1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử việt nam (1858 – 1918) ở trường THPT

170 245 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 6,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và theocác nhà lý luận dạy học khẳng định, trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử việc sử dụng đồ dùng trực quan,trong đó có sử dụng sơ đồ kết hợp với lời nói sinh động của g

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này em đã nhận được sự hướngdẫn, chỉ bảo, động viên tận tình, chu đáo của thầy cô, gia đình,bạn bè

Em xin được gửi lời tri ân đến thầy cô khoa Lịch sử, đặcbiệt là thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học,trực tiếp là thầy giáo – PGS TS Nguyễn Mạnh Hưởng, người đãđộng viên và nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài khóaluận tốt nghiệp này Sự hướng dẫn của thầy là nguồn cổ vũ,động viên để em thực hiện khóa luận

Em xin cũng xin chân thành cảm ơn những lời động viên,khích lệ của gia đình, anh chị, bạn bè trong quá trình học tập vàlàm khóa luận

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017Sinh viên thực hiện

Nông Thị Thúy

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài .1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề .3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .8

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .9

5 Phương pháp luận và phương nghiên cứu 9

6 Điểm mới và đóng góp của đề tài .10

7 Ý nghĩa của đề tài .10

8 Cấu trúc của đề tài .11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP 12

SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 12

1.1 Cơ sở lý luận và xuất phát của đề tài 12

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản sử dụng trong đề tài .12

1.1.2 Các dạng sơ đồ hóa kiến thức thường được sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường THPT .15

1.1.3 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT khi học lịch sử bằng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức .19

1.1.4 Quy trình thiết kế các dạng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT .23

1.1.5 Ưu điểm khi vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT .25

1.1.6 Vai trò, ý nghĩa khi vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT .28

1.2 Cơ sở thực tiễn 41

1.2.1 Khái quát thực tiễn DHLS ở trường THPT .41

1.2.2 Điều tra, khảo sát thực tiễn .43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 54

Trang 3

Chương 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM ( 1858 – 1918) Ở TRƯỜNG

THPT 56

2.1 Mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1858– 1918) ở lớp 11 THPT 56

2.1.1 Mục tiêu .56

2.1.2 Nội dung kiến thức cơ bản .57

2.2 Những yêu cầu cơ bản khi vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT 60

2.2.1 Yêu cầu chung .60

2.2.2 Những yêu cầu cụ thể khi vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918) .61

2.3.2 Thiết kế các dạng sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918) .70

2.4 Các biện pháp vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918) ở trường THPT 77

2.4.1 Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức khi dạy học bài nghiên cứu kiến thức mới .77

2.4.2 Phương pháp sử dụng sơ đồ hóa kiến thức để củng cố bài học hoặc sơ kết, tổng kết .91

2.4.3 Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong kiểm tra, đánh giá và chuẩn bị bài học mới trên lớp .94

2.4.4 Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức hướng dẫn HS tự học .98

2.5 Thực nghiệm sư phạm 100

2.5.1 Mục đích, đối tượng, địa bàn thực nghiệm .100

2.5.2 Nội dung, quy trình và phương pháp thực nghiệm .101

2.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm .103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 104

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Lịch sử là quá trình phát triển khách quan của xã hội loàingười cũng như của mỗi dân tộc Lịch sử như một dòng chảykhông ngừng từ khi con người xuất hiện, phát triển liên tục đếnngày nay và cả mai sau

Quá khứ và hiện tại, lịch sử và cuộc sống là quá trình pháttriển biện chứng mà hôm nay phải là sự kế thừa và phát triểncủa hôm qua đồng thời chuẩn bị cho ngày mai Đó là cả mộtkho tàng kinh nghiệm vô cùng phong phú mà con người cầnnhận thức để rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vàocuộc sống Bởi lẽ, lịch sử không chỉ cung cấp những sự kiện về

sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ xưa đến nay,

mà lịch sử còn giáo dục chúng ta về văn hóa, truyền thống, lòngyêu nước và niềm tự tôn, tự hào dân tộc Những bài học lịch sửdạy ta cách làm người, “là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”

Bộ môn Lịch sử với tư cách là một môn khoa học giáo dục,cùng với chức năng và nhiệm vụ của mình cũng góp phần quantrọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục Những sự kiện lịch sửkhông chỉ có tác động đến trí tuệ, mà còn có khả năng giáo dụcđạo đức, tư tưởng tình cảm cho học sinh Bởi lẽ, lịch sử gắn liềnvới con người, là người thật, việc thật có tác động mạnh mẽ đến

tư tưởng, tình cảm của người học Lịch sử giúp học sinh hiểuđược quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người: lịch sử xãhội loài người luôn phát triển khách quan từ thấp đến cao, quacác hình thái kinh tế - xã hội Từ đó giúp học sinh hình thành thếgiới quan khoa học, có nhân sinh quan cách mạng, đồng thời rút

ra bài học kinh nghiệm quý giá để vận dụng vào thực tiễn cuộc

Trang 5

sống, rút ra những bài học kinh nghiệm cho chính bản thânmình, khơi dậy tình cảm đúng đắn cho học sinh, đây là hànhtrang quan trọng cho thế hệ trẻ trong thời kì hội nhập, toàn cầuhóa Nhà sử học Xô viết Pa-tu-sô đã khẳng định:

“Muốn đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng ta, cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, sự hứng thú, hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm bớt sự chú ý của ta đối với việc dạy học lịch sử Chính lịch sử là bằng chứng hiển nhiên về sự toàn thắng của công cuộc xây dựng đối với sự tàn phá, chiến thắng của hòa bình đối với chiến tranh, sự gần gũi, hiểu biết của các dân tộc về văn hóa và các mặt khác,

khắc phục tình trạng biệt lập” [31; 22 ]

“Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” tuy nhiên, trong nhữngnăm gần đây, việc dạy học lịch sử ở nước ta bên cạnh những ưuđiểm còn tồn tại nhiều bất cập Nhiều giáo viên giỏi, tâm huyếtvới nghề, có nhiều giờ dạy hay, nhiều học sinh đạt giải caotrong các kì thi chọn học sinh giỏi môn Lịch sử các cấp, nhưngvẫn còn nhiều hiện tượng thầy đọc – trò chép, chưa phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Nhiều giáoviên chưa giảng dạy theo hướng lấy học sinh làm trung tâm,chưa thực hiện tốt vai trò của người tổ chức, hướng dẫn, điềukhiển hoạt động học tập của học sinh để các em được tích cực,chủ động, sáng tạo tự chiếm lĩnh tri thức Một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là trong quá trình dạy họcgiáo viên chưa biết cách tạo hứng thú cho học sinh nhằm nângcao hiệu quả bài học Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy họcphải đổi mới một cách đồng bộ về mục tiêu, chương trình bộ

Trang 6

môn với phương pháp dạy học của giáo viên ở trường phổthông, trọng tâm là đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới phươngpháp Việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử có ý nghĩa vôcùng quan trọng nhằm làm phát triển nhân cách toàn diện,trong đó điểm được nhấn mạnh là phát huy tính tích cực, nănglực sáng tạo trong tư duy và hành động của học sinh Và theocác nhà lý luận dạy học khẳng định, trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử việc sử dụng đồ dùng trực quan,trong đó có sử dụng sơ đồ kết hợp với lời nói sinh động của giáoviên là một trong những phương pháp quan trọng giúp cho việcdạy học lịch sử đạt được hiệu quả về các mặt giáo dưỡng, giáodục và phát triển.

