LỜI NÓI ĐÀUKinh nghiệm thực tiễn của các nước qua nhiều thập kỷ và kết quả nghiêncứu của các nhà kinh tế học trên thế giới cho thấy chính sách lãi suất có vai tròquan trọng trong việc gó
Trang 1Đề tài nghiên cứu
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách lãi suất của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 2MUC LUC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I: VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NÈN KINH TÉ 3
1.1Khái niệm và các phép đo về lãi suất: 3
1.1.1Khái niệm về lãi suất 3
1.1.2.Các phép đo về lãi suất: 4
lễ2 Phân loại lãi suất 5
1.3 Cơ chế xác định lãi suất: 6
1.3.1.Thị trường : 7
lề3.2ề Chính sách tiền tệ 8
1 ANhững nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 9
1.4.1.Mức cung cầu tiền tệ 9
1.4.2ễ Lạm phát 10
1.4.3.Sự ổn định của nền kinh tế 11
1.4.4.Các chính sách của Nhà nước 12
1.4.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội 15
lề5 Những nhân tố chịu ảnh hưởng của lãi suất 16
1 ề5.1 ề Lãi suất ảnh hưởng đến nền kinh tế 16
1.5.2.Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh 17
1.5.3 Lãi suất ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán 19
1.5.4.Trần lãi suất ảnh hưởng lớn đến tín dụng tiêu dừng của các ngân hàng 22
1.5.5 Tác động của lãi suất thực đến sản lượng và giá cả 23
Trang 31.6.Chính sách điều hành lãi suất
26
1.6ềl Khái niệm về chính sách lãi suất 25
1.6.2 Nội dung chính sách điều hành lãi suất 25
1.6.2.1 Cơ chế điều hành trực tiếp 25
1.6.2.2 Cơ chế điều hành gián tiếp 26
1.6.3 Các công cụ hiệu quả của chính sách lãi suất 26
1.6.3.1.Lãi suất cơ bản 27
1.6.3.2 Lãi suất tái chiết khẩu 29
1.6.3.3.Dự trữ bắt buộc 30
1.6.3.4.Nghiệp vụ thị trường mở 31
1.6.3.5.Hợp đồng mua lại 31
1.6.4.Vai trò của chính sách lãi suất 31
1.6.4.1.Lãi suất với quá trình huy động vốn 31
1.6.4.2.Lãi suất với quá trình đầu tư 32
1.6.4.3.Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm 33
1.6.4.4.Lãi suất với tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu 33
1.6.4.5.Lãi suất với lạm phát 34
1.6.4.6.Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực 34
1.6.4.7 Vai trò của lãi suất đổi với hoạt động kinh doanh của NHTM 35
1.6.5.Vai trò điều tiết lãi suất của NHTƯ 36
Chương II: DIỄN BIẾN LÃI SUẤT VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY 40
2.1 Phân tích các chính sách lãi suất trước và trong khủng hoảng, giai đoạn 2000-2008: 40
2.1.1 Chính sách lãi suất giai đoạn 2000 đến tháng 6/2002 40
2.1.1.1 Tình hình chung về lãi suất trong thời gian này
Trang 42.1.1.2 Ưu và nhược điểm của những chỉnh sách lãi suất 42
2.1.1.3 Thành công và hạn chế 44 2.1.2 Chính sách lãi suất từ 6/2002 đến hết năm 2008 47
2.1.2.1.Nội dung 47
2.1.2.2 Thành tựu 50
2.1.2.3.Hạn chế 52
2.2 Những chính sách lãi suất giai đoạn 2009 đến nay 52 2.2.1 Giai đoạn 6 tháng đầu năm 2009 53 2.2.2 Giai đoạn 6 tháng cuối năm 2009 65 2.2.2.1 Tình hình chung về lãi suất 6 tháng cuối năm 2009 65
2.2.2.2.Đánh giả chung: 68
2.2.3 Lãi suất giai đoạn Quý I năm 2010 73
Chương III: ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH cực CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI NỀN KINH TÉ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 79
3.1 Định hướng chính sách lãi suất của NHNN cho năm 2010 79
3.1 ề 1 Mục tiêu và nhiệm vụ: 79 3.1.2 Các đơn vị tại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo chức năng và nhiệm vụ của mình tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm 2010 và các biện pháp 80
3.1.3 Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh ,thành phố trực thuộc Trưng ương theo chức năng của mình,thực hiện mục tiêu , nhiệm vụ năm 2010 và các biện pháp: 82
Trang 53.1.4 Các tổ chức tín dụng bám sát mục tiêu , nhiệm vụ năm 2010 và thực hiện biện pháp : 82
3.2 Các giải pháp cho chính sách lãi suất của Việt Nam hiện nay 84
3.2.1 Chủ trương của Chính phủ: 843.2.2 Chính sách lãi suất ngăn chặn khủng hoảng, thúc đẩy phục hồi nền kinh tế 88
KÉT LUẬN 96Tài liêu tham khảo 97
Trang 6LỜI NÓI ĐÀU
Kinh nghiệm thực tiễn của các nước qua nhiều thập kỷ và kết quả nghiêncứu của các nhà kinh tế học trên thế giới cho thấy chính sách lãi suất có vai tròquan trọng trong việc góp phần cải thiện kinh tế và tăng mức sống của xã hội.Thông qua chính sách lãi suất Ngân hàng Trung ương tác động làm thay đổitổng cung, tổng cầu của nền kinh tế, từ đó tác động đến lạm phát, sản lượng vàcông ăn việc làm Chính sách lãi suất là một trong các công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô chủ yếu của Nhà nước nhằm góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô
đã đề ra cho từng giai đoạn nhất định Do đó, việc tìm kiếm giải pháp nâng caohiệu quả chính sách lãi suất luôn được các nước đặc biệt quan tâm Bài học rút ra
từ thực tiễn của nhiều nước cho thấy để chính sách lãi suất có hiệu quả, trước hếtcần xác định rõ ràng các mục tiêu của từng giai đoạn phát triển kinh tế; kế tiếp
đó là lựa chọn, xây dựng và điều hành có hiệu quả hệ thống các công cụ chínhsách lãi suất nhằm góp phần đạt được các mục tiêu cuối cùng đã đề ra Để hỗ trợviệc nâng cao hiệu quả điều hành chính sách lãi suất còn có thêm một số điềukiện như : điều hành chính sách lãi suất của NHTW cần có tính độc lập, xác định
rõ trách nhiệm và thể hiện tính minh bạch,chính xác
Nền kinh tế thế giới trong đó có nền kinh tế Việt Nam vừa oằn mình trảiqua một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Để khắc phục và giúp nền nềnkinh tế nước ta thoát khỏi khó khăn Chính Phủ đã lựa chọn giải pháp kích cầuqua công cụ lãi suất Các chính sách hỗ trợ lãi suất được NHNN đưa ra và ápdụng Tại Quyết định số 131/QĐ-TTg, trong năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đãquyết định hỗ trợ 4% lãi suất cho khách hàng vay để sản xuất - kinh doanh,nhằm giảm giá thành sản phẩm hàng hoá, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạoviệc làm, trong điều kiện nền kinh tế bị tác động của khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế thế giới Các chính sách đã có những hiệu quả tốt đưa nền kinh
tế nước ta dần thoát khỏi khủng hoảng Sau khủng hoảng thì chính sách lãi suất
Trang 7trong thời kỳ hậu khủng hoảng cũng không kém phần quan trọng Làm thế nào
để phục hồi nhanh chóng nền kinh tế trong nước, bù lại những thiệt hại do khủnghoảng gây ra , tiếp tục phát triển kinh tế mạnh, nhanh,sâu hơn,và cùng với đó là
sự kiềm chế lạm phát Mục tiêu điều hành kinh tế của Chính phủ trong năm 2010
là "tăng trưởng kinh tế 6,5%, lạm phát dưới 7%".Vậy xuất phát từ thực trạng nềnkinh tế nước ta cùng với mục tiêu của Chính Phủ nhóm nghiên cứu đã chọn đề
