Dođặc tĩnh của cây vải chín sớm rất ít vùng trồng được, vì vải chín sớm đòi hỏiphải phù hợp với đất đai và các chế độ thời tiết đặc biệt như: chế độ nhiệt thấpmới phân hoá mầm hoa và ẩm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRÂN VẢN TÚ
NGHIÊN CỨU MỘT số GIẢI PHÁP NHAM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VẢI CHÍN SỚM
TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC sĩ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRổNG TRỌT
Mã sô: 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM TIẾN DŨNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn
là trung thực và chưa được sử dung để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mội sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồngốc
Hà Nội, tháng 8, năm 2009
Tác giả
Trần Văn Tú
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Phạm Tiến Dũng người đã tậntình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoànthành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Hệ ThốngNông nghiệp - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đãnhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gianthực tập
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo, tập thể cán
bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Phòng NN&PTNThuyện Tân Yên đã góp ý, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân,anh em, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn ủng hộ, động viên và tạo điềukiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 8, năm 2009
Tác giả
Trần Văn Tú
Trang 42.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất
2.4 Ánh hưởng của một số loài sâu bênh hại chính đối với sản xuất vải 26
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Tân yên 34
Trang 54.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.2.4 Tiềm năng, hạn chế đối với sản xuất vải của huyện Tân Yên 544.3 Khả năng đầu tư và kỹ thuật canh tác vải ở các vùng nghiên cứu 56
4.3.2 Kết quả điều tra về thời gian bón và phương pháp bón phân 604.3.3 Kết quả điều tra về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong
4.3.4 Kết quả điều tra về tình hình sâu bệnh hại vải ở các vùng
4.4.4 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến đường
4.4.5 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khối
4.4.6 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến thời
4.4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh hoá của quả 78
Trang 64.4.8 Đánh giá tình hình sâu bệnh của các công thức
4.4.9 So sánh ảnh hưởng của các công thức phân bón lá tới các chỉ
4.4.10 Hạch toán hiệu quả sản xuất của các công thức sử dụng các
4.5.3 Đánh giá về tình hình tiêu thụ vải thiều sớm của huyện Tân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới 92.3 Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam 10
2.5 Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây 20
4.3 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện và 3 xã vùng nghiên cứu 404.4 Hàm lượng một số chất dinh dưỡng của đất bạc màu phát
4.5 Hiện trạng các loại đất trồng vải của huyện Tân Yên 424.6 Dân số và lao động của huyện Tân Yên năm 2007, 2008 434.7 Diện tích, năng suất và sản lượng vải của tỉnh Bắc Giang 48
4.11 Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải ở các
4.12 Kết quả điều tra về thời gian bón phân và phương pháp bón
Trang 84.13 Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong thâm canh vải
của các hộ nông dân ở các vùng nghiên cứu năm 2008 634.14 Tinh hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả ở các
4.15 Kết quả điều tra về mức độ đầu, thu nhập và hiệu quả sản
4.16 Ánh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng ra
4.17 Ánh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến số quả đậu
4.18 ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các yếu tố cấu
4.19 Ánh hưởng của các loại phân bón lá khác nhau đến đường
4.20 So sánh ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến khối
4.21 So sánh các công thức sử dụng phân bón qua lá ảnh hưởng
4.22 Ánh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các chỉ tiêu sinh hoá 794.23 Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân qua lá đến
4.25 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân qua lá 83
Trang 9DANH Mưc HÌNH
4.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Yên năm 2008 38
4.2 vải tươi XK sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai năm 2009Errorỉ Bookmark
4.3 Xe lạnh vận chuyển tiêu thụ vải tại chợ đầu mối xã Phúc Hoà
4.4. Điểm cân vải năm 2009 Error! Bookmark not defined.
4.5 Người dân đi cân vải mùa vải tháng 6/2009Error! Bookmark not defined.
4.6 Cở sở hạ tầng giao thông tại vùng trồng vải tập trung xã Phúc
4.7 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ đậu quả của các công thức bón phân
4.8 Biểu đồ biểu diễn khối lượng quả của các công thức bón phân 74
4.9 Biểu đồ biểu diễn năng suất thực thu của các cồng thức bón
4.10 Biểu đồ biễu diễn hàm lượng đườníĩ tổng số và HL vitamin c
4.14 Mẫu mã quả ở công thức đối chứng Error! Bookmark not defined.
viii
Trang 101 ĐẶT VÂN ĐỂ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây vải (Litchi sinensis Sonn), là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới
đặc sản của Việt Nam Trong thành phần của quả vải có chứa các chất có giá trịkinh tế cao như: đường dễ tiêu, vitamin B, c, phốt pho, sắt, canxi Trên thịtrường thế giới, quả vải được xếp sau dứa, chuối, cam quýt, xoài, bơ về chấtlượng vải là cây ăn quả được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, giàu chất bổđược nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài ăn tươi còn đượcchế biến như sấy khô, làm rượu vang, đồ hộp, nước giải khát Ngoài ra hoa vảicòn chứa một nguồn mật rất tốt, cây vải có tán lá xum xuê quanh năm có thểdùng làm cây cảnh, cây bóng mát, cây chắn gió, chống xói mòn
Quả vải có tính cạnh tranh lớn là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ caođối với nhiều nước Vải chín sớm có ưu thế là loại cây dễ trồng có thể chịuđược hạn nên có thể sinh trưởng tốt trên đất đồi Nhiều tỉnh như: Bắc Giang,Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ đã và đang có kế hoạch đẩy nhanh việctrồng vải với diện tích rất lớn
Hiện nay, diện tích cây vải chín sớm của huyện Tân Yên đã tăng lên
1788 ha vải cho thu hoạch, sản lượng không ngừng tăng năm 2008 đạt 12.500tấn Trong đó nhóm vải chín sớm đạt 8.000 tấn Cây vải là loại cây ăn quả chủlực chiếm diện tích lớn nhất trong cơ cấu cây ăn quả hiện nay của huyện Dođặc tĩnh của cây vải chín sớm rất ít vùng trồng được, vì vải chín sớm đòi hỏiphải phù hợp với đất đai và các chế độ thời tiết đặc biệt như: chế độ nhiệt thấpmới phân hoá mầm hoa và ẩm độ không khí khô ở giai đoạn nở hoa thì mớiđậu quả Huyện Tân Yên được thiên nhiên ưu đãi có đất đai và điều kiện thờitiết phù hợp cho vải chín sớm sinh trưởng, phát triển Những năm gân đây, câyvải chín sớm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần rất lón vào công cuộcphát triển kinh tế trang trại của huyện
Trang 11Tuy nhiên, hiện nay do sản lượng vải ngày một tăng, chất lượng vải khôngđược cải thiện nhiều, thị trường tiêu thụ vải không được chú ý mở rộng, nên giá bánthấp, giá trị thu nhập của người sản xuất không ổn định Nguyên nhân chính là dochưa có quy hoạch vùng trồng cây vải thích hợp cho năng suất và chất lượng tốt.Việc áp dụng sản xuất vải an toàn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chưa được quan tâm,công tác xúc tiến thưong mại quảng bá sản phẩm chưa được chú ý thực hiện.
