vậy, trong văn học,các nhà văn thờng tự biểu hiện mình nh ngời phát hiện, ngời khám phá cáimới, ngời có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sỹ điều đó đã trở thành yêucầu quy ớc đối với ngời đọc.Leptônxtôi đã từng nói: “Nếu trớc mặt ta là mộttác giả mới thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đốivới ngời đọc Nếu nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nóianh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý”

Từ nguyên tắc sáng tạo đặc trng đã nêu, ta nhận thấy hình tợng tác giả

là cái đợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.WGoethe nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tả chínhmình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt” Có nghĩa là nhà văn biểuhiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình và ngôn ngữ,cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm,

và sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học Nói cách khác, vấn đề

Trang 13

hình tợng tác giả gắn bó hữu cơ với cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuậtcủa nhà văn.

Viện sĩ Nga V Vinôgrađôp trong rất nhiều công trình đã khẳng địnhhình tợng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ Achichêrincũng cho rằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra nh hình tợng nhân vật Đây là

sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lý của sự kiện mà là chân lý của ýnghĩa, của t duy nh chân lý của thi ca

Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định vấn đề hình tợng tác giả không chỉ

là sự phản ánh cái Tôi tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa ngờisáng tạo ra văn học và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sựthể hiện của chủ thể Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là mộtvấn đề đang đợc nghiên cứu Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở ph-

ơng diện ngôn ngữ, có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả cácyếu tố và cấp độ tác phẩm từ cách quan sát, cách suy nghĩ, các quan niệmtrong lập trờng đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì khôngchỉ giọng điệu ngời trần thuật mà cả trong giọng điệu của nhân vật Có ngờitập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm: Cái nhìn nghệ thuật của tác giả,sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật và giọng

điệu Theo một cách nhìn hợp lý thì hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở:

cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t tởng, đạo đức, thị hiếu, thẩmmỹ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật; và ở sựmiêu tả, sự hình dung của tác giả đối với chính mình” [53,109]

Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu cho thấy hình tợng tác giả là mộtphạm trù quan trọng của nghiên cứu văn học Nhìn một cách tổng quát nó đợcthể hiện trên ba phơng diện cơ bản: T tởng, cái nhìn; Giọng điệu, ngôn ngữ và

sự tự thể hiện của chính nhà văn trong tác phẩm

1.2 Các chặng đờng sáng tác của Nguyễn Bính

Nguyễn Bính (1918-1966) sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèovùng chiêm trũng tỉnh Nam Định ông là nhà thơ tiêu biểu cho một khuynh h-ớng thơ ca rất đáng trân trọng của phong trào thơ mới Thật khó hình dung xãhội Việt Nam thế kỷ XX thiếu vắng Nguyễn Bính, ngời đợc gọi là "nhà thơchân quê", "nhà thơ của tình quê, của hồn quê", "thi sĩ của yêu thơng" ônglàm thơ và bộc lộ tài năng từ rất sớm Tuy cuộc đời ngắn ngũi, quá trình sángtác không dài nhng Nguyễn Bính đã cống hiến cho thi đàn Việt Nam những

Trang 14

trang thơ tâm huyết, rất chân tình, giản dị mà lắng đọng sâu xa.Trớc cũng nhsau cách mạng, Nguyễn Bính luôn miệt mài trên hành trình sáng tạo Với mộthành trình thơ trải ngót ba mơi năm Nguyễn Bính đã để lại cho đời một khối l-ợng tác phẩm khá phong phú và đồ sộ với nhiều tập thơ, truyện thơ, kịch thơ,kịch bản chèo, truyện và cả bình luận sáng tác Trong đó thơ là mảng sáng táckết tụ tài năng, tinh huyết cuộc đời ông.

1.2.1 Chặng đờng sáng tác trớc cách mạng

Nguyễn Bính đến với thơ từ rất sớm Năm 13 tuổi, Nguyễn Bính làmmọi ngời kinh ngạc về tài thơ của mình Năm đó, vào dịp tháng ba âm lịch,hội Phủ Giày tỉnh Nam Định quê ông có tổ chức một cuộc thi thơ Đề thi tảcảnh chọi gà trong ngày hội Trong lúc mọi ngời đang loay hoay làm bài,thời gian cũng chỉ mới hết một nửa, ngời ta thấy một cậu bé con bớc vàochỗ ban giám khảo để nộp bài Đó chính là Nguyễn Bính Bài thi của cậu bé

là một bài thơ dài hơn ba trang giấy học trò và bài thi đó đã đợc giải nhất

Một trang đời mới mở trớc mắt ông vào năm 1932, cuối năm ấy ôngtạm biệt tuổi thơ, giã biệt ngôi nhà và mảnh vờn nhỏ bé để theo anh trai Trúc

Đờng ra Hà Đông, Hà Nội kiếm sống, anh thay cha mẹ chăm sóc em, anh dạythêm tiếng Pháp và truyền đạt văn học Pháp cho Nguyễn Bính Nguyễn Bính

đã có vốn thơ dân tộc, vốn thơ Đờng, nay hành trang thơ lại giàu thêm nhờdòng hiện đại của Pháp Mặc dù Trúc Đờng cùng em chuyển ra Hà Nội nhngvẫn đa em về quê để Nguyễn Bính giữ mạch thơ dung dị vùng quê Nam Định,Ninh Bình, Thái Bình, Phủ Lý hoặc đi tới với các miền khác Năm1937, bài

thơ Cô hái mơ xuất hiện trên thi đàn và đợc d luận chú ý, đấy cũng là thời

điểm Nguyễn Trọng Bính bắt đầu ký tên là Nguyễn Bính Nhng có thể thấynhững năm 1937-1942 là những năm Nguyễn Bính mới bắt tay vào sáng tácmột cách chuyên nghiệp, là những năm đánh dấu bớc ngoặt lớn lao nhất, cũng

là điểm sáng nhất trong thơ Nguyễn Bính trớc cách mạng Dẫu rằng đây lànhững năm Nguyễn Bính cha hết bỡ ngỡ từ quê ra tỉnh, rồi đi khá nhiều nơi,tâm hồn trẻ dạt dào cảm xúc, suy t, sự tơng phản về lối sống, sự xa cách tạomột hoài niệm day dứt, một điểm nhìn nghệ thuật đặc biệt với quê hơng, chonên đây cũng là thời điểm Bính làm thơ hay, bộc lộ rõ nhất cái bản sắc “giónội hơng đồng” cái “bản sắc chân quê”

Năm 1937, Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi dự thi và đợc giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đàn nhng tập thơ ấy cha đủ sức đa Nguyễn

Trang 15

Bính bớc lên đài danh vọng Nguyễn Bính chỉ thực sự nổi tiếng khi tờ Tiểu

thuyết thứ năm liên tiếp trong ba kỳ đăng ba đoạn của bài thơ Lỡ bớc sang ngang - Lỡ bớc sang ngang cũng là tên của tập thơ Nguyễn Bính sau này

(1940) Ngoài ra Nguyễn Bính còn viết văn xuôi Ngậm miệng Cuộc sống

ngày càng trở nên nghẹt thở và thiếu thốn Nguyễn Bính đã cùng một số bạn

bè đi tha hơng khắp xứ và chính những chuyến giang hồ ấy đã gợi choNguyễn Bính nhiều cảm hứng Năm 1941, Nguyễn Bính trình làng tập thơ

Một nghìn cửa sổ và Hơng cố nhân Nguyễn Bính đi Thờng Tín rồi vào Vinh

viết Xuân tha hơng Đến Huế, Nguyễn Bính lại viết loạt bài trong những ngày dừng chân ở cố đô: Thu rơi từng cánh, Vài nét huế, Hoa với rợu, Giời ma ở

Huế v.v

Đến năm 1942, Nguyễn Bính đợc in liên tiếp ba tập thơ Ngời con gái ở

lầu hoa, Mời hai bến nớc, Mây tần Đây cũng là năm có một sự kiện đáng

nhớ: vở kịch thơ Bóng giai nhân Nguyễn Bính viết chung với Yến Lan đợc

dựng ở nhà hát lớn Hà Nội, Huế, Sài Gòn Có thể nói với Nguyễn Bính thơchính là ngời bạn đồng hành suốt cuộc đời chìm nổi giang hồ Từ năm 1940 -

đến tháng Tám năm 1945, Nguyễn Bính đã gửi vào những trang thơ biết baobăn khoăn trăn trở của mình những điều mắt thấy tai nghe trên khắp nẻo đờng

lu lạc Những ngày ấy tâm t Nguyễn Bính có biết bao điều day dứt, cảm sầu về

đời mình và cả cuộc đời chung Càng day dứt cảm sầu càng thêm nhiều thi

hứng nên Nguyễn Bính viết đợc khá nhiều kịch thơ Nguyễn Trãi, truyện thơ

Cô gái Ba T những bài thơ Xuân tha hơng, Anh về quê cũ, Đi giữa kinh thành, Mắt nhung

Năm 1944, Theo phong trào khuyến học Nguyễn Bính đi sâu vào cựcNam của Tổ quốc, nhà thơ dừng chân ở Hà Tiên Trên hành trình sáng tác,

đây là năm Nguyễn Bính chuyển mạnh sang truyện thơ và văn xuôi Nguyễn

Bính viết truỵên Thạch Sủng Bồ, truyện Không đất cắm dùi, truyện thơ Cây

đàn tì bà (Tì bà truyện) Đặc biệt truyện thơ Cây đàn tì bà dài 1500 câu đã

đ-ợc giải nhất văn nghệ Nam Xuyên ở Sài Gòn năm 1944

Đầu năm 1945, Nguyễn Bính đi Hậu Giang, Cần Thơ, Mỹ Tho Cáchmạng tháng Tám thành công Nguyễn Bính cũng nh bao ngời khác bị cuốn vàodòng thác của thời đại nh một điều tất yếu

1.2.2 Chặng đờng sáng tác sau cách mạng

Trang 16

Từ một hồn thơ lãng mạn đa sầu, đa cảm, Nguyễn Bính đã nhanh chónghòa nhập vào dòng thác cách mạng và kháng chiến Trong những năm thánggian khổ và vĩ đại của dân tộc, nh một con tằm rút ruột nhả tơ nhà thơ lại dângcho đời “sợi tơ vàng óng” để kịp thời ca ngợi cuộc chiến đấu và sự nghiệp xâydựng đất nớc.

Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Nguyễn Bính đã gắncuộc sống và thi hứng của mình với Nam Bộ Năm 1948-1951, Nguyễn Bínhcông tác ở liên khu Miền Tây Nhà thơ miệt mài sáng tác để động viên chiến

sĩ đồng bào làm bất cứ việc gì để phục vụ kháng chiến Năm 1952, NguyễnBính về U Minh và đã lập gia đình ở đó

Năm 1953, Nguyễn Bính về Đồng Tháp Mời, chính ở nơi mênh mông,hoang vu phải chịu nhiều thiếu thốn gian khổ cảm hứng tích tụ từ những nămtháng kháng chiến trớc đó đã khiến cho bút lực Nguyễn Bính thêm dồi dào

mạnh mẽ, nhà thơ liên tục cho ra đời những tập thơ quý giá: Ông lão mài gơm (1947), Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra

đời.

Từ 1954 đến 1966, Nguyễn Bính trở về gắn bó với Miền Bắc quê hơngyêu dấu của nhà thơ Con ngời ấy đã trở về đây sau bao năm xa cách nhng mộtnửa trái tim còn gửi lại Miền Nam, vì nơi ấy có ngời vợ hiền và hai con gái th-

ơng yêu Có biết bao nhung nhớ và khắc khoải những “ngày Bắc đêm Nam”,Nguyễn Bính làm thơ vạch trần tội ác bọn Mỹ Diệm và phản ánh tinh thần đấutranh bất khuất của đồng bào Miền Nam, ca ngợi công cuộc xây dựng Chủnghĩa xã hội ở Miền Bắc đồng thời nói lên nỗi niềm tha thiết mong đợc cóngày thống nhất Bắc Nam

Năm 1955, Nguyễn Bính viết liên tiếp ba tập thơ Đồng Tháp Mời, Trả ta

về, Gửi ngời vợ Miền Nam - tất cả nh ánh hồi quang của quá khứ, nh hoài niệm

da diết về một miền đất đã gắn bó với một thời tuổi trẻ thật lãng mạn và đầynhiệt huyết, đầy hạnh phúc của nhà thơ - đó là Nam Bộ thân thơng

Năm 1957, Nguyễn Bính viết tiếp truyện thơ khá dài Tiếng trống xuân (2000 câu) và Trông bóng cờ bay (1026 câu) và cho ra mắt tập thơ Giếng nớc

thơi.

Từ 1958 đến 1962, Nguyễn Bính sống một cuộc đời tởng bề ngoài có vẻbình lặng nhng bên trong lại có biết bao suy t, u phiền Nhà thơ viết vở chèo

Trang 17

Cô son (1961) và hai tập thơ Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962)

với âm hởng chung là khát vọng thống nhất đất nớc

Cuối xuân năm 1964, Nguyễn Bính về nhận công tác ở Ty văn hoá Nam

Hà và phục vụ cho đến ngày ông từ giã cõi đời Dù cuộc sống hàng ngày cònnhiều gian khó thơ ông vẫn đóng góp phần tích cực vào sự trởng thành vănnghệ quê hơng, bám sát tình hình chính trị quê hơng cũng nh cả nớc Hớng vềngày thống nhất Bắc Nam, Nguyễn Bính nh đợc tiếp thêm nguồn sức mạnhtiềm tàng, nhà thơ say sa làm thơ tuyên truyền, thơ nói về sản xuất, về chiến

thắng Đáng chú ý là trong năm sáng tác này là vở chèo Ngời lái đò sông Vị rồi bài thơ Bức th nhà.

Qua đây chúng ta nhận thấy mỗi chặng đờng sáng tác, ông đã sáng tácrất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca Ông đ ợc đông

đảo độc giả công nhận nh một trong những nhà thơ xuất sắc nhất thi ca ViệtNam

Cho đến nay, những vần thơ dung dị, đằm thắm, ngọt ngào, đậm sắchồn dân tộc của ông vẫn còn sức sống lâu bền trong tâm hồn ngời đọc Đặcbiệt thơ ông đợc những ngời bình dân ngâm nga nhiều nhất Không chỉ có sức

đeo bám dai dẳng trong tâm hồn những ngời con sống trong lòng đất mẹ, thơNguyễn Bính còn khắc khoải hơn trong lòng kẻ tha hơng, trong lòng ngời xa

xứ Những ngời yêu thơ Nguyễn Bính không ai không một lần rung động khilắng nghe tiếng lòng nhà thơ và khúc nhạc hồn quê bao đời ẩn chứa trongnhững vần thơ đậm đà tình quê ấy Vợt qua thử thách khắc nghiệt của thờigian, những biến đổi thăng trầm của thời đại, thơ Nguyễn Bính vẫn sống tronglòng ngời yêu thơ

1.3 Nguyễn Bính là một trong ba đỉnh cao của phong trào thơ mới

Có thể nói phong trào thơ mới (1932-1945) đã ghi lại một dấu ấn đậmnét tạo bớc ngoặt lớn cho nền thơ ca dân tộc Cha bao giờ thơ Việt Nam lại có

sự nở rộ cả về quy mô lẫn chất lợng với sự nảy nở nhiều khuynh hớng, nhiềuphong cách nh giai đoạn này

Trớc sự thâm nhập và ảnh hởng của văn hoá phơng Tây đầu thế kỷ XX,mỗi nhà thơ tìm thấy cho mình một lối ứng xử phù hợp Trong khi các nhà thơkhác nh Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử mở lòng đón ngọn gió phơi phới

từ phơng Tây mang đến cho thơ mình nét mới lạ thì Nguyễn Bính vẫn đắm say

Trang 18

mơ mộng với hồn quê, cảnh quê mộc mạc chất phác, vẫn tha thiết với điệu thơdân tộc, với cách ví von so sánh, ý nhị, duyên dáng ở thể thơ 5 chữ 7 chữ vàlục bát quen thuộc

Có ý kiến đối sánh các đối cực, nếu Xuân Diệu đợc coi là “mới nhất”,Hàn Mặc Tử “lạ nhất” thì Nguyễn Bính là “quen nhất” Nguyễn Bính là nhàthơ tiêu biểu cho một khuynh hớng rất đáng trân trọng của phong trào thơmới: khuynh hớng quay về cội nguồn dân tộc Ông là một đỉnh cao riêng biệttrong nền thi ca Việt Nam Bằng những sáng tác của mình, ông đã đa hồn dântộc vào thi ca Việt Nam hiện đại Đó chính là đóng góp lớn nhất của NguyễnBính

Phong trào thơ mới đã dành một mảng riêng viết đề tài nông thôn vớibút pháp tinh tế và tài hoa của các tác giả Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn VănCừ những bài thơ, những câu thơ thật đẹp nhng là tiếng thơ của những tâmhồn cha thật gắn bó với đồng ruộng, thôn quê ở Nguyễn Bính ngợc lại, conngời cảnh vật trong thơ ông thấm đợm hồn quê, tình quê Ông dành cho thônquê cả trái tim và tấm lòng Dòng thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính giàuchất dân gian Chất liệu của thơ ông đợc khai thác trực tiếp từ phong cảnh sinhhoạt, văn hoá truyền thống và lời ăn tiếng nói hàng ngày của ngời dân LêQuang Hng có lời nhận xét: “Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính ta

nh đợc hít thở bầu không khí êm dịu thảnh thơi, giữa những mảnh vờn làng,bến sông quê, cái náo nức của hội hè đình đám, những cuộc sống cùng trái timyêu đằm thắm, mộc mạc của trai làng, thôn nữ, cùng những thân phận u buồntrầm lắng, dang dở, lẻ loi”

Hà Minh Đức viết về Nguyễn Bính “Nguyễn Bính là một thi sĩ của

đồng quê, con ngời và cảnh vật làng quê thấm đợm hồn quê”

Nguyễn Bính sử dụng chất liệu quen thuộc của đời thờng ở thôn quê nhgiàn trầu, hàng cau, vờn dâu, ao bèo, dậu mồng tơi, hoa xoan những hình

ảnh mộc mạc đơn sơ ấy đã góp phần tạo nên một bức tranh quê có những nétchân thật, thân thiết mà hồn hậu:

Nhà tôi có một vờn dâu

Có giàn đỗ ván có ao cấy cần Hoa đỗ ván nở mùa xuân Lứa dâu tháng tám lứa cần tháng năm

(Nhà tôi)

Trang 19

Những cảnh nh thế nhà thơ chỉ gợi tả là chính, vậy mà vẫn nổi bật cáihồn quê sâu thẳm Nhiều câu thơ giản dị của ông đã trở thành những bài hát rucon, ru cháu ở những làng quê Việt Nam:

Em ơi em ở lại nhà Vờn dâu em đốn, mẹ già em thơng

Có thể thấy cái hồn quê, hồn dân tộc ấy đã quyện vào thơ ông một cáchsâu lắng bởi chính ông là một phần của cái hồn quê ấy Cái hồn quê ấy còn đ-

ợc thể hiện rõ trong những màn ma xuân:

Bữa ấy ma xuân phơi phới bay

Nguyễn Bính khác hẳn với các nhà thơ đơng thời ở chỗ: Dờng nh ôngkhông hề để ý đến các luật lệ, các quy tắc của thi ca Nếu nhà thơ khác thờngquan tâm đến vẻ ngoài của đối tợng thơ và cảm xúc thẩm mỹ của nó, thì cáiTôi trữ trình của nhà thơ Nguyễn Bính lại thờng đắm mình vào chính trong đốitợng ấy mà “hoá thân” Chính điều đó đã làm nên cái hồn riêng trong thơ ông,

đã tạo nên những nét đặc biệt chỉ riêng thơ ông mới có và khó ai có thể bắt

ch-ớc đợc Vì thế mà ông đã viết lên những câu thơ rất hay về cái tình của gái quê

e ấp mà táo bạo, rụt rè mà mãnh liệt Sau ông cha có ai viết đợc những câu thơhay nh thế này nữa

Em nghe họ nói mong manh Hình nh họ biết chúng mình với nhau

(Chờ nhau)

Ta thấy cái hồn quê trong thơ ông là một thứ hồn quê đúng điệu khôngphải là thứ giả vờ hay bắt chớc Nguyễn Bính đã dùng những lời nói trongcuộc sống để làm thơ Nếu nh nhà thơ không tiếp nhận văn hoá dân gian thìkhông thể có những câu thơ đẹp và giản dị đến thế Giản dị, tự nhiên nh lời nóihàng ngày mà vẫn mang lại vẻ đẹp của thi ca

Đêm nay mới thật là đêm

Ai đem giăng sáng giãi lên vờn chè

(Thời trớc)Hay:

Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

(Chân quê)

Trang 20

Nguyễn Bính tuy chịu nhiều ảnh hởng của thơ ca dân gian, gần gũi vớicuộc sống đời thờng đợc thể hiện qua sự kết hợp tài tình các thể thơ cổ truyềncủa thơ ca dân tộc Nhng thơ ông là tiếng nói của một cái Tôi thơ mới, mangnhững tâm trạng, cảm xúc, cái nhìn, cách cảm của con ngời hiện đại ĐoànThị Đặng Hơng đã thấy những đổi mới của nhà thơ về phơng diện thi pháp

“Về mặt thi pháp trên thi đàn thơ mới, thơ Nguyễn Bính có thể coi là một cáchtân Sáng tạo trong một cấu trúc có sẵn, một mô hình truyền thống cố định làmột điều khó khăn không kém sự sáng tạo ra cấu trúc mới cho thơ” Tác giảkhẳng định “Thơ Nguyễn Bính vẫn là thơ của một nhà thơ lãng mạn có cá tínhriêng, dấu ấn riêng, thi pháp riêng của mình Thơ Nguyễn Bính đã tách khỏidòng thơ ca dân gian, mở rộng thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề củamột nhà thơ mới, và bản thân nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp t duythơ của các nhà thơ trên thi đàn thơ mới” “Với ông, thể thơ lục bát dân tộc đãphát triển tới đỉnh cao của nó trong thi đàn hiện đại” [25,120-211]

Nguyễn Bính không tạo ra một thể thơ mới, một cấu trúc thi ca mới,không đảo lộn các giá trị nghệ thuật mà vẫn có đóng góp quan trọng cho thơ

ca hiện đại

1.4 Nguyễn Bính - dấu nối giữa dòng thơ điền viên trung đại và

bộ phận “chân quê” trong thơ ca hiện đại

Trong lịch sử văn học nớc nhà không ít các nhà thơ đã viết về làng cảnhruộng vờn của làng quê Việt Nam Trong nền văn học cổ điển đã có nhiều tácgiả nhng xuất sắc nhất, tiêu biểu nhất phải kể đến các tác giả nh Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến họ đều có thơ hay viết về làng quê.Với luỹ tre xanh, cánh đồng bát ngát, cánh cò trắng dập dờn, vờn rau, vạt cà,dậu mồng tơi tất cả đã trở thành chiếc nôi nuôi dỡng tâm hồn dân tộc, giữgìn sự trong trẻo thanh bình của mọi miền quê và cuộc sống của bao ngời

Ta đã từng bắt gặp những công việc đồng áng của nhà nông, những rau

cỏ sản vật của quê hơng đất nớc mình trong thơ Nôm Nguyễn Trãi:

- Ao quan thả gửi hai bè muống Đất bụt ơm nhờ một luống mùng

Ao cạn vớt bèo cấy muống Trì thanh phát cỏ ơng sen

- Một cày một cuốc thú nhà quê

An cúc lan chen vãi đậu kê

Trang 21

Cây rợp chồi cành chim kết tổ

Ao quang mấu ấu cá nên bầy Ngày tháng kê khoai những sản hằng Tờng đào ngõ mận ngại thung thăng

Tỏ lòng thanh vị núc nác Vun đất ải, luống mồng tơi

Những cái nhỏ nhặt, mộc mạc, bình dị tởng nh không đâu nh raumuống, dọc mùng, đậu, kê, khoai, núc nác, củ ấu, cây sen, mồng tơi đã đivào trong thơ Nguyễn Trãi chan chứa thân thơng

Đến với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (thơ Hán cũng nh Nôm) chúng tacũng bắt gặp cảnh vật cuộc sống và con ngời thôn quê Ngoài những tình cảm

đối với con ngời, nhà thơ thờng miêu tả những cảnh đẹp thôn quê với cuộcsống ẩn c Trong một bài thơ bằng chữ Hán ông đã viết:

Vờn rau sáng dạo sơng đầy dép Bến cá đêm trăng bóng lọt thuyền Động tĩnh cuộc cờ nhiều mẹo mực Duỗi co, câu cá có cơ quyền

(lời dịch bài Ngũ Hứng)Hay trong những bài thơ chữ Nôm:

- Ruộng thời hai khóm đất con ong Thầy tớ cùng cày kẻo muộn mòng

- Bếp chè hâm đã sôi mâm trúc Nơng cỏ cày thôi vãi hạt bông

- Một mai một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

đợc những nét thuần hậu, chất phác Ông luôn gắn bó với thiên nhiên và cuộcsống nơi thôn dã, ông đắm mình trong không khí trong lành của nông thôn, vàtrải lòng mình với thiên nhiên, cây cỏ ruộng vờn

Trang 22

Cũng vậy, Nguyễn Khuyến - nhà thơ của làng cảnh Việt Nam - qua bài

Thu điếu đã cho ta thấy cảnh sắc mùa thu của làng quê Việt Nam vùng đồng

bằng Bắc Bộ:

Ao thu lạnh lẽo nớc trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tý Lá vàng trớc gió khẽ đa vèo

Cá đâu đớp động dới chân bèo

Thuyền câu thì “bé tẻo teo” Sóng nớc thì “gợn tý”, đến lá vàng cũng

“khẽ đa” Những hình ảnh ấy cho ta thấy cảnh sắc trong bài thơ thật dịu nhẹ,thanh sơ nhng hài hoà, điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam

Hay trong bài thơ Bạn đến chơi nhà nhà thơ đã da ta đến với không gian

“vờn” quê

.Ao sâu nớc cả khôn chài cá

Vờn rộng rào tha khó đuổi gà Cải chửa ra cây cà mới nụ

Cà vừa rụng rốn, mớp đơng hoa

Nh vậy chúng ta thấy, văn học suốt chặng đờng dài phát triển đã luôndành cho quê hơng một sự u ái đặc biệt Các nhà thơ xa trong dòng văn họctrung đại đã có những câu thơ thật hay, thật đẹp viết về làng quê, vờn tợc,ruộng đồng

Bớc sang văn học hiện đại, bên cạnh các bậc đàn anh đang tạo nên sự

đa thanh, đa giọng cho thơ mới lúc bấy giờ Anh Thơ đã đem đến một tiếngthơ làm dịu đi tâm hồn ngời đọc bằng cách đa họ về với bức tranh quê bìnhyên:

Trong đồng lúa xanh rờn và ớt lũng

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

Cũng viết về làng quê, Nguyễn Bính đợc coi là “chân quê” hơn cả Cảnh sắc làng quê Việt Nam hiện lên trong thơ Nguyễn Bính một vẻ đẹp dung

dị, mộc mạc, đậm đà hơng vị làng quê truyền thống Cảnh quê mà trong thơ,Nguyễn Bính thờng gọi một cách trìu mến là “quê mình”, “xứ mình” rất gần

