1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn

117 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có đạt được hiệu quả cao sau mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn mới và có điều kiện mở rộng sản xuất, cùng các đơn vị khác trong Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam đáp ứn

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

HỨA ĐÌNH THUYÊN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

HỨA ĐÌNH THUYÊN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ GẤM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được

sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn và chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Người cam đoan

Hứa Đình Thuyên

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn” tôi đã

nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; Ban Giám đốc, cán bộ công nhân viên Bưu điện tỉnh Bắc Kạn Đặc biệt là

sự tận tình hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Gấm

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu

Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định

Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này

Tác giả

Hứa Đình Thuyên

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng viii

Danh mục các sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 3

6 Kết cấu của đề tài luận văn 4

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 5

1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh và vai trò nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp BCVT 5

1.1.1 Khái niệm hiệu quả SXKD doanh nghiệp BCVT 5

1.1.2 Phân loại hiệu quả SXKD 7

1.1.3 Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD 10

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD doanh nghiệp BCVT 14

1.2.1 Nhân tố con người 14

1.2.2 Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ 15

1.2.3 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 19

1.2.4 Trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý doanh nghiệp 20

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.2.5 Nhân tố thị trường 22

1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD doanh nghiệp 25

1.3.1 Yêu cầu đối với các chỉ tiêu 25

1.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp: 26

1.4 Kinh nghiệm trong nước và nước ngoài 30

1.5 Khái quát về Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) 34

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 36

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 37

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH BƯU ĐIỆN BẮC KẠN 40

3.1 Giới thiệu về Bưu điện Bắc Kạn 40

3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 41

3.1.2 Cơ cấu tổ chức Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 42

3.1.3 Đặc điểm mạng lưới bưu chính của Bưu Điện Bắc Kạn 46

3.1.4 Các hoạt động khác của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 48

3.2 Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 51

3.2.1 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 51

3.2.2 Hiệu quả kinh doanh dịch vụ truyền thống - dịch vụ bưu chính 56

3.2.3 Hiệu quả kinh doanh các dịch vụ mới 58

3.2.4 Đánh giá hiệu quả SXKD Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn theo các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh 67

3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 71

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

3.3 Đánh giá chung hiệu quả SXKD Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 74

3.4 Phân tích cơ hội và thách thức đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh 75

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN 80

4.1 Một số định hướng phát triển 80

4.1.1 Định hướng phát triển của Ngành 80

4.1.2 Định hướng phát triển của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 81

4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả SXKD Bưu Điện Bắc Kạn 83

4.2.1 Giải pháp về các dịch vụ cung cấp 83

4.2.2 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 89

4.2.3 Nhóm giải pháp về hiện đại hóa 85

4.2.4 Giải pháp về quản trị doanh nghiệp 92

4.2.5 Giải pháp về tài chính 93

4.2.6 Một số giải pháp kinh doanh khác 95

4.3 Đề xuất và kiến nghị 101

4.3.1 Đối với Nhà nước 101

4.3.2 Đối với Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

BCUT Bưu chính ủy thác

BCVN Bưu chính Việt Nam

BTTTT Bộ Thông tin và Truyền thông

CB-CNV Cán bộ công nhân viên

CPN Chuyển phát nhanh

KHCN Khoa học công nghệ

PHBC Phát hành báo chí

PHBCTƯ Phát hành báo chí Trung ương

SXKD Sản xuất kinh doanh

TCBC Tài chính bưu chính

TCBL Tài chính bán lẻ

TCT Tổng Công ty

TCT BĐVN Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam

TMĐT Thương mại điện tử

VNPT Tập đoàn BCVT Việt Nam

VT-CNTT Viễn thông - Công nghệ thông tin

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

VTT Viễn thông tỉnh thành phố

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 46

Bảng 3.2: Số lượng lao động tại các đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh 50

Biểu 3.3: Tổng hợp doanh thu năm 2010-2012 52

Bảng 3.4: Tổng hợp Doanh thu, Chi phí, Chênh lệch thu chi năm 2010-2012 54

Bảng 3.5: Tổng hợp doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ Bưu chính chuyển phát truyền thống (dịch vụ công ích) 56

Bảng 3.6: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí dịch vụ BHXH 60

Bảng 3.7: Tổng hợp doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện 63

Bảng 3.8: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ bảo hiểm PTI 64

Bảng 3.9: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ khách sạn 66

Bảng 3.10: Biến động doanh thu chi phí và lợi nhuận Bưu điện Bắc Kạn 68

Bảng 3.11: Kết cấu tài sản của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 69

Bảng 3.12: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 70

Bảng 3.13: Ma trận SWOT 77

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 44

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong nền kinh tế thị trường mọi doanh nghiệp đều chịu sự tác động của môi trường cạnh tranh và thách thức Để tồn tại và phát triển không còn con đường nào khác là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả đạt được ngày càng cao sau mỗi kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh được coi là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp nói chung và của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn nói riêng

Chỉ có đạt được hiệu quả cao sau mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn mới và có điều kiện mở rộng sản xuất, cùng các đơn vị khác trong Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam đáp ứng nhu cầu truyền đưa tin tức của nền kinh tế và của nhân dân, đồng thời trụ vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự quản

lý vĩ mô của Nhà nước, trong điều kiện kinh tế hội nhập Muốn vậy, Bưu Điện Tỉnh Bắc Kạn cần phải phấn đấu đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong công cuộc đổi mới chung của đất nước, Bưu chính Viễn thông (BCVT) nước ta nói chung, Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể, được xã hội thừa nhận và đánh giá cao Trong một thời gian ngắn đã thu hút công nghệ cao, nâng cấp hiện đại hoá mạng lưới, nâng cao năng lực phục vụ xã hội, phục vụ sự phát triển và hiện đại hoá đất nước Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1996 - 2010 đạt trên 30%; đã huy động hơn 100.000 tỷ đồng đầu tư cho phát triển mạng lưới Tuy nhiên so với BCVT các nước trong khu vực cũng như xu thế hội nhập và cạnh tranh trên thế giới đòi hỏi BCVT nước ta phát triển nhanh hơn nữa Để đạt được mục tiêu trong giai đoạn 2010 - 2020, nâng cao năng lực cạnh tranh cần phải nghiên cứu những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của đơn vị làm nền tảng vững chắc góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nói chung và

của địa phương nói riêng Từ thực tế đó, việc lựa chọn đề tài "Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn" mang

tính cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu truyền đưa tin tức của nền kinh tế và của nhân dân trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Đề tài nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả sản xuất kinh doanh của Bưu Điện Bắc Kạn, góp phần khẳng định thương hiệu và vị thế của Bưu Điện trong thời gian tới cũng như góp phần nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cán bộ công nhân viên Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Phạm vi nghiên cứu về nội dung