tài : "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách lãi
suất củã Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Thị Thu Hà cùnggiảng viên Trần Trọng Phong đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trongsuốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Do còn hạn chế trong việc hiểu biết về lĩnh vực tài chính kinh tế, nên đề tàicủa chúng tôi không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong thầy cô giúp đỡ,góp ý để chúng tôi hoàn thành đề tài này
Chủng tôi xỉn chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 01 tháng 06 năm 2010,
Trang 8Chương I VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
ĐÓI VỚI NỀN KINH TẾ
lẳlẳ Khái niệm và các phép đo về lãi suất:
1.1.1 Khái niêm về lãi suất
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vi mô hết sức quan trọng của nềnkinh tế, mỗi sự thay đổi của lãi suất sẽ kéo theo hàng loạt sự thay đổi khác trongcác hoạt động kinh tế, từ hành vi tiết kiệm hay tiêu dùng của dân cư, mở rộng haythu hẹp sản xuất của các doanh nghiệp Kết quả là sự thay đổi các chỉ tiêu lạm phát,tăng trưởng và việc làm Tại sao lãi suất lại quan trọng và có ý nghĩa như vậy?Lãi suất là giá cả của tiền tệ và là tỷ lệ giữa số lợi tức phải trả cho một khoảnvay và số tiền gốc cho vay tính cho cùng một thời kỳ nào đó (năm, tháng, ngày)
i=ễ 100%ípi: lãi suất tính theo %; I: số tiền các lợi tức; p : Tiền gốc
Theo Samuelson, lãi suất là giá mà người đi vay phải trả cho người cho vay đểđược sử dụng một khoản tiền trong một thời gian xác định Nó là giá cả của việcmua bán quyền sử dụng tiền trong một thời gian xác định Trong nền kinh tế thịtrường, giá cả của hàng hoá được hình thành là kết quả của sự vận động giữa cung
và cầu Quyền sử dụng vốn là một loại hàng hoá đặc biệt và kết quả của sự vậnđộng giữa cung và cầu về vốn chính là lãi suất
Một đồng tiền bỏ ra hôm nay sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trong tương lai dođồng tiền đó được trả lãi Chính vì vậy, lãi suất là một biến số làm cân bằng giá trịcủa một lượng tiền nhận được trong tương lai với giá trị của nó ở
thời điểm hiện tại, hay còn gọi là lãi suất hoàn vốn Lãi suất hoàn vốn là thước
đo chính xác nhất của khái niệm "lãi suất" mà người ta thường dùng Do đó phép
đo lãi suất chính là phép đo lãi suất hoàn vốn Tuỳ theo các công cụ tài chính mà
Trang 9chúng ta có các phép đo khác nhau.
1.1.2 Các phép đo về lãi suất:
Thông thường lãi suất được đo lường thông qua 4 công cụ cơ bản:
l Pi "
Fn: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai
p,n,i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất đơn
FPFPFPFP
ĩẽspộ(l) 23
TV: toàn bộ món tiền vay
FP: số tiền trả cố định hàng năm
N: số năm cho tới mãn hạn
-Trái khoán coupon:
Ễb+++
CCCF
imw) 23
Pb: giá trái khoán c : Tiền
coupon hàng năm F : Mệnh giá
trái khoán n : số năm tới ngày
mãn hạn
-Trái khoán giảm giá:
_FPdPdF: mệnh giá của trái khoán giảm giá
Pd: Giá hiện thời của trái khoán
Ở Việt Nam hiện nay, do sự hạn chế về kỹ thuật cũng như tính đơn điệu củathị trường, hai công cụ cho vay hoàn trả cố định và trái khoán giảm giá được sửdụng rất hạn chế mà chủ yếu là sử dụng hai công cụ vay đơn và trái khoán Coupon
lẳ2ẳ Phân loai lãi suất
Nói chung lãi suất là giá cả của tiền hay giá cả của quyền sử dụng vốn trong
Trang 10một thời gian nhất định Tuy nhiên căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau người tachia lãi suất thành các loại lãi suất khác nhau:
> Căn cứ vào giá trị thực tế của tài sản: Người ta có sự phân biệt giữa lãisuất thực tế và lãi suất danh nghĩa Trong đó lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất ápdụng tính đến sự gia tăng của giá cả hàng hoá hay tỷ lệ lạm phát Lãi suất thực haygiá cả thực tế của tiền là lãi suất được đo bằng giá trị tài sản hay được đo bằnghàng hoá và dịch vụ, tức giá cả của tiền đã trừ đi yếu tố lạm phát Nếu gọi r là lãisuất thực, i là lãi suất danh nghĩa, p là tỷ lệ lạm phát thì ta có r = i-p
> Căn cứ vào cách thức NHNN cấp vốn cho các NHTM: Có sự phân biệt
giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn trong đó lãi suất tái cấp vốn là lãisuất do NHNN áp dụng khi tái cấp vốn cho các NHTM (chủ yếu là các NHTMCP).Còn lãi suất tái chiết khấu là lãi suất áp dụng trong trường hợp NHNN cấp vốn chocác tổ chức tín dụng trên cơ sở chiết khấu các giấy tờ có giá
> Căn cứ vào đối tượng sử dụng: Ta có sự phân biệt giữa lãi suất huy động
và lãi suất cho vay; trong đó lãi suất huy động là lãi suất mà các tổ chức tái sử dụngkhi huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư, lãi suất cho vay là lãi suất màcác NHTM áp dụng khi cho vay hoặc đầu tư
> Căn cứ vào thời hạn của các khoản vay: Ta có sự phân biệt giữa lãi suất
ngắn hạn và lãi suất trung và dài hạn
> Căn cứ vào cách thức trả lãi: Ta có sự phân biệt giữa lãi suất đơn và lãi
suất kép
> Căn cứ vào cơ chế quản lý lãi suất: Ta có sự phân biệt giữa lãi suất
cố
Trang 11Dựa vào mô hình chúng ta thấy có 4 nhân tố tham gia vào việc xác định
định và lãi suất thay đổi Trong đó lãi suất cố định là lãi suất áp dụng mộtcách thống nhất ừên cơ sở có sự thương lượng từ đầu ừong suốt thời gian tồn tạicủa khoản vay Còn lãi suất thay đổi là lãi suất có thể được điều chỉnh theo các biếnđộng của thị trường trong khoảng thời gian tồn tại của khoản vay
1.3 Ctf chế xác đinh lãi suất:
Từ những khái niệm trên về lãi suất, ta có thể mô hình hoá những yếu tố thamgia vào việc hình thành nên lãi suất trong nền kinh tế
Hình 1.1
Trang 13lãi suất:
1.3Ệ1Ệ Thị trường
Thành phần thuộc nhóm này gồm :
*Người cho vay : những người dư thừa vốn
*Người đi vay : những người cần vốn để kinh doanh, tiêu dùng
*Các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trung gian: những chủ thểtham gia vào thị trường tài chính, hoạt động tín dụng, huy động vốn để cho vaynhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận Họ có những vai trò, vị trí, lợi thế mà tàichính trực tiếp không có được
Những thành phần này tham gia vào việc xác định lãi suất tuân theo quy luậtthị trường Khi nhu cầu về vốn được đáp ứng bằng cung về vốn ở mức toàn dụngvốn thì lãi suất cân bằng được hình thành Những biến động của các biến số kinh tế
vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các thành phần này, thay đổi cung cầu về vốn
và lãi suất cân bằng được điều chỉnh cho phù hợp
Hình 1.21.3ẳ2ẳ Chính sách tiền tê
NHTƯ - Cơ quan có nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý hành chính hệ thống
Trang 14ngân hàng, vai trò người cho vay cuối cùng, xây dựng chính sách tiền tệ Nó tácđộng đến lãi suất bằng các công cụ mang tính quyền lực nhà nước hoặc các công cụmang tính thị trường.