Trang 23

với cảnh sắc làng quê trong ca dao Đó là những hình ảnh con đò, bến nớc,con đê, buồng cau, hoa xoan, hoa bởi, dậu mồng tơi

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rì

Thơ Nguyễn Bính chính là sự tiếp nối mạch thơ thôn quê bắt nguồn từ

ca dao và ghi dấu vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,Nguyễn Khuyến

Thơ Nguyễn Bính đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn dòng chảy

ấy, góp thêm vào những dòng nớc nhỏ trong mát ngọt ngào để chảy đến maisau, chảy mãi mãi

Trở về với thời đại của Nguyễn Bính, thời đại mà Hoài Thanh nhận xét:

“Một cơn gió mạnh bỗng thổi từ xa đến Cả nền tảng xa bị một phen điên đảo,lung lay, sự gặp gỡ phơng Tây là sự biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam

từ mấy mơi thế kỷ” Nguyễn Bính là ngời đã nhận thức sâu sắc đợc sự thay đổicủa thôn quê trớc sự xâm lăng của đô thị Vì thế, trong thơ ông thể hiện sự báo

động về nguy cơ đánh mất văn hoá truyền thống Nếu thơ của các thi sĩ nh:Bàng Bá Lân, Anh Thơ, chỉ là “bức tranh quê”, “những bài thôn ca”, nhữnghoạ phẩm, phong tục và lịch sử quý giá thì thơ Nguyễn Bính là nhớ thơng, lo

âu và khắc khoải về sự phôi pha của quê hơng Ông đã từng viết “Van em emhãy giữ yên quê mùa” dờng nh đó là tâm sự của Nguyễn Bính - một ngời luôntrân trọng những giá trị, vẻ đẹp truyền thống., Đđó cũng là tiếng nói khẩnthiết, gấp rút của Nguyễn Bính về sự giữ gìn, bảo vệ văn hoá thôn dã Làng

Trang 24

quê cũng cần đợc bảo vệ về văn hoá Nếp sống, phong tục tập quán, sinh hoạtvăn hoá đã đợc thiết lập từ lâu đời và không ngừng chọn lọc, phát triển Bảo vệvăn hoá của làng quê cũng chính là bảo vệ bản sắc và hồn quê, một phần củatâm hồn dân tộc.

Thế nhng thời đại thi nhân sống là thời đại “ma âu, gió Mỹ” tràn vàolàm chi phối mọi mặt hoạt động của xã hội, làm mọi giá trị đạo đức lung lay.Câu thơ là lời nhắn nhủ của chàng trai quê với ngời yêu hay là lời cảnh báonhắn nhủ của Nguyễn Bính với đời, với ngời và với chính mình Hãy bảo vệbản sắc văn hoá truyền thống của quê hơng Ông luôn bảo vệ và giữ gìn nhữnggiá trị truyền thống của dân tộc Cùng với sự tiếp thu những chất liệu quenthuộc của dân gian Nguyễn Bính đã khẳng định mình bằng một hồn thơ đậm

Cái khăn mỏ quả cái quần nái đen

Van em em hãy giữ yên quê mùa

(Chân quê)Vào thời kỳ đó, khi những thiếu nữ thị thành chạy theo mốt thời trangcủa Pháp với áo chẽn, quần tây, ô đen, dầy cao gót, son phấn loè loẹt, thì hình

ảnh thiếu nữ quê với trang phục truyền thống lại nh là một tiếng chuông báo

động trớc nguy cơ phá vỡ văn hoá truyền thống

Trang 25

Chơng 2

cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện

của Nguyễn Bính trong thơ

2.1 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Bính

2.1.1 Khái niệm t tởng nghệ thuật

T tởng nghệ thuật là khái niệm đã đợc nhiều nhà nghiên cứu nói đến

Đó là t tởng đợc rút ra từ toàn bộ sáng tác của nhà văn Nó mang tính tổng hợpcao, có thể bao hàm cả t tởng đạo đức, t tởng chính trị Nói cách khác đó làmột “t tởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bảntoàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo ra cho sự nghiệp ấy, cho thếgiới nghệ thuật ấy tính thống nhất, tính hệ thống hay nói đúng hơn là tínhchỉnh thể” [44,7]

Nguyễn Đăng Mạnh là ngời chăm chú theo dõi khái niệm này và tậphợp đợc nhiều ý kiến sâu sắc, đáng tin cậy về khái niệm t tởng nghệ thuật

Ông cho biết: nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới đã gọi cái

t tởng ấy bằng các tên gọi khác nhau Chẳng hạn: “phẩm chất sâu kín và cốtyếu tinh thần của nhà văn” (Philaredơsaxlơ), “cơ cấu nội tại của thiên tài”(Gioocrơna), “cấu trúc cơ bản của trí tởng tợng sáng tạo” (Giăng Rut-xô), haygói gọn lại là “t tởng cơ bản” (Eminphagiê) [44,8] Khái niệm t tởng nghệthuật do Biêlinxki đa ra trong một bài báo về Puskin ông đã viết: “nghệ thuậtkhông chấp nhận con ngời ta đến với nó bằng những t tởng triết học trừu tợng( ) một t tởng nghệ thuật không phải là một tam đoạn, một giáo điều hay mộtnguyên tắc, đó là một say mê mãnh liệt, một nhiệt hứng vì thế, t tởng trongthơ không phải là một t tởng trừu tợng hay một hình thái chết mà là một sángtạo sống động” Nh vậy, t tởng nhà thơ là một hình thái nhận thức đặc thù củangời nghệ sĩ, nhận thức bằng “toàn bộ con ngời tinh thần với tất cả nội dungphong phú và tính tổng thể của nó” Hình thái nhận thức này đòi hỏi nghệ sĩphải huy động toàn bộ mọi năng lực tinh thần của mình mà nội dung chínhbao gồm lý trí và tình cảm, cảm xúc hài hoà kết hợp với nhau nh xơng cốt vàmáu thịt, nh thể xác với linh hồn con ngời Hình thái nhận thức này thấmnhuần lý tởng thẩm mỹ của nhà văn Vì thế cũng có thề gọi là hình thái t duytình cảm thẩm mỹ của ngời cầm bút Tất nhiên cách gọi này vẫn cha thâu tóm

Trang 26

đợc đầy đủ nội dung phong phú, tinh tế và uyển chuyển của hiện tợng thực tế

mà ta đề cập đến

T tởng nghệ thuật cần đợc hiểu nh một hình thái tinh thần rất cụ thể nảysinh ra do sự cọ xát va chạm giữa trí tuệ và tâm hồn ngời sáng tác với hiệnthực khách quan Nó bao gồm hai mặt thống nhất chủ thể và khách thể Tuynhiên xét đến cùng chủ thể vẫn chiếm u thế, đóng vai trò quyết định Bởi vìhiện thực đợc phản ánh trong tác phẩm cũng đã có yếu tố chủ thể ở đó rồi Nó

là khách thể đã đợc chủ thể chiếm lĩnh bằng cả trí tuệ và tình cảm, cảm xúc,niềm đam mê nghệ thuật

T tởng nghệ thuật là t tởng trong nghệ thuật Tuy nhiên ta cũng khôngthể cô lập, tách rời t tởng trong nghệ thuật với các phơng diện t tởng khácngoài nghệ thuật thể hiện trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, vănhoá, thái độ ứng xử nhân thế, các phát ngôn ngoài văn chơng của các nhàvăn, chính vì có các mối quan hệ khăng khít giữa t tởng nghệ thuật với toàn bộ

đời sống tinh thần của ngời cầm bút Nhng khi ta xét t tởng trong nghệ thuậtthì tất yếu ta phải quan tâm đến phơng thức biểu hiện duy nhất của t tởng nghệthuật - đó là hình tợng nghệ thuật "Hình tợng nghệ thuật là căn cứ duy nhất

đề nhà nghiên cứu có thể tóm bắt đợc t tởng nghệ thuật của ông ta” [44, 16].Tất cả những t liệu khác dù thú vị đến thế nào cũng chỉ để tham khảo, để soisáng thêm cho những tìm tòi của nhà nghiên cứu từ chính các hình tợng trongtác phẩm của nhà văn Và vấn đề sẽ càng thú vị hơn rất nhiều khi ta tiếp cậnvới một hệ thống các hình tợng tâm huyết, cứ trở đi trở lại nhiều lần nh là một

ám ảnh với các nhà văn Những hình tợng ấy càng có tính phổ biến bao nhiêucàng có ý nghĩa t tởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu Tần số xuất hiện củachúng tỉ lệ thuận với mức độ day dứt, ám ảnh trong tâm hồn ngời nghệ sĩ.Những hình tợng nh thế bao giờ cũng là những yếu tố nghệ thuật đặc sắc và

độc đáo đợc sáng tác theo đúng quy luật của t duy nghệ thuật Căn cứ vào đónhà nghiên cứu phán đoán về các t tởng nghệ thuật của các nhà văn Tuy nhiên

để đa ra một nhận định đúng về t tởng nghệ thuật của ai đó, nhà nhiên cứuphải chú ý đến tính quy luật trong quan hệ nội tại giữa các yếu tố chỉnh thể thếgiới hình tợng T tởng nghệ thuật của nhà văn bao giờ cũng phải phù hợp vớicấu trúc ấy, quy luật ấy Nói đúng hơn nó là cơ sở của cấu trúc ấy, nó chi phối

và giải thích quy luật ấy Đồng thời ta cũng không nên quên nhìn t tởng nghệthuật trong mối quan hệ với những biểu hiện t tởng ngoài sáng tác của nhà

Trang 27

văn, chú ý thêm về hình ảnh, xã hội, hoàn cảnh sống, tất nhiên cần cẩn trọngbởi đó không phải là sự chân thực nghệ thuật.