Với xu thế hội nhập của nền kinh tế thị trường đang ngày càng đòi hỏicác sản phẩm có chất lượng cao, có sự đảm bảo về chất lượng, giá cả ổn định.Chính vì vậy, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho vùng sản xuất vải của BắcGiang nói chung và vải chín sớm huyện Tân Yên nói riêng phải xác định đượctên tuổi và chỗ đứng trên thị trường trong nước cũng như thị trường nướcngoài, tăng cường lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy việc phát triển một loại cây cógiá trị kinh tế tăng thu nhập cho người dân Để góp phần nâng cao năng suất,chất lượng và hiệu quả sản xuất của cây vải trong thời gian tới, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: " Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ” là việc làm
cần thiết tạo cơ sở cho việc thực hiện xây dựng vùng sản xuất vải chín sớmhàng hoá có thương hiệu trên địa bàn huyện Tân Yên
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài.
1.2.1 Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc sản xuất và tiêu thụ vải chín sớmcủa huyện, đề xuất một số giải pháp mới nhằm nâng cao năng suất, phẩm chấtvải chín sớm của huyện trong thời gian tới, đồng thời góp phần nâng cao thunhập từ sx vải của người dân
Đề tài sẽ giúp cho Huyện uỷ, UBND huyện Tân Yên có chiến lược đầutưu phát triển vùng vải chín sớm hàng hoá đủ sức cạnh tranh trên thị trườnggiai đoạn 2010-2015
Trang 12- Đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng hiệu quả sx vải sớm của huyệntrong thời gian tới.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
về cây vải sớm tại huyện Tân Yên và các vùng trồng vải sớm tại tỉnh BắcGiang nói chung
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khókhăn trong sản xuất vải hiện nay như: năng suất chưa cao, vấn đề sâu bệnh,vấn đề lạm dụng thuốc trừ sâu, mẫu mã, chất lượng vải chín sớm chưa đạt yêucầu của thị trường dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp
- Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuậtđưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp cho vùng vải chín sớm của huyện,
Trang 13nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thịtrường tiêu thụ trong nước và ngoài nước, góp phần nâng cao giá trị sản xuấtvải chín sớm của người dân trồng vải của huyện.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp Huyện uỷ, ƯBND huyệnTân Yên quy hoạch và có chính sách phát triển vùng trồng vải sớm hàng hoá,tập trung an toàn chất lượng có thương hiệu trên thị trường trong thời gian tới
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung vê cây vải
2.1.1 Nguồn gốc và phân bô cây vải
Cây vải (Nephelium litchi, Litchi chinensis Sonn); thuộc Chi: Vải
Litchi; Họ: Bồ hòn Sapindaceae; Bộ: Bồ hòn Sapindales; Phân lóp: Hoa hồngRosidae; Lóp: Ngọc lan Dicotyledoneae (Magnoliopsida); Ngành: Ngọc lan
Magnoliophyta (Angiospennae)
Theo Menzel (2002) [69] và Hoàng Thị Sản (2003) [31] thì họ Bồ hòn
có 150 chi với trên 2000 loài Ớ Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi
và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứsinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn,chôm chôm [40] về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh,
lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏngmàu đỏ hồng hay đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt
Theo FAO (1989) [65] theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thờigian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miềnNam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia
Theo Trần Thế Tục (2004) [46] nguồn gốc cây vải có ở giữa miền NamTrung Quốc và miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malaisia Người ta thấy vải dạimọc trong rừng 4 tỉnh phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo HảiNam và có nơi vải dại mọc thành rừng trên diện rộng và theo điều tra của cácnhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyệnBác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏcây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [30, Tr.5-6]
Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân
bố từ 18-19° vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng,
Trang 15trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [46] Theo các tài liệu lịch
sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuộc vải là một trong những cống vậthằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa [22], [47] Cây vảidại cũng đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác
Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải [22]
Ngày nay, trên thế giới khoảng trên 20 nước trồng vải [30], [47] Châu
✓ ,
A có: Trung Quốc, An Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia,Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanka, Nhật Bản, Ixrael
Châu Mỹ: Hundurat, Panama, Cuba, Tsinidat, Brazil, Jamaca
Châu Phi: Nam Phi, Madagatca, Rêunyniong, Gabông, Cônggô
Châu Đại Dương: Austraylia, Newzilan
Ớ Việt Nam, cây vải được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quantâm, cây vải đã và đang được phát triển mạnh và đã hình thành một số vùngtrồng tập trung như Phúc Hoà -Liên Sơn - Cao Thượng (Bắc Giang), Thanh Hà -Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ - Phú Lương (TháiNguyên) Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên-Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây nguyên nhưĐăk Nông, Đăk Lăk, Kontum [48]
2.1.2 Các giông vải chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.2.1 Trên thế giới
Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượnggiống vải nhiều nhất Tuy vậy trong số hơn 100 giống vải được trồng ở TrungQuốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hóa, ởmỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực
ơ An Độ CÓ khoang 50 siông vái được trồng ớ các bang khác nhau, ơBang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của Ấn Độ Những giống cho năngsuất và phẩm chất tốt ở Ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China,Bedana
Trang 16TT Tên nước Các giông vải chính
1 Ấn Độ Shahi, Rose Seented, Calcuttia, Bedana, Longia, China
2 Úc Fay Zee Siu, Taiso, Bengal, Waichee, Kwaimay pink
6 Thái Lan Taiso, Waichee, Baidum, Chacapat, Kom
7 Trung Quốc Fay Zee Siu, Bahlwp, No mai chee, Souey Tung, Taiso
Nguồn: Menzel (1995, 2002) 2.1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối, xéttheo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thờigian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sớm, chính vụ, chín muộn
- Nhóm vải chua (hay còn gọi là tu hú): cây cao lớn (khoảng 20 m) lá
to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đều phủ mộtlớp lông đen Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏquả mầu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rấtchua, tỷ lệ cùi chiếm 60- 65% trọng lượng quả Ớ nước ta hiện còn ở các tỉnhtrung du và miền núi nhu Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang,
- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường cao 5 - 10 m, dạngtrứng, lá thường to, cây sinh trưởng khoẻ, chùm hoa không có lông đen, nhưnghoa mọc thưa hơn vải chua quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn
Trang 17nhóm vải thiều Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34 g [46], [2].
- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ,phiến lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi rahoa chùm hoa không phủ lớp lông đen mà có màu trắng vàng, chín chính vụ(tháng 6) Trọng lượng trung bình của quả 18 - 25 g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dàycùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên [46], [2]
2.1.3 Tình hỉnh sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giói và ở trong nước
2.1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng251.000 tấn Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1.95 triệu tấn.Trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng 1,75triệu tấn, (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới) TrungQuốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về diện tích vàsản lượng Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là 584.000 ha và sảnlượng là 958.700 tấn [68]
Sau Trung Quốc thì Ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích
và sản lượng vải Theo Ghosh (2000) [66], đến năm 2000, diện tích là 56.200
ha và sản lượng đạt 428.900 tấn các vùng trồng vải chủ yếu của An Độ làWest Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn), Bihar (310.000 tấn) UttarPradesh (14.000 tấn)
Châu Phi có một số nước trồng vải theo hướng sản xuất hàng hóa làNam Phi, Madagatca, Moritiuyt, Renyniong trong đó Madagatca có sản lượnglớn nhất khoảng 35.000 tấn [48] Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thếgiới- FAO (2002) [71] [72] và báo cáo của X Huang, L Zeng H.B Huang[67], R J Knigh (2000) [68]
Diện tích và sản lượng của một số nước trên thế giới được thể hiệntrong bảng 2.2
Trang 18Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng vảicủa một sô nước trên thê giới
TT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Huang Y L., H B Huang Lychee and Lonqan production in China.