NHTƯ sử dụng công cụ lãi suất để tác động vào lượng tiền cung ứng và cácbiến số kinh tế vĩ mô khác nhằm đạtđược các mục tiêu của chính sách tiền tệ:
* Ổn định tiền tệ
* Tạo việc làm
* Tăng trưởng kinh tế
Cách sử dụng công cụ lãi suất phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất củaNHTƯ ở mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Xây dựng chính sách lãi suấtđúng đắn nhằm hướng dẫn phân bổ hợp lí nguồn vốn, huy động được tất cả cácnguồn lực tiềm năng trong nền kinh tế, kích thích đầu tư, phù hợp tỷ giá và tạothuận lợi cho hoạt động ngoại thương, mang lại đà phát triển vững mạnh cho nềnkinh tế là một yêu cầu bức thiết luôn được đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như cácnhà hoạch định chính sách của nó
Các học thuyết , nghiên cứu về cơ chế điều hành lãi suất chỉ ra rằng, NHTƯ
có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động (qua hệ thống NHTM) lên lãi suất
Cơ chế tác động trực tiếp: NHTƯ sử dụng lãi suất với vai trò là một công cụtrực tiếp của chính sách tiền tệ NHTƯ với hành động mang tính chủ quan áp đặtmột khung lãi suất, chênh lệch lãi suất tiền gửi- tiền vay hoặc trần- sàn lãi suất vàbuộc các tổ chức tín dụng phải tuân theo Công cụ này mang tính cưỡng bức với sựđảm bảo bằng quyền lực nhà nước, đặc trưng của cơ chế kiểm soát lãi suất
Cơ chế tác động gián tiếp: NHTƯ sử dụng công cụ gián tiếp- mang tính thịtrường- của chính sách tiền tệ để tác động đến lãi suất thông qua hành vi của hệthống ngân hàng
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
lẳ4ẳl Mức cung cầu tiền tệ
- Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thịtrường Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm: Ml là tổng số
Trang 15tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền gửi ngânhàng có thể rút ra bằng séc và định nghĩa rộng hơn (M2) bao gồm những tài sảnnhư tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng
Công chúng (các gia đình và các hàng kinh doanh) muốn giữ lượng tiền MIkhác nhau ở những mức lãi suất khác nhau, lãi suất thấp thì số tiền dôi ra lớn hơn.Giao điểm giữa cung và cầu trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng Đây là mứclãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm mục tiêu phù hợpvới số tiền mà công chúng muốn nắm giữ
Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất
*Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: khi ngân hàng trung ươngmuốn kiềm chế lạm phát, sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ thông quacông cụ của nó (thay đổi tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, giảmhạn mức tín dụng) Mức cung tiền tệ sẽ giảm đi, đường s dịch chuyển sang tráithành S’, lãi suất tăng Trên đồ thị lãi suất chuyển từ i sang iA
Lãi suất tăng, mức đầu tư sẽ giảm, mức cầu tiền tệ giảm, các nhà doanhnghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ, đường Ddịch chuyển về bên trái tạo thành D\ Giao điểm giữa D’ và S’ là A’ với mức lãi suấtcân bằng mới i’A
*Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo
sợ sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua
Trang 16các công cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất có xu hướng giảm xuống Tín dụng trởnên dồi dào hơn, lãi suất trên đồ thị chuyển tò I sang iB Kết quả là việc tiến hànhcác dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn, số tiền chi tiêu về nhà máy, thiết bị, khohàng tăng lên, người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn vốn đầu tưtăng, tổng mức cầu tăng lên, dịch đường D sang phải tạo ra thăng bằng mới trên thịtrường.
Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tiền tệ (không phải do sự thay đổitrong mức giá cả, tổng sản phẩm, hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suấtcân bằng
Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ýnghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ Khi nào thì ngânhàng trung ương bơm tiền ra lưu thông, khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điềuchỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý, trên cơ sở đó ổn định thị trường, thúc đẩy
sự tăng trưởng của nền kinh tế, giảm lạm phát
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất,yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tếcủa vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát Trongtình hình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt, đổ xô đimua hàng hóa dự trữ vàng, ngoại tệ Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm,đường So chuyển về bên trái thành SI lãi suất tăng
Lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việctăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước , khi
Trang 17lạm phát dự tính tăng lên , chi phí thưc của việc vay tiền giảm xuống , kích thíchngười ta đi vay hơn là cho vay Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giáhàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên, đường Do dịch chuyển sang phảitạo thành Dlắ Do cầu quỹ cho vay tăng, lãi suất tăng.
Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu đối với quỹ cho vay
sẽ đẩy lãi suất tăng tò io đến il
Theo Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của mộtnước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cungứng tiền tệ là cực kỳ cao
Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng Điều này có một ý nghĩaquan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng.Trên cơ sở đó, có một chính sách lãi suất hợp lý Khi lạm phát cao, nhà nước cầnphải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc nhà nướctung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát
Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định
sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất
1.4.3 Sư ển đinh của nền kinh tế
-Ảnh hưởng đến cầu tiền vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất làtrong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh, các công ty càng có nhiều ýđịnh vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trông đợi làsinh lời cầu tiền vay tăng lên, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất có xu
Trang 18hướng tăng lên.
Khi đường cung và đường cầu tiền vay tăng lên và dịch chuyển về bên phải,
sẽ đạt được một điểm cân bằng mới về bên phải Tuy nhiên nếu đường cung dịchchuyển nhiều hơn đường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống,ngược lại, nếu đường cầu dịch chuyển nhiều hơn thì lãi suất cân bằng mới tăng lên.Trong nền kinh tế ổn định và có xu hướng phát triển, nhà nước nên sử dụngcác công cụ lãi suất để tăng vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển cho sựcân đối của nền kinh tế, đặc biệt từ các nguồn vốn trên thị trường trái khoán
1.4 ẳ 4 ẳ Các chính sách củã Nhà nước
Mục tiêu của nền kinh tế phát triển là:
-Tạo ra sản lượng cao, tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân -Đạt tỷ
lệ người có công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp
-Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động
Để đạt được mục tiêu trên, Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng cácchính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế
Quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cânbằng trên thị trường
*Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa Chi tiêucủa chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu
Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêucủa Chính phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa
và thị trường tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất
Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu, đường cầu dịchchuyển về bên phải, khi chính phủ giảm thuế, làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵnsàng để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu, tiêu dùng Mứccao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển vềbên phải, lãi suất tăng
Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng, chẳng hạn
Trang 19việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máymóc, nhà máy, tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên, tăng lượng cầu tiền tệ,đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng lên.
*Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàngtrung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của mộtquốc gia Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động củanền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau:
-Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường, chủ động điều chỉnh lãisuất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, hạn chế hoặc mởrộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăngtrưởng kinh tế theo từng thời kỳ
-Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàngtrung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điềukiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơnphương quy định
Mỗi khi lãi suất chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phícho vay của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn Vì vậy thông qua việc điềuchỉnh lãi suất chiết khấu, ngân hàng tiring ương có thể khuyến khích mở rộng haylàm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế Dothay đổi lãi suất chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếp vào lãisuất thị trường Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay củangân hàng, tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽlàm thay đổi mức lãi suất thị trường
-Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: có nghĩa là ngânhàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán.Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điều hòa cung cầu về các chứngphiếu có giá để tác động vào các ngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ,
Trang 20cung ứng tín dụng.
-Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ dự trữtăng lên tức là ngân hàng trung ương quyết định giảm bớt số vốn khả dụng củangân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng, hạn chế tín dụngcủa ngân hàng và ngược lại Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thịtrường
*Chính sách thu nhập: đó là chính sách về giá cả và tiền lương Nếu mức giá
cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của đơn yị tiền tệ theo giá trị thực tếtăng, bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn Do vậy cũngnhư ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cốđịnh, làm lãi suất giảm Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theogiá tri thực tế, làm tăng lãi suất Như vậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũnglàm thay đổi lãi suất
Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiền lương,khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sảnphẩm tại một mức giá cả, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm
*Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan
hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác, nhất là đối với cácngoại tệ có khả năng chuyển đổi
Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hànghóa của một nước Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhậpkhẩu, dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tănglên, lợi nhuận giảm, nhu cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm Mặt khác,khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cầnchuyển đổi tăng lên, lãi suất giảm
Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá, ngân hàng trung ương sẽtheo đuổi một chính sách tiền tệ thặt chặt hơn, giảm bớt cung tiền tệ, năng lãi suấttrong nước, làm cho đồng tiền của mình vững mạnh
Trang 21Khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất khẩu, nềncông nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên, kích thíchnhập khẩu Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp, với một lượng vốn đầu tưnhất định, tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn, kích thích đầu tư vào sản xuất, lãi suất tănglên Như vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với côngnghiệp nước ngoài tăng lên, có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theođuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá.
1.4ẳ5ẳ Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của cácyếu tố thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng nhưnhững biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trênthế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điềuhành chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trướckhi đưa ra bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất
1.5 Những nhân tố chịu ảnh hưởng của lãi suất
lẳ5ẳlế Lãi suất ảnh hưởng đến nền kỉnh tế
Đầu tiên chúng ta xét sự ảnh hưởng của lãi suất cho vay
Khi lãi suất cho vay thấp, mọi người có thể vay tiền một cách dễ dàng để muanhà , mua xe Việc mua nhà, mua xe này lại theo cái vòng đó mà giúp phát triểnnhững nhu cầu khác như đồ gỗ, các thiết bị thiết yếu, vì vậy mà cung cấp một lựcđẩy cho nền kinh tế Trong trường hợp như vậy, khách hàng có thể phải trả ít lãi phíhơn và lấy về được nhiều sản phẩm hay dịch vụ hơn
Lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất, các chủ nông nghiệp và các cơ
sở kinh doanh khác dễ dàng mượn vốn và đầu tư vào thiết bị hoặc những phạm trùcần các chi phí lớn khác Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tư nhưvậy thì có giá trị hơn tại thời điểm ấy (tức là thời điểm khi mà lãi suất thấp) hơn khi
là lãi suất cao, điều này khiến cho các doanh nghiệp lời nhiều hơn khi đầu tư với
Trang 22mức lãi suất thấp, và cũng theo đà đó mà giúp kinh tế phát triển nhanh hơn vì nangsuất lao động tăng mạnh.
Tuy nhiên, chỉ lãi suất cho vay không thôi thì dường như ko thể ảnh hưởngđược khối lượng tiền tiết kiệm thuần của con người ( tức là tiền tiết kiệm được khi
đã giảm bớt mọi thủ tục chi phí) Và dẫn đến 2 mặt của một vấn đề Một mặt, khốilượng tiền tiết kiệm thu về cao hơn giúp con người có thêm lời để tiết kiệm Tuynhiên, mặt khác, điều này cũng khiến con người cảm thấy mình giàu hơn và có thể
sẽ kết thúc bằng cách chi tiều nhiều hơn là tiết kiệm
Vậy lãi suất ảnh hưởng đến giá trị đồng đô Mỹ trong thị trường Forex như thếnào?
Lãi suất cho vay có thể và hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến giá trịcủa đồng đô đối với các loại tiền tệ khá Tất cả những yếu tố khác vẫn đứngnguyên, khi lãi suất cho vay thực (lãi suất cho vay có điều chỉnh về mặt lạm phát) ở
Mỹ cao hơn ở những nước khác, các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư bằng tiền
Mỹ để thu về lợi nhuận cao hơn Và như thế nhu cầu gia tăng tất yếu của tiền Mỹ sẽgiúp đẩy giá trị đồng tiền này lên Điều ngược lại cũng xảy ra khi lãi suất Mỹ thấp.Vậy lãi suất ảnh hưởng đến tình hình của một nền kỉnh tế nói chung như thếnào?
Lãi suất cho vay thể hiện tình trạng của nền kinh tế bằng cách ảnh hưởng đếnnguồn và nguồn cầu về số lượng tiền gửi ngân hàng
VD: nguồn thu nhập của con người rơi vào tình trạng khủng hoảng, nên lượngtiền họ tiết kiệm được cũng giảm đi nhu cầu vay tiền của các doanh nghiệp cũnggiảm đi trong thời gian khủng hoảng kinh tế vì doanh nghiệp không tốn nhiều vàocác toà nhà mới, trang thiết bị Và Hội đồng dự trữ liên bang ( FED) thường giảmlãi suất suốt thời gian khủng hoảng kinh tế để thúc đẩy các hoạt động kinh tế
VD: nhu cầu của chính phủ liên bang Mỹ về các khoản vay tiền thường làtăng khi kinh tế khủng hoảng, vì các doanh nghiệp giảm thiểu các hoạt động vànguồn thu nhập của khách hàng giảm thuế thu nhập, và các chương trình phúc lợi
Trang 23như bảo hiểm thất nghiệp thường là tăng.