T tởng của con ngời luôn có sự sống của nó T tởng nghệ thuật là mộtquá trình vận động và có thể có sự chuyển đổi trong quá trình sáng tác của nhàvăn T tởng nghệ thuật phải là cái gì rất riêng của mỗi nhà văn Nó là tài riêng,tình riêng kết hợp, là t tởng cá nhân và hình tợng độc đáo, thống nhất, hài hoà,

là sở trờng riêng của mỗi cây bút, là cái tạng riêng của mỗi nhà văn Nh vậy

có thể nói rằng cái chất riêng trong t tởng nghệ thuật quyết định tầm vóc củamỗi nhà sáng tác

2.1.2 T tởng nghệ thuật Nguyễn Bính

Buổi đầu ra mắt làng thơ, bên cạnh thơ của “một ông Tây”sang trọng

nh Xuân Diệu (chữ của Hoài Thanh trong thi nhân Việt Nam), giữa một thời

đại mà “sự đụng chạm phơng Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố”[58,308 ] thì một chàng thi sĩ "nhà quê” (chữ của Hoài Thanh) đã viết nhữngcâu thơ:

- Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

- Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Những câu thơ ấy phải chăng là một cách nghĩ, một cách lựa chọn vềmột con đờng thơ, gói gọn t tởng nghệ thuật Nguyễn Bính: Hớng về cội nguồnvăn hoá truyền thống, phủ nhận ảnh hởng của thành thị, của văn hoá phơngTây

Thơ Nguyễn Bính có cái vỏ mộc mạc của những câu hát đồng quê Hồnthơ ông đã tìm đến và trở về với ca dao giản dị mộc mạc thẫm đẫm hồn quê

đất Việt và sâu xa hơn là trở về với cội nguồn dân tộc đã hàng ngàn năm ấp ủ

ở làng quê, Nguyễn Bính đã từng sống ở làng quê nên cảnh vật và con ngờiquê đã thấm vào con ngời ông, định hình và trở thành những chuẩn mực về

đạo đức, về thẩm mỹ Trong giai đoạn lịch sử này bộ mặt văn hóa phát triểnkhá phức tạp Phong trào âu hoá ở các thành thị đã tạo nên nhiều thay đổitrong quan niệm sống, trong thị hiếu và nếp suy nghĩ hàng ngày Văn chơngcũng chịu nhiều ảnh hởng ngoại lai Giữa các xu hớng phát triển xô bồ ấy,Nguyễn Bính lại muốn tìm về với cội nguồn dân tộc.Trong số các nhà thơcùng thời viết về làng quê nh Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ có lẽ chỉ

có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc đợc sự thay đổi của thôn quê trớc cuộc

Trang 28

xâm lăng của đô thị Cho nên, so với các nhà thơ lãng mạn trớc cách mạng,Nguyễn Bính có một lối đi riêng, đó là tính cách Việt Nam truyền thống, là ttởng huớng về cội nguồn văn hoá truyền thống Hoài Thanh cho rằng: "Cái

đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm đợc một số đông côngchúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt các nhà thông thái thời nay Tình cờ có

đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: "Thơ nh thế này thì có gì" Họ có ngờ đâu đã

bỏ rơi một điều mà ngời ta không thể biểu hiện đợc bằng lý trí, một điều quývô ngần:"Hồn xa của đất nớc” [58,308-309]

Những tình tự yêu đơng, nhớ nhung, cách trở, đợi chờ chẳng xa lạ gìvới thơ mới, nhng chỉ ở Nguyễn Bính mới có cái vị hơng đồng cỏ nội gần gũivới mỗi ngời Việt Nam Tình yêu ở đây không chỉ khép kín giữa hai ngời, màcòn là nỗi niềm nhớ thơng cha mẹ, ngời chị, ngời em, vờn dâu, ao cá, bến đò -những tình cảm gắn bó những ngời, những vật trong cộng đồng làng xã, vănhoá truyền thống từ bao đời, nay thức dậy thầm thì trong ta mỗi khi đọc thơNguyễn Bính:

Em ơi em ở lại nhà Vờn dâu em đốn, mẹ già em thơng

Mẹ già một nắng hai sơng Chị đi một bớc trăm đờng xót xa.

Bởi tâm hồn ông là một tâm hồn đằm thắm, bắt rễ từ những hoa đồng cỏnội, những ao muống vạt cần, những mồ hôi và nớc mắt, những lam lũ thờngnhật của quê hơng Ông luôn dành một thái độ nâng niu, trân trọng và nhấtmực gìn giữ đối với những giá trị văn hoá, truyền thống của dân tộc Bài thơ

"Chân quê” vì thế cũng có thể nh một tuyên ngôn của nhà thơ để chống lạinhững xu hớng hoặc là hoài cổ, bảo thủ hoặc là chạy theo những mốt mới loèloẹt phấn son nh trong lời giới thiệu tập thơ của ông (Hội văn học nghệ thuật HàNam Ninh (cũ), 1986) Dòng thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính giàu chấtdân gian, ca dao Viết về quê hơng nhà thơ ít miêu tả những đắng cay, lam lũ

Ông nghiêng về những giá trị văn hoá, giá trị tinh thần của cuộc sống Dờng

nh ông muốn tìm đến hình ảnh chung của mọi miền quê Việt Nam Bởi vậy, dùngời đọc là ngời nhà quê hay ngời thành thị, là ngời đồng bằng, miền núi, miềntrung đều có thể tìm thấy trong thơ Nguyễn Bính những đồng cảm, rung độngcho riêng mình về một quê hơng về một đất nớc Việt Nam ngàn đời với những

vẻ đẹp, những giá trị, vật chất, tinh thần xiết bao gần gũi của một dân tộc, một

Trang 29

đất nớc đi lên từ nền nông nghiệp lúa nớc.Vẻ đẹp làng quê trong thơ ông hiệnlên vô cùng thân thiết mộc mạc và gần gũi:

Nhà tôi có một vờn dâu

Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần Hoa đỗ ván nở mùa xuân Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm.

xa xôi đầy cát bụi, gió sơng

Những cảnh ấy có ở mọi miền quê mọi thời, chúng tạo nên những nétriêng của làng mạc, văn hoá truyền thống Việt Nam, chúng gợi tới những gì

xa xa, bền vững mà tâm hồn ngời Việt Nam nào cũng từng cảm nhận, từng ghinhớ Đặc biệt, Nguyễn Bính có tài dựng lên một chất thơ đồng nội chân thực,hồn hậu:

Tra hè một buổi nắng to Gió Tây nổi cánh đồng ngô rào rào

Thơ Nguyễn Bính làm rung động tới những gì cổ xa, mến thơng nhấtcủa tâm linh ngời Việt là vì thế Ông dành khá nhiều bài thơ viết về những bà

mẹ, phải chăng hình bóng ngời mẹ cũng là hình bóng quê hơng, hình bóngdân tộc Phong trào thơ mới cũng có những bài thơ cảm động về mẹ, tuy nhiênmấy ai có thể thấu tỏ hết nỗi lòng của ngời mẹ thôn quê nh Nguyễn Bính.Hình ảnh ngời mẹ quê nghèo qua thơ thi nhân hiện lên thật giản dị, chân thực

và gây xúc động lòng ngời Đấy là những bà mẹ nông thôn đảm đang, nhậnhết về mình những khó khăn lo toan, hết lòng vì chồng con:

Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều

Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều

(Tết của mẹ tôi)

Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc

Đêm nay mình mẹ lại đa thoi

(Lòng mẹ)

Trang 30

Không chỉ có thế mà cả ngôn ngữ, hình ảnh đến tình cảm, t tởng đềulàm sống dậy trong ta những kỷ niệm về làng mạc quê hơng ngàn đời Thơ

ông nh một viện bảo tàng tâm hồn của Việt Nam xa xa Phong trào "Âu hoá”của thời kỳ 1930-1945 thờng dễ gợi tới các trào lu sinh hoạt xã hội - một mốtquần áo, một buổi chợ phiên, một cuộc thi sắc đẹp, một cuốn tiểu thuyếttình Đợc dẫn đạo bởi thi tài thiên phú do dân tộc ký gửi, hơn ai hết NguyễnBính đã tuyệt vời đánh đi bức thông điệp trên Thơ ông đã cho ta nhìn thấy sự

đối lập đến chóng mặt giữa văn hoá truyền thống ngàn đời của dân tộc và bộmặt thành thị xuất hiện cùng với ảnh hởng của nền văn hoá tây phơng.Nguyễn Bính từ việc phủ nhận ảnh hởng của thành thị, của văn hoá phơng Tây

để gửi đi lời nhắn gọi đến nhức nhối: “hãy giữ lấy, trân trọng, nâng niu bảnsắc văn hoá dân tộc

Với Nguyễn Bính, bộ mặt đô thị phồn hoa nhng lạnh lùng, đầy lo âu vàbất trắc, ông ý thức đợc bản thân mình không hoà nhập đợc với nó Trong cảmnhận của nhà thơ chốn Kinh kỳ, phố phờng là sự tha hoá:

ở mãi kinh kỳ bút với nghiên

Đêm qua quán trọ thức khi đèn Xót xa một buổi soi gơng cũ Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

Vì thế Nguyễn Bính thờng coi hành động “bỏ lại vờn cam” để ra sống ở

“kinh thành” của mình là chuyện “lỡ bớc sang ngang” và bản thân ông là chimlìa đàn Ông phủ nhận khuôn mặt thành thị, với nhà thơ chốn đô thị thật xa lạ,

nó mang nghĩa đối lập với nông thôn (Phồn hoa đối thanh đạm, xứ ngời đốiquê mình) Tất cả những điều đó tạo cho con ngời cảm giác lạc loài, bơ vơ và

lo âu mà Nguyễn Bính định danh là sầu đô thị:

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị

ở đây trong sự tơng phản sâu xa giữa cuộc sống thôn giã bình lặng, bấtbiến với cuộc sống nơi đô thị vồn vã, đầy biến động, một tâm hồn chất phácchân quê nh Nguyễn Bính cảm nhận sâu sắc sự xung khắc, khó hoà nhập nổivới cái nơi "kinh kỳ bụi qúa xuân không đến" Quan hệ con ngời ở thành thị

đâu phải quan hệ của làng xóm cộng đồng, Nguyễn Bính nhìn thấy cuộc sống

Trang 31

đô thị hiện đại là cuộc sống của những ngời tứ xứ hợp lại, vô định mà không

có hơi ấm:

Sớm mai xuôi ngợc về đâu nhỉ Nào biết về đâu kẻ ngợc xuôi

Thái độ rõ ràng, dứt khoát trong t tởng nghệ thuật của ông khiến thơ

ông nh một bảo tàng tâm hồn của ngời Việt Nam xa xa Giữa làn gió Âu hoá,Nguyễn Bính xuất hiện đã làm mê đắm lòng ngời Giờ đây thời buổi đổi mới,lắm thứ hớng ngoại, thơ Nguyễn Bính in ra vẫn đợc ngời ta mua nhiều nhất,quần áo, nhà cửa đổi thay, nhữ ng cái hồn Việt Nam cố cựu, thiết nghĩ nó bềnchặt vô cùng, tồn tại lặng thầm ở mỗi lòng ngời Bao đổi thay dâu bể mà câuthơ Nguyễn Bính ngân lên mọi lòng đều rung động Cái rung động khi tanghe tiếng võng tra hay tiếng ếch kêu đêm Bởi vậy nói đến thơ Nguyễn Bính

là nói đến những giá trị thẩm mỹ truyền thống Trong những lời mộc mạc,chân quê của Nguyễn Bính ta cảm thấy rất rõ cái hồn của quá khứ, củanhững gì xa xa và sâu thẳm Hơn nữa, dấu tích của những hình ảnh của quêhơng Việt Nam ngàn đời bao giờ cũng có sức quyến rũ, lay động lòng ngời,

nó có tác dụng làm trong lại hồn ngời, làm cho ta sống sâu hơn cái phần ta

ợc sống ở hiện tại Đó là điều thiêng liêng và kỳ diệu Nguyễn Bính đã làm

đ-ợc trong suốt cuộc đời sáng tác của mình: T tởng hớng về cội nguồn dân tộc,cội nguồn văn hoá truyền thống, phủ nhận ảnh hởng của thành thị, của vănhoá phơng Tây, cho nên ngời Việt Nam ta còn mãi yêu thơ Nguyễn Bính,càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng thơ ông

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Bính

2.2.1 Khái niệm chung về cái nhìn nghệ thuật

Vợt lên mọi hoạt động bản năng, cái nhìn là một năng lực tinh thần đặcbiệt của con ngời Nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện những nét riêng

mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật Nó nhìn ngắmbóc tách vấn đề bằng chính sự lôgic và trừu tợng Do đó cái nhìn đợc vận dụngmuôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật đòi hỏi ngời nghệ sỹ phải có khả nănglĩnh hội những quá trình của cuộc sống một cách nhạy bén hơn và sâu sắc hơn

so với những ngời khác, biết cảm thụ và nhìn thấy cái mà ngời khác khó thấy

đợc, phải biết đáp ứng một cách xúc động và sâu sắc đối với những ấn tợng và

sự kiện, nắm đợc các đặc điểm của sự vật mà cho đến thời điểm đó cha có ainói tới Cái nhìn bao quát của ngời nghệ sĩ đối với thế giới vốn đợc hình thành

Trang 32

trong quá trình thực tế của cuộc sống, trong những điều kiện xã hội- lịch sử cụthể đã làm cho những khái niệm về những điều quan sát của anh ta có đợc tínhchính xác, tính hệ thống Mkhrapchenco nhận xét "chân lý cuộc sống trongsáng tạo nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cánhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ" Dù đối với nghệ thuậtdân gian, thần thoại, tính cách nhân vật có đổi thay nhất định thì cái nhìn làmột điều kiện quy định Nhà văn Pháp Macxen Prutxt có nói: "Đối với nhàvăn cũng nh đối với nhà hoạ sỹ phong cách không phải vấn đề kỹ thuật mà làvấn đề cái nhìn" Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả Cái nhìn biểuhiện trong tri giác, cảm xúc, quan sát Do đó nó có thể phát hiện cái đẹp, cáixấu, cái bi, cái hài Cái nhìn bao quát không gian bắt đầu từ điểm nhìn trongkhông gian và thời gian và không bị không - thời gian chi phối cái nhìn xuấtphát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét Cái nhìn gắn với liêntởng, tởng tợng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, so sánh Cáinhìn có thể đem những thuộc tính xa nhau đặt bên nhau, hoặc đem tách rờithuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tợng.

Thực tế cho ta cảm nhận một vấn đề là sẽ có những ngời thích nói về

điều này mà không thích nói về điều nọ Ngời nghệ sỹ khi sáng tạo cũng mangnhững đặc điểm nh vậy Cho nên trong chi tiết nghệ thuật và cao hơn là hình t-ợng nghệ thuật, nhà văn thể thiện cái nhìn của mình khi nhà văn trình bày cái

họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta tiếp thu cái nhìn của họ, tức là ta đãbớc vào phạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà họ chú ý khi ta nhận thấy nhàvăn này chú ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia tức là ta đã nhận ra con ng ờinghệ sỹ của tác giả Bakhtin gọi cái nhìn của tác giả là “trờng nhìn bao trùm”,

“trờng nhìn dôi ra”, “lập trờng tác giả”, trờng nhìn này của tác giả đã ôm trùmmọi hoạt động của tác giả

2.2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Bính trong thơ

2.2.2.1 Cái đẹp đợc lu giữ bên trong những luỹ tre làng

Trong cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Bính, một điều dễ nhận thấy đó

là sự cảm nhận về cái đẹp, đó là cái đẹp tìm về với văn hoá truyền thống, vănhoá của tình làng nghĩa xóm Đó là những nề nếp, những phong tục tập quán,thế giới tâm linh qua tín ngỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ ngời vớingời Đó cũng là nếp thẩm mỹ đợm màu dân tộc, giản dị, chân quê trong sinhhoạt hàng ngày B, bởi văn hoá Việt Nam đợc bắt nguồn từ nền văn minh nông

Trang 33

nghiêp lúa nớc nên nông thôn Việt Nam vốn quen thuộc với lối sinh hoạt cộng

đồng làng xã Sau luỹ tre xanh ngàn đời vẫn là hình ảnh nông thôn nh một cáigì đó bất biến trong không gian và thời gian gắn liền với những đêm hội chèo,nơi mỗi cá nhân đợc nghỉ ngơi, đợc tiếp thêm sức mạnh trong cộng đồng vàbởi cộng đồng Thấp thoáng sau luỹ tre xanh, là nơi có cuộc sống giản dị vàthơ mộng có sự huy hoàng của ớc mơ “quan trang”, nhng thờng hơn cả lànhững tấm tình bao dung, lặng lẽ của ngời mẹ, ngời chị, ngời vợ, cô lái đò, côhái mơ ở đây cũng đầy những những yêu thơng, nhớ nhung, ghen tuông, hờn

dỗi và cả sự hy sinh của mỗi ngời Con ngời ở đây đợc bao bọc trong tình quê

nguyên sơ, đậm đà, trong sáng, tình cảm láng giềng, họ hàng, bè bạn giữamột thiên nhiên vô t khoáng đạt, giữa một nhịp điệu sống bình lặng, nhẹnhàng Những ngời quê có điều kiện để sống thực với bản chất của mình, yêu

và ghét đều hết mình, bộc lộ chân thực niềm mong mỏi, mơ ớc về những điềutốt đẹp Nguyễn Bính là sản phẩm của văn hoá làng quê ấy Ông đã tiếp thutrọn vẹn nền văn minh thôn dã tất cả đều đi vào thơ ông một cách rất tựnhiên, thâu nạp vào tầm mắt ông nh chính nó là thơ vậy Không chỉ có thế

ông còn đa ta đến với khung cảnh làng quê thanh bình, thơ mộng với những

đêm trăng sáng, những cảnh hội hè, những mùa xuân náo nức

Có thể nói nếp đặc trng cho đời sống văn hoá tinh thần của ngời dânnông thôn là hội hè đình đám Hội hè, đình đám chính là không gian cộng