Sơ đồ thuộc vào nhóm đồ dùng trực quan quy ước, và được

sử dụng khá phổ biến ở trường phổ thông ở nước ta hiện nay vì

nó dễ xây dựng, sử dụng và phù hợp với điều kiện cụ thể Sửdụng sơ đồ trong dạy học lịch sử sẽ làm cho giờ học thêm sôinổi, kích thích hứng thú và hoạt động nhận thức tích cực củahọc sinh, hiệu quả bài học sẽ cao hơn Mặt khác, sơ đồ hóa kiếnthức trong quá trình dạy học lịch sử không chỉ giúp cho học sinhhọc tốt môn lịch sử, phát triển cho các em năng lực thực hành

bộ môn nhuần nhuyễn, mà còn giúp giáo viên trau dồi chuyênmôn nghiêp vụ và tạo điều kiện cho sự sáng tạo trong giảngdạy

Qua quá trình học môn Lí luận và phương pháp dạy học,kiểm nghiệm qua đợt thực tập sư phạm em thấy chương trìnhlịch sử Việt Nam ( 1858 – 1918 ) là một khóa trình lịch sử quantrọng của lịch sử dân tộc Tuy nhiên đây là phần lịch sử khó, kếtiếp chương trình lớp 10, nhiều sự kiện vì vậy khi học tập học sinh

Trang 7

không chỉ nắm kiến thức từng giai đoạn, từng nội dung cụ thể màcòn phải tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự kiện trong sự pháttriển chung, thống nhất của lịch sử Điều này đòi hỏi học sinh phảibiết và hiểu lịch sử trên cơ sở phát huy tính tích cực, trí thôngminh và sự sáng tạo Học sinh phải biết vận dụng kiến thức đãhọc để tiếp nhận kiến thức mới , biết quá khứ để tìm hiểu hiện tại.Yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức cơ bản, bao gồmnhững sự kiện, nhân vật Vì vậy, sử dụng sơ đồ để cụ thể hóa kiếnthức trong dạy học về giai đoạn lịch sử này là rất cần thiết Nhưngviệc sử dụng sơ đồ để dạy học lịch sử phần này ở các trường phổthông cho đến nay chưa thực sự phong phú, hợp lý, mặc dù có rấtnhiều nội dung kiến thức có thể sử dụng sơ đồ hóa để giúp bàihọc thêm sinh động, phong phú, làm cho học sinh nắm kiến thứcđược sâu sắc hơn

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn

đề tài “Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1858 – 1918) ở trường THPT” làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng sơ đồ hóa kiến thức trong quá trình dạyhọc không phải là mới, mà từ lâu đã được các nhà nghiên cứugiáo dục nói chung, các nhà nghiên cứu lịch sử nói riêng ở cảtrong nước và ngoài nước nghiên cứu như một phương pháp sửdụng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học

2.1 Tài liệu giáo dục nước ngoài

Về tài liệu giáo dục học có các cuốn “Giáo dục học” của

Trang 8

T.A.Ilina, tập 1,2 (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973); cuốn “Giáo dục học” của Savin (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1983); cuốn “Lí luận dạy học ở trường phổ thông” của I.Ia.Lence và M.N.Xcatkin (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980); cuốn “Những cơ sở của lý luận dạy học”, tập 1,2,3 của B.P.Eexipop (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1971); cuốn “Giáo dục học” của I.A.Cairop (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1969); cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” của I.F.Khalamop, tập 1,2 (NXB Giáo dục, Hà Nội,

1078);…đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò, ýnghĩa của phương pháp trực quan trong dạy học Phương pháptrực quan được xem là phương pháp có hiệu quả trong việc pháthuy tính tích cực học tập của học sinh, là cơ sở để học sinh khắcsâu, ghi nhớ kiến thức, hiểu bản chất vấn đề và hình thành kháiniệm Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc

cơ bản của lí luận dạy học nói chung và dạy học lịch sử nóiriêng Từ thế kỉ XVI – XVII, J A Comenxki (1592 – 1670) nhà giáodục học người Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc) được biết đến làngười đầu tiên đưa ra yêu cầu “phải đảm bảo tính trực quan

trong dạy học” Ông cho rằng, trực quan là “quy tắc vàng ngọc”

của giáo viên [ 63; 151] Theo K.Đ Usinxki (1824 – 1870) nhà

giáo dục học người Nga thì “tính trực quan phải là cơ sở quantrọng nhất của việc dạy học”, vì những hình ảnh đặc biệt đượclưu giữ lại trong óc học sinh đều thu thập được thông qua trực

quan [ 9;12 ] Trong cuốn "Phát huy tính tích cực, độc lập của

học sinh như thế nào" (Nxb Giáo dục Hà Nội, 1970), của

I.F.Kharlamop tác giả cũng đã khẳng định dạy học là quá trìnhlĩnh hội một cách vững chắc kiến thức của học sinh, việc nhậnthức của học sinh không phải là do giáo viên mà học sinh chỉ

Trang 9

thực sự nắm vững cái mà chính bản thân giành được bằng chínhlao động của mình Đồng thời, tác giả cũng khẳng định vai tròcủa việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông không những làm cho quá trình học tập thêmsinh động mà nó còn kích thích sự phát triển tư duy của học sinh.

Về tài liệu giáo dục lịch sử có các cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông” của Vaghin (tập 2, NXB Giáo dục, Matxcova, 1972), cuốn “Nguyên tắc dạy học trực quan trong giảng dạy lịch sử” của Nikiphorop Đ.N (NXB Giáo dục, Matxcova, 1964); “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của N.G.Đairi (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973) đã

nêu lên vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan, trong đó có sơ

đồ hóa trong quá trình dạy học lịch sử Hay trong các cuốn

“Phương pháp và kỹ thuật lên lớp trong trường phổ thông” (tập 1,2, NXB Giáo dục, 1978) của I.A.Coplep N.M;

“Nâng cao hiệu quả bài học lịch sử” của Gara P.V (ĐHSP –

ĐHQG Hà Nội, 1987) Các tác giả cũng đề cập đến vai trò của đồdùng trực quan trong dạy học như một phương tiện minh họa và

cụ thể hóa các hiện tượng lịch sử Theo J Marc Denmme và

Madeleine Roy: khi HS học tập “những hình ảnh nhìn thấy được bao trùm rộng hơn những hình ảnh nghe hoặc chuyển động… không có gì làm cho người ta khó chịu hơn là nghe mà không

nhìn thấy” [ 18; 152] Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử

như thế nào?” N.G Đairi nhấn mạnh tính cụ thể, hình ảnh trong dạy học lịch sử Ông coi việc “sử dụng tài liệu trực quan như là một nguồn nhận thức, đem lại tính cụ thể và hình ảnh của sự kiện, có giá trị lớn lao, vì chúng cho phép học sinh hình dung lại

quá khứ” [ 21; 9, 25]

Trang 10

Nhìn chung, các tài liệu trên đều khẳng định vai trò ý nghĩa

vô cùng quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trực quan trongquá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh nókhông chỉ phát triển tư duy và tính tích cực chủ động của họcsinh, nó hoàn toàn phù hợp với quan điểm hiện nay của ngành

giáo dục nước ta "lấy học sinh làm trung tâm"mà còn đang dần

khắc phục lối dạy đọc chép, truyền thụ một chiều của giáo viên

2.2 Tài liệu giáo dục trong nước

Ở Việt Nam, một số nhà giáo dục cũng viết nhiều côngtrình đề cập đến nguyên tắc trực quan trong dạy học, bao gồm

cả phương pháp sử dụng phương tiện kĩ thuật như cuốn “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (tập 1, NXB Giáo dục,

hà Nội 1987); Nguyễn Cương “Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học” (Hà Nội, 1995); Thái Duy Tuyên trong “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” (NXB Giáo dục, Hà

Nội, 1999) vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan trong đó có cả sơ

đồ, cũng được nêu lên với vai trò và ý nghĩa quan trọng đối vớiquá trình dạy học ở trường phổ thông