Hậu quả tồn đọng lại của toàn bộ những thay đổi này là lãi suất thường giảmkhi kinh tế khủng hoảng
Tất cả những yếu tố khác không đổi, nhu cầu vay tiền tăng sẽ đẩy lãi suất lên.Tuy nhiên, nếu lãi suất mà khách hàng và doanh nghiệp phải trả tăng lên quánhanh, chi tiêu sẽ tụt giảm và dẫn đến kinh tế sẽ bị chậm lại
1.5ẳ2ẳ Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Lãi suất cho vay của NHTM và hoạt động của các DN
Trong quan hệ tín dụng giữa DN và Ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá
cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các DN phải trả cho người cho vay là cácNHTM Đối với các DN, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phíđầu vào của quá trình SXKD Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thịtrường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tácđộng trực tiếp đến lợi nhuận của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ cáchoạt động kinh tế Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào vàgiá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranhcủa DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động SXKD Xu hướng tănglãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm
vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh tế Ngược lại, khi lãi suất Ngân hànggiảm sẽ tạo điều kiện cho DN giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinhdoanh và khả năng cạnh tranh Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khíchcác DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động SXKD và qua đó kích thích tăngtrưởng trong toàn bộ nền kinh tế
Ở nước ta, do điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển, các kênh huyđộng vốn đối với DN còn rất hạn chế nên nguồn vốn từ các Ngân hàng luôn đóngmột vai trò hết sức quan trọng, do đó, lãi suất cho vay của các NHTM luôn có tácđộng rất lớn đến hoạt động của các DN Trong năm 2008, dưới sức ép của tìnhtrạng lạm phát tăng cao và tác động tò các giải pháp chống lạm phát của Chính
Trang 24phủ, mặt bằng lãi suất cho vay của các NHTM trên thị trường đã có những biếnđộng bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN
là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất Có lẽ mãi sau này người ta không thể quên đượccảnh tượng “dòng người” xếp hàng để rút tiền tò nơi lãi suất thấp sang nơi lãi suấtcao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là 19-20%/năm Theo đó lãisuất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất tối đa, 21%/năm Những tác động tiêucực của lãi suất đến các DN trong năm vừa qua có thể khái quát lại như sau:
- Do lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả SXKD của hầu hết các DN đã bị giảmsút, nhiều DN bị thua lỗ, khả năng trả nợ bị suy giảm
- Lãi suất vay cao, cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế đã dẫn đến tìnhtrạng hầu hết các DN buộc phải cơ cấu lại hoạt động SXKD, cắt giảm việc đầu tư,thu hẹp quy mô và phạm vi hoạt động
- Nhiều DN có quy mô nhỏ, vốn ít, không chịu đựng được mức lãi suất cao,không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động SXKD đã phải ngừng hoạtđộng, giải thể và phá sản
Bước sang năm 2009, bằng nhiều giải pháp của Chính phủ và Ngân hàng Nhànước Việt Nam, mặt bằng lãi suất đã liên tục được điều chỉnh giảm, nguồn cung tíndụng được nới lỏng, cùng với chính sách kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất vay vốnphục vụ SXKD cho các DN, hoạt động SXKD của các DN trong nền kinh tế đã códấu hiệu phục hồi trở lại, nhu cầu vay vốn của DN cũng như số tiền giải ngân chonền kinh tế của các NHTM đã tăng trở lại Điều đó cho thấy các tác động tích cựccủa lãi suất trong bối cảnh cả nước đang tập trung thực hiện các giải pháp kích cầu,chống suy giảm kinh tế, đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu đang diễn ra lan rộng
1.5ẳ3ẳ Lãi suất ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán
Hiệu ứng của sự gia tăng lãi suất chiết khấu
Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, việc này sẽ không tácđộng ngay lập tức lên thị trường chứng khoán Thay vì vậy, lãi suất chiết khấu lại
Trang 25có những tác động trực tiếp theo cách của riêng nó Nó khiến cho việc vay tiền củangân hàng thương mại từ ngân hàng trung ương trở nên đắt hơn Tuy nhiên, sự giatăng lãi suất chiết khấu không chỉ dừng lại ở đó, nó còn tạo nên tác động lan truyềnảnh hưởng đến hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp.
Tác động gián tiếp đầu tiên của việc gia tăng lãi suất chiết khấu: các ngânhàng sẽ tăng lãi suất cho vay đối với khách hàng Khách hàng cá nhân bị ảnhhưởng thông qua việc lãi suất tăng đối với thẻ tín dụng và các khoản vay ngắn hạnkhác Song song đó, các cá nhân cũng có thể sẽ hạn chế mức vay nợ xuống, do vậylúc này người tiêu dùng sẽ có ít tiền hơn để chi tiêu Sau cùng, mỗi tháng mọingười đều phải trả tiền cho các hoá đơn và khi các hoá đơn này trở nên đắt hơn thìkhoản thu nhập dự phòng của mỗi gia đình sẽ trở nên ít hơn
Lãi suất chiết khấu tác động đến các khách hàng tiêu dùng cá nhân, đến lượtmình sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng cá nhân lại ảnh hưởng đến cácdoanh nghiệp, tuy nhiên với doanh nghiệp ảnh hưởng của sự tăng lãi suất chiếtkhấu không chỉ có thế, họ còn chịu tác động nhiều hơn Dễ thấy, chính bản thân cácdoanh nghiệp cũng cần vay tiền tò ngân hàng thương mại để duy trì hoạt động và
mở rộng sản xuất Một khi các khoản vay từ ngân hàng trở nên đắt hơn thì cácdoanh nghiệp sẽ có tâm lý ngại vay tiền và thực tế thì họ phải trả lãi suất cao hơncho các khoản vay Với một doanh nghiệp trong thời kỳ tăng trưởng thì điều này cóthể tác động nghiêm trọng, doanh nghiệp phải thu hẹp phạm vi hoạt động và kếtquả là lợi nhuận bị giảm sút
Trang 26tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khácnhau Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khácnhau.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tưtăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợtăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương laiđược dự đoán sẽ giảm đi Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấpxuống Nếu số lượng doanh nghiệp trên TTCK có sự sụt giảm
này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm
Tác động đến đầu tư
Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán sụt giảm
là điều không hề mong muốn Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá trị khoản đầu tưcủa mình sẽ không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi vốn, cổ tức hoặc cả hai.Nhưng với kỳ vọng về sự tăng trưởng trong tương lai thấp hơn và dòng tiền trongtương lai của doanh nghiệp không tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tưthông minh nào tiếp tục đánh giá cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơnkhi sở hữu các cổ phần
Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so với việc đầu tưvào các lĩnh vực khác Khi ngân hàng trung ương công bố tăng lãi suất chiết khấu,thường sẽ kèm theo là các chứng khoán chính phủ mới được phát hành thí dụ nhưtrái phiếu chính phủ Đây được xem là cơ hội đầu tư an toàn nhất Nói cách khác,lúc này tỷ suất sinh lợi phi rủi ro sẽ tăng và do đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ
và các cơ hội đầu tư tương tự trở nên hấp dẫn hơn Nếu nhà đầu tư vẫn tiếp tụctrung thành với các cổ phiếu thì họ sẽ nâng tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của mình lên để
bù đắp cho phần rủi ro tăng thêm một lượng gọi là phần bù rủi ro Tỷ suất sinh lợimong đợi từ việc nắm giữ cổ phiếu bao gồm tổng của tỷ suất sinh lợi phi rủi ro vàphần bù rủi ro thị trường Dĩ nhiên là độ lớn của phần bù rủi ro khác nhau với mỗinhà đầu tư, tuỳ thuộc vào khả năng chịu đựng rủi ro cũng như doanh nghiệp mà họ
Trang 27đầu tư Tuy nhiên nói một cách tổng quát thì, khi ngân hàng trung ương tăng lãisuất chiết khấu, lãi suất phi rủi ro cũng tăng theo, và do đó tổng tỷ suất sinh lợi đầu
tư đòi hỏi cũng sẽ tăng Do vậy, nếu phần bù rủi ro đòi hỏi giảm trong khi tỷ suấtsinh lợi tiềm năng vẫn như cũ hoặc thậm chí là thấp hơn, thì chắc là nhà đầu tư sẽcảm thấy đầu tư vào cổ phiếu trở nên rủi ro hơn và kết quả là họ sẽ chuyển tiền củamình vào các lĩnh vực đầu tư khác
Tuy nhiên lãi suất ảnh hưởng nhưng không quyết định thị trường
chúng khoán
Lãi suất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, ti vi,mạng internet dễ dàng được người tiêu dùng biết đến và thật sự thì nó có một tácđộng rộng lớn khác nhau đối với cả nền kinh tế Khi lãi suất chiết khấu gia tăng,hiệu ứng tổng thể là nó sẽ làm giảm lượng cung tiền nhằm mục đích duy trì lạmphát ở mức thấp Nó cũng làm cho việc vay tiền của các cá nhân và doanh nghiệptrở nên đắt hơn, nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lượckinh doanh của các doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, khiến chothu nhập thấp hơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho thị trường chứngkhoán trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư
Tuy nhiên phải luôn nhớ rằng, mỗi sự kiện và kết quả luôn có liên hệ vớinhau Lãi suất không phải là yếu tố có tính quyết định đối với giá chứng khoán và
có rất nhiều cách thức khác nhau để xem xét sự thay đổi của giá chứng khoán vàkhuynh hướng thị trường - một sự gia tăng trong lãi suất chiết khấu chỉ là một trongnhững cách đó Do vậy, không ai có thể tự tin nói rằng một công bố gia tăng lãisuất chiết khấu của ngân hàng trung ương có thể tạo nên ảnh hưởng xấu đến toàn
bộ giá chứng khoán
Trần lãi suất ảnh hưởng lớn đến tín dụng tiêu dùng của các ngân hàng
Trần lãi suất có thể sẽ ngăn cản tất cả các khoản cho vay có lãi suất xácđịnh dựa trên thống kê yếu tố rủi ro đối với người vay cao hơn mức trần này Ngayvới cho vay doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng thường có rủi ro và chi phí cao hơn
Trang 28nhưng vẫn chịu chung một “trần”.