- Đề tài lấy tình hình sản xuất kinh doanh tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn làm đối tượng nghiên cứu

- Do hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói chung, Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn nói riêng rất phức tạp, đa dạng cho nên phạm vi nghiên cứu chỉ ở khía cạnh kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Bưu Điện tỉnh Bắc

Kạn, cụ thể là: Luận văn đi sâu nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong kinh doanh dịch

vụ truyền thống (bưu chính chuyển phát, PHBC, bưu kiện, chuyển tiền…) và các dịch vụ mới (đại lý chi trả lương hưu cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn; bảo hiểm phi nhân thọ; tiết kiệm bưu điện…)

3.2 Phạm vi nghiên cứu về không gian

- Đề tài nghiên cứu tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn

3.3 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

- Số liệu phục vụ cho đề tài được thống kê từ 2010 - 2012

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích cụ thể khác như, so sánh, mô hình hoá để tổng hợp và phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của Bưu Điện cũng như xu thế phát triển kinh tế nói chung và ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng Trong quá trình nghiên cứu luận án có kết hợp nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn (Trình bày cụ thể ở chương 2)

5 Những đóng góp mới của đề tài

"Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn" là đề tài đầu tiên cho đến nay nghiên cứu về hiệu quả

hoạt động sản xuất kinh doanh của Bưu Điện tỉnh Vì vậy, đề tài sẽ đóng góp một số điểm mới sau:

Kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy

- Trên cơ sở những lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh, Bưu điện tỉnh Bắc Kạn đã đi sâu phân tích và chỉ ra được những mặt yếu kém và những mặt tích cực trong sản xuất kinh doanh thực tế tại đơn vị Cụ thể dịch vụ truyền thống vẫn đang bị lỗ và phải cấp bù chi phí Nguyên nhân là do giá cước của các dịch vụ này đều do Nhà nước qui định, chính vì vậy không đủ bù đắp chi phí với một tỉnh miền núi như Bắc Kạn Một bức thư với giá tem là 2.000 đ (hai ngàn đồng) mà phải vận chuyển từ trung tâm Bưu điện tỉnh đến tay người nhận có thể ở trong tỉnh xa nhất là hơn 100km hay trong cả nước hơn 1000km thì việc phải bù đắp chi phí là điều hiển nhiên

Với các dịch vụ mới (chi trả bảo hiểm xã hội, tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm phi nhân thọ PTI…) Các dịch vụ này là những dịch vụ Bưu điện tỉnh tham gia làm đại lý Chính vì vậy, tỷ lệ thù lao thu được là do hai đơn vị Bưu điện tỉnh và đối tác thương thảo để đảm bảo doanh thu đủ bù cho chi phí và có phần lợi nhuận Hiện nay, Bưu điện tỉnh đang chú trọng vào các dịch vụ mới này để nhằm mang lại doanh thu bù đắp cho các dịch vụ truyền thống tiến tới cân bằng thu chi cho đơn vị

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Bưu điện tỉnh đã tìm ra những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cũng từ thực tế phát hiện những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sản xuất

- Để khắc phục những yếu kém đó, Bưu điện tỉnh đã chỉ ra được những giải pháp để tổ chức lại sản xuất nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những thế mạnh của đơn vị

- Trên cơ sở những thành công bước đầu của Bưu điện tỉnh, từ đó Bưu điện tỉnh đã đúc kết lại được những kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh trong tương lai cho đơn vị

Các đề xuất được đúc kết từ thực tế của đơn vị có ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tiễn, căn cứ vào đó Bưu điện tỉnh có thể áp dụng và xây dựng các chiến lược, sách lược trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh của đơn vị

6 Kết cấu của đề tài luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu bao gồm các chương sau:

Chương 1: Lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp BCVT Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng và đánh giá hiệu quả sản xuẩt kinh doanh tại Bưu

Điện tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại

Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA

DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh và vai trò nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp BCVT

1.1.1 Khái niệm hiệu quả SXKD doanh nghiệp BCVT

Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản

lý kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp muốn tồn tại trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả

Hiệu quả kinh doanh càng cao, càng có điều kiện mở mang và phát triển sản xuất đầu tư mua sắm tài sản cố định, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước

Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí ít nhất Hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân (hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội)

Nhà kinh tế học người Anh - Adam Smith (1723-1790) cho rằng: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Ở đây hiệu quả được thống nhất với chỉ tiêu phản ánh

kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Với cách tiếp cận này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả

Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí " Quan niệm này

đã được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí tiêu hao Nhưng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

xét theo quan điểm triết học hiện đại thì sự vật hiện tƣợng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh chỉ đƣợc xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung

Quan điểm thứ ba nêu: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó" Ƣu điểm của quan

điểm này là phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Nó đã gắn đƣợc kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí Tuy nhiên, nó không đề cập đến trình độ sử dụng lao động xã hội cũng nhƣ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc kết quả kinh tế cao Nếu xem xét kết quả kinh doanh trên góc độ này thì nó cũng đồng nhất với phạm trù lợi nhuận do đó rất khó khăn trong công tác đánh giá và tổ chức quản lý các doanh nghiệp