Từ những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà giáo dục lịch sửnước ta bước đầu nghiên cứu về lí luận và phương pháp dạy học

bộ môn, coi trọng tính hình ảnh trực quan và việc sử dụng cácthiết bị, phương tiện kĩ thuật trong dạy học Có thể kể đến cáccông trình, tài liệu:

 Trước hết là các sách giáo trình phương pháp dạy họclịch sử từ năm 1961 – nay: Lê Khắc Nhãn và các tác giả khác

của “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cấp 2 – 3”, tập 2 (NXB Giáo dục, Hà Nội 1961); Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị: “Phương pháp dạy học lịch sử ở

Trang 11

trường phổ thông cấp 3” tập 1,2 (NXB Giáo dục, Hà Nội,

1996); Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị chủ biên với các cuốn

“Phương pháp dạy học lịch sử” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1976,

1980, 1992, 1999, 2012); nhất là trong cuốn giáo trình

“Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên (chủ

biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi tập 1,2 (NXB ĐHSP HàNội, Hà Nội, 2012) đã trình bày về phương pháp sử dụng đồdùng trực quan Các tác giả không chỉ nêu lên vai trò, ý nghĩacủa đồ dùng trực quan mà còn trình bày cụ thể các phươngpháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử

Bên cạnh đó còn có các tài liệu tham khảo như cuốn “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS”

do Trịnh Đình Tùng chủ biên (NXB ĐHSP Hà Nội, 2006);

“Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh trong dạy học lịch sử” của Trịnh Đình Tùng trong Đổi mới phương

pháp dạy và học tập môn lịch sử ở trường THPT và THCS.Tài liệu

hội thảo (tập 1, Hà Nội, 11/1999); “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS” (NXB

Giáo dục, 1999) của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng; “Rèn

luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” của

Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (NXB Giáo dục, Hà Nội); cuốn

“Đồ dùng trực quan trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá (NXB Giáo dục, 1975); “Đổi mới việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm” của Phan Ngọc Liên (chủ biên) (NXB ĐHSP Hà Nội, 1996)

cũng đề cập đến việc sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử, vai

trò và ý nghĩa của nó Trong cuốn "Phương pháp dạy học lịch

Trang 12

sử ở trường phổ thông" của Vũ Quang Hiển - Hoàng Thanh Tú

đồng chủ biên (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) cũng khẳng

định "Sơ đồ hóa kiến thức giúp học sinh ôn tập hiệu quả Học sinh không chỉ nhớ mà còn nhận biết được mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện lịch sử rèn luyện tư duy logic và khái quátlàm cho quá trình sử dụng SGK trong quá trình giảng dạy và học tập hiệu quả hơn Giáo viên và học sinh đều phải nghiên cứu kỹ nội

dung bài học trong SGK để thiết kế được sơ đồ" [28; 115].

 Ngoài ra, vấn đề sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử cònđược viết trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Giáo

dục, như trong “Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1 – 1992; “Thực hành trong môn Lịch sử” của Trần Đức Minh, Đặng Công Lộng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 6/1994; “Rèn luyện cho học sinh kỹ năng học tập môn Lịch sử bằng phần mềm sơ đồ tư duy - Mind Mananger 8.0” của Nguyễn Mạnh

Hưởng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cán bộ trẻ các trường đại

học sư phạm toàn quốc lần 2 (NXB Đại học Huế, 2012); “Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học lịch sử”

của Trần Vĩnh Tường và Huỳnh Thị Mộng Thường đăng trên Tạp

chí Giáo dục số 306, kì 2 tháng 3 năm 2013; “Phương pháp sơ

đồ hóa trong dạy học lịch sử ở THCS” của Nguyễn Minh

Phong đăng trên Tạp chí Giáo dục Số đặc biệt tháng 5/2013

Đặc biệt là Ứng dụng học thuyết Graph vào trong thiết kế

phương pháp dạy học Graph là một phương pháp khoa học, cótính khái quát cao, tính chuyển tải rộng và ổn định vững chắc

Về mặt tâm lý – lý luận dạy học Graph vừa trừu tượng, khái quát

Trang 13

cao lại có thể biểu đạt bằng sơ đồ hình họa cụ thể - trực quan.Chính vì vậy mà phương pháp Grap toán học đã được tiếp cận

và chuyển hóa thành phương pháp dạy học trong nhà trường

Ở nước ta, ngay từ năm 1971, Nguyễn Quang Ngọc đãchọn phương pháp Graph toán học làm đối tượng nghiên cứuthực nghiệm, chuyển hóa nó thành phương pháp dạy học hóahọc Sau đó, ông đã cùng các cộng tác viên triển khai nghiêncứu thực nghiệm vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học cácmôn học ở Trung học và Đại học Và thực tiễn cho thấy tiếp cậnGraph dạy học đã phát huy kết quả tốt ở nhiều lĩnh vực

Trong dạy học môn Lịch sử, tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng

và Chu Thị Mai Hương với bài “Sử dụng Graph trong đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông”

đăng trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt, kỳ 3 – tháng 6/2016 đãnêu lên đặc điểm, một số yêu cầu, các bước xây dựng vàphương pháp vận dụng Graph trong đổi mới dạy học lịch sử ởtrường phổ thông

Tất cả các công trình trên là tài liệu tham khảo có giá trị gợi

ý cho người viết nhiều vấn đề lý luận, cách sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử, để vận dụng vào dạy học các bài cụthể Chương trình lịch sử ở trường THPT có nhiều nội dung kiếnthức có thể sơ đồ hóa để góp phần nâng cao hiệu quả bài học.Tuy nhiên, hiện nay việc sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông vẫn còn chưa được đi sâu nghiên cứu một

cách cụ thể, vì vậy chúng tôi xin chọn vấn đề “Phương pháp sơ

đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918) ở trường THPT” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, đề tài sẽ đi sâu vào phân

tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp

Trang 14

sơ đồ hóa kiến thức trong quá trình DHLS, từ đó đề xuất một sốphương pháp vận dụng sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam(1858 – 1918) ở trường THPT với mong muốn sẽ góp phần vàoviệc nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình DHLS ởtrường THPT thông qua việc sử dụng sơ đồ hóa kiến thức (trong

đó GV là người hướng dẫn và HS là đối tượng chính sử dụngtrong học tập)

3.2. Hệ thống phương pháp được sử dụng trong DHLS rất

đa dạng, nhưng do thời gian và trình độ nhận thức có hạn, nên đềtài chỉ tập trung đi sâu vào phương pháp thiết kế và sử dụng sơ

đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918) ở trườngTHPT

4.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích: Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lí luận dạyhọc nói chung, dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng, (trong đó

cơ bản là lý luận về phương pháp trực quan kết hợp với nghiêncứu chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 11), đề tài tập trunglàm rõ vai trò, ý nghĩa của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trongDHLS; đề xuất biện pháp vận dụng sơ đồ hóa kiến thức nhằmnâng cao chất lượng dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam (1858 –1918) Tác giả cũng tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳngđịnh tính khả thi của đề tài

4.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, đề tài cónhiệm vụ:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Trang 15

- Điều tra thực trạng việc vận dụng phương pháp sơ đồhóa kiến thwucs trong DHLS ở trường phổ thông.

- Khai thác nội dung lịch sử Việt Nam (1858 – 1918) ởTHPT từ đó thiết kế các dạng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học

- Đề xuất một số biện pháp vận dụng sơ đồ hóa kiến thứctrong DHLS Việt Nam (1858 – 1918)

- Thực nghiệm sư phạm các biện pháp vận dụng phươngpháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS Việt Nam (1858 – 1918),(Bài 22 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất củathực dân Pháp, lớp 11, chương trình chuẩn), nhằm khẳng địnhtính đúng đắn, khả thi của đề tài nghiên cứu

5.Phương pháp luận và phương nghiên cứu.