Hậu quả của quyết định trên ngân hàng ngừng hoặc hạn chế cho vay loại này,đẩy một phần lớn khách vay ra khỏi thị trường tín dụng chính thức-có điều tiết đểgia nhập thị trường phi chính thức-chợ đen; làm giảm sự phát triển của việc chovay dựa trên những đánh giá khách hàng kỹ càng và quản lý rủi ro chặt chẽ, và dovậy bộ phận có rủi ro cao hơn sẽ không được phục vụ đúng mức
Ngoài ra cơ chế điều hành lãi suất theo trần cũng có thể sẽ làm thui chộtngành tín dụng tiêu dùng còn non trẻ của Việt Nam trước khi nó đạt đến một khốilượng đủ lớn
Điều đó xảy ra không chỉ đúng với các tổ chức tín dụng nước ngoài mà cả vớicác ngân hàng trong nước Sản phẩm mới như cho vay không có bảo đảm dưới hìnhthức vay trả góp hay thẻ tín dụng sẽ bị cắt giảm hay chuyển thành khoản vay “cóbảo đảm”, và do đó sẽ làm giảm khả năng thâm nhập và tác động tích cực của lĩnhvực dịch vụ tài chính
1.5 ẳ 5 ẳ Tác động củã lãi suất thực đến sản lượng và giá cả Lãi suất là biến
số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sảnxuất và tiêu dùng của xã hội về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn cácnước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất thực sẽ có tác động nhạy cảm đến sảnlượng và giá cả Vì vậy, Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) đã rất coi trọng việc điềutiết lãi suất nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ (CSTT) làkiềm chế lạm phát và góp phần tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết kỉnh tế học đã chứng minh, lãi suất thực tác động đến
- Chi tiêu dùng và đầu tư: Một sự tăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trongviệc chi tiêu hiện tại hơn là chi tiêu trong tương lai của cá nhân và công ty Tíndụng trong nước, tổng lượng tiền và cầu thực tế đều giảm (nếu lãi suất giảm sẽ cótác động ngược lại): Khi lãi suất thực tăng lên, đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầumua sắm nhà ở hoặc các hàng tiêu dùng lâu bền do chi phí tín dụng để mua cáchàng hoá này tăng lên Cùng với lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi thực cũng tăng
Trang 29lên Sự gia tăng lãi suất này tác động tới quyết định tiêu dùng của khu vực hộ giađình theo hướng giảm tiêu dùng hiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng trongtương lai Đối với khu vực doanh nghiệp, sự gia tăng lãi suất làm tăng chi phí vốnvay ngân hàng Điều này đòi hỏi dự án đầu tư sử dụng vốn vay ngân hàng phải có
tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thực hiện với mức lãisuất cao hơn này có thể giảm hay nói cách khác, đầu tư cố định có thể giảm Ngoài
ra, lãi suất cao cũng làm tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụ như hàng trongkho) và do vậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải giảm đầu tư dưới dạng vốn lưuđộng
- Phân phối lại thu nhập: Lãi suất tăng cao hơn sẽ phân phối lại thu nhập từngười vay tiền sang người gửi tiền Điều này làm tăng sức chi tiêu của người tiếtkiệm, nhưng sự chi tiêu này bị hạn chế bởi mức tiêu dùng cận biên (phần chi tăngthêm cho tiêu dùng trong mỗi giá trị thu nhập tăng thêm), do vậy người tiết kiệm có
xu hướng tăng chi tiêu dùng thấp hơn sự hạn chế chi tiêu đầu tư của người đi vay,nhất là khi lãi suất tăng cao vượt tỷ suất lợi nhuận đầu tư và các danh mục đầu tư
và dự án, làm thu nhập của người đi vay giảm Do vậy, dẫn đến tổng chi tiêu giảm,GDP giảm Mặt khác, đối với các hộ gia đình nắm giữ nhiều cổ phiếu, trái phiếu,lãi suất tăng sẽ làm giảm giá tài sản tài chính, do đó, giảm thu nhập, từ đó tạo sức
ép giảm tiêu dùng của các hộ gia đình
Tuy nhiên, tác động của lãi suất đến hành vi tiêu dùng và sản xuất của xã hộinhiều hay ít, nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốcgia, trong từng quốc gia thì mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tài chính thìmức độ tác động của lãi suất cũng khác nhau
Đối với Việt Nam từ năm 2000-2007, tác động của lãi suất đến tăng trưởng vàlạm phát có thể thấy được qua việc xem xét ảnh hưởng của lãi suất trên thị trườngtiền tệ Việt Nam đối với hành vi của cá nhân và các doanh nghiệp, từ đó đánh giáảnh hưởng của lãi suất đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Trang 301.6 Chính sách điều hành lãi suất
Khái niêm về chính sách lãi suất
- Chính sách lãi suất được hiểu là 1 tổng thể trong những chủ trương chínhsách và giải pháp cụ thể của NHNN nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thịtrường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kì
- Chính sách lãi suất mà hướng theo đó trên thị trường được hình thành và tácđộng tới môi trường hoạt động, hệ thống tài chính mỗi quốc gia hướng tới 3 mụctiêu chính sau:
+ Khuyến khích sư tiết kiệm và sự phát triển của những trung gian tài chính,phát triển thị trường tài chính
+ Hướng tới các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực hoạt động có tỷ suất lợinhuận cao nhất, có hiệu quả kinh tế nhất
+ Mang lại mức chênh lệch đủ để các định chế tài chính trang trải các chi phívốn, chí phí hoạt động, chi phí chấp nhận rủi ro, và 1 phần lợi nhuận nhất định.Nội dung chính sách điều hành lãi suất
Việc điều hành lãi suất chủ yếu qua 2 cơ chế: cơ chế điều hành trực tiếp và cơchế điều hành gián tiếp
Cơ chế điều hành trực tiếp
Cơ chế điều hành trực tiếp là cơ chế điều hành lãi suất theo đó NHTW sửdụng các quy định hành chính về lãi suất đối với các tổ chức tài chính trung giannhư quy định mức lãi suất cụ thể về tiền gửi ,cho vay, khung lãi suất, trần lãi suấtcho vay, biên độ chênh lệch lãi suất để kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thịtrường Theo cơ chế kiểm soát này thì lãi suất phụ thuộc trực tiếp vào quy đinh cụthể của NHTW, không phản ánh quy luật cung cầu vốn trên thị trường, không thểhiện được vai trò đòn bẩy kinh tế
Ưu điểm lớn nhất của cơ chế này là NHTW quản lý thống nhất lãi suất đối vsnền kinh tế, vì thế cơ chế này chỉ áp dụng phổ biến ở các nước có hệ thống tàichính chưa phát triển Trong các nền kinh tế phát triển lãi suất ngày càng được tự
Trang 31do hóa , xu hướng chung ngày càng giảm dần sự quản lý mang tính trưc tiếp, hànhchính này.