Quan niệm thứ tƣ đƣa ra: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu kinh doanh" Đây là một khái niệm tổng quát và là một

khái niệm đúng thể hiện đƣợc bản chất của hiệu quả SXKD

Quan niệm thứ năm cho rằng: "Hiệu quả SXKD là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác của các nguồn lực và nguồn lực chi phí các nguồn lực đó trong các quá trình tái sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh" Đây là một khái niệm tổng quát và là một khái

niệm đúng thể hiện là nền kinh tế của mỗi quốc gia đƣợc phát triển đồng thời theo chiều rộng và chiều sâu

Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cường độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, phát triển kinh tế theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

1.1.2 Phân loại hiệu quả SXKD

Thực tế cho thấy, hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất

cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị … Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả Việc phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý

Nó là cơ sở để xác định chỉ tiêu và mức hiệu quả sản xuất kinh doanh để từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp BCVT

a Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh xã hội:

Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp BCVT Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp BCVT đạt được

Hiệu quả kinh doanh xã hội mà doanh nghiệp BCVT đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh BCVT vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại

tệ, tăng thu cho ngân sách…

Trong quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh không cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động của từng người, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán và quan trọng hơn phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân Giữa hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả kinh doanh cá biệt có mối quan

hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp Tuy vậy vẫn có những doanh nghiệp mặc dù không đảm bảo được hiệu quả (bị lỗ), nhưng nền kinh

tế vẫn thu được hiệu quả Như trong lĩnh vực Bưu chính nhiều dịch vụ hiện nay chưa mang lại lợi nhuận, nhưng nó thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

nước giao cho Do đó, doanh nghiệp BCVT cần phải quan tâm đến hiệu quả kinh

tế xã hội và đó chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

có hiệu quả

b Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp:

Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp BCVT nào cũng gắn liền với môi trường

và thị trường của nó Doanh nghiệp BCVT căn cứ vào thị trường để giải quyết những vấn đề then chốt: Sản xuất kinh doanh như thế nào, sản xuất kinh doanh cho

ai và với chi phí bao nhiêu?

Mỗi doanh nghiệp BCVT tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong những điều kiện cụ thể về trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý lao động, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường sản phẩm dịch vụ BCVT của mình với một chi phí cá biệt nhất định và doanh nghiệp nào cũng muốn được khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ BCVT của mình với giá cao nhất Tuy vậy, khi đưa ra sản phẩm dịch vụ BCVT của mình ra tiêu thụ (cung cấp) trên thị trường, họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trường, nếu sản phẩm dịch vụ của họ

có mức giá tương đương Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức trung bình của xã hội cần thiết về hao phí sản xuất đề ra một đơn vị sản phẩm dịch vụ Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp BCVT với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả của thị trường Suy cho cùng chi phí

bỏ ra là chi phí lao động xã hội Nhưng tại mỗi một doanh nghiệp BCVT mà chúng

ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện ở các dạng chi phí cụ thể:

- Giá thành sản phẩm dịch vụ

- Chi phí ngoài sản xuất

Bản thân mỗi loại chi phí trên có thể được phân chia chi tiết, tỷ mỷ hơn Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp BCVT thì không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chi phí trên nhưng cũng cần thiết đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp BCVT chung được tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành Các đơn vị sản xuất kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố quá trình sản xuất kinh doanh nên các đơn

vị sản xuất kinh doanh phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu được hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá trình đó

c Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh

Trong công tác quản lý hoạt động SXKD BCVT, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản:

- Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn phương án có lợi nhất

Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra Chẳng hạn tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất hoặc từ một đồng vốn bỏ ra…

Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ ra để thực hiện một nhiệm

vụ SXKD nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không Vì vậy công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi bỏ ra chi phí dù một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối

Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án Mục đích chủ yếu của việc tính toán là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án (hoặc cách làm khác nhau cùng thực hiện nhiệm vụ) do đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất

Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một con đường, một giải pháp) mà có thể đưa ra nhiều

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cách làm khác nhau Mỗi một cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư vốn, lượng chi phí khác, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tư khác nhau Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên

tự trói mình vào một cách làm mà phải vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó để chọn ra một phương án có lợi nhất

Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong Bưu Điện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau song chúng lại có tính độc lập tương đối Trước hết, xác định hiệu tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh Nghĩa là trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh

Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của phương án

1.1.3 Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD

a Hiệu quả hoạt động SXKD là công cụ quản lý kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp tích hợp trên cả hai

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

phương, tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả Bản chất của phạm trù hiệu quả chỉ rõ trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất: Trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm đưa ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa

ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Với tư cách một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ sử dụng ở các góc độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp mà còn sử dụng để đánh giá trình

độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Và như đã lưu ý, do phạm trù hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi nó không phải chỉ như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần đạt

b Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với doanh nghiệp:

Sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn

đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế Người ta có thể sản xuất vô tận hàng hóa, sử dụng thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách không cần tính toán, không cần suy nghĩ cũng chẳng sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận Nhưng thực tế mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như: Đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản… là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng Trong khi đó một mặt, dân cư từng vùng, từng quốc gia và toàn thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân số rất lớn và mặt khác, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không có giới hạn: Không có giới hạn ở sự phát triển các loại cầu và ở từng loại

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cầu thì cũng không có giới hạn - càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và càng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dần đến vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc, gay gắt Thực ra, khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần của sự lựa chọn kinh tế, nó bắt buộc con người "phải" lựa chọn kinh tế Càng ngược trở lại trước đây, tổ tiên ta không "phải" lựa chọn kinh tế

vì lúc đó dân cư còn ít mà của cải trên trái đất lại rất phong phú, chưa bị cạn kiệt vì

bị khai thác, sử dụng Khi đó loài người chỉ chú ý phát triển kinh tế theo chiều rộng: Tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất: Tư liệu sản xuất, đất đai…

Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì con người ngày càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế, lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: Sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế… và nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế Nói một cách khái quát là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh

Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác nhau là không giống nhau Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung việc lựa chọn

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

kinh tế thường không đặt ra cho cấp xí nghiệp Mọi quyết định kinh tế: Sản xuất ra cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất Doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung tâm đó và vì thế mục tiêu cao nhất của xí nghiệp là hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước giao bất kể chi phí để có được kết quả đó là bao nhiêu

Hoạt động kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh găy gắt, nâng cao hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất là điều kiện tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung cầu giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự ra quyết định kinh doanh của mình, tự hoạch toán lỗ, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi sẽ đi đến phá sản Lúc này, mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh

Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh

để tồn tại và phát triển Môi trường cạnh tranh này khá gay gắt, trong cạnh tranh đó nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không ít doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể, phá sản Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, cac doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín … nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận

Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu qủa kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tạo và phát triển trong nền kinh tế thị trường

Đối với toàn xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quan trọng thể hiện trên các mặt sau đây:

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Hiệu quả kinh tế ngày càng cao là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu

- Hiệu quả kinh tế cao của các hoạt động sản xuất kinh doanh là nền tảng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, tạo cơ sở cho việc giải quyết các nhiệm vụ xã hội và sự ổn định về chính trị - xã hội của đất nước

- Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc

mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế, chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn thế giới

- Trong việc khai thác các nguồn lực và lợi thế của đất nước, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc nâng cao hiệu quả kinh tế là yêu cầu quan trọng để bảo đảm sự phát triển và bền vững của đất nước

Với vai trò quan trọng của mình, trong cơ cấu kinh tế của đất nước, việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD doanh nghiệp BCVT

1.2.1 Nhân tố con người

Con người là một trong các nguồn lực của sản xuất Con người vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội Sự thành bại trong sản xuất kinh doanh có liên quan mật thiết đến những lợi ích, nghệ thuật quản lý, sự nghiệp đào tạo và lao động sáng tạo, năng lực tiềm tàng trong mỗi con người là vô hạn Trong xu hướng cạnh tranh hoá toàn cầu hiện nay đang dấy lên một lĩnh vực cạnh tranh mới: Cạnh tranh

về nhân lực Nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo, quản lý làm thế nào để khai thác và phát huy được tiềm năng con người trong sản xuất kinh doanh Tuy khoa học kỹ thuật công nghệ ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, áp dụng kỹ thuật tiến bộ mới là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất thôi không đủ, một vấn

đề không kém phần quan trọng là vai trò của người lao động Chúng ta biết rằng thứ nhất, máy móc tối tân đến đâu cũng do con người tạo ra Nếu không có lao động

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

sáng tạo của con người sẽ không có máy móc, thiết bị đó thứ hai, máy móc, thiết bị

dù có hại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ

sử dụng của nhiều công nhân thì mới phát huy được tác dụng, tránh lãng phí, thậm chí hỏng hóc

Thực tế đã chứng minh, trước đây, chúng ta cứ nhập tràn lan máy móc thiết

bị hiện đại của nước ngoài, nhưng do không có trình độ sử dụng, hiệu quả kinh tế không những không đạt được mà còn tốn tiền bảo dưỡng,sửa chữa vì hỏng hóc không biết sử dụng, hoặc sử dụng không hết công suất

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, lực lượng lao động của doanh nghiệp tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế ở các mặt sau: Thứ nhất, bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra công nghệ mới, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu mới,… có hiệu quả hơn trước hoặc cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất, hiệu suất so với trước Thứ hai, trực tiếp điều khiển thiết bị máy móc tạo ra kết quả của doanh nghiệp Hiệu quả của quá trình này thể hiện ở việc tận dụng công suất của thiết bị máy móc, tận dụng nguyên vật liệu trực tiếp làm tăng năng suất, sản phẩm, quy trình bảo dưỡng thiết bị máy móc dẫn đến kết quả không phải chỉ tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả mà còn tăng độ bền, giảm chi phí sửa chữa thiết bị máy móc,… Ngoài ra chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với những thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp

Chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp hiện nay và thực

tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trên thương trường thế giới là những doanh nghiệp có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao có tác phong làm việc khoa học và có kỷ luật nghiêm chỉnh

1.2.2 Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ

Trong kinh tế thị trường hiện nay, công nghệ là yếu tố quyết định cho sự phát triển của sản xuất, kinh doanh, là cơ sở để doanh nghiệp khẳng định vị trí của mình trên

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

thị trường Chính sách công nhiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước chính là khuyến khích các doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với những thay đổi trong môi trường công nghệ Sự thay đổi của công nghệ tác động tới doanh nghiệp theo nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt nó không tách rời khỏi yếu tố con người Hơn nữa yếu tố con người còn quyết định sự thành công hay thất bại của những thay đổi trong công nghệ

Công nghệ và đổi mới công nghệ là động lực, là nhân tố phát triển trong các doanh nghiệp Đổi mới công nghệ là yếu tố, là biện pháp cơ bản giữ vai trò quyết định để doanh nghiệp dành thắng lợi trong cạnh tranh Công nghệ lạc hậu sẽ tiêu hao nguyên nhiên vật liệu lớn, chi phí nhân công và lao động nhiều, do vậy giá thành tăng Mặt khác, công nghệ lạc hậu khó có thể cho ra những sản phẩm có chất lượng phù hợp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Đối với các doanh nghiệp có 2 chiến lược cơ bản trong cạnh tranh: Phân biệt sản phẩm có chất lượng cao, chi phí thấp Cả hai chiến lược đó, muốn thực hiện được đều tuỳ thuộc vào sự đổi mới công nghệ