5.1. Cơ sở phương pháp luận: cơ sở phương pháp luậncủa đề tài là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin; tưtưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáodục và giáo dục trong bộ môn Lịch sử

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thuộcnhóm khoa học giáo dục, vì vậy sẽ sử dụng nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau, trong đó chú trọng đến 4 nhóm phươngpháp chuyên ngành:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứucác tác phẩm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhbàn về giáo dục và giáo dục lịch sử Đồng thời nghiên cứu cáccông trình của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử và các tài liệulịch sử có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Nhóm phương pháp điều tra, khảo sát: tiến hành điều trathực tiễn phổ thông qua dự giờ, quan sát, điều tra xã hội học,trao đổi thảo luận với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, phỏng

Trang 16

vấn, phát phiếu điều tra để thấy được thực tế vận dụng phươngpháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS ở trường phổ thông.

- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đềtài

- Phương pháp toán học thống kê

6.Điểm mới và đóng góp của đề tài

- Góp phần làm rõ thêm thực trạng của việc vận dụngphương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS

- Thiết kế được hệ thống các dạng sơ đồ hóa kiến thứcphục vụ DHLS Việt Nam (1858 – 1918)

- Đề xuất một số biện pháp vận dụng sơ đồ hóa kiến thứctrong DHLS Việt Nam (1858 – 1918)

7.Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần làm phong phú thêm líluận và phương pháp dạy học bộ môn, nhất là liên quan đếnphương pháp sơ đồ hóa kiến thức

- ý nghĩa thực tiễn: Đề tài giúp tác giả hiểu sâu hơn về vaitrò của lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử trong đóđặc biệt là về phương pháp sơ đồ hóa kiến thức, từ đó vận dụngnhững kết quả nghiên cứu được và dạy học lịch sử ở trường phổthông

Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên caohọc khi tìm hiểu về lí luận và dạy học bộ môn có liên quan đếnchủ đề này

8.Cấu trúc của đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung của khóa luận gồm 2 chương:

Trang 17

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2 Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử việt nam ( 1858 – 1918) ở trường THPT

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG

PHÁP

SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG

THPT 1.1 Cơ sở lý luận và xuất phát của đề tài

1.1.1.Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản sử dụng trong đề tài

Sơ đồ và sơ đồ hóa

Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, sơ đồ là: “Hình

vẽ quy ước, sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng nào đó của sự

vật, hay một quá trình nào đó” [ 56; 869].

Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý lại định nghĩa sơ đồ là: “Hình vẽ quy ước, có tính chất sơ lược, nhằm mô tả những đặc trưng nhất định của một sự vật, một quá trình nào đó”

[ 70; 925].

Theo từ điển tiếng Anh, sơ đồ có tên khoa học là Graph,

về danh từ Grap có nghĩa là “biểu đồ biểu diễn cách mà hai hay nhiều tập hợp số liên qua đến nhau”; về động từ Graph có nghĩa là “vẽ sơ đồ, đồ thị, minh họa bằng đồ thị, vẽ mạch”

[ 71 ].

Theo các khái niệm trên thì có thể hiểu sơ đồ được cấutạo bởi sự liên kết của các hình học như: hình vuông, hình chữnhật, hình tròn, hình tam giác, hay những đoạn thẳng, mũitên, hay hình vẽ quy ước nhằm tập hợp các đối tượng có quan

hệ với nhau, giúp người đọc dễ dàng hình dung, liên tưởng sựvật, hiện tượng hoặc trình bày kiến thức

Trang 19

Và như vậy, sẽ có nhiều dạng sơ đồ khác nhau: sơ đồhình trục, hình cây, hình mạng, phổ biến nhất hiện nay là sơ

đồ tư duy

Trong khoa học tự nhiên vẫn thường sử dụng sơ đồ để chỉmối liên hệ giữa các yếu tố, bộ phận, thành phần khác nhau(có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tương tác qua lại lẫnnhau, quan hệ chi phối hoặc quan hệ lệ thuộc, quan hệ bình

đẳng,…) Đó chính là “sơ đồ hóa”.

Hay “Sơ đồ hóa” có thể được hiểu là: sơ đồ dùng để cụ

thể hóa nội dung kiến thức, mô tả những đặc trưng nhất địnhcủa một sự vật, một quá trình nào đó bằng những hình vẽ quyước, sơ lược, tạo thành giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ

ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ vớinhau bằng các đường nối

Quan niệm về sơ đồ hóa kiến thức và sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

- Quan niệm về sơ đồ hóa kiến thức:

Từ khái niệm “sơ đồ” và “sơ đồ hóa” có thể hiểu “sơ đồ hóa kiến thức” là hình thức dùng sơ đồ để ghi chép kiến thức

bằng mối liên hệ giữa những hình học đơn giản, màu sắc, hìnhảnh, những nét vẽ quy ước nhằm tìm tòi, mở rộng, đào sâu, tómtắt những ý chính của một nội dung kiến thức, hệ thống hóa

một chủ đề Hay có thể hiểu đơn giản “sơ đồ hóa kiến thức” là

hình thức thể hiện nội dung kiến thức bằng ngôn ngữ sơ đồ

- Sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử:

Từ cách hiểu về “sơ đồ hóa kiến thức” có thể hiểu một cách khái quát “sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử” là: sơ

đồ dùng để cụ thể hóa nội dung kiến thức lịch sử bằng mối liên

Trang 20

hệ logic của các hình học đơn giản, hình ảnh, các nét vẽ quyước, nhằm giúp người học có thể hệ thống hóa, khát quát hóa,

cụ thể hóa kiến thức một cách tóm tắt, giản lược Hay “sơ đồ hóa kiến thức lịch sử” chính là thể hiện nội dung kiến thức lịch

sử bằng ngôn ngữ sơ đồ (sơ đồ cây, sơ đồ mạng, sơ đồ tư duy,

…)

Phương pháp sơ đồ hóa kiến thức

Phương pháp sơ đồ có tên khoa học là phương pháp Graph,vốn được sử dụng trong các lĩnh vực của khoa học tự nhiên.Ngày nay phương pháp sơ đồ hóa có thể vận dụng ở hầu hếtcác lĩnh vực Trong dạy học, phương pháp sơ đồ là phương phápdạy học thông qua việc tăng cường hệ thống các sơ đồ thay chocâu chữ viết, là phương pháp trực quan nhằm cụ thể hóa nộidung kiến thức bằng sơ đồ

Trong dạy học lịch sử, sơ đồ là loại đồ dùng trực quantượng trưng, có khả năng khái quát nội dung lịch sử, đồng thời,

có ưu thế trong việc xác lập các mối quan hệ những vấn đề lịch

sử Như vậy phương pháp sơ đồ hóa trong dạy học lịch sử làphương pháp giáo dục lịch sử thông qua việc tăng cường hệthống các sơ đồ thay cho các câu chữ viết; là phương pháp trựcquan nhằm cụ thể hóa nội dung kiến thức lịch sử bằng nhữnghình học đơn giản, những hình vẽ quy ước, hình ảnh, màu săc,…được nối lại bằng các đường nối nhằm thể hiện mối quan hệlịch sử Mỗi loại sơ đồ sẽ phù hợp với những loại bài, những nộidung kiến thức khác nhau Trong dạy học các môn khoa học xãhội, trong đó có môn Lịch sử việc sử dụng sơ đồ rất cần thiết đốivới cả GV và HS

Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần

Trang 21

quan trọng việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sựkiện và khắc phục tình trạng "hiện đại hóa" lịch sử của học sinh.