đồng vui nhộn nhịp gắn với cộng đồng làng xã của dân tộc Việt Nam, NguyễnBính đã phản ánh một cách khá đầy đủ nét đẹp của những sinh hoạt văn hoátruyền thống với lễ tết, hội hè, đình đám vào trong tác phẩm của mình

Đó là không gian lồng lộng ánh trăng và mợt mà tiếng hát của đêm hộimùa thu

Hội chèo mở giữa mùa thu Trời cao gió cả, trăng nh ban ngày

(Đêm cuối cùng)

Đẹp hơn cả là không gian mùa xuân với “ma tha, ma bụi”, cây cối nảylộc xanh tơi, làng quê náo nức bớc vào mùa lễ hội Ngời già lên chùa, thanhniên nam nữ tìm đến tình tự yêu đơng:

Trên đờng cát mịn một đôi cô

Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa Gây trúc dắt bà già tóc bạc

Trang 34

Tay lần tràng hạt miệng nam mô

(Xuân về)

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay

Mùa xuân còn là ngày hội của những đêm chèo náo nức, của những tròvui dân gian “Ăn gỏi cá đánh cờ ngời” Các trò vui thật giản dị, sảng khoái ởchốn đồng quê:

Hu hu gió quạt trăng đèn Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi

Ăn gỏi cá đánh cờ ngời Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân

Đến với thơ Nguyễn Bính ngời đọc nh đợc chứng kiến tận mắt, nh đợchoà chung vào không khí trẩy hội vui tơi, rộn ràng:

- Đông Quan mở hội vui thay

Thi văn thi võ lại bày cỗ tiên

- Sân đình nhạc múa đôi bên Dới sông chèo hát lại dìm bóng trâu

Khắp làng quê tng bừng lễ hội, những ngày hội diễn ra vào mùa xuân,lúc này thời tiết ấm áp thích hợp vì thế mà không gian lễ hội trở nên thơ mộng

và đẹp đẽ Sau những ngày hội chùa lại đến đêm hội làng

Khoá hội chùa Hơng đã đóng rồi Hội đền Hùng nữa đám thôn tôi Thôn tôi vào đám hai ngày chẵn Chỉ có chèo không nhng vẫn vui

(Cuối tháng ba) Nét đặc biệt, hội hè không chỉ là nơi diễn ra những hoạt động văn hoátinh thần, mang tính chất dân gian, hớng về truyền thống văn hoá dân tộc Màchính cái không gian ấy còn là nơi những cô thôn nữ, những anh trai cày tìm

đến để gặp gỡ, hò hẹn, tình tự và để gửi gắm những tâm t nguyện vọng củamình Trong cái nhộn nhịp của đêm hát chèo có cái trĩu nặng trong tâm t côgái - nó gợi lên trong lòng ngời con gái quê ấy cả một nỗi buồn giận, trách cứngời yêu:

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang Thế mà hôm nọ hát bên làng

Trang 35

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng

Ngời con gái trong Ma xuân xốn xang đến với đem hát chèo để tìm

ng-ời thơng “Thôn Đoài đám hát thâu đêm/Em mải tìm anh chả thiết xem” Chàngtrai quê tìm đến hội chèo trong sự tiêc nuối thảng thốt:

Hội làng còn một đêm nay Gặp em còn một lần này nữa thôi Phờng chèo đóng nhị đỗ mai Sao em lại đứng với ngời đi xem

(Đêm cuối cùng) Còn đây là lời tỏ tình vô vọng của chàng trai khi gặp ngời yêu đi xemhội:

Tình tôi nở giữa mùa thu Tình em lặng lặng kín nh buông tằm.

(Đêm cuối cùng)

Nguyễn Bính hiểu sâu sắc tâm lý của những trai làng, gái làng thời ấy,

có nét tâm lý gợi lên dáng dấp sinh hoạt của một thời Đời sống nh ngng

đọng lại sau luỹ tre xanh, tâm tình con ngời đợc quy định bằng nền kinh tếtiểu nông khép kín, những cô gái chăn tằm dệt vải chỉ đi từ khung cửi đến n -

ơng dâu, và cô lái đò cũng chỉ quen với một khúc sông, một cái bến Chỉ

đêm hội làng là dịp tụ hội trai thôn nọ, gái thôn kia Những mối tình quê nảy

nở, bao nhiêu buồn vui, mơ ớc, nhớ mong, đau khổ xốn xang nhng tất cảcũng chỉ xôn xao trong sự tĩnh lặng cố hữu của thôn quê Có thể nói NguyễnBính là nhà thơ của tình yêu, tình yêu nơi thôn xóm, tình yêu của những đêmhội làng Chính không gian lễ hội đa con ngời xích lại gần nhau hơn

ánh trăng cũngtrăng xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Bính Nó thờnggắn với tình yêu, hò hẹn, với những sinh hoạt văn hoá của làng quê

Hội chèo mở giữa mùa thu Trời cao gió cả trăng nh ban ngày

(Đêm cuối cùng)

Những đêm hội, những đêm trăng là cơ hội để cho trai gái hẹn hò, gặp

gỡ Đã có biết bao mối duyên nảy sinh từ đó ánh trăng còn thể hiện mơ ớccủa thi nhân về một cuộc sống giản dị, đơn sơ mà hứa hẹn hạnh phúc:

Em ở mình đây nhà trống trải

Trang 36

Trăng vào đầy ngõ gió mênh mông

Dờng nh Nguyễn Bính không miêu tả tỉ mỉ mà chỉ phác thảo đôi nét

nh vô tình mà hữu ý, tạo nên không khí thanh bình êm ả, hoà quện với tìnhngời:

Thuyền trăng ai chở sang Đoài

Đêm khuya mở rộng then cài cửa ra

Với em ở trái tim ta là nhiều

(Nhiều)

Nguyễn Bính đã nhìn không gian nông thôn với con mắt của ngời consinh ra, lớn lên và gắn bó thân thiết với làng xóm quê hơng, nên ông rất nângniu trân trọng trớc không gian của những sinh hoạt văn hoá tinh thần

Ông không chỉ có tài hoa dựng cảnh những ngày hội quê mà ông còn rất amhiểu và khéo léo khi đặc tả những nét văn hoá làng quê qua cách ăn mặc, quanhững nét dáng bề ngoài của ngời quê

Đây là trang phục ngày thờng rất mộc mạc mà duyên dáng, đáng yêucủa cô gái quê - tất cả cùng in sâu trong tâm khảm của anh trai làng đangghen bóng ghen gió:

Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen

(Chân quê)

Còn đây là hình ảnh những ngời đi lễ chùa:

Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt miệng nam mô

(Xuân về)

Một nét đẹp văn hoá ở làng quê Việt Nam xa là ớc mơ về sự hiển vinh,

là giấc mơ quan trạng Giấc mơ quan trạng trở đi trở lại nhiều lần trong thơNguyễn Bính:

Thế rồi vua mở khoa thi Thế rồi quan trạng vinh quy qua làng

(Quan trạng)

Trang 37

Chồng tôi cỡi ngựa vinh quy Hai bên có lính hầu đi dẹp đờng

(Thời trớc)

Rõ ràng quan trạng đơng trai

(Con nhà nho cũ)Phải chăng trong cuộc đời nhiều lam lũ, nhọc nhằn sau luỹ tre xanh, ng-

ời ta muốn thay đổi kiếp sống thì chỉ có cách thực tế nhất và cũng cao sangnhất là đỗ đạt vinh quy

Cái đẹp tìm về với văn hoá truyền thống còn thể hiện trong thơ củaNguyễn Bính qua những tên làng, tên xóm, tên thôn mà nhà thơ nói đến:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” (Tơng t), “Thôn Vân có biếc có Hồng”

(Anh về quê cũ), Quan trạng đi bốn lọng vàng, cờ thêu tám lá qua Làng

trang nghiêm Lối đỏ nh” “ son tới xóm Dừa

Đó là những tên làng tên xóm thân thơng, gắn bó với làng quê bắc bộViệt Nam Ngời làng quê quen quần tụ bên nhau trên một địa bàn c trú cơ bản

là làng xóm, bởi vậy cách đa tên những địa danh, những tên làng, tên thôn mộtcách cụ thể trong thơ nh thế gợi cho ta thấy dáng vẻ cổ kính, thân thuộc củanhững làng quê đã có từ nghìn đời

Sau luỹ tre làng còn là một vẻ đẹp của không gian mang nhiều cách trở,

đặc biệt là những con sông ngăn cách Hình ảnh con sông quê mang vẻ đẹpcủa tình ngời, vẻ đẹp của sự chia ly:

- Bỏ thuyền bỏ lái, bỏ dòng sông Cô lái đò kia đi lấy chồng

- Ôi chị một em, em một chị Trời làm xa cách mấy con sông

Sự chia ly cách trở còn đợc Nguyễn Bính miêu tả qua những bờ dâu,dậu mồng tơi, những mái đình, những cánh đồng, những bờ đê đợc biểu hiện

rõ trong các bài Ngời hàng xóm, Tơng t, Qua nhà ở đây Nguyễn Bính đặc

biệt chú ý tới sự cách trở của những lứa đôi Những hình ảnh hết sức gần gũi

và thân thiết với mỗi ngời dân quê, sao bỗng trở thành sự chia ly đối vóinhững lứa đôi:

Giá đừng có dậu mồng tơi Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng

Trang 38

Nguyễn Bính đã tạo ra trong thơ một làng quê chân thực nhng khôngkém phần thơ mộng, một không gian nhiều cách trở nhng cũng thật gần gũi,một không gian vừa mang nét đẹp cổ kính, vừa quen thuộc, thân thơng.