Nền kinh tế hàng hoá thực sự đặt ra yêu cầu bức bách, buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển, muốn có vị trí vững chắc trong quá trình cạnh tranh, phải thực hiện gắn sản xuất với khoa học kỹ thuật và coi chất lượng sản phẩm là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh chất lượng Như vậy vai trò của đổi mới công nghệ tiên tiến

có thể giải quyết được các vấn đề mà nền kinh tế thị trường đặt ra

Căn cứ vào đặc trưng của công nghệ cũng như nhu cầu cần thiết của việc đổi mới công nghệ thì mục đích chính và quan trọng nhất của đổi mới công nghệ là nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, duy trì và phát triển doanh nghiệp ngày càng đi lên Mục đích đổi mới công nghệ cần phải tập trung là:

* Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, thông qua chiến lược sản phẩm trên cơ chế thị trường Ngày nay tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đạt được một tốc độ cao chưa từng thấy Kết quả của việc đổi mới công nghệ là số sản phẩm mới không ngừng tăng lên Sản phẩm mới là sản phẩm có giá trị cao hơn

so với phẩm cũ cùng chủng loại Quá trình cạnh tranh đối với các sản phẩm đồng

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

dạng trên thị trường đã và đang diễn ra gay gắt Các doanh nghiệp đều mong muốn trên cơ sở cách mạng khoa học kỹ thuật để đổi mới công nghệ của mình, nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm mới chiếm lĩnh thị trường và để thu được lợi nhuận Do vậy, chiến lược sản phẩm có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại của doanh nghiệp Điều này chỉ thực hiện đuợc nếu họ có một chiến lược sản phẩm đúng đắn, đổi mới nhanh chóng công nghệ tạo ra sản phẩm mới với chất lượng tốt Nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại ở chính bản thân sản phẩm của doanh nghiệp Sản phẩm có thể là hàng hoá nhưng cũng có thể là một dịch vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường Do vậy, mục tiêu đổi mới công nghệ là làm đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để chiếm lĩnh được thị trường Nói cách khác, mục tiêu đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp cũng chính là nội dung cơ bản của chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp đó

Trong nền kinh tế thị trường, mỗi sản phẩm có một chu kỳ sống nhất định vì vậy doanh nghiệp cần phải biết đến khi nào thì phải thay đổi sản phẩm và thay đổi

nó như thế nào

Điểm mấu chốt trong chiến lược sản phẩm là doanh nghiệp phải đảm bảo lúc nào cũng có ít nhất một sản phẩm mới hay được gọi là mới để khi thị trường trì trệ chớp thời cơ tung ra Điều cốt lõi của chiến lược này là phải linh hoạt, nhạy bén, có quyết định kịp thời chính xác Tuy nhiên, sản phẩm đó phải bảo đảm "Bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà ta có" Muốn vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm

Việc áp dụng công nghệ tiên tiến cho phép các doanh nghiệp cải tiến mẫu mã

và đổi mới chất lượng sản phẩm của mình đồng thời cũng làm tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí tạo điều kiện cho hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên trong thực tế không phải cứ có vốn là mua được kỹ thuật hiện đại và kinh doanh có hiệu quả Vấn đề là ở chỗ không phải do chất lượng quyết định tất cả mà còn do giá cả

và thị hiếu người tiêu dùng Vì vậy, khi quyết định phương án đổi mới công nghệ doanh nghiệp phải xây dựng được luận chứng kinh tế kỹ thuật trên cả hai mặt: Khối

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

lượng sản phẩm và khả năng tiêu thụ đồng thời phải nắm bắt được thông tin chính xác về nhu cầu thị trường để có phương án đầu tư công nghệ tiên tiến và thích hợp

* Tăng năng suất lao động, tạo ra hiệu quả cao cho các doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều biết rằng chênh lệch giữa giá trị cá biệt và giá trị xã hội của hàng hoá đem lại là lợi nhuận Chênh lệch này càng cao doanh nghiệp càng có lợi nhuận lớn Vì vậy, tất yếu các nhà doanh nghiệp phải tìm mọi cách nâng cao giá trị sản phẩm của mình bằng cách giảm chi phí lao động cá biệt cần thiết trong mỗi đơn vị sản phẩm của mình Con đường duy nhất để mang lại hiệu quả kinh tế cao, tối ưu là nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Nói cách khác, lợi nhuận là động lực thúc đẩy các nhà sản xuất luôn tìm kiếm cách thức, phương pháp áp dụng công nghệ mới Nó không những là động lực, mà còn tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải chạy đua với nhau trong việc đổi mới công nghệ

* Tạo ra lợi nhuận siêu ngạch, đạt được năng suất cao trong sản xuất, kinh doanh Các nhà doanh nghiệp khi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm tăng năng suất lao động sẽ được hưởng kết quả là mức lợi nhuận đem lại

do sự chênh lệch giữa mức tăng năng suất lao động cá biệt và mức tăng năng suất lao động xã hội Mức tăng lợi nhuận do năng suất lao động xã hội tăng, còn mức tăng lợi nhuận siêu ngạch do năng suất lao động cá biệt tăng lên Trong thực tế, lợi nhuận siêu ngạch tăng rất nhiều so với lợi nhuận bình thường, chính đó là một động lực thúc đẩy, ép buộc các nhà doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ

* Góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước về hiện đại hoá, công nghiệp hoá trong ở các doanh nghiệp phù hợp với xu hướng chung của cả nước Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước dựa trên nền tảng của khoa học và công nghệ, có ý nghĩa là đòi hỏi sự ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Như vậy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó thông qua việc áp dụng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

phương pháp và qui trình tiến bộ hơn, chế tạo và sử dụng thiết bị, năng lượng, vật liệu mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và đổi mới sản phẩm

1.2.3 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin

Đối với tất cả các nước trên thế giới hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó tin học và điện tử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Thông tin được coi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay là nền kinh tế thông tin hoá Để kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nước và quốc tế phát triển, các doanh nghiệp rất cần nhiều thông tin chính xác về thị trường, thông tin về công nghệ, thông tin về người mua và người bán, thông tin của các đối thủ cạnh tranh, thông tin về tình hình cung cầu hàng hoá, dịch vụ, thông tin về giá cả, thông tin về

tỷ giá không những thế các doanh nghiệp còn rất cần biết về kinh nghiệm thành công, thất bại của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế, biết được thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của nhà nước và các nước liên quan thị trường của doanh nghiệp