Sơ đồ thuộc nhóm đồ dùng trực quan quy ước Loại đồ dùngtrực quan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khiphản ánh những mặt số lượng, chất lượng của quá trình lịch sử,đặc trưng, khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế,chính trị - xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để

cụ thể hóa sự kiện lịch sử bằng những hình học đơn giản, diễn tả

tổ chức một cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, mối quan hệ giữacác sự kiện lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm chohọc sinh, từ đó mà tạo ra hứng thú trong giờ học, vừa phát triểnđược óc quan sát, kích thích tư duy của người học, củng cố kiếnthức bài giảng, hào hứng tìm tòi, đón nhận kiến thức mới và cólòng yêu thích môn học Khi người học khám phá tri thức mớitheo một trình tự logíc, hiểu được bản chất quy luật sẽ thuận lợicho quá trình tái hiện kiến thức khi cần thiết

Như vậy, sơ đồ là phương pháp trực quan hết sức quantrọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Nó giúp học sinhlĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, đồng thời phát triểnnăng lực tư duy, kỹ năng tìm tòi khám phá và vận dụng kiến thức.Tuy nhiên, trong quá trình dạy học giáo viên tùy theo nội dung

cụ thể của từng bài học mà vận dụng một cách linh hoạt, sángtạo, sao cho sơ đồ vừa dễ hiểu, ngắn gọn, cô đọng nhưng phảiđầy đủ, khoa học, chính xác và có tính sư phạm cao

1.1.2.Các dạng sơ đồ hóa kiến thức thường được sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Trang 22

Trong dạy học lịch sử có thể phân loại nhiều dạng sơ đồkhác nhau dựa theo các tiêu chí khác nhau, song về cơ bảndựa theo 4 tiêu chí:

- Mục đích sử dụng:

+ Sơ đồ dùng để nghiên cứu tài liệu mới

+ Sơ đồ dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức mới

+ Sơ đồ dùng để kiểm tra, đánh giá

Ví dụ: Sơ đồ dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức mới

Hình 1.1 Sơ đồ hóa kiến thức phong trào yêu nước cuối thế kỉ

XIX.

Sơ đồ trên được sử dụng để củng cố kiến thức sau khi học

xong bài 21 Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX Với sơ đồ trên, sẽ

giúp HS có được bức tranh tổng quát về phong trào yêu nướccuối thế kỉ XIX, thay vì các em tìm hiểu từng cuộc khởi nghĩariêng lẻ Qua đó, sẽ giúp các em không chỉ biết, hiểu mà còn

Trang 23

phân tích, so sánh những điểm giống và khác nhau giữa cáccuộc khởi nghĩa về nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa.Việc củng cố kiến thức bằng sơ đồ giúp học sinh có được bứctranh tổng quát về nội dung kiến thức vừa mới học trên lớp, cáchthể hiện kiến thức sinh động bằng sơ đồ sẽ giúp các em dễ nhớkiến thức đã học Bởi lẽ, con đường nhận thức của học sinh khihọc tập nói chung, môn Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng đều

nhận thức theo quy luật: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách

quan"[ 42; 179] Trong con đường nhận thức ấy, phương tiện

trực quan, mà cụ thể là sơ đồ luôn đóng vai trò quan trọng, là

điểm tựa, là “chiếc cầu nối” giúp HS tái hiện quá khứ lịch sử.

- Nội dung kiến thức cần diễn đạt:

+ Sơ đồ dùng để diễn tả một cơ cấu xã hội, một chế độchính trị

+ Sơ đồ thể hiện sự phát triển kinh tế, xã hội

+ Sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượnglịch sử

+ Sơ đồ biểu diễn tiến trình thời gian lịch sử

+ Sơ đồ biểu diễn diễn biến trận đánh lịch sử

Ví dụ: Sơ đồ diễn tả một cơ cấu xã hội, môt chế độ chính

trị

Trang 24

Hình 1.2 Sơ đồ hóa kiến thức thể hiện sự biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của

thực dân Pháp.

Kinh tế - xã hội luôn có sự phát triển không ngừng vì vậyhọc sinh sẽ rất khó có thể hình dung được, nhưng sơ đồ sẽdiễn tả được sự phát triển kinh tế cũng như sự biến đổi trong

cơ cấu xã hội một cách cụ thể, sinh động

Với sơ đồ trên sẽ giúp HS thấy được, trình bày được sựchuyển biến sâu sắc trong cơ cấu xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XXdưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp; sự hình thành vàphân hóa giữa các giai cấp trong xã hội Từ đó hiểu được, phân tích được mốiqua hệ giữa các giai cấp và những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

- Khả năng rèn luyện các thao tác tư duy

+ Sơ đồ rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp

+ Sơ đồ rèn luyện kỹ năng so sánh

+ Sơ đồ rèn luyện kỹ năng khái quát hóa

+ Sơ đồ rèn luyện kỹ năng hệ thống hóa

Ví dụ: Sơ đồ rèn luyện kỹ năng so sánh.

Trang 25

Hình 1.3 Sơ đồ hóa kiến thức so sánh hai xu hướng cứu nước

ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Cùng một thời điểm nhưng ở mỗi nới lại diễn ra các sựkiện lịch sử khác nhau, hoặc ở mỗi thời điểm lại có những sựkiện lịch sử khác nhau Qua sơ đồ sẽ giúp các em thấy được sựgiống và khác nhau của các sự kiện lịch sử ở các nơi, nhữngthời điểm khác nhau, để từ đó thấy được đặc trưng lịch sử ởmỗi nơi và sự lặp lại cũng như sự phát triển của quy luật lịch

sử hoặc cùng khoảng thời gian khác nhau, cùng khuynhhướng cứu nước nhưng mỗi nhân vật sẽ có xu hướng vàphương thức hoạt động cách mạng khác nhau

Qua sơ đồ trên, giúp học sinh so sánh được xu hướng cứunước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đầu thế kỉ XX, từ

đó đánh giá được đóng góp, khâm phục tinh thần yêu nước vàhoạt động cách mạng của hai nhân yêu nước: Phan Bội Châu

và Phan Châu Trinh

Trang 26

Hình 1.4 Sơ đồ câm tổ chức bộ máy Toàn quyền Đông Dương

Sơ đồ trên yêu cầu HS tự điền nội dung, được sử dụng đểkiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của HS

Tuy nhiên, cùng một nội dung, một mục đích dạy học có thểdiễn đạt bằng nhiều sơ đồ khác nhau, vì thế sự phân loại trên chỉmang tính chất tương đối, vì cùng một sơ đồ có thể sử dụng vớinhiều mục đích khác nhau ví dụ như sơ đồ dùng để nghiên cứukiến thức mới có thể là sơ đồ chứa đựng những thông tin về cơcấu xã hội, sự phát triển kinh tế, diễn biến trận đánh,…Các sơ đồchứa đựng những loại thông tin khác nhau có thể dùng để rènluyện các thao tác tư duy khác nhau trong các khâu khác nhaucủa quá trình dạy học lịch sử Mặc dù dựa vào nhiều tiêu chí đểphân loại các dạng sơ đồ như trên nhưng đề tài dựa vào nội dung

để phân loại sơ đồ trong quá trình sử dụng

Có thể tóm tắt các dạng sơ đồ theo sơ đồ sau1:

Trang 27

Hình 1.5 Các dạng sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS.