Các nước xuất khẩu vải trên thế giới rất ít, chủ yếu vẫn là Trung Quốc.Hiện nay vải Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng, đặc biệt
là các giống vải tốt đều tập trung ở nơi đây Thị trường tiêu thụ vải lớn trên thếgiới phải kể đến đó là Hồng Kông, Singapore, hai thị trường này nhập vải chủyếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan
2.1.3.2 Tình hình sán xuất và tiêu thụ vải trong nước
Ở Việt Nam cây vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm Vùng phân
bố tự nhiên của cây vải ở Việt Nam từ 18 - 19° vĩ Bắc trở ra Vải được trồngchủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, qua nhiều năm đã hình thành các vùng trồng vải
có diện tích tương đối lớn Năm 2000, diện tích vải của Việt Nam đạt trên20.000 ha, trong đó có 13.5000 ha đang cho thu hoạch với năng suất 2 tấn/ha.Sản lượng khoảng 25.000 - 27.000 tấn quả tươi [4]
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến năm 2004 diện tích trồngvải của cả nước đạt 102.300 ha, sản lượng 305.000 tấn (chiếm 13.69% diệntích và 16.62% sản lượng các loại quả trong cả nước) Giống trồng phổ biến
là giống vải thiều Thanh Hà (chiếm 95% diện tích) Tập trung nhiều ở cáctỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, HàTây, Diện tích và sản lượng vải ở một số tỉnh nước ta được thể hiện trongbảng 2.3
Trang 19Địa phương Tổng diện
tích
Diện tích cho sản phẩm
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
Trang 20(Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả (2004) Số liệu thống kê về cây ăn quả tài
liệu tổng hợp và lưu hành nội hộ)
Như vậy Bắc Giang là tỉnh có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước vớidiện tích 34.923ha chiếm 34,14% diện tích, sản lượng 158.774 chiếm 52,06%sản lượng vải của cả nước Đến năm 2008 diện tích trồng vải ở Bắc Giang đãlên tới 39.945ha
Khoảng 70% sản lượng vải của nước ta hiện nay được tiêu thụ ngaytrong thị trường nội địa Phần còn lại được xuất khẩu chủ yếu là sang TrungQuốc, Hồng Kông, Đài Loan, ngoài ra một lượng vải nhỏ còn xuất khẩu sangmột số nước trong khu vực và thị trường Châu Âu Đại đa số vải được tiêuthụ dưới dạng quả tươi, một số ít được sấy khô hay đóng hộp, chế biến nướcgiải khát [63]
2.1.33 Tình hình tiêu thụ và chế hiến vải
Quả vải được tiêu thụ trên thị trường dưới hai dạng chính là quả tươi vàmột số sản phẩm chế biến chủ yếu là dạng vải sấy khô nguyên quả Trong
những năm mất mùa thì vải được tiêu thụ đáp ứng nhu cầu ăn tươi là chủ yếu;những năm được mùa, sản lượng lớn, lượng vải đưa vào sấy khô thường chiếmtrên 50% tổng sản lượng vải của tỉnh Một số sản phẩm chế biến khác từ vảinhư cùi vải đóng hộp, cùi vải lạnh đông, rượu vang vải nhưng với sản lượngnhỏ, hàng năm chỉ chiếm 3 đến 5% tổng sản lượng vải của tỉnh
Thị trường tiêu thụ vải hiện nay ngoài thị trường trong nước còn lại chủ yếu
là xuất khẩu sang Trung Quốc Hàng năm, lượng vải xuất bán sang Trung Quốcchiếm tới trên 80% tổng lượna vải sấy khô và trên 30% lượng vải tiêu thụ tươi củatỉnh Như vậy, Trung Quốc hiện nay vẫn là thị trường chính tiêu thụ vải thiều củatỉnh Tuy nhiên, quan hệ xuất khẩu vải sang Trung Quốc hiện nay vẫn chủ yếu làquan hệ biên mậu và xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch nên giá cả không ổnđịnh, tác động lớn đến sản xuất của nông dân và các nhà thu mua chế biến
2.2 Các nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây vải
Sự ra hoa đậu quả của vải được quyết định bởi đặc tính của giống, songchúng cũng chịu sự chi phối nhiều của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,
ẩm độ, ánh sáng, đất đai
2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sinhtrưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quânnăm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 26°c thì cóphản ứng tốt Giống chín sớm là ở 4°c, giống chín muộn là ở 0°c thì ngừngsinh trưởng dinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 10°c thì khôi phục sinh trưởng,nhiệt độ từ 10 - 12°c cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 21°c cây sinh trưởngtốt, ở nhiệt độ 23 - 26°c là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất
Vì thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, do vậynhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởngsinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sựphân hóa cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thủycủa lá, thiên hướng về sinh thực
Trang 21Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải ở Trung Quốcqua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngàycủa tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng
có mối tương quan nghịch R= - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệhoa cái càng cao [30]
Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và cành lá vải Khinhiệt độ đất từ 10 - 20°c, rễ hoạt động mạnh, từ 23 - 26°c, rễ hoạt động thích
hợp nhất Cành lá vải họat động mạnh từ 24 - 32°c Nhiệt độ quá cáo hoặc quá
thấp đều không có lợi cho mầm cành [48]
2.2.2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 -1700
mm, lượng mưa thích hợp nhất là 1.500 mm mỗi năm Độ ẩm không khí là 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Câyvải yêu cầu lượng mưa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng, trong những thángmưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khácnhư nhãn, xoài nhưng có khă năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11-12 cây vải cần
75-có thời tiết khô và rét để phân hóa mầm hoa [12]
Theo tác giả Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [29], nhân tố mưa ảnhhưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân hóa trục chùm hoa, thời kỳphân hóa hoa, đủ nước thì tổng số hoa/ chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng
số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng Mưa nhiều trongthời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫnđến mất mùa
Theo Trần Thế Tục cây vải yêu cầu nước qua các thời kỳ như sau:
Thời kỳ phân hoa mầm hoa: yêu cầu đất khô, không có mưa để ức chếsinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực
Thời kỳ ra hoa: đất đủ ẩm, gặp hạn thời gian ra hoa chậm, nếu gặp hạnthì phải tưới
Thời kỳ tăng trưởng quả: cung cấp đủ nước, nếu gặp hạn phải tưới
Trang 22Chỉ tiêu
Mức độ thích nghiRất thích
ít thíchhợp
Không thíchhợp N
Trang 23Nguồn: Viện Nghiên cứu Rau Quả - Báo cáo tuyển chọn vải chín sớm
Ghi chú: N,: Rất thích hợp; N2: Thích hợp; N3: ít thích hợp; P: Đất phùsa; Pa: Đất đỏ vàng trên đá mac ma axít; Fs: Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét vàbiến chất; F : Đất nâu vàng trên phù sa cổ; F : Đất vàng trên đá cát; Fk: Đất nâu
đỏ trên mac ma bazơ và trung tĩnh; Fv: Đất nâu đỏ trên đá vôi
Theo Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính (1997) [48] Cây vải có tínhthích nghi cao với điều kiện đất đai có thể trồng vải trên nhiều loại đất Đấtbãi ven sông là loại đất phù sa tĩnh có lý hóa thích hợp với vải, độ ẩm tốt, nên
ở đây cây vải sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng cao, chất lượng tốt Độ pHthích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải là 5,5 - 6,5
2.2.3 Gió
Gió có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí, nâng cao hiệu suất quanghợp, giảm bớt sâu bệnh Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp, gió có tác dụng hỗ trợcho truyền phấn thụ tinh, mùa hoa kị gió tây bắc và gió nam qua đêm, gió tây
sẽ làm cho đầu nhị khô ảnh hưởng đến thụ phấn, gió nam qua đêm oi nóng, ẩmướt dễ làm cho hoa héo dẫn đến rụng hoa