7ểốỆ2Ệ2ể Cơ chế điều hành gián tiếp
Cơ chế điều hành gián tiếp là cơ chế điều hành lãi suất mà NHTW sử dụngcác nghiệp vụ tái cấp vồn, tái chiết khấu, cho vay cầm cố các giấy tờ có giá đốivới các tổ chức tài chính để thực hiện quản lý lãi suất của NHTW trong nền kinh tế.Theo cơ chế này NHTW chỉ công bố các mức lãi suất áp dụng đối với cáckhoản vay của mình đối với tài chính tự do Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụthể theo từng đối tượng khách hàng, theo kỳ hạn của các thị trường tài chính tự do
sẽ do tài chính tự do ấn định, dựa trên quan hệ cung cầu về vốn vay trên thị trường
và mức độ tín nhiệm của TCTD
Khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các TCTD phù hợp với mục tiêuchích sách từng giai đoạn, NHTW sẽ điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiếtkhấu của mình đối với các TCTD, tò đó tác động đến lãi suất trên thi trường tiền
tệ liên ngân hàng và cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinh doanh của TCTD đốivới chủ thể trong nền kinh tế
Ưu điểm của cơ chế này là lãi suất trên thị trường được vận hành linh độngtheo quy luật cung cầu về vốn mà không mang tính chủ quan áp đặt của nhà nước.Vai trò điều hành của Nhà nước chỉ mang tính định hướng cho thị trường tiền tệtheo mục tiêu của chính sách tiền tệ từng giai đoạn Vì vậy cơ chế này được ápdụng ở những nước có hệ thống tài chính phát triển
lế6ẳ3ẳ Các công cụ hiệu quả của chính sách lãi suất
NHNN sẽ căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêulãi suất áp dụng trong toàn hệ thống ngân hàng Thông thường, người ta thườngquy định hai chỉ tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản
2ễ&3ề2ễ Z,«ÍẾ suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất kháchình thành trong nền kinh tế thị trường Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
Trang 32trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế củathị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định Nó là công cụ để điều hànhchính sách tiền tệ quốc gia Qua lãi suất cơ bản, NHTƯ tác động vào thị trường tiền
tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quan cần thiết giữa tổngcung và tổng cầu tiền tệ Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạtđộng tín dụng, là cở sở hình thành lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền
tệ Nó là điểm dung hoà một cách tự nhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vaytiền và của TCTD
Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ Nếu đứngtrên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người vay vốn) người
ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa Điều này có nghĩa
là, vì lợi ích của người gửi tiền, các TCTD không được hạ lãi suất một cách tuỳ tiện
và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các tổ chức tín dụng không được tăng lãi suất chovay quá mức Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của các TCTD, tạo khuôn khổcạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy định lãisuất cơ bản theo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãisuất cho vay tối thiểu Điều này làm cho các TCTD không được vì muốn tạo lợi thếtrong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quáthấp, gây thiệt hại chung cho toàn hệ thống các TCTD
Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầu vốnthông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông thường Đó
là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát dự báohàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho người gửi tiền, bù đắp chi phí và cólãi cho TCTD, yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ từng thời kỳ, rủi ro trong hoạtđộng tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ nóichung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa
Trang 33lãi suất và tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xác định vàđiều hành lãi suất cơ bản Có thể lấy lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa, lãisuất cho vay tối đa, lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với các TCTD hoặc lãisuất trên thị trường liên ngân hàng
• Lãi suất cơ bản là lãi suất tải chiết khẩu
Đây là phương pháp phổ biến được NHTƯ các nước áp dụng Do lãi suất nàyđược chủ động công bố và được xem xét, tính toán tương đối thường xuyên nênthực sự đóng vai trò quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng như cungcầu vốn của các TCTD Nhưng lãi suất chiết khấu lại mang nặng tính chất để điềuhành chính sách tiền tệ
• Zãỉỗ suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa
Thực chất của lãi suất cơ bản loại này là NHTƯ công bố và kiểm soát lãi suấttiền gửi tối đa và tự do hoá lãi suất cho vay Các TCTD sẽ ấn định các mức lãi suấttiền gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các mức lãi suấtcho vay cụ thể phù họp với cung cầu về vốn
•Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa
NHTƯ công bố một mức lãi suất trần nhưng có thể quy định một số mức biên
độ phù hợp với từng loại hình TCTD, thời hạn khác nhau
• Zãỉỗ suất cơ bản là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM Lãi suất liên ngânhàng hình thành trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ cungcầu vốn trong nền kinh tế Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị trường nhiềuhơn và dễ biến động hơn Thông thường lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngânhàng cộng thêm một biên độ gồm phí quản lý món vay, phí rủi ro
7ểốỆ5Ệ2ể Lãi suất tái chiết khấu
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, NHTƯ chuyển sangđiều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế Đó là lãi suất tái
Trang 34chiết khấu của NHTƯ Lãi suất chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hướng dẫn lãisuất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của cácTCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnhhưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ Một sự tăng lên trongcho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ Còn một sựgiảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cungứng tiền tệ
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứngtiền tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những cơnsụp đổ tài chính vì ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng NHTƯđóng vai trò là người cho vay cuối cùng không chỉ cho các NHTM mà còn cho cả
hệ thống tài chính nói chung NHTƯ cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khicác ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn chặn xảy ra những cơn sụp đổ ngânhàng và tài chính
Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền
tệ trong lưu thông và tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tế.Tác dụng về lượng: Việc phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy các NHTMsau khi tạo ra tiền ghi sổ còn phải tiền trung ương để đảm bảo Nhu cầu này khiến
họ phải đi vay ở NHTƯ bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá củamình Việc tái cấp vốn của NHTƯ cho các NHTM có tác dụng về lượng đối vớikhối lượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của
NHTƯ cho các NHTM để họ có thể chi trả cho việc rút vốn khỏi các NHTM
Tác dụng về giá: NHTƯ tái chiết khấu các chứng từ do NHTM xuất trình vớiđiều kiện NHTM phải trả một tỷ suất nhất định do NHTƯ đơn phương quy định.Lãi suất này gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu Các loại lãi suất chovay tư nhân tức là lãi suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho vay Nhànước đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu
Trang 35Mỗi khi tỷ suất chiết khấu thay đổi đều có xu hướng làm tăng hay giảm chiphí cho vay của NHTƯ đối với các NHTM và do đó khuyến khích hoặc cản trở nhucầu xin vay.