1.1.3 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT khi học lịch sử bằng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức

Tâm lý học sinh THPT

HS THPT có độ tuổi từ 16 – 18 tuổi, phạm vi đối tượng nhậnthức của đa số HS THPT rất rộng, các em quan tâm, tìm hiểu nhiềulĩnh vực, kể cả cacslinhx vực bên ngoài nội dung học tập Các emham thích các hoạt động đọc sách báo, phim ảnh và các sinh hoạttrao đổi khoa học Vốn hiểu biết của các em vốn rất phong phú vàsâu sắc

- Tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong nhận thức là phẩm chất tâm lý đặc trưng của tuổi THPT, các em có chính kiến rõ ràng

trong nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, các phẩm chất nhận thức này ở

HS phụ thuộc rất nhiều vào việc dạy học của nhà trường Trongthực tế hiện nay, nội dung và phương pháp dạy học trong nhà

Trang 28

trường còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức củacác em

+ Hứng thú học tập của HS THPT sâu sắc hơn so với các lứatuổi trước, thậm chí trở thành niềm đam mê ở nhiều em Mặt khác

sự hứng thú học tập của các em có sự phân hóa rất rõ Một sốquan tâm đến các môn KHTN, một số khác lại hướng đến các mônKHXH

+ Năng lực nhận thức của HS THPT cũng phát triển ở mức độcao và đa dạng Nhiều em đã bộc lộ tài năng về một lĩnh vực nàođó

+ Các quá trình nhận thức cảm tính phát triển theo chiềuhướng thành phần chủ định ngày càng chiếm ưu thế Các hoạtđộng cảm giác, tri giác đạt tới độ tinh tế và nhạy cảm cao Ócquan sát phát triển mạnh Quá trình quan sát có mục đích rõ ràng

và mang tính hệ thống Trí nhớ logic – từ ngữ trừu tượng tăng lên

và chiếm ưu thế Các em đã sử dụng khá phổ biến các phươngpháp ghi nhớ có ý nghĩa Việc học thuộc lòng theo kiểu máy móc ítđược sử dụng, nhiều khi còn bị xem thường Năng lực di chuyển vàphân phối chú ý được phát triển và hoàn thiện một cách rõ rệt Các

em có thể vừa nghe giảng bài, vừa ghi chép và vừa có thể theo dõinội dung suy nghĩ của mình

- Sự phát triển trí tuệ cá nhân được đặc trưng bởi hai yếu tố:

Các thao tác trí tuệ và vốn tri thức, khái niệm, kinh nghiệm cá nhân tiếp thu được Ở lứa tuổi THPT, các thao tác trí tuệ của cá

nhân đạt đến độ trưởng thành Các thao tác trí tuệ của HS THPT cóthể dựa hoàn toàn vào các mệnh đề logic, mà không cần có sựhiện diện của sự vật

Trang 29

+ Sự phát triển trí tuệ của HS THPT đã có sự phân hóa rõ vềgiới tính

+ Do phải làm việc với khối lượng lớn tri thức từ bài giảng của

GV và từ tài liệu học tập nên HS THPT phát triển nhanh khả năngphân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa và và tổng hợp tài liệu líluận Khả năng độc lập và tính phê phán của tư duy cũng pháttriển mạnh Các em có thể độc lập giải thích nguyên nhân, chứngminh hoặc bác bỏ giả thuyết và đưa ra các kết luận theo ý riêngcủa mình về một vấn đề khoa học cũng như trong cuộc sống

Nhìn chung, trí tuệ, tư duy của HS THPT đã đạt đến mức độtrưởng thành

Đặc điểm tâm lý học sinh khi học lịch sử bằng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức

Quá trình nhận thức của học sinh nói riêng và của conngười nói chung là quá trình trong đó học sinh với tư cách là chủthể nhận thức phản ánh thế giới quan vào ý thức của mình, nắmđược bản chất và các quy luật vận động của nó, từ đó biết vậndụng các quy luật đó vào cuộc sống Theo Lênin, quá trình đóphải trải qua nhiều giai đoạn: từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là conđường biện chứng của nhận thức đối với sự vật, của nhận thứcđối với hiện thực khách quan

Nhận thức cụ thể trong học tập lịch sử theo đặc trưng củakhoa học lịch sử, nhận thức của học sinh trong học bộ môn làquá trình nhận thức lại những vấn đề mà các nhà khoa học đãnghiên cứu nhưng học sinh chưa biết, quá trình nhận thức nàyđược đặt dưới sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của người thầy

Các sự vật hiện tượng của lịch sử (thế giới, dân tộc, địa

Trang 30

phương) khách quan phản ánh trực tiếp vào não của học sinhthông qua giác quan Đó là giai đoạn nhận thức cảm tính củahọc sinh, các em sẽ phản ánh một cách trực tiếp và riêng lẻtừng thuộc tính của sự vật, hiện tượng từ đó tạo nên trong óchọc sinh các biểu tượng đã được tri giác trước đó Những biểutượng đó phản ánh những dấu hiệu bên ngoài của các sự vậthiện tượng, nó trở thành cơ sở cho nhận thức lí tính Học sinhbằng tư duy trừu tượng, khái quát tri thức cụ thể tiến hành việchình thành các khái niệm, nắm hệ thống khái niệm Trong giaiđoạn tiếp theo, từ những hiểu biết sâu sắc về lịch sử học sinhvận dụng tri thức đã học để tạo ra tư duy những mối liên hệkiến thức cũ và mới, sử dụng kiến thức quá khứ để hiểu ngàynay, để hành động phù hợp trong thực tiễn, hợp với yêu cầu vàtrình độ, nhiệm vụ của mình.

Việc học tập lịch sử bắt nguồn từ tri giác tài liệu, vì vậy cáctài liệu càng phong phú bao nhiêu càng tạo cơ sở thuận lợi chonhận thức lí tính bấy nhiêu Từ quá trình nhận thức trên, họcsinh sẽ phát triển được các năng lực và thực hành của mìnhtrong quá trình học tập lịch sử, ngoài việc học sinh học tập sâusắc hơn còn luyện tập cho các em trở thành những người có tưduy độc lập, chủ động, tích cực trong suy nghĩ hành động

Việc sử dụng đồ dùng trực quan và ngôn ngữ sinh độngkhông chỉ góp phần tạo biểu tượng chính xác mà còn giúp các

em có cơ sở để hình thành khái niệm, hiểu được bản chất vàmối liên hệ giữa các sự kiện Và như vậy, nếu giáo viên biếtcách sơ đồ hóa kiến thức không chỉ giúp học sinh hình dung, táitạo lại kiến thức đúng như quá khứ đã diễn ra mà còn kích thích

Trang 31

hoạt động nhận thức của học sinh, gây hứng thú và nâng caohiệu quả bài học.

Với đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT, việc vận dụng phươngpháp sơ đồ hóa kiến thức trong DHLS là hoàn toàn phù hợp vớikhả năng nhận thức của các em Những ưu điểm của sơ đồ hóakiến thức giúp các em HS:

+ Phát huy được tính tích cực trong học tập

+ Huy động được tối đa các giác quan tham gia vào quátrình nhận thức, lĩnh hội kiến thức

+ Kiến thức được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, ngắn gọn dễnhớ, Các em dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi

và lĩnh hội kiến thức mới Dùng sơ đồ minh họa tạo hiệu quảtrong một thời gian rất ngắn có thể khái quát được một khốilượng kiến thức lớn, vừa làm rõ nội dung, vừa xâu chuỗi kiếnthức và mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức

+ Với đặc điểm tâm lý ham thích hoạt động đọc sách báo,tranh ảnh, sơ đồ hóa kiến thức sẽ tác động vào “kênh hình” củacác em, sẽ tạo ra sự hứng thú trong giờ học, bài giảng, tiết họctrở nên sôi động Phát triển óc quan sát, tính tư duy của ngườihọc, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm tòi, đón nhận trithức mới, có lòng yêu thích môn học

+ Khi học tập với sơ đồ, các em khám phá tri thức mớitheo trình tự logic, giúp các em hiểu được mối quan hệ giữa các

sự kiện, hiện tượng lịch sử, rút ra được bản chất, quy luật củacác sự kiện, hiện tượng đó Thuận lợi cho quá trình tái hiện lại trithức khi cần thiết

Với những đặc điểm tâm lý và đặc điểm nhận thức nhưtrên, có thể kết luận việc vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến

Trang 32

thức trong DHLS ở trường phổ thông là hoàn toàn phù hợp, cótính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả DHLS.