Đối với Nguyễn Bính, sau những luỹ tre làng còn lu giữ vẻ đẹp của mộtcuộc sống chân quê

Đó là cái đẹp của những bộn bề công việc

- Em là con gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già

- Mấy sào vờn đất mới Trông dâu và trồng cam

- Chị Nhi bán rợu đôi chiều chợ Vẫn nhớ mua quà cho cả đôi

Dới cái nhìn của thi sĩ, những công việc mà các cô gái đang mải miếttrong từng ngõ xóm, vờn dâu, vờn chè đã tạo nên những nét đẹp văn hoá củanhững nghề phụ mang bản sắc văn hoá của từng địa phơng Đồng thời ôngchuyển vào trong lao động những tình cảm thiêng liêng cao quý của con ngời:

Nhìn toàn cảnh cái đẹp sau luỹ tre làng mà Nguyễn Bính đã tạo ra trongthơ có thể nói đó là một khung cảnh làng quê gần gũi thân thơng với nhữngsinh hoạt cộng đồng: lễ tết, hội hè, và những tình cảm mộc mạc, giản dị chânquê tất cả đều là bộ phận nhỏ của văn hoá làng quê Nghĩa là một khônggian với đầy đủ những đờng nét, màu sắc hình ảnh của một làng quê Việt Nam

từ ngàn đời

2.2.2.2 Cái đẹp là cái nguyên sơ thuần phác

Trang 39

Đọc thơ Nguyễn Bính ta thấy hiện lên một thế giới con ngời thôn quêmang vẻ đẹp “chân quê phác thực” nh hình ảnh của những con ngời trong cadao dân ca cha nhuốm dấu thị thành Bởi con ngời làng quê trong thơ NguyễnBính trớc hết là con ngời gắn bó với ruộng đồng, bến đò, vờn dâu, ao bèo, dàn

đỗ ván nghĩa là gắn bó với cảnh vật thiên nhiên và công việc làm ăn quanhnăm nơi thôn dã Chính những con ngời ấy đã tô đậm thêm cho vẻ đẹp thuầnphác của hơng thôn

Đặc biệt đó là những con ngời mang vẻ đẹp tâm hồn gần gũi với truyềnthống đạo đức lâu đời của dân tộc ta nh lòng yêu thơng chung thuỷ, nhânhậu ĐDó là những cô thôn nữ tuy phải lao động vất vả, tất bật nhng ở họvẫn toát lên vẻ đẹp rất quê mùa, rất trong trắng, dịu dàng và thanh khiết ngâythơ, đúng là một con ngời thôn quê Việt Nam

Em là con gái trong khung cử iu

Dệt lụa quanh năm với mẹ già Lòng trẻ con nh là cây lụa trắng

Mẹ già cha bán chợ làng xa

(Ma xuân)Hình ảnh những cô thôn nữ ở đây làm cho ta liên tởng đến những cô gáiquê cũng rất xinh đẹp trong ca dao, một vẻ đẹp của ngời lao động : khoẻkhoắn, chân chất mặn mà:

Em là con gái đồng chiêm Lấy dao cắt cỏ, lấy liềm bổ cau

Quần màu nâu, áo màu nâu Cái thắt lng láng ở đâu cũng giòn

Và ở trong thơ Nguyễn Bính con ngời cũng chân chất, dịu dàng tế nhị khi bộc

lộ tình cảm của mình

:

Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông

Mộ t

Một ngời chín nhớ mời mong một ngời

Gió ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng

(Tơng t)

Trang 40

Nguyễn Bính đã nuôi dỡng cảm hứng thi ca của mình trong tình cảmthuần phác của quê hơng, của dân tộc Con ngời Việt Nam trong thơ ông lànhững thiếu nữ chân quê cha vơng vấn bụi đời

Vẻ đẹp của những con ngời chân quê trong thơ ông còn bộc lộ ở tìnhquê đậm đà của họ Tình quê, đó là tình cảm đối quê hơng, những mối tìnhtrai gái và cả những tâm tình buồn vui, nếp cảm nếp nghĩ của ngời dân quê

Và ông đã cho ta thấy cái thi vị của một tình yêu chân chất, nhng không kémphần thơ mộng, không cần sôi nổi, vồ vập, nhng đợc ràng buộc biết bao sợidây tình cảm:

Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh Hình nh hai má em bừng đỏ

Em nghe họ nói mong manh

Hình nh họ biết chúng mình vời nhau

(Chờ nhau)

(Chờ nhau)

Những ngời mẹ, ngời chị thôn quê hiện lên trong thơ Nguyễn Bính cũng thật

hiền lành, chịu thơng chịu khó, giàu đức hi sinh Ai đã đọc bài thơ Lòng mẹ

hẳn không thể quên hình ảnh ngời mẹ chăm chút sắm sửa cho con “Này áo

đồng lầm, quần lĩnh tía/ này gơng này lợc này hoa tai” Hay ngời mẹ trong Tết

của mẹ tôi tất bật lo lắng chuẩn bị một cái tết cổ truyền cho cả nhà thật cảm

động Mẹ có cả một quá trình tính toán “nuôi hai con lợn tự ngày xa , ” “trữ gạonếp thơm”, còn phải “lo liệu đủ trăm chiều” rồi sửa sang nhà cửa, đi chợ muasắm, làm cỗ bàn trong ngày Tết mẹ còn dặn dò các con “chớ uống rợu say”

ba ngày tết qua đi, mẹ lại “đầu tắt mặt tối nuôi chồng con” lại bắt đầu mộtnăm mới vất vả Đây cũng là cái Tết của bao bà mẹ quê đôn hậu sống dới máinhà tranh của làng quê Việt Nam

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quốc ái (2001), Tuyển tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Quốc ái (2001), "Tuyển tập Nguyễn Bính
Tác giả: Vũ Quốc ái
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (1993), "Cuộc cải cách thơ của phong trào thơ mới và tiến trình tiếng Việt", Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cải cách thơ của phong trào thơ mới vàtiến trình tiếng Việt
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1993
3. Lê Bảo (1991), Thơ Việt Nam - Tác giả, Tác phẩm, Lời bình, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Bảo (1991), "Thơ Việt Nam - Tác giả, Tác phẩm, Lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1991
4. Nguyễn Bính (1941), Một nghìn cửa sổ, tập thơ, Nxb Hơng Sơn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính (1941), "Một nghìn cửa sổ
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Hơng Sơn
Năm: 1941
5. Nguyễn Bính (1942), Ngời con gái lầu hoa, tập thơ, Nxb Hơng Sơn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính (1942), "Ngời con gái lầu hoa
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Hơng Sơn
Năm: 1942
6. Nguyễn Bính (1992), Lỡ bớc sang ngang, tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính (1992), "Lỡ bớc sang ngang
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1992
7. Nguyễn Bính (1998), Tâm hồn tôi, tập thơ, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: NguyÔn BÝnh (1998), "Tâm hồn tôi
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1998
8. Nguyễn Bính (1999), Mời hai bến nớc, tập thơ, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính (1999)," Mời hai bến nớc
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1999
9. Nguyễn Bính (1999), Mây tần, tập thơ, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính (1999), "Mây tần
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1999
10. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phan Cảnh (2001), "Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
11. Bùi Hạnh Cẩn (1995), Nguyễn Bính và Tôi, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Hạnh Cẩn (1995), "Nguyễn Bính và Tôi
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1995
12. Ngô Viết Dinh (1998), Đến với thơ Nguyễn Bính, Nxb Thanh niên, Hà Nội 13. Hồng Diệu (2001), "Một đặc điểm trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính",Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đặc điểm trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Ngô Viết Dinh (1998), Đến với thơ Nguyễn Bính, Nxb Thanh niên, Hà Nội 13. Hồng Diệu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
14. Phạm Tiến Duật (1986), "Nguyễn Bính qua một cuộc hội thảo", Văn nghệ (28) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính qua một cuộc hội thảo
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1986
15. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp (2002), "Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
16. Nguyễn Đăng Điệp (1994), "Khối tình lỡ của ngời chân quê", Văn học (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khối tình lỡ của ngời chân quê
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1994
17. Phan Cự Đệ (1986), Phong trào thơ mới, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ (1986), "Phong trào thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
18. Phan Cự Đệ (1999), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1045), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ (1999), "Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1045)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1999
19. Phan Cự Đệ (1982), Phong trào thơ mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Cự Đệ (1982), "Phong trào thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1982
20. Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (1971), "Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoahọc Xã hội
Năm: 1971
21. Hà Minh Đức (1996), Nguyễn Bính - thi sĩ đồng quê, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (1996), "Nguyễn Bính - thi sĩ đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng tác giả trong thơ nguyễn bính ợng tác giả trong thơ nguyễn bính - Hình tượng tác giả trong thơ nguyễn bính trước cách mạng tháng 8
Hình t ợng tác giả trong thơ nguyễn bính ợng tác giả trong thơ nguyễn bính (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w