2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và
chất lượng cây vải
2.3.1 Những nghiên cứu về các chất điều hòa sinh trưởng trên cây vải.
Các chất điều hoà sinh trưởng là những chất có thể điều khiển quá trìnhsinh trưởng của cây như: kích thích, ức chế qua trình ra lá, ra hoa, đậu quả, ra rễ Để nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất người ta có thể phun trực tiếp lên từng
bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở nồng độ và thời gian khác nhau
2.3.1.1 Các chất kích thích sinh trưởng
Các chất sinh trưởng bao gồm các nhóm chất Auxin, Gibberellin vàXytokinin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quảnon Chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng độ thấp và chiphối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan sinh dưỡng [13]
Trang 24Auxin tổng hợp đã được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải
ở Florida và Hawai (Mỹ) vào những năm 1950 - 1960 Khan và cộng sự(1976) đã dùng GA3 100 ppm, NAA 20ppm, 2,4,5 TP 10 ppm phun lên giốngvải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả [64] Trêngiống Early, GA3 50 ppm có tác động giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăngkích thước của quả [75]
Để làm giảm kích thước hạt Kadman và Gzit (1970) sử dụng 2, 4, 5 Trichlorophenoxy propionic acid (2,4,5 - TP) làm cho hon 75% quả vải có hạtnhỏ Tuy nhiên, khi hoa nở, xử lý 2, 4, 5- TP lần thứ nhất sau đó phun phốihợp 2, 4, 5 - TP và GA3 thì 50 - 100% quả lớn hơn khi chỉ xử lý 1 lần trước đó,
-và 90-100% quả không có hạt
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004) [33] trong việc nghiên cứu làm tăng
tỷ lệ đậu quả và rải vụ thu hoạch đã phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8năm tuổi với nồng độ 15, 30, 75 ppm hoặc 20, 40, 100 ppm (vào các thời điểmhoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) đã làm tỷ lệ đậu quảtăng từ 2,78% lên 4,92 - 5,05% quả to hon mã đẹp hon, tỷ lệ nứt vỏ giảm tỷ lệphần ăn được tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85% năng suất tăng từ 51% - 59%
Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [24] về việc sửdụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản quả tươi bước đầucho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là Kiviva làmtăng tỷ lệ đậu quả (tăng 10% so với đối chứng) Thấy rụng quả (nếu phun 2lần lúc hoa nở rộ và sau đó 10 ngày) Làm tăng kích thước quả vải và cải thiệntình trạng vỏ quả (Phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày) Làm chậm chín 10 ngày
so với đối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả đạttối đa và đang bước vào giai đoạn chín)
Theo Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi xử lý GA3 khi xử lý GA3 4 lầntrong quá trình phát triển của quả cho két quả tốt nhất Tỷ lệ đậu quả tăng20,28%, khối lượng trung bình quả tăng 12,18%, tỷ lệ ăn được tăng 19,19% vànăng suất tăng 21,76% so với đối chứng
Trang 252.3.12 Những nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng
Sự sinh trưởng phát triển của cây được bảo đảm bởi hai tác nhân có tácdụng sinh lý đối lập nhau: tác nhân kích thích và tác nhân ức chế Sự cân bằnggiữa các chất kích thích sinh trưởng và các chất ưc chế sinh trưởng có một ýnghĩa rất quyết định trong việc điều hòa sinh trưởng gồm axít abxixic (ABA),Ethylen, các phenol
Phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệhoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Nồng độ Ethrel thíchhợp là 1000 ppm Phun kết hợp Ethrel với GA3 và Oxyclorua đồng ở diện rộngtăng năng suất 12% Phun chất điều hòa sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đềulàm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất cây vải [13].Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel có tác dụng diệt lộc đông, khốngchế việc ra lộc đông của cây vải, kìm kãm sinh trưởng, xúc tiến phân hóa mầmhoa giúp cây vải ra hoa đậu quả tốt hon Theo Phạm Minh Cương, 2005 [14].Phun Ethrel ngoài tác dụng ức chế sinh trưởng, kích thích phân hóa mầm hoa vải
nó còn làm tăng tỷ lệ hoa cái chống nút quả làm cho quả chín sớm [28]
Ớ Trung Quốc một trong các biện pháp để khắc phục những nhân tốhạn chế trong việc sản xuất là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 đế ức chếsinh trưởng và thúc đẩy phân hóa mầm hoa (Zhuiyuab Huang, Yungu Zhang,Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai và YunLi) (2000) [77] Theo NivimalaRambum khi phun Paclobutazol 5000 ppm+ Ethrel 1000 ppm có thể làm tăngkhả năng ra hoa của giống Taiso trồng ở Mauritius [75]
Năm 1984 Khâu Tự Đức (Trung Quốc) dùng Malein hydrazit (MH)1000-1500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đã làm cho quả vảiHoài Chi bé lại hiệu quả đạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [30].Điều này giống như kết luận của Đào Quang Nghị (2005) [28] Xử lý Maleinhydrazit bằng cách phun lên tán cây ở thời điểm sau khi tắt hoa 10 ngày có xuhướng làm giảm khối lượng quả, nhưng khối lượng hạt nhỏ đi nhiều và tỷ lệ ănđược cũng tăng lên so với đối chứng
Trang 26Các chất điều hòa sinh trưởng hiện nay có rất nhiều loại cùng một tácdụng kích thích hoặc ức chế nhưng đối với từng loại cây trồng, từng giai đoạnsinh trưởng phát triển khác nhau không phải lúc nào cũng cho tác dụng nhưnhau [28] Ta có thể sử dụng đon lẻ hay phối hợp để kích thích hay ức chế quátrình sinh trưởng và phát triển của cây nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho con người
2.3.2 Những nghiên cứu về tạo hình cắt tỉa và tác động cơ giói
Theo kết quả nghiên cứu của C.M.Menzel (1998) [70] ở Austraylia chobiết cắt khoanh vỏ một đường rộng 0,3 cm trên cây vải 3 - 10 tuổi làm tăngnăng suất 15 - 40kg/cây Ớ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) năm 1994 người
ta tiến hành cắt khoanh vỏ theo hình xoắn ốc trên gốc cây của 2 giống vải cótính ra hoa rất chậm (cây dưới 10 năm chưa bói quả) đã làm cho chúng rahoa sớm
Theo Đỗ Xuân Bình (2003) [6] khoanh thân kết hợp với phun Ronstar
va Ethrel có hiệu quả cao trong việc xử lý những cây vải không ra hoa vào vụxuân, làm cho 100% số cây ra lộc đông đều ra hoa và đậu quả, có số quả đậutăng 2,6quả/chùm và năng suất tăng từ 15,8 - 20,5kg/cây