1.1.4 Quy trình thiết kế các dạng sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Bước 1 Xác định các đỉnh của sơ đồ

Trên cơ sở xác định bài học lịch sử có thể vận dụng phươngpháp sơ đồ hóa kiến thức, giáo viên lựa chọn những đơn vị kiếnthức cơ bản của bài học Mỗi đơn vị sẽ giữ vị trí của một đỉnhtrong sơ đồ, trong nội dung bài học sẽ có nhiều đơn vị kiến thứckhác nhau, có sự liên kết với nhau hoặc có những đơn vị kiếnthức đứng độc lập Vì vậy, việc xác định, định hướng sự liên kếtcủa sơ đồ phải súc tích, ngắn gọn, chính xác, khoa học, dễ hiểu

Ví dụ: Xác định các đỉnh của sơ đồ Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) sẽ bao gồm:

+ Nguyên nhân bùng nổ (nguyên nhân sâu xa, nguyênnhân trực tiếp)

Trang 33

Hình 1.6 Sơ đồ minh họa Bước 1

- Bước 2 Thiết lập các cung

Cung của sơ đồ chính là mối quan hệ giữ các đỉnh của sơ

đồ, đồng thời cũng là mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức cótrong nội dung bài học Cung của sơ đồ có thể được thể hiệnbằng các mũi tên, các đoạn thẳng để chỉ rõ hướng đích của nộidung kiến thức Các cung trong sơ đồ phải đảm bảo tính khoahọc, đảm bảo tình khách quan, tính hệ thống của nội dung kiếnthức

Trang 34

Hình 1.7 Sơ đồ minh họa Bước 2

- Bước 3 Sắp xếp các đỉnh và các cung trên một mặt phẳng

Khi xác định được các đỉnh hay các đơn vị kiến thức và mốiquan hệ giữ chúng, ta có thể sắp xếp các đỉnh trên một mặtphẳng theo một trật tự khoa học, logic Thao tác này sẽ đảmbảo những yêu cầu khi sử dụng sơ đồ, đó là tính khoa học, tínhtrực quan, tính sư phạm Tức là sơ đồ đó đã phản ánh được logic

sự phát triển bên trong của nội dung bài học chưa? Sơ đồ đó có

dễ thực hiện đối với giáo viên không? Có dễ hiểu với học sinhkhông? …Việc thiết kế và xây dựng sơ đồ theo các bước trên sẽđạt được hiệu quả trong quá trình dạy của giáo viên và quátrình học của học sinh Đồng thời với quy trình trên giáo viên cóthể dễ dàng tổ chức cho học sinh lập được các sơ đồ đa dạng,phong phú phù hợp với từng nội dung từng chương, bài, nhómkiến thức có trong bài học

Hình 1.8 Sơ đồ minh họa Bước 3

Trang 35

1.1.5 Ưu điểm khi vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT

So với cách ghi chép truyền thống thì phương pháp sơ đồhóa kiến thức có những điểm vượt trội như sau:

- HS ít phải ghi chép bài, chỉ cần ghi các ý trọng tâm nhấtcủa các sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận, liên

hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằngthị giác, giúp HS rèn luyện khả năng tư duy, suy luận để hiểuđược mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử

- Việc sơ đồ hóa kiến thức giúp HS ôn tập và ghi nhớ kiếnthức lịch sử sẽ hiệu quả và nhanh hơn

- Ngôn ngữ của sơ đồ vừa cụ thể, trực quan, chi tiết, lạivừa có tính khách quan, trừu tượng và hệ thống cao Sơ đồ chophép tiếp cận nội dung kiến thức bằng con đường logic tổng –phân – hợp, tức là cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhậnthức bằng con đường thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành,vừa tổng hợp hệ thống hóa các sự kiện các yếu tố đó thànhchỉnh thể thống nhất cho việc khái quát hóa hình thành kháiniệm khoa học – sản phẩm của tư duy lý thuyết

- Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tínhhoặc thiết kế thủ công (giấy, bút, màu,…)

So sánh cách học truyền thống với các học bằng sơ đồ thìhàm lượng và nội dung kiến thức là như nhau Điểm khác biệtchính là mối liên hệ giữa các ý trong nội dung bài học Việc kếthợp một cách chặt chẽ, logic giữa các ý trong nội dung kiếnthức sẽ giúp người học có một khung kiến thức vững chắc Hơnnữa, theo các nhà khoa học, não bộ con người thường “ưa

Trang 36

thích” ghi nhớ mọi thứ theo chuỗi hơn là ghi nhớ những sự kiệnrời rạc Chính yếu tố này đã tạo nên ưu thế của phương pháphọc theo sơ đồ hóa kiến thức Nắm được cách xây dựng sơ đồ

và vận dụng một cách thành thạo trong học tập là cách tuyệtvời nhất để người học tiếp thu bài học dễ dàng, hiệu quả, nhớlâu, hiểu sâu kiến thức

Bộ môn Lịch sử, với đặc thù nhiều kiến thức, nặng về con

số, sự kiện, học sinh không thể tri giác trực tiếp các sự kiện,hiện tượng đã xảy ra vì vậy sẽ rất khó học, khó nhớ nếu ngườihọc học theo phương pháp truyền thống Nhưng nếu GV và HSvận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy – học lịch

sử sẽ giúp các em tiếp thu bài học dễ dàng, hiệu quả hơn, tưduy học tập lịch sử tốt hơn Các em sẽ nhớ lâu, hiểu sâu kiếnthức, hứng thú trong học tập dù học sinh không phải ghi chépnhiều Đồng thời, qua phương pháp sơ đồ hóa kiến thức giúp HSđược rèn luyện phương pháp tự học, rèn luyện các kỹ năng, tưduy lịch sử từ đó giúp các em hình thành năng lực bộ môn vàcác năng lực chung

Lưu ý: Khi tiến hành sơ đồ hóa kiến thức nên:

- Sử dụng hình ảnh minh hoạ nếu có thể thay cho chữ viếtcho mỗi ý

- Mỗi ý, nếu không thể dùng hình phải rút xuống tối đathành một từ khóa ngắn gọn

- Tư tưởng nên được để tự do tối đa Bạn có thể nảy sinh ýtưởng nhanh hơn là khi viết ra Không nên gò bó HS về hìnhthức sơ đồ, sơ đồ càng sáng tạo càng phản ánh được mức độ tưduy của học sinh và ngược lại

Trang 37

Với những ưu điểm trên, trong dạy – học việc vận dụng sơ

đồ hóa kiến thức đối với GV và HS là rất cần thiết

Ví dụ: Khi dạy – học bài 22 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp, nội dung kiến

thức trong SGK tương đối dài (khoảng 3 tranng giấy), được ghichép theo cách truyền thống, nội dung dàn trải, không thể hiệnđược mối liên hệ giữa những nội dung kiến thức Nếu dạy – họctheo cách truyền thống thì người học sẽ rất khó nhớ, nhàm chán

vì lượng kiến thức nhiều, có khi không thể nhớ hết, không hiểuđược bản chất, mối liên hệ của sự kiện, hiện tượng Dẫn đến họcvẹt, “hiện đại hóa” lịch sử,…Nhưng nếu dạy – học theo sơ đồ,

GV và HS chỉ cần thể hiện 15 – 20% kiến thức cơ bản nhất,trọng tâm nhất trên sơ đồ HS có thể nắm được khái quát toàn

bộ nội dung bài học, với những từ khóa quan trọng nhất, thấyđược mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng để từ đó phân tíchđược bối cảnh, mục đích, nội dung, tác động của chương trìnhkhai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp

Hình 1.9 Sơ đồ hóa kiến thức chương trình khai thác thuộc địa lần

thứ nhất của thực dân Pháp và tác động.