Mặt khác, khi kho bạc muốn bán tín phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngân hàng thì
họ phải chào một lãi suất tương đương với tỷ suất chiết khấu Nói cách khác, khi ấnđịnh tỷ suất chiết khấu, NHTƯ cũng ấn định luôn mức lãi suất đi vay của Nhànước
Như vậy, lãi suất chiết khấu chính là một công cụ để NHTƯ điều hành chínhsách lãi suất tín dụng ngân hàng sao cho phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền
tệ quốc gia
Dự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ Các ngân hàng thươngmại được yêu cầu phải giữ lại một tỉ lệ phần trăm các khoản tiền gửi của họ dướidạng dự trữ hoặc là bằng tiền mặt tại quỹ hoặc là bằng tiền gửi tại quỹ dự trữ củaNHTƯ Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động mạnh mẽ lên khả năng chovay của các tổ chức tín dụng và cho cả hệ thống tài chính
Thí dụ, khi NHTƯ muốn kiềm chế lạm phát, họ có thể nâng tỉ lệ dự trữ bắtbuộc, hạn chế khả năng mở rộng tín dụng ủa cá tổ chức tín dụng và buộc các ngânhàng thương mại phải nâng lãi suất cho vay Ngược lại, khi NHTƯ muốn đẩy mạnhtăng trưởng, họ giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc do đó các tổ chức tín dụng có thể mởrộng tín dụng và hạ lãi suất cho vay
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán chứng khoán (thường làchứng khoán nhà nước) trên thị trường tiền tệ ngắn hạn NHTƯ muốn đẩy mạnhtăng trưởng, mở rộng tín dụng, bằng cách mua vào các chứng khoán có giá làm chocung về tiền tệ tăng lên, dẫn tới làm giảm lãi suất Ngược lại, khi NHTƯ muốn thuhẹp tín dụng bằng cách bán ra các chứng khoán có giá làm cho cung tiền tệ giảmxuống dẫn tới tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ
Trang 36/ 6.3.5 Hợp đồng mua lại
Hợp đồng mua lại là hợp đồng bán những chứng khoán, trong đó ngườibán cam kết sẽ mua lại chứng khoán này vào một thời điểm trong tương lai vớimức giá được xác định trước trong hợp đồng
Như vậy, thực chất hợp đồng mua bán lại là hợp đồng cho vay có thế chấp,trong đó chứng khoán đóng vai trò thế chấp Khi mua thế chấp (tức cho vay),NHTƯ bơm tiền vào thị trường tài chính và do vậy làm giảm lãi suất ngắn hạn Khibán thế chấp từ tài khoản của mình NHTƯ rút tiền ra khỏi thị trường tiền tệ và do
đó tạo ra sức ép làm tăng lãi suất ngắn hạn
lẳ6ẳ4 Vai trò của chính sách lãi suất
Như đã nêu ở phần đầu, chúng ta thấy lãi suất có một vai trò và ý nghĩa hếtsức quan trọng trong nền kinh tế, mỗi một sự thay đổi của lãi suất đều kéo theo sựthay đổi của các hoạt động kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, xuất nhập khẩu và do đó
sẽ tác động đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng khác như lạm phát, tăngtrưởng ở phần này, chúng ta sẽ xem xét vai trò của lãi suất đối với một số hoạtđộng của nền kinh tế
Lãi suất với quá trình huy động vốn
Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sửdụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thựctiễn Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy độngnguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướngvốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan
trọng trong chiến lược CNH-HĐH nước ta hiện nay
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phảibảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đivay Cụ thể:
+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bìnhquân
Trang 37+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
Lãi suất có khả năng điều tiết một cách tự nhiên lượng vốn lưu thông từ nơithừa đến nơi thiếu, từ người có vốn sang người cần vốn để đưa vốn vào sử dụngtrong các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh có lợi cho nền kinh tế và xã hội Mứclãi suất nhỏ hơn mức hợp lí sẽ khiến người vay đánh giá thấp giá ừị sử dụng củađồng vốn dẫn đến đầu tư không hiệu quả, lãng phí nguồn vốn, gây thiệt hại cho bảnthân người đi vay lẫn người cho vay và hơn nữa, ảnh hưởng đến sự tăng trưởngkinh tế Ngược lại, mức lãi suất cao hơn mức hợp lí tức là đánh giá quá cao giá trị
sử dụng của đồng vốn thì chỉ có tác dụng khuyến khích người cho vay, làm cho vốntrở nên dư thừa, ứ đọng, không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không sinhlãi, lúc đó đồng vốn trở thành “vốn chết” không còn tác dụng gì nữa
Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi mà
họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả chocác khoản đi vay để đầu tư Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh cóđiều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại Trong môi trường tiền tệ hoànchỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bịảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanhnghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suất của nó cao.Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá,
có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc cơbản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽtạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư
Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng
và tiết kiệm Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn đềhàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó lãi suất cótác dụng tích cực tới các nhân tố đó
Trang 38Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việctiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn, khi lãi suất cao đem lại thu nhập
từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.7.ốỆ^Ệ^ệ Z,ÃÍẾ suất với tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu
Lãi suất có tác động rất quan trọng đến hoạt động kinh tế đối ngoại của mộtquốc gia đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu Khi lãi suất thực của đồngnội tệ tăng lên thì các khoản tiền gửi bằng đồng nội tệ trở lên hấp dẫn hơn so vớitiền gửi bằng ngoại tệ, do đó làm cho giá trị của tiền gửi nội tệ hay cầu về đồng nội
tệ tăng lên nghĩa là tỷ giá hối đoái tăng lên Giá trị cao hơn của đồng nội tệ do kếtquả của việc lãi suất thực tế tăng lên làm cho hàng hoá trong nước trở lên đắt hơnhàng ngoại do đó làm giảm xuất khẩu ròng Vì vậy, khi lãi suất tăng lên thì giá trịcủa đồng nội tệ tăng lên và hàng nội trở lên đắt hơn và xuất khẩu giảm xuống Mốitương quan tỉ lệ nghịch giữa lãi suất và xuất khẩu ròng được miêu tả trong hìnhdưới: Với một mức lãi suất thấp il tỷ giá là thấp và xuất khẩu ròng là cao Với mộtmức lãi suất cao 13 thì tỷ giá là cao và xuất khẩu ròng NX3 là thấp
Trang 39Hình 1.3: Mối tưoug quan tỉ lệ nghịch giữa lãisuất và xuất khẩu ròng
Lãi suất với lạm phát
7ỆốỆ^ễốỆ Lãi suất với quá trình phân bỗ các nguồn lực Tất cả các nguồn lực đều
có tính khan hiếm, vấn đề là xã hội phải phân bổ và sử dụng các nguồn lực sao chohiệu quả Nghiên cứu trong nền kinh tế thị trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực giữa các ngành kinh tế Như ta đã
biết, lãi suất là một loại giá
Trang 40cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xãhội Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào đóchúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu đượcvới chi phí ban đầu Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này có mang lại lợinhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoản tiền lãi của sốtiền vay cho chi phí ban đầu hay không Khi quyết định đầu tư vào một ngành kinh
tế, một dự án hay một tài sản ta phải quan tâm tới chênh lệch giữa lợi nhuận đemlại và số tiền vay phải trả Khi chênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân
bổ tới đó và là sự phân bổ hiệu quả
1.6.4.7 Vai trò của lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Lãi suất với vai trò là đòn bẩy kinh tế cực kỳ lợi hại, có ảnh hưởng trực tiếpđến kết quả hoạt động kinh doanh của một NH và quan trọng hơn là công cụ điềuhành cực kỳ nhạy bén trong hệ thống NH
Vai trò của lãi suất với NHTM thể hiện ở bốn khía cạnh:
- Trước hết, yêu cầu mức giá sản phẩm của NH (lãi suất) phải đảm bảo được
sự duy trì và phát triển của hoạt động NH, nghĩa là lãi suất phải đảm bảo bù đắpđược mọi chi phí hợp lý và có lãi Càng tiết kiệm được chi phí cho hoạt động kinhdoanh và tổ chức hợp lý bộ máy tổ chức và lao động của đơn vị mình NH càng cólãi
- Thứ hai, lãi suất còn là một trong các cầu nối giữa sản phẩm của NH vớikhách hàng,mà chủ yếu là các nhà sản xuất.Vì vậy lãi suất thực của NH không nênvượt quá lãi suất thực mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thờikỳ,từng giai đoạn phát triển một đất nước Lãi suất tín dụng của các NHTM quá cao
sẽ không khuyến khích doanh nghiệp đi vay để đầu tư sản xuất kinh doanh, NH cóthể mất khách Tự do hoá lãi suất tạo động lực thúc đẩy cạnh tranh trong cácNHTM Cạnh tranh thúc đẩy tiến bộ và dân chủ hoá hoạt động NHTM
- Thứ ba: lãi suất tín dụng của NHTM phụ thuộc vào lãi suất của NHTW