Cắt tỉa cành ngoài việc tạo cho tán cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnhhại, thuận lợi chăm sóc còn nhằm mục đích điều hoà sự sinh trưởng ra hoa vàkết quả của cây Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] ở cây vải thì có 3 lần cắt tỉatạo cành đó là tạo cành cấp 1, tạo cành cấp 2 và tạo cành cấp 3, cành cấp 3 lànhững cành tạo quả và mang quả cho những năm sau, các cành này khôngđược giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp đượctốt Ngoài cắt tỉa cành cắt tỉa hoa có ý nghĩa rất lớn đối với năng suất chấtlượng quả Theo Phùng Quốc Hưng (2006) [23] cắt tỉa để lại 15 nhánhhoa/chùm đã làm tăng năng suất của giống vải thiều 4,83%
Theo Phạm Minh Cương và cộng sự (2005) [14] thì tỷ lệ ra hoa cao ởphương pháp khoanh xoắn ốc với tỷ lệ 92%, đồng thời với số quả đậu cao nhất
Trang 27đạt tỷ lệ 86% trong khi đó khoanh vòng tròn chỉ đạt 42% và so với đối chứng
là 26% Do vậy khoanh vỏ có tác dụng làm tăng số cây ra hoa đồng thời tăng
số cây có quả đậu
2.3.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng
2.33.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải
Những nghiên cứu về sinh lý và dinh dưỡng của cây vải cho đến nay cóthể nói là còn ít, nhiều vấn đề chưa được làm rõ ví dụ muốn có 100 kg quả thìcần bón bao nhiêu đạm, lân, kali, tỷ lệ ra sao, bón vào thời kỳ nào, chưa
có công trình khoa học nào công bố đầy đủ Chỉ thông qua việc phân tíchthành phần dinh dưỡng trong quả trong lá rồi từ đó suy luận ra Qua phân tíchquả và lá cho thấy cây vải cần nhiều K, sau đó đến đạm và lân Ớ lá cây cầnnhiều N sau đó đến Mg và K Tỷ lệ N: P205: K20: CaO: MgO ở trong lá là7,8: 1: 4,6: 2,3: 2,5 còn ở trong quả là 1,6: 1,9: 5,3: 1,3: 1 nhìn chung cây vảicần nhiều N và K [47]
Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự pháttriển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao năng suất,phẩm chất quả Bón dủ đạm cành quả phát triển nhiều, là cơ sở để đạt năngsuất cao Nhưng nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cành lá phát triển quả mạnh,ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa, gây nên rụng hoa, rụng quả, sản lượngthấp và phẩm chất kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Nếu thiếu đạm các đợtlộc phát sinh không đúng lúc mọc yếu, lá cành bé, có màu vàng, rụng hoa vàrụng quả nhiều
Lân thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thànhthục của hạt, thúc đẩy ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút tăng cường khả năngchống hạn, chống rét cho cây, nâng cao phẩm chất quả, hạn chế tác hại củabón thừa đạm
Kali trong các mô thực vật tồn tại dưới dạng ion ngậm nước giúp cho cấutạo các mô thêm cứng cáp Việc vận chuyển các sản phẩm quang họp đến các
Trang 28tổ chức của cây được thuận lợi Kali làm tăng tính đề kháng của cây như chịuhạn, chịu nóng, chịu lạnh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp quả lớnnhanh và thành thục, tăng phẩm chất, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả.
Theo nguyễn Văn Dũng, phun B 0,1% + urê (46%)0,50% tăng cường đượckhả năng giữ quả, tăng hàm lượng đường tổng số, giảm tỷ lệ axít do đó nâng caophẩm chất quả vải Để tránh hiện tượng quả vải ra cách năm thì cung cấp đủ dinhdưỡng cho cây qua 2 con đường (qua đất và qua lá) là hết sức quan trọng
2.3.32 Những nghiên cứu về phân bón qua đất
Cây vải cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng để tạonên sản phẩm qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chấtdinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm sút năngsuất và phẩm chất sản phẩm Nhưng nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinhtrưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm và đồngthời còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [13]
Theo Trần Thế Tục (2004) [46] bón phân cho vải những năm trước lúc
ra hoa rất quan trọng và sau khi trồng 1 tháng lúc cây đã bén rễ hồi xanh là đã
có thể bón cho cây Lúc này cây còn nhỏ, nên bộ rễ chưa phát triển khả nănghấp thụ của cây còn yếu có nhiều đợt lộc trong năm nên cần bón ít, nồng độloãng và cần chia làm nhiều lần
Ớ thời kỳ cây cho quả lượng phân bón và thời kỳ bón cho vải là hết sứcquan trọng vì đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để nâng caonăng suất của vải
Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần chính trong năm
Lần 1: Bón thúc hoa và nuôi lộc xuân (6/1-20/1) bón 25% đạm urê,25% kalicloma và 30% lân supe
Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả khi quả
có đường kính bằng viên bi (đường kính khoảng 0,4 cm) bón 25% đạm urê,50% kaliclorua và 30% lân supe
Lần 3: Bón sau thu hoạch 15 ngày nhằm thúc cành thu lúc này kết hợp
Trang 29Tuổi cây
(năm)
Lượng phân bón (kg cây/năm)
p chuồng Đạm Urê Lân Supe Kali clorua
Nguồn:Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng phát triển
Châu á (2002), sổ tay kỹ thuật trồng và chăm sóc một sô loại cây ăn quả Dự án phát triển chè và cây ăn quả.
2.3.33 Những nghiên cứu về phân bón qua lá
Ngoài khả năng hút dinh dưỡng từ đất qua rễ cây trồng còn có khả nănghút dinh dưỡng qua lá Cây tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tíchbằng 15- 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ Chất dinh dưỡng được bónqua lá chỉ có thể vào mô lá qua các lỗ khí khổng Như vậy bón phân qua lávào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì hiệu quả đạt cao nhất [11]
Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp chất lân còn giúp cho câychịu đựng được một số vấn đề như hạn hán, bệnh tật và mật độ cây cao Phânbón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như đạm, lân, và các chất vilượng như Fe, Zn, Cu, Bo, Mn, Mg và cả các chất kích thích tố Sử dụng phânbón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao
vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 -50% phân bónđược hấp thụ ở rễ
Trang 30Mặt khác, bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiệnhạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt là conđường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng hồi phục Phun phân bón lákhông chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn có tác dụnglàm tăng phẩm chất nông sản.