Trang 38

Để HS dễ học, dễ nhớ GV có thể hướng dẫn HS xây dựng

sơ đồ với những hình ảnh và màu sắc sinh động, nội dung gắngọn Trong quá trình các em tìm hiểu tài liệu để xây dựng sơ đồyêu cầu các em phải tóm lược kiến thức thành những từ khóa,

từ đó, giúp các em dễ dàng phân tích kiến thức bằng ngôn ngữ

sơ đồ Với ưu điểm như trên, quá trình xây dựng và sử dụng sơ

đồ sẽ tạo ra sự hứng thú cho học sinh, góp phần nâng cao hiệuquả bài học

1.1.6 Vai trò, ý nghĩa khi vận dụng phương pháp sơ

đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Đặc trưng của dạy học lịch sử ở trường phổ thông là học sinhkhông thể tri giác trực tiếp các sự kiện, hiện tượng của đời sống

xã hội đã qua, nên việc trình bày miệng của giáo viên dù sinhđộng đến đâu cũng khó có thể đem lại một hình ảnh sinh động,

cụ thể, đầy đủ về quá khứ Vì vậy, sơ đồ góp một phần quantrọng trong việc giúp học sinh “trực quan sinh động”, hình dungđược quá khứ khách quan của lịch sử xã hội loài người một cáchchính xác, đưa nhận thức của các em từ “biết” đến “hiểu” sâusắc lịch sử trên cơ sở nẵm vững các sự kiện, hiện tượng, quátrình lịch sử một cách cụ thể, sinh động Từ đó các em hiểu đượcbản chất lịch sử, rút ra được quy luật và bài học lịch sử

Sử dụng sơ đồ là một phương pháp trong hệ thống cácphương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, góp phần thựchiện chức năng, nhiệm vụ bộ môn Cũng như các phương phápdạy học khác, sơ đồ có một vị trí, vai trò quan trọng trong quátrình dạy học lịch sử, thể hiện qua các mặt cơ bản sau đây

1.1.6.1 Vai trò đối với giáo viên

Trang 39

Trong dạy học, kênh truyền tải thông tin là một trongnhững yếu tố rất quan trọng góp phần quyết định số lượng vàchất lượng thông tin Có nhiều loại kênh truyền tải thông tinkhác nhau, lựa chọn sử dụng loại kênh nào là tùy thuộc vào nộidung cụ thể của tri thức và đặc trưng của từng môn học

Đối với lịch sử, một môn học nghiên cứu các sự kiện, hiệntượng lịch sử đã qua của xã hội loài người, thì kênh sơ đồ là mộttrong những kênh có ưu thế lớn, thể hiện:

+ Ngôn ngữ của sơ đồ vừa cụ thể, trực quan, chi tiết, lạivừa có tính khách quan, trừu tượng và hệ thống cao Sơ đồ chophép tiếp cận nội dung kiến thức bằng con đường logic tổng –phân – hợp, tức là cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhậnthức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành, vừa tổng hợp hệthống hóa các sự kiện các yếu tố đó thành chỉnh thể thống nhấtcho việc khái quát hóa hình thành khái niệm khoa học – sảnphẩm của tư duy lý thuyết

+ Sơ đồ cho phép phản ánh trực quan cùng một lúc mặttĩnh và một động của sự vật, hiện tượng theo không gian, thờigian Trong dạy học lịch sử, ưu việt này được khai thác một cáchthuận lợi Mặt tĩnh thường phản ánh cấu trúc xã hội, mặt độngthể hiện sự vận động phát triển kinh tế - xã hội hóa…

+ Ngoài ý nghĩa dạy học to lớn như đã phân tích ở trên, sơ

đồ còn là hình thức diễn đạt nội dung dạy học – một hình thứcdiễn đạt trực quan Việc trực quan hóa các nội dung khoa học

có tính vận động của cơ chế quá trình là không đơn giản vì khi

đó mỗi biểu tượng được dùng đã là kết quả của quá trình giacông trí tuệ bằng các thao tác trừu tượng hóa, khái quát hóa và

hệ thống hóa Do đó, diễn đạt nội dung bằng công cụ “ngôn ngữ

Trang 40

sơ đồ” là chỉ tiêu hết sức quan trọng cho phép qua đó đánh giá

ở mức độ cao sự thông hiểu nội dung kiến thức của chủ thểnhận thức

Ngôn ngữ là sản phẩm của hoạt động tư duy, đồng thời làcông cụ của tư duy Hoạt động nhận thức hướng tới thâu tómđược bản chất đối tượng nghiên cứu Sản phẩm của hoạt động đóchỉ trở thành tri thức của chủ thể nhận thức khi nó được diễn đạt

ra bằng các hình thức ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là hình thức, là vỏcủa nội dung tri thức vừa là chính nội dung tri thức đó chỉ khi giữahình thức diễn đạt và nội dung diễn đạt không mâu thuẫn vớinhau, chập vào nhau thì lúc đó mới có tri thức đúng đắn, mới có lýthuyêt, học thuyết khoa học phản ánh thế giới Không thể cóngôn ngữ trong sáng, súc tích, logic chặt chẽ khi diễn đạt một vấn

đề mà chủ thể không có, không đủ hay không chính xác sự hiểubiết về về vấn đề đó Các quy tắc công cụ của logic là hình thứcgiúp cho chúng ta diễn đạt ý tưởng về một sự vật, hiện tượng Chỉkhi chúng ta sử dụng đúng các quy tắc mới có thể trình bày ýtưởng đúng đắn Có tư liệu về ý tưởng nghiên cứu, đồng thời phải

có kỹ năng xử lý tư liệu mới có thể tạo ra mô hình phản ánh đốitượng Chính vì thế mà qua việc sử dụng sơ đồ trong diễn đạt kiếnthức sẽ giúp giáo viên:

+ Thường xuyên nhận được những thông tin “liên hệ ngược” để điều chỉnh hoạt động dạy.

+ Điều chỉnh tối ưu quá trình tư duy của học sinh

+ Nắm bắt nhanh và chính xác năng lực và trình độ củahọc sinh để điều chỉnh hương pháp dạy học phù hợp

- So với các hình thức ngôn ngữ khác, như ngôn ngữ viết,ngôn ngữ cơ thể…thì ngôn ngữ sơ đồ có ưu điểm rất lớn trong

Ngày đăng: 18/07/2019, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Châu Vân Anh (2010), Sử dụng bản đồ tư duy rèn luyện một số kỹ năng học tập cho học sinh. Tạp chí thiết bị giáo dục, số 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sử dụng bản đồ tư duy rèn luyện một số kỹnăng học tập cho học sinh
Tác giả: Châu Vân Anh
Năm: 2010
3. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của họcsinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
4. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông – Những vấn đề chung, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông –Những vấn đề chung
Tác giả: Bộ Giáo dục – Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục – đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông mônLịch sử
Tác giả: Bộ Giáo dục – đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2008), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 (Dự thảo lần thứ 14), Hà Nội, ngày 28/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục ViệtNam 2009 – 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục – Đào tạo
Năm: 2008
7. Bộ Giáo dục – Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2008), Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học đề tài cấp Bộ trọng điểm, Mã số:B2007 – 17 – 109 TĐ, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổthông hiện nay
Tác giả: Bộ Giáo dục – Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
9. Nguyễn Thị Côi (Chủ trì) (2005), Sử dụng hình ảnh về Chủ tịch Hò Chí Minh trên phần mềm PowerPoint trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông. Đề tào khoa học – Công nghệ cấp Bộ, Mã số: B2004 – 75 – 1003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hình ảnh về Chủ tịch HòChí Minh trên phần mềm PowerPoint trong dạy học lịch sử dân tộc ở trườngphổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (Chủ trì)
Năm: 2005
10. Nguyễn Thị Côi (2007), Làm như thế nào để học sinh nắm vững kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông?, Tạp chí Giáo dục, số 172, tr.29 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm như thế nào để học sinh nắm vữngkiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 2007
11. Nguyễn Thị Côi (2008), Một số phương hướng, biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 202, tr.37 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương hướng, biện pháp nâng caochất lượng dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w