Những thông tin kịp thời chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất kinh doanh ngắn hạn Nếu các doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin một cách thường xuyên, liên tục, không nắm bắt được thông tin một cách kịp thời, chính xác thì dễ dàng bị thất bại

Nhu cầu thực tế to lớn của các doanh nghiệp đòi hỏi xã hội phải phát triển mạnh hệ thống thông tin liên lạc bằng nhiều hình thức khác nhau, từ việc phát triển báo chí, truyền thanh, truyền hình đến việc phát triển các hoạt động Bưu chính Viễn thông Trong kinh doanh nếu biết mình biết người và nhất là biết được các đối thủ cạnh tranh thì sẽ có chính sách để thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách để phát triển quan hệ hợp tác chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong kinh doanh Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm chắc được các thông tin cần thiết và biết

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

xử lí các thông tin đó kịp thời đúng đắn trong kinh doanh là một yếu tố, một điều kiện hết sức quan trọng để thắng lợi trong cạnh tranh và kinh doanh đạt lợi nhuận cao

Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho thông tin là một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị doanh nghiệp hiện nay Hệ thống thông tin nội bộ đáp ứng tốt nhất yêu cầu hiệu quả là hệ thống thông tin có sự trợ giúp của hệ thống chế biến dữ liệu điện tử (hệ thống computer cá nhân và nối mạng trong doanh nghiệp thông qua mạng INTRANET, nối mạng ra bên ngoài mạng quốc gia và mạng thế giới thông qua mạng INTERNET)

1.2.4 Trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý doanh nghiệp

Trong kinh doanh hiện đại, đối với doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như quy mô khác nhau càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Quản trị doanh nghiệp hiện đại luôn chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong hoạt động kinh doanh, xác định đúng các chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở đầu tiên đem lại hiệu quả, kết quả hoặc phí hiệu quả, thất bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức cung ứng vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc nhân tố trình độ tổ chức sản xuất của doanh nghiệp

Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất vật chất nào cũng đều phải có đủ 3 yếu tố: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó vật tư, nguyên liệu là yếu tố không thể thiếu được trong sản xuất kinh doanh Do vậy số lượng chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên liệu, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và do đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Trước tiên việc cung cấp đầy đủ, có chất lượng cao nguyên liệu cho sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút được khách hàng, nâng cao uy tín doanh nghiệp, tăng hiệu quả

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

kinh tế Cần chú ý là đối với nhiều doanh nghiệp sản xuất, tỷ trọng chi phí kinh doanh sử dụng nguyên vật liệu chiếm rất lớn trong cơ cấu chi phí kinh doanh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Tiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc tạo ra kết quả cao hơn trong cùng một lượng nguyên liệu không đổi Do trình độ quản lý yếu kém nên trung bình hao phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm ở các doanh nghiệp nước ta cao gấp 2 -3 lần mức trung bình của thế giới

Ngoài ra, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập một hệ thống cung ứng nguyên liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng tổ chức cung ứng vật tư, nguyên vật liệu đầy đủ kịp thời, chính xác, đúng nơi cần thiết, tránh tình trạng không có vật tư để sản xuất hoặc vật

tư quá nhiều gây ứ đọng vốn

Cùng sự phát triển của kỹ thuật, việc nghiên cứu ứng dụng vật liệu mới trong sản xuất, dịch vụ cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ở trên đã phân tích ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mọi nhân tố đã phân tích ở trên đều có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả và kết quả của doanh nghiệp thông qua các hoạt động quản trị của bộ máy quản trị doanh nghiệp và đội ngũ các nhà quản trị của nó Ảnh hưởng của các nhân tố này tuỳ thuộc rất lớn vào việc tạo ra cơ cấu sản xuất cũng như trình

độ tổ chức sản xuất của bộ máy quản trị doanh nghiệp

Kinh doanh là hoạt động thể hiện sự liên kết chặt chẽ và ngày càng tối ưu các yếu tố sản xuất bằng các kiến thức khoa học và nghệ thuật kinh doanh Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là lãnh đạo doanh nghiệp (Quản trị viên cao cấp), bằng phẩm chất và tài năng của mình, có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

với việc duy trì thành đạt cho một tổ chức một công ty, trong các nhiệm vụ phải hoàn thành, người cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp phải chú ý đến hai nhiệm vụ chủ yếu là:

- Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lượng cao

- Dìu dắt tập thể dưới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc và ổn định Ơ bất kỳ một doanh nghiệp nào hiệu quả kinh tế đều phụ thuộc lớn vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của đội ngũ các nhà quản trị, khả năng xác định chính xác mục tiêu, phương hướng kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp của những người lãnh đạo doanh nghiệp

1.2.5 Nhân tố thị trường

Trong cơ chế thị trường, các điều kiện của thị trường có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những điều kiện đó bao gồm: Sự biến động của hệ cung cầu, thế và lực của các khách hàng và nhà cung ứng, sự thay đổi của các chính sách kinh tế, chính sách đầu tư, chính sách tiền tệ của nhà nước Doanh nghiệp nào thích ứng với những điều kiện thay đổi của thị trường, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động kinh doanh có hiệu quả, sẽ tồn tại và phát triển và ngược lại doanh nghiệp sẽ thua lỗ, đóng cửa hoặc phá sản

Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải thiết lập các mối quan hệ kinh tế với bạn hàng, phải thực hiện các qui định của hệ thống pháp luật, phải giải quyết các vấn đề liên quan xã hội Bất kỳ một doanh nghiệp nào, hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào, to hay nhỏ, suy cho cùng đều chỉ là một trong những phần

từ cấu thành nền kinh tế quốc dân, hay trên phương diện rộng hơn, trong hoàn cảnh thương mại quốc tế đang phát triển mạnh mẽ ngày nay thì doanh nghiệp có thể coi là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày nay chịu ảnh hưởng tác động rất lớn từ môi trường bên ngoài