Đối với cây vải khi hoa tàn là lúc cây huy động rất nhiều chất dinhdưỡng, sau khi hoa tàn lúc này cây đang khủng hoảng về dinh dưỡng vì vậyviệc bổ sung kịp thời dinh dưỡng là việc làm cần thiết Vào thời điểm này bộ
rễ hoạt động kém vì bị ức chế do hoa nở rộ đất thiếu nước vì thế khi bón phân
rễ chưa có điều kiện hấp thu ngay được việc phun dinh dưỡng lên lá lúc này lànhằm bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây đê giảm bớt rụng quả sinh lý
Theo kết luận của Đỗ Văn Ái (2004) [1] khi sử dụng chế phẩm phânbón lá VACVINA-KB1 cho cây vải đã làm tăng khả năng tích lũy các nguyên
tố dinh dưỡng giúp cây phát triển nhanh, nhưng không gây độc hai cho cây hệ
số hấp phụ sinh học cao hơn và làm tăng năng suất tới 13% Quả tròn, màu đỏ,
vị thơm ngon và đặc biệt là cùi vải dày hơn, trong hơn
Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] đã tiến hành trên vải Phú Hộ thì phun
Bo và phun phối hợp Bo + Zn đều làm tăng số quả cao nhất so với đối chứng(tăng 50,4-92,8%) Ớ giống Phú Hộ phân vi lượng làm tăng hàm lượng đường(2,0-17,0% so với đối chứng), tăng hàm lượng vitamin (từ 17,0-22,7% so vớiđối chứng), giảm lượng axít (25% so với đối chứng), còn đối với vải Thanh Hàcác chỉ tiêu thay đổi rất ít Cũng với giống vải thiều Thanh Hà ở Phúc Hoà(Bắc Giang) Bo + Cu và Bo + Zn làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5%.Khối lượng quả tăng 5,9 - 8,5% tăng năng suất 101,3-127,3% Chất lượng quảcũng tăng: độ Brix tăng 4,5-7,3% đường tổng số tăng 4,5-12,1% axít giảm33,4% vitamin c giảm 3,7-3,1%
Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩmđậu quả và chế phẩm KIVIVA trên vải có kết luận:
Trang 31Đối với chế phẩm đậu quả có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng khốilượng trung bình quả, bệnh nớt vỏ quả và sâu đục quả không xuất hiện, tăng tỷ
lệ phần ăn được và tăng năng suất 26,42%
Đối với chế phẩm KIVIVA phun cả 4 giai đoạn phát triển của quả tăng tỷ
lệ đậu quả, tăng tỷ lệ phần ăn được và năng suất tăng 28,5% Ngoài ra làm chothời gian chín của quả chậm hơn 7 ngày, vườn mã quả đẹp, quả không bị nứt.Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2005) [34] Khi phun vân đài tố cho vảilàm tăng tỷ lệ đậu quả và khối lượng quả dẫn đến năng suất vải tăng từ 19-34% Phun hai lần Vân đài tố 0,01% vào lúc tàn hoa và trước lúc thu hoạch 1tháng cho hiệu quả cao nhất, và phun Vân đài tố đại trà 2 lần cho vải ở nồng
độ 0,03% cho vải đã làm tăng năng suất lên 28%
Như vậy khi sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lángoài tác dụng làn tăng khả năng đậu quả tăng khối lượng và năng suất quả,
còn có tác dụng làm tăng đường tổng số, vitamin c, chất khô, bộ Brix, giảm tỷ
lệ axít do đó nâng cao được phẩm chất của quả vải
2.3.4 Mật độ trồng
Theo truyền thống, cây vải được trồng với khoảng cách rộng: 9 hoặc 10
m X 12 m, thậm chí: 12 m X 12 m, với khoảng 70 - 80 cây/ ha Năng suất cáthể có thể cho rất cao đối với cây được trồng sau 10 hoặc 15 năm, nhưng sẽ bịlãng phí đất trong những năm đầu Với những cây lớn này, sẽ là vấn đề khókhăn lúc thu hoạch, phun và bảo về sự phá hoại của chim, dơi (Menzel etal , 2000) Khu vườn quả với những cây già ở Ấn Độ, Australia, Thái Lan vàTrung Quốc đã được trồng với mật độ 80 - 150 cây/ ha Những vườn vải mớiđược trồng ở Australia có khoảng cách hẹp từ 6 m X 8 m hoặc 4 m X 6 m hoặc
7 m X 3 m, tương đương với 200 - 600 cây/ ha (Menzel et al , 2000) Kết quảbước đầu việc trồng cây theo hàng sẽ cho thu hoạch cao Ớ Trung Quốc bắtđầu từ những năm 1980 cây vải đã được trồng với khoảng cách hẹp, phổ biến
5 m X 4 m hoặc 6 m X 5 m, tương đương với 330 - 500 cây/ ha Cũng có một
Trang 32số vườn cây ăn quả có mật độ dày hơn: 1.500 cây/ ha (3 m X 2,5 m) (Cheng vàHuang, 2000) Những hệ thống cây trồng khác ở Ân Độ tạo thành hình hờigian sớm nhất.
2.3.5 Quấn lý dinh dưỡng
Một trong những yếu tố chính gây nên sự hạn chế đến sản xuất vải thiều
là thiếu một chương trình dinh dưỡng phù hợp Năng suất có thể thấp vì sựsinh trưởng dinh dưỡng của cây phát triển quá mức vào cuối mùa Đông hoặclượng đạm quá nhiều làm cho cây sinh trưởng quá mạnh Thiếu đạm, kaly vàmột số nguyên tố vi lượng như: Bo, Zn và Cu có thể làm hạn chế đến năngsuất của cây, bởi vì sự hình thành và phát triển của quả bị hạn chế Đối vớiTrung Quốc, Australia, Thái Lan và Ân Độ người trồng vải thường cung cấpdinh dưỡng dựa trên cơ sở kích thước tán cây, số lượng quả/ cây và tuổi cây,mặc dù tiêu chuẩn dinh dưỡng của lá đầy đủ
Ớ Trung Quốc, đã giới thiệu liều lượng bón hàng năm: 0,6 kg urê, 1,2
kg supe lân và 0,6 kg kalyclorua, đối với 1 cây 5 năm tuổi, với tỷ lệ N:P:K là1: 0,96: 1,3 Phân bón hoá học được sử dụng riêng cho 3 thời kỳ: Thời kỳ nởhoa (từ đầu đến giữa tháng giêng); thời kỳ quả phát triển nhanh (từ đầu đếngiữa tháng năm) và thời kỳ chuẩn bị quả chín (cuối tháns sáu đến tháng bảy).Mặc dù, việc bón phân cho cấc vườn cây ăn quả đã được áp dụng thườngxuyên, với một liều lượng nhỏ trong mỗi lần bón (trong nhiều trường hợp cóthể bón đến hơn 10 lần, kể cả việc bón dưới đất và phun lên lá) Đối vớiAustralia, khi lập một kế hoạch bón phân cho cây được dựa trên cơ sở tuổi cây
và kích thước tán cây (Menzel và Simpson, 1989) Tuy nhiên, những tỷ lệ bónphân này được xem như là một sự hướng dẫn và lời khuyên, cần phải phân tíchđất và lá Tỷ lệ đưa ra đối với một cây có 10 - 11 năm tuổi, với tán cây cóđường kính 4,0 - 4,5 m và mức độ che phủ 12 - 16 m cần bón: 0,5 kg N; 0,7
kg P205 và 0,7 kg K20 Khuyến cáo bón một nửa số lượng đạm bón sau khihình thành nhuỵ hoa, nửa còn lại bón sau khi thành quả Các loại dinh dưỡng