Đó là tổng hợp các nhân tố khách quan tác động đến hoạt động kinh doanh và cụ thể

là đến kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh như chính trị, xã hội, luật pháp, môi trường sinh thái, kinh tế, cạnh tranh, tài nguyên

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

a Môi trường pháp lý: Bao gồm luật, các văn bản dưới luật, quy trình qui

phạm kỹ thuật sản xuất tất cả các quy định pháp luật về sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không phải chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng của mình, mà còn phải chú ý đảm bảo lợi ích kinh tế của mọi thành viên trong

xã hội Với tư cách một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp

có nghĩa vụ chấp hành mọi luật pháp qui định, với các hoạt động liên quan đến thị trường ngoài nước, doanh nghiệp không thể không nắm chắc luật pháp của nước sở tại và tiến hành các hoạt động trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nước đó

b Môi trường văn hoá - xã hội: tình trạng việc làm, điều kiện xã hội, trình độ

giáo dục, phong cách lối sống, những đặc điểm truyền thống, tâm lý xã hội Mọi yếu tố văn hoá xã hội đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp theo cả hai hướng tích cực hoặc không tích cực Trình độ văn hoá cao sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động có chuyên môn cao và có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức cần thiết nên có tác động tích cực đến việc năng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và ngược lại Phong cách sống công nghiệp tạo thuận lợi cho việc thực hiện kỷ luật lao động, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế và ngược lại

c Môi trường chính trị: ổn định thể chất chính trị, xu hướng chính trị, tương

quan giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội cũng có tác động rất lớn đến hiệu qủa kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là điều kiện tiền đề cho việc phát triển các hoạt động đầu

tư, phát triển các hoạt động kinh tế Vấn đề đầu tư lại tác động rất lớn đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh

d Môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng: Tình trạng môi trường, xử lý phế

thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về môi trường, đều tác động trong một chừng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

mực nhất định đến hiệu quả kinh tế Một môi trường trong sạch, thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh để cải thiện môi trường bên trong doanh nghiệp và tạo điều kiện để nâng cao năng suất lao động làm tăng hiệu quả kinh tế và ngược lại Cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc trực tiếp giảm chi phí kinh doanh để xây dựng cơ sở hạ tầng liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều quan trọng hơn là cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp và do đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, khi điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư hoặc gây cản trở đối với các hoạt động cung ứng vật tư kỹ thuật, mua bán hàng hoá và do đó tác động xấu đến hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

e Môi trường quốc tế: các xu hướng chính trị trên thế giới, chính sách bảo hộ

và mở cửa của thế giới, chiến tranh, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động mở rộng thị trường mua bán của doanh nghiệp và vì thế tác động đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh Môi trường khu vực ổn định (chẳng hạn hiệp hội ASEAN) là cơ sở

để các doanh nghiệp trong khu vực (trong đó có các doanh nghiệp nước ta) tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh doanh trong toàn khu vực

g Môi trường công nghệ: Tình hình nghiên cứu và triển khai khoa học kỹ

thuật mới, mức đầu tư cho khoa học và công nghệ, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển công nghệ của mỗi doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp

h Môi trường kinh tế: Tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế

của Chính phủ, lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, luôn luôn tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ thu nhập quốc dân, biến động của tiền tệ, các chính sách kinh tế, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp và từ đó tác

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

động mạnh mẽ, trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp

Nhìn chung, các nhân tố về môi trường bên ngoài tạo ra cả cơ hội lẫn nguy

cơ đối với mỗi doanh nghiệp, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường nội bộ tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh tồn tại một cách khác quan, gây ra những khó khăn cũng như các điều kiện thuận lợi tác động đến hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh

1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD doanh nghiệp

1.3.1 Yêu cầu đối với các chỉ tiêu

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông là rất phức tạp Do vậy không thể sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá, mà cần thiết phải đưa ra hệ thống các chỉ tiêu Để đo lường và đánh giá chính xác, khoa học, hệ thống các chỉ tiêu này phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

- Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp phản ánh chung tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh từng mặt, từng khâu như: Lao động, vốn và chi phí Các chỉ tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình sử dụng từng yếu tố trung gian vào quá trình sản xuất kinh doanh

- Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phải đảm bảo tính hệ thống và toàn diện Tức là các chỉ tiêu hiệu quả phải phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông

- Hệ thống các chỉ tiêu phải hình thành trên cơ sở những nguyên tắc chung của hiệu quả, nghĩa là phải phản ánh được trình độ sử dụng lao động sống và lao động vật hoá thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí Trong đó các chỉ tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lường được thì mới có thể so sánh tính toán được

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Các chỉ tiêu hiệu quả phải có sự liên hệ so sánh với nhau, có phương pháp tính toán cụ thể, thống nhất và có phạm vi áp dụng phục vụ cho mục đích nhất định của công tác đánh giá hiệu quả SXKD

1.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp:

Hiệu quả SXKD BCVT là một vấn đề phức tạp, có quan hệ đến toàn bộ các yếu tố của quá trình SXKD (lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động) Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản quá trình SXKD có hiệu quả Để đánh giá có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu cụ thể để tính toán Các chỉ tiêu chi tiết cụ thể phải phù hợp, thống nhất công thức đánh giá với hiệu quả chung

a Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông có thể được tính theo hai cách:

+ Tính theo dạng hiệu số:

Với cách này hiệu quả SXKD được tính bằng cách lấy kết quả đầu ra trừ đi toàn bộ chi phí đầu vào:

Hiệu quả SXKD = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào

Chi phí đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động vốn kinh doanh, còn kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng sản phẩm dịch vụ BCVT; doanh thu và lợi nhuận ròng