Trang 33khác (P và K) đựơc bón làm hai lần: Số lượng một nửa bón sau khi hình thànhnhuỵ hoa, sô còn lại bón sau khi đã thu hoạch quả ơ An Độ, kế hoạch bónphân chủ yếu dựa vào tuổi cây, tuy nhiên các giống khác nhau thì sinh trưởngphát triển ở các vùng cũng khác nhau Những cây cho quả ở tuổi 7 - 1 0 nămthường nhận được 0,4 - 0,6 kg N; 0,2 - 0,3 kg P205; 0,4 - 0,6 kg IQO và 40 -
50 kg phân chuồng hàng năm Liều lượng đủ đối với phân chuồng là toàn bộlượng phân được bón ngay sau lúc thu hoạch vào tháng sáu và tháng bẩy
Tiêu chuẩn về dinh dưỡng của lá chủ yếu dựa vào việc nghiên cứu đánhgiá về năng suất cao của cây trồng Thăm dò mức độ dinh dưỡng lá phù hợp ởcác vườn vải ở Quảng Đông - Trung Quốc đưa ra là: 0,93 - 2,10 % N; 0,08 -0,21 % P; 0,12 - 0,33 % K Ở tỉnh Quảng Tây đưa ra mức: 1,766 - 1,78 % N;0,25 - 0,28 % P; 0,75 - 0,92 % K Mức độ phù hợp với các nguyên tố vi lượnglà: 1,5 - 5,0 mg/ kg đối với Zn; 1,5 - 5,0 mg/ kg đối với khả năng thay đổi củaMn; 1,0 - 5,0 mg/ kg đối với Cu; 0,4 - 1,00 mg/ kg đối với Bo hoà tan và 0,15
- 0,32 mg/ kg đối với Mo
2.3.6 Quản lý việc tưới nước
Các nghiên cứu ở Australia, Ấn Độ và miền Bắc của Thái Lan, cây vảiđược tưới trực tiếp từ thời kỳ nở hoa cho đến sau thu hoạch hoàn toàn Nhiềuvườn quả 0 Australia được tưới nước từ 2 - 3 lần trong một tuần, nhưng điềunày cũng có thể là thừa nếu thực hiện 0 những khu vực trồng cây trên đất ướt.Tuy nhiên, nếu thực hiện tưới được ở những khu vực bị khô hạn thì việc tướinước lại là rất quan trọng, đặc biệt có hiệu quả đối với phát triển chồi hoa, thời
kỳ nở hoa và phát triển quả Ở Ấn Độ, việc tưới nước cho cây được đưa ra đểtưới khi độ ẩm của đất bị mất nước từ 30 - 45 % Tuy nhiên, thực tế ngườitrồng cây sẽ tưới thường xuyên từ 7 - 10 ngày một lần vào thời kỳ nẩy chồihoa cho đến lúc thu hoạch hoặc cho đến sau thu hoạch, khi thấy mầm nonxuất hiện Trong khi tưới phun là một thực tế được áp dụng hầu hết ở các vườnquả của Australia, miền Bắc Thái Lan và một số khu vực của Trung Quốc, thì
Trang 34việc tưới mặt (tưới tràn) lại chủ yếu được áp dụng ở Ân Độ, Việt Nam,
Bangladesh và Đài Loan
2.3.7 Điêu khiển chu kỳ nẩy mầm và sự nở hoa
Sự nở hoa của câyvải được bắt đầu khi mới nứt mầm, cùng với điềukiện nhiệt độ thấp Vì vậy, sự nở hoa chỉ xẩy ra khi đồng thời có thời tiết mát
mẻ và phát triển sự nứt mầm Theo Olesen và các đồng nghiệp (2000), ởAustralia đưa ra bốn cách có thể thay đổi hoàn toàn sự nảy mầm và sự nở hoacủa cây vải Cây có thể bị ức chế để gây ra một hoặc hai đợt sinh trưởng sinhdưỡng qua mùa Hè và mùa Thu Lần thứ hai hoặc thứ ba vào mùa Đông hoặclàm khô hạn trong mùa Thu để kìm hãm tốt hơn một hoặc hai lần nẩy lộctrước lúc thu hoạch Người ta cũng có thể’ tỉa ngay trong mùa Đông đối vớinhững cành đã cắt tỉa Công việc này cũng có thể dùng chất Ethephon (từ 1 -
3 lít Ethrel và 5 kg urê pha trong 1000 lít nước) để loại bỏ những mầm nontrong mùa Đông
Theo điều tra đánh giá của Yuan và Huang (1993) ở Trung Quốc, dựavào sự sinh trưởng phát triển ở đầu rễ cho thấy: Đặc điểm đầu rễ của giống vảiNuomici càng non thì rụng quả càng nhiều Theo Zhou el al (1996) khôngthấy xuất hiện đỉnh sinh trưởng rễ ở các vườn vải non đối với giống Huaizucũng như vườn vải đã cho thu hoạch đối với giống Nuomici cho thấy rụng quảrất ít Câu trả lời chắc chắn, việc khoanh một vòng theo hình xoắn xung quanhthân cây đã được phát hiện ở Trung Quốc để đẩy nhanh tốc độ phân hoá mầmhoa trong mùa Thu và để hạn chế sự bắt đầu nở hoa trong mùa Đông Tỷ lệ nởhoa tăng, số quả được hình thành nhiều, tỷ lệ quả rụng cũng khá, chất lượng
và kích thước quả cũng được cải thiện đáng kể Kết quả này được khuyến cáođối với sự ra hoa, việc khoanh một vòng vỏ xung quanh thân cây nên thực hiệnvào giữa giai đoạn rụng lá và thời kỳ bắt đầu phân hoá mầm hoa (mùa Đông)
Để thúc đẩy sự nở hoa của giống vải Feizixiao thường được khoanh một vòng
vỏ theo hình xoắn xung quanh thân hoặc cành có đường kính 10 cm vào giữa
Trang 35tháng 10, nhưng đối với giống Nuomici và Guiwei việc khoanh vỏ được thực
hiện muộn hơn, vào tháng mười một và đầu tháng mười hai
2.4 Ảnh hưởng của một sô loài sâu bênh hại chính đối với sản xuất vải
Có đến hơn 58 loài sâu hại đã gây thiệt hại cho cây vải Các loài sâu hại
chính là: Bọ xít hại vải (Tessaratoma papỉllosa), sâu đục cuống quả (Conopomorha sinensis), xén tóc hại vải (Aristobia testudo), ruồi (Dasineura sp), nhện lông nhung Eriophyes licỉĩi (Ren và Tian, 2000) là những loài nguy
hiểm nhất đối với cây vải ở Ân Độ, Thái Lan, Việt Nam Sâu đục quả
(Cryptoplĩlebia ombrodelta) là sâu hại vải nguy hiểm nhất ở Australia Những
quy trình đã thật sự được kiểm soát đối với hầu hết các loài sâu hại ở các nướckhác nhau Có khoảng 25 loài thiên địch sống ký sinh trên trứng của các loài
sâu hại vải Chẳng hạn như: Anastatus ssp quản lý đối với rệp, giun tròn Steinemema calpocapsea đối với xén tóc và loài ăn thịt Agistemus exsetus đã
được sử dụng thành công
Có những bệnh không gây hại nghiêm trọng cho cây vải Tuy nhiên,hiện tượng cây vải chết đột ngột được quan sát thấy ở Australia, Trung Quốc,Việt Nam, đã đưa ra nhận xét bước đầu đối với hiện tượng tự nhiên cây bị héo
là do trong đất bị chua kết hợp với nấm Fusarium solani, Phytophrthora sp và Phythium sp Cây vải trồng sâu ở vị trí thoát nước kém và dinh dưỡng không
đầy đủ thì rất dễ bị bệnh (Hà Minh Trung, 2000) Một số loại bệnh có ảnhhưởng đến cây vải ở giâi đoạn sau thu hoạch Chúng phát triển cùng với sựphát triển của quả, ngay từ đầu cho đến sau thu hoạch Một vài loài nấm đãliên kết với triệu chứng bệnh để gây ảnh hưởng đến kích thước quả hoặc bám
xung quanh thân, cành, của cây cho đến lúc thu hoạch Bệnh loét (Col erolrichxvnl oeosporioides) là nguyên nhân chính làm mất sản lượng vải ở
Trung Quốc, Australia, Đài Loan, Thái Lan
Trang 362.5 Thu hoạch Vải và xử lý sau thu hoạch
2.5.1 Thu hoạch vải
Màu sắc quả là một biểu hiện rất quan trọng đối với quả chín Trongthời gian chín, vỏ quả phải trải qua sự thay đổi của màu sắc từ xanh đến xanhvàng rồi đến màu đỏ sáng sau 7 - 1 0 ngày Khi màu sắc vỏ quả thay đổi từ đỏsáng đến đỏ sẫm, tức là quả đã quá chín, nó sẽ làm giảm khả năng cất giữcũng như hàm lượng đường trong quả Để thu hoạch quả đúng lúc, nó được
người ta khuyên cáo, nên thu hoạch khi vỏ quả đã chín được 80 % đỏ hoàn
toàn Ớ giai đoạn chín này, quả sẽ có chất lượng tốt nhất Ớ Trung Quốc vàViệt Nam, việc thu hoạc vải được thực hiện hoàn toàn bằng tay, tốt nhất thuhoạch vào những ngày có thời tiết tốt hoặc những ngày thời tiết u ám Nhữngngày mưa và buổi trưa năng nóng thì không nên thu hoạch Việc phân loại vàđóng gói cũng hoàn toàn được thực hiện bằng tay dưới bóng mát, ngay sau khiquả được thu hoạch
2.5.2 Xử lý sau thu hoạch
Hầu hết các sản phẩm quả đều phải đem đi tiêu thụ ngay sau khi thuhoạch, với một lượng nhỏ được bảo quản lạnh để sau đưa ra thị trường Việcđóng gói và xử lý sau thu hoạch cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào khoảng cách
và thời gian vận chuyển quả Đối với những thị trường địa phương, nơi chỉ cầnvận chuyển mất một vài giờ là đến, thì quả không cần xử lý và thường chỉ cầnđóng trong các sọt bằng tre hoặc hộp cát tông Đối với thị trường có khoảngcách xa, những nơi cần vận chuyển mất nhiều giờ, cũng không cần hệ thốnglàm lạnh, quả thường được đóng trong túi Plastic và những thùng có thêm một
ít đá (khoảng 113 quả/ thùng) Với phương tiện vận chuyển nhanh, có hệthống làm lạnh tốt thì có thể vận chuyển vải tươi dến các thị trường quốc tế.Tuy nhiên, quả vải sẽ trở lại mầu nâu và bị thối nhanh sau thu hoạch, đặcbiệt khi lấy ở nhiệt độ thấp để bỏ ra ngoài Việc xử lý sau thu hoạch bằngsông khói S02 và xử lý (nhúng) bằng axít là để bảo vệ màu và duy trì được
Trang 37màu sắc vỏ quả Tuy nhiên, có vấn đề về dư lượng suníua đioxite và thị
trường quả bị thu hẹp
2.6 Thị trường vải của Việt Nam
Ở miền Bắc Việt Nam, hầu hết vải sớm chín vào tháng 5 đến tháng 6
Có một vài loại vải sớm chín vào cuối tháng 4, nhiều nơi đã chọn lọc kỹ một
số giống này để kéo dài vụ thu hoạch
Về vấn đề tiêu thụ vải của Việt Nam có khoảng 70 - 75 % sản lượng vải
thiều được tiêu thụ nội địa, phần còn lại xuất khẩu sang Trung Quốc, HồngKông, các nước Đông Nam Ấ và một vài nước Châu Âu như Pháp, Nga Quảvải cũng được chế biến thành nước sirô hoặc quả vải khô Nước vải được xuấtkhẩu sang Trung Quốc và tiêu thụ nội địa
Trang 383 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DƯNG VÀ
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình sx và tiêu thụ vải chín sớm của các hộ trồng vải chín sớmthuộc xã Phúc Hoà (đại diện cho vùng có trình độ thâm canh cao), Liên Son (đạidiện cho vùng có trình độ thâm canh trung bình) và Cao Thượng (có trình độthâm canh thấp) là vùng vải sớm chủ lực của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu được thực hiện trên giống vải chín sớm Phúc Hoà là giốngđược trồng phổ biến ở huyện
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Điều tra tình hình sản xuất và tiêu thu vải chín sớm với quy mô lớn tại 03
xã là: Phúc Hoà, Cao Thượng, Liên Sơn thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Bố trí thí nghiệm tại vườn vải thuộc xã Cao Thượng và Phúc Hoà
3.2.2 Thòi gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2008 đến tháng 7/2009
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sx và tiêu thuvải của huyện
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải của các hộ trồng vải
- Tìm hiểu các chính sách của Nhà nước và các tổ chức khác về hỗ trợ pháttriển sx và tiêu thụ vải
- Bố trí thí thực nghiệm: “Đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón qua lá đếnnăng suất và chất lượng vải sớm”
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớmcủa huyện
Trang 393.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phưong pháp thu thập thông tin
3.4.1.1 Điều tra thu thập các số liệu thứ cấp
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý, địa hình
+ Số liệu về khí hậu trung bình 10 năm từ năm 1998 - 2008 (thông qua Trạmkhí tượng thuỷ văn Bắc Giang)
+ Số liệu về hiện trạng sử dụng đất thông qua Phòng TN&MT huyện
- Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện gồm: Số liệu về dân số và lao động, cơ
sở hạ tầng, điều kiện trồng trọt và các thông tin có liên quan khác thông qua PhòngThống Kê, Phòng NN&PTNT huyện Tân Yên và Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang
3.4.1.2 Điều tra các hộ SXvải theo phương pháp PRA
- Điều tra về tình hình sản xuất, biện pháp kỹ thuật trồng trọt và tình hìnhtiêu thụ của vải thiều ở các vùng nghiên cứu thông qua phỏng vấn nông dân theophiếu điều tra về:
+ Diện tích, năng suất, sản lượng ở các địa bàn nghiên cứu
+ Tình hình canh tác và chăm sóc vải ở các hộ trồng vải trên địa bàn thựchiện nghiên cứu
+ Một số kinh nghiệm sản xuất được áp dụng có hiệu quả tại địa phương.+ Tinh hình sâu bệnh hại vải ở các vùng nghiên cứu
+ Tinh hình tiêu thụ vải
+ Nhu cầu chính sách hỗ trợ của nhà nước
* Tổng số phiếu điều tra là 180 phiếu ( 3 xã X 60 hộ/ xã = 180 hộ)
- Điều tra thông tin thị trường thông qua các điểm cân để nắm nhu cầucủa thị trường về chất lượng vải
- Phỏng vấn sâu tham khảo ý kiến các vấn đề liên quan đến nâng caohiệu quả sx vải sớm thông qua các chuyên gia, những người am hiểu về vảithiều như: Cán bộ khuyến nông, cán bộ Phòng NN&PTNT, Sở NN&PTNT,các hộ có kinh nghiệm trồng vải
Trang 40Lượng phân bón (g/cây) Phân Đạm
Urê
Lân Supe
Kalỉ Clorua
chuồng (kg)