Cách này tính đơn giản, thuận lợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng SXKD cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả SXKD Ngoài ra tính theo cách này không thể so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các bộ phận đơn vị trong doanh nghiệp SXKD; không thấy được tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội

+ Tính theo dạng phân số:

Hiệu quả sản xuất kinh doanh (H) = Kết quả đầu ra /chi phí đầu vào

Công thức trên phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêu phản ánh chi phí đầu vào Cách này đã khắc phục được những tồn tại khi theo dạng hiệu

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

số Nó đã tạo điều kiện nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh BCVT một cách toàn diện hơn

b Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chi tiết

Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào ta sẽ lập bảng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn những chỉ tiêu cơ bản nhất sao cho số lượng chỉ tiêu là ít nhất, tổng hợp nhất thuận lợi cho việc tính toán và phân tích Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông bao gồm:

b.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề then chốt gắn liền đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông nói riêng Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Như vậy việc nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa là tiền

đề lý luận cho các nghiên cứu hiệu quả về sau Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Tuy nhiên, sử dụng đồng vốn như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế cao đó là câu hỏi mà các nhà làm công tác quản lý vốn phải trả lời Trên phương diện lý thuyết chúng ta chỉ phản ánh được phần nào các nhân tố ảnh hưởng mà nhà quản lý cần phải xác định sự ảnh hưởng của chúng như: Giá cả, cấu thành doanh thu từ các

bộ phận Nhưng đây không phải là việc làm khả quan mà cần thiết nhất là chúng ta phân loại ra từng loại vốn khác nhau để đánh giá cụ thể Thông thường người ta phân theo đặc điểm tuần hoàn vốn Theo cách này ta có vốn kinh doanh của doanh nghiệp BCVT bao gồm: Vốn cố định và vốn lưu động

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Doanh thu đạt được từ một đồng vốn cố định (Sức sản xuất của vốn cố định):

hVCĐ = DT = Doanh thu thuần

VCĐ Vốn cố định bình quân

- Sức sinh lợi của một đồng vốn cố định:

lVCĐ = Ln = Lợi nhuận thuần

VCĐ Vốn sản xuất bình quân

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Ý nghĩa của hai chỉ tiêu trên là trong một kỳ kinh doanh nhất định doanh nghiệp bỏ ra một đồng vốn cố định thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận hoặc doanh thu Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hơn hiệu quả sử dụng vốn vì đối với ngành BCVT thì chi phí khấu hao tài sản cố định là những hao phí thực tế tạo ra kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài ra để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn sử dụng vốn vì đối với ngành BCVT thì chi phí khấu hao tài sản cố định là những hao phí thực tế tạo ra kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Số vòng quay của vốn lưu động:

Số vòng quay VLĐ =

Doanh thu thuầnVốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đơn vị vốn lưu động bỏ vào kinh doanh có khả năng mang lại bao nhiêu đồng doanh thu hay thể hiện khả năng số vòng quay của vốn lưu động

- Thời gian của một vòng chu chuyển:

Thời gian của một vòng chu chuyển =

Thời gian của chu kỳ kinh doanh

Số vòng quay của VLĐ trong kỳCác chỉ tiêu trên không trực tiếp phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của việc sử dụng vốn lưu động trên phương diện lý luận nhưng từ thực tế cho ta thấy:

Số vòng quay vốn lưu động tăng, số ngày chu chuyển giảm thì chứng tỏ tốc độ chu chuyển nhanh dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao

b.2 Hiệu quả sử dụng chi phí

- Mức doanh thu từ một đơn vị chi phí bỏ ra (Sản xuất của chi phí)

Mức doanh thu 1 đồng chi phí =

Doanh thuChi phíChỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ việc sử dụng chi phí của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao Công

Ngày đăng: 19/11/2014, 19:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5- Dương Hữu Hạnh (2009), Quản trị Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Dương Hữu Hạnh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
6. Nguyễn Thị My, Phan Đức Dũng (2008), Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị My, Phan Đức Dũng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
8- Bùi Xuân Phong (2009), Phân tích hoạt động SXKD doanh nghiệp BCVT, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động SXKD doanh nghiệp BCVT
Tác giả: Bùi Xuân Phong
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
11- TS Nguyễn Hoàng Phương (2012), Giáo trình Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
Tác giả: TS Nguyễn Hoàng Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông
Năm: 2012
1- Báo đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp Bưu chính trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn Khác
2- Các văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (2010), NXB Bưu điện Khác
3- Các Báo cáo Tài chính của Bưu điện Bắc Kạn từ năm 2010-2012 Khác
4- Chiến lược phát triển Bưu chính Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 Khác
7- Một số kinh nghiệm phát triển Bưu chính Trung Quốc, trung tâm thông tin bưu điện, NXB bưu điện 2008 Khác
9- Một số trang Web, báo tạp chí chuyên ngành Khác
10- Niên giám thống kê năm 2010, 2011 Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn Khác
12- Nguyễn Cảnh Tuấn: Dự báo tổng thể sự phát triển của các công nghệ bưu chính viễn thông đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Số lượng lao động tại các đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.2. Số lượng lao động tại các đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh (Trang 61)
Bảng 3.6: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí dịch vụ BHXH - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.6 Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí dịch vụ BHXH (Trang 71)
Bảng 3.7: Tổng hợp doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi  dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.7 Tổng hợp doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (Trang 74)
Bảng 3.8: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi   dịch vụ bảo hiểm PTI - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.8 Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ bảo hiểm PTI (Trang 75)
Bảng 3.9: Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi   dịch vụ khách sạn - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.9 Tổng hợp số liệu doanh thu, chi phí, chênh lệch thu chi dịch vụ khách sạn (Trang 77)
Bảng 3.10: Biến động doanh thu chi phí và lợi nhuận Bưu điện Bắc Kạn - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.10 Biến động doanh thu chi phí và lợi nhuận Bưu điện Bắc Kạn (Trang 79)
Bảng 3.12: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.12 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w