Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như Ở Hoa Kỳ năm 1914, E.A.Beal và C.B.Show đã đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác đị
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TRẦN LÊ HIẾU
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN SA PA,
TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TRẦN LÊ HIẾU
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG
CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN SA PA,
TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã Số: 8 62 02 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Kim Tuyến
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, mọi số liệu cũng nhý nội dung báo cáo hoàn toàn do tôi thực hiện và chýa từng công bố trên bất kỳ tài liệu nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản báo cáo Luận vãn của mình!
Tôi xin cam đoan!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Người cam đoan
Trần Lê Hiếu
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
về sự giúp đỡ có hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Đặng Kim Tuyến - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, UBND huyện Sa Pa, các phòng ban chuyên môn của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai; các xã và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả
Trần Lê Hiếu
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học: 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.1.3 Nhận xét về vấn đề nghiên cứu 18
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20
1.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội 22
1.2.3 Nhận xét và đánh giá khu vực nghiên cứu 25
Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp luận 27
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai 34
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.1.1 Khái quát tài nguyên rừng huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 34
3.1.2 Đặc điểm vật liệu cháy 40
3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng trên địa bàn huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai 44
3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên 44
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 50
3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 54
3.3.1 Bộ máy và công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ PCCCR 54
3.3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng cháy 58
3.3.3 Các biện pháp phòng cháy rừng đã thực hiện 59
3.3.4 Tình hình cháy rừng 67
3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa 73
3.4.1 Phân tích SWOT 73
3.4.2 Bài học kinh nghiệm 76
3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 77
3.5.1 Về công tác tổ chức 79
3.5.2 Về thể chế 80
3.5.3 Tuyên truyền, tập huấn và diễn tập PCCCR 80
3.5.4 Xây dựng các công trình phòng cháy, trang thiết bị chữa cháy rừng 81
3.5.5 Giải pháp làm giảm vật liệu cháy bằng thủ công 82
3.5.6 Giải pháp xã hội hoá nghề rừng 82
3.5.7 Các giải pháp kỹ thuật trong công tác PCCCR ……… 84
3.5.8 Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng……… 84
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
3 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9090
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DBNCCR : Dự báo nguy cơ cháy rừng
KTLS : Kỹ thuật lâm sinh
KTLSPCR : Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
PCCCR : Phòng cháy, chữa cháy rừng
PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất đai tự nhiên khu vực nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Diện tích rừng tự nhiên chia theo các trạng thái 35
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích rừng trồng huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 37
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo loài cây 38
Bảng 3.5 Bảng sinh khối Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng 41
Bảng 3.6 Độ ẩm Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng 42
Bảng 3.7 Khối lượng Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng sau khi sấy 43
Bảng 3.8 Tổng hợp trung bình yếu tố thời tiết tại huyện Sa Pa năm 2018 48
Bảng 3.9 Diện tích nương rẫy đang canh tác trên địa bàn huyện 52
Bảng 3.10 Thống kê những nguyên nhân gây cháy rừng 53
Bảng 3.11 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ban chỉ đạo cấp huyện 56
Bảng 3.12 Cơ cấu bộ máy điều hành của BCĐ cấp xã 57
Bảng 3.13: Xác định các vùng trọng điểm cháy rừng tại huyện Sa Pa 61
Bảng 3.14 Các công trình phòng cháy trên địa bàn huyện Sa Pa 64
Bảng 3.15 Dụng cụ, phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng tại Sa Pa 65
Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả tập huấn, diễn tập từ 2010 đến 2018 67
Bảng 3.17 Thống kê số vụ cháy rừng từ năm 2010 đến 2018 68
Bảng 3.18 Tình hình cháy rừng theo các tháng trong năm (2010-2018) 71
Bảng 3.19 Nguyên nhân cháy rừng từ năm 2010-2018 72
Bảng 3.20 Các công việc ưu tiên và những biện pháp giảm thiểu tối đa số vụ cháy, thiệt hại do cháy rừng gây ra 78
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bảng hiệu dự báo cấp cháy rừng xã Tả Van 9
Hình 1.2 Ảnh đốt trước Vật liệu cháy 18
Hình 2.3 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 29
Hình 3.1 Thảm thực vật rừng Tống quá sủ 42
Hình 3.2 Thu gom vật liệu chấy rừng thông mã vĩ 44
Hình 3.3 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Sa Pa 49
Hình 3.4 Biểu đồ diễn biến Lượng mưa (R) và độ ẩm không khí trung bình (W) 50
Hình 3.5 Sơ đồ Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng của huyện SaPa 55
Hình 3.6 Diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng 66
Hình 3.7 Biểu đồ số vụ cháy, diện tích cháy xảy ra trong các năm, từ năm 2010-2018 70
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người và thiên nhiên Trong những thập kỷ qua hoạt động kinh tế của con người đã làm cho rừng không những suy giảm cả về diện tích và chất lượng Một trong những nguyên nhân gây mất rừng là do cháy rừng và cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế và môi trường sinh thái
Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bị cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà kính như CO, CO2, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Mặc dù công tác phòng cháy chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả
ở những nước phát triển nhất Đấu tranh với cháy rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống
Ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn ha rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,… Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2000 - 2018, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khá lớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, Cà Mau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ đồng, Gia Lai 1,4 tỷ đồng,…) Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều vụ cháy rừng gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn Quốc Gia
U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200 ha rừng, chi phí cho công tác chữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lai Châu cháy 230 ha… Chỉ tính riêng đến tháng 3 năm 2007, cả nước bị cháy 512 ha, trong
đó có 237 ha rừng trồng phòng hộ Năm 2016 cả nước đã xảy ra 490 vụ cháy rừng, thiệt hại 3.374 ha rừng các loại, tăng 13 vụ, 1.314 ha so với năm 2015 (năm 2015 thiệt hại 2.060 ha) Địa phương để xảy ra cháy rừng nhiều như: Sơn La 29 vụ/919ha,
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Điện Biên: 51 vụ/1.156ha, Bình Định 41/174ha, Hà Giang: 31 vụ/159ha, Nghệ An
46 vụ/78 ha, Lào Cai: 24 vụ/46ha, Hà Tĩnh 17 vụ/ 79 ha, Tây Ninh 20 vụ/61 ha, Bà Rịa Vũng Tàu 23 vụ/71 ha, Lâm Đồng 34 vụ/118 ha Gần đây nhất là cháy rùng Từ 28-6 đến 1-7/2019, toàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 12 vụ cháy rừng khiến hơn 300 ha rừng
bị thiêu rụi phải huy động với hàng ngàn người tham gia dập lửa, hơn 1.300 cán bộ
chiến sỹ thuộc LLVT Hà Tĩnh Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 333.000 ha rừng dễ cháy và rất dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng Rừng là tài sản quốc gia, là nguồn sống của người dân và là yếu tố quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Vì vậy, cháy rừng với quy mô và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn xã hội Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác PCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra Huyện Sa Pa có tổng diện tích tự nhiên 68.137 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp 52.064ha, chiếm 76,4% diện tích tự nhiên của huyện (Đất có rừng: 45.693ha; Đất chưa có rừng: 6.371ha), trong đó: Quy hoạch rừng phòng hộ: 21.420ha; Rừng đặc dụng: 20.951ha; rừng sản xuất 9.693ha;
Tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 67% Sa Pa là một trong những huyện có
tỷ lệ che phủ rừng cao nhất tỉnh Lào Cao Đây cũng là nơi thường xảy ra cháy rừng hơn so với các huyện khác trong tỉnh, nguyên nhân chủ yếu là do người dân tự ý mang lửa vào rừng, đốt nương làm rẫy, không tuân thủ quy trình PCCCR Theo thống kê từ năm 2010 trở lại đây trên địa bàn huyện Sa Pa xảy ra 25 vụ cháy rừng làm thiệt hại 818,1 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên bị cháy là 782,9 ha, rừng trồng cháy là 35,2 ha; đặc biệt là vụ cháy rừng năm 2010 và đầu năm 2012 tại Vườn Quốc gia Hoàng liên
Sa Pa làm thiệt hại hơn 700 ha rừng Có thể thấy số lượng các vụ cháy rừng ở huyện
Sa Pa tuy không lớn nhưng mức độ ảnh hưởng và tác động rất lớn, đặc biệt là trong
3 năm gần đây Hiện nay, huyện Sa Pa đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR nâng cao
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhận thức của người dân và chủ rừng Tuy nhiên, số vụ cháy rừng vẫn tiếp tục xảy ra
và có tính chất gia tăng trước tình hình biến đổi khí hậu khác thường, nguy cơ xảy ra cháy rừng tại các khu vực rừng giáp ranh giữa các huyện trong tỉnh và tỉnh Lai Châu
là rất cao, hiệu quả của công tác PCCCR chưa cao, do đó đã gây thiệt hại nhiều về tài
nguyên rừng, kinh tế và môi trường Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Thực trạng
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng Tài nguyên rừng và đặc điểm của vật liệu cháy rừng
- Đánh giá được thực trạng công tác Phòng cháy chữa cháy rừng và các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng
- Phân tích, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và dề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học:
- Đề tài đã phân tích được một số cơ sở khoa học: các yếu tố về điều kiện tự nhiên: Mùa cháy rừng, tháng khô, hạn, kiệt và các yếu tố kinh tế - xã hội… làm cơ sở cho việc
đề xuất các giải pháp PCCCR tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai
- Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại các địa phương khác của tỉnh Lào Cai nói riêng và các tỉnh Miền núi phía bắc nói chung
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề tài thực hiện nhằm đề xuất được một số giải pháp cho công tác PCCCR cho huyện Sa Pa; Kết quả nghiên cứu của đề tài dựa trên việc điều tra đánh giá công tác PCCCR tại địa phương giúp chúng tôi nắm được tình hình thực tế trong công tác quản
lý, bảo vệ rừng nói chung và PCCCR nói riêng Từ đó đề tài đã đề xuất các giải pháp PCCCR cho huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trong đó xác định được các công việc ưu tiên
và các giải pháp làm giảm nguy cơ cháy rừng của huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai trong
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thời gian tới, góp phần quản lý rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế và chức năng Đặc dụng, phòng hộ môi trường sinh thái tại địa bàn nghiên cứu
- Thông qua thực tiễn sản suất tiếp xúc với người dân và cán bộ tại địa phương chúng tôi đã tích lũy thêm một số kinh nghiệm giúp bổ sung kiến thức thực tế, bản địa
và kỹ năng làm việc với người dân đồng bào sống gần rừng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng, Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại
do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm t́m hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh, từ đó
đề ra những giải pháp PCCCR phù hợp Tuy nhiên, với sự phức tạp và khác nhau về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnh hưởng của các nhân tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương
Vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trong điều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có hiệu quả nhất
Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như
Ở Hoa Kỳ năm 1914, E.A.Beal và C.B.Show đã đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng với các yếu
tố khí tượng thủy văn, để từ đó đề ra những biện pháp PCCCR Họ cho rằng: Độ ẩm của thảm mục nói lên mức độ khô hạn của rừng Độ khô hạn của rừng càng cao thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn (dt Bế Minh Châu và Cs, 2001)
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ở Nga trong những năm 1929 - 1940 Nesterop đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp (các yếu tố khí tượng thủy văn và các yếu tố khác), ông đã tìm ra được mối quan
hệ chặt chẽ giữa khả năng xảy ra cháy rừng với các chỉ số khác như: Số ngày không mưa, nhiệt độ không khí lúc 13h, nhiệt độ điểm sương Từ đó ông đã xây dựng lên công thức thể hiện mối quan hệ này:
Trong đó:
Pi: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng
n: Số ngày không mưa kể cả ngày cuối cùng có p<5mm
ti: Nhiệt độ không khí lúc 13h
Di: Nhiệt độ điểm sương
Ở Thụy Điển và các nước thuộc bán đảo Scandinavia người ta sử dụng chỉ số Angstrom để dự báo khả năng cháy rừng
Công thức tính như sau:
ITrong đó:
I: Chỉ số Angstrom để xác định khả năng cháy rừng
R: Độ ẩm không khí tương đối thấp trong ngày (%)
T: Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (oC)
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản dễ tính, nhưng nhược điểm là độ chính xác không cao (dt Phạm Ngọc Hưng, 1994)
Ở Đức, Waymann qua nghiên cứu thấy độ ẩm nhỏ nhất của vật liệu cháy và nhiệt
độ cao nhất trong ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ đó ông đã đưa ra mối quan
hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và khả năng cháy rừng để dự báo nguy cơ cháy rừng Phương pháp dự báo cháy rừng này đòi hỏi việc tiến hành tương đối phức tạp (dt Phạm Ngọc Hưng, 1994)
Ngoài ra trên thế giới còn áp dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chỉ tiêu khả năng bén lửa của Yanmei (Trung Quốc), phương pháp hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng (Hoa Kỳ)… (dt Trần Văn Mão, 1998)
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.1.1 Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của
3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu
tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P., Thomas P., Trabaud L., Wiliams D., 1983) Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:
(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác;
(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986; Timo V Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007)
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế - xã hội của con người Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk), độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ
ẩm vật liệu cháy (Wvlc) rừng qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: sản xuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể
ở địa phương (Laslo Pancel Ed, 1993; Richmond R.R, 1976)
1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết
mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy và khả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí,
độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K, 1972) Ở một số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979), ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa
và lượng bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia
sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown A.A, 1979) Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong
đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001) Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài
ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
rừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển
Hình 1.1 Bảng hiệu dự báo cấp cháy rừng xã Tả Van
1.1.1.3 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993) Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất vẫn
là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001)
Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến của các chuyên gia
cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương
1.1.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng
Việc nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:
(1)- Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách: Tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn lửa sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại;
(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn để cô lập đám cháy Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ XX Các nước tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất là Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng
tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986) Năm 1968, Stoddard - một trong những người đầu tiên đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ và chim thú Năm 1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một
số nước đi đầu trong lĩnh vực lửa rừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy cao Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng tương đối phổ biến và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa rừng ở những nước này Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đốt trước có điều khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993)
(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)
Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở các nước đang phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng những công trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực
tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương
1.1.1.5 Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng
Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo Việc ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích dược những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khă năng xuất hiện cháy rừng và phát hiện sớm lửa rừng trên vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy
cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương,
vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…
Những phương tiện dập tắt đám cháy rừng được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện
cơ giới như cưa xăng, máy kéo, mát gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, náy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v…
Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga,…
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả Vì vậy,
đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập chung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hình phạt dối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, về những giải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
1.1.2 Ở Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Công tác DBNCCR ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 Tuy nhiên, trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G Nesterop (Ngô Quang
Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm Theo kết quả nghiên cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 5mm Ngoài ra, trên
cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục (H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc Hưng, (2004) đã đưa
ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục Ông căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp DBNCCR ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P
và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp Từ 1989 - 1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của UNDP, Cooper A N, (1991) đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ tiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ
số là: 1.0, 1.5, 2.0 và 3.0, nếu tốc độ gió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25 và trên 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm
Võ Đình Tiến (1995) đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy giá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế -
xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng (NCCR) Tuy nhiên, vì căn cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch
mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR Kết quả nghiên cứu Vương Văn Quỳnh (2005) đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước
Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, kiểu rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địa phương Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền thông hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm và thông tin về cháy rừng
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.2.2 Nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCR; mặc dù, trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy như: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 1992)
Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Theo Phạm Ngọc Hưng (2001), đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanh xung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,… nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên như: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo (đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vận chuyển,…) để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề rộng từ 6 - 10m Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa tại nhiều địa phương
ở nước ta như sau:
- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở
vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng
- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn cháy
lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…
- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân
thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố nhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông
- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,
mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai vản lửa ở nơi đồi trọc
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ
biến ở đồi trọc, bãi hoang, nới rừng nghèo kiệt, phân bố vừng Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già
xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải rác
trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu hết
khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,… và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tẩng trên là Keo tai tượng, tầng dưới là
1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng
- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng
đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L)
- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng
cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha
De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miền Bắc rất tốt
1.1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) chủ yếu hướng vào:
(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng,
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể: Phùng Ngọc Lan (1991) đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạch đàn trắng là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưa sáng, tốc độ sinh trưởng và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng không giống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu,
hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu có thể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao với nhau; đến năm thứ 3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hang làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao với các loài khác Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng cây lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm
cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và
đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu đến; cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tạo ra các lâm phần hài hòa, ổn ðịnh, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh
tế
(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002)
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể: Phó Đức Đỉnh (1996) đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông non 2 tuổi tại
Đà Lạt (Lâm Đồng) Tác giả cho rằng, ở rừng thông non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có thể gây cháy tán cây rừng Phan Thanh Ngọ (1996) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai Tác giả Thái Thành Lượm (1996) đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiến tái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thành nhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng
Qua thực tiễn hoạt động và đức kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửa rừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR)
ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biện pháp PCR quan
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốt trước có điều khiển Trên cơ sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cách tiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng các kết quả này vẫn còn nhiều hạn chế
Có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCR ở nước ta có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng của các tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng Tứ giác Long Xuyên là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng trồng
Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
Hình 1.2 Ảnh đốt trước Vật liệu cháy 1.1.3 Nhận xét về vấn đề nghiên cứu
Tổng quan các vấn đề từ lý luận, thực tiễn và nghiên cứu liên quan đến PCR
ngoài nước và trong nước cho thấy:
- Trên thế giới nghiên cứu về PCCCR được bắt đầu từ thế kỷ XX Các kết quả nghiên cứu về bản chất của cháy rừng cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế
- xã hội của con người đồng thời cũng khẳng định rằng, chưa có một yếu tố nào khác ngoài ba yếu tố trên Về các kết quả nghiên cứu về DBNCCR đều khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện thời tiết với độ ẩm vật liệu cháy có khả năng xuất hiện cháy rừng Hầu hết các phương pháp DBNCCR đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của các yếu tố khí tượng Đến nay, vẫn chưa có phương pháp dự báo chung cho
cả thế giới Đối với các công trình PCR hiện nay, vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình PCR Các biện pháp KTLSPCR trong thời gian qua, cũng chủ yếu làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng các biện pháp trồng rừng hỗn giao và làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng đốt trước
- Trong nước nghiên cứu về PCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu
về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCR Song các công trình này, được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính Đối với các biện pháp KTLSPCR
có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnh hưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về PCCCR ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án PCCCR của Sa Pa người ta chưa bố trí được hợp lý các công trình PCCCR, hoặc tăng cường được những trang bị cần thiết và tổ chức được lực lượng PCCCR hợp lý ở các khu vực khác nhau trong địa bàn huyện, Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động
PCCCR của địa phương Vì vậy, đề tài “Thực trạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng ở địa phương và hoàn thiện giải pháp KTLS
PCR là hết sức cần thiết
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Sa Pa là huyện vùng núi cao của tỉnh Lào Cai, có diện tích tự nhiên 68.137 ha, chiếm 10,65% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, có tọa độ địa lý: Từ 22007’04’’ đến
22028’46’’ vĩ độ Bắc và từ 103043’28’’ đến 1040 04’15’ kinh độ Đông, có phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai;
- Phía Đông giáp TP Lào Cai và huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai;
- Phía Tây giáp huyện Tân Uyên, Tam Đường - tỉnh Lai Châu
Huyện Sa Pa có 18 xã, thị trấn, trong đó thị trấn Sa Sa là trung tâm huyện lỵ, nằm trên trục Quốc lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu, cách thành phố Lào Cai 35 km về phía Tây Nam
1.2.1.2 Địa hình
Sa Pa có địa hình phức tạp, hiểm trở chia cắt mạnh thành nhiều hệ dông, khe lớn nhỏ, độ dốc đất có rừng rất lớn từ 25 - 600 Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 1.600m, ảnh hưởng trực tiếp tới công tác PCCCR, huy động lực chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn
1.2.1.3 Khí hậu
Khí hậu Sa Pa mang đặc trưng chung của khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn, hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt Mùa đông thường mưa kéo dai nhiều ngày
và gây ra băng tuyết Nhiệt độ trung bình là 15,2 oC Lượng mưa trung bình là 7,5
mm Trong năm, có 6 tháng khô hạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Độ ẩm trung bình là 87.6 %, độ ẩm năm thấp nhất bình quân là 49,6 % Số giờ nắng trung bình là 3,8 giờ, số giờ nắng năm cao nhất bình quân là 9,4 giờ Trong mùa khô hanh thường kèm theo sương muối, mưa tuyết, mưa đá và gió Ô Quý Hồ là nhân tố chính gây chết
thực bì hàng loạt, khô nỏ rất dễ xảy ra cháy rừng (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy
văn Sa Pa năm 2018)
1.2.1.4 Thủy văn
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sa Pa có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mưa lớn, địa hình phân cắt mạnh tạo ra mạng lưới sông suối khá dày, bình quân khoảng 0,7-1,0 km/km2, có dạng cành cây và vuông góc, hệ thống sông suối nhỏ và chủ yếu xâm thực sâu Với hai hệ thống suối chính là hệ thống suối Đum và hệ thống suối Bo
- Hệ thống suối Đum có tổng chiều dài khoảng 50 km, bắt nguồn từ vùng núi cao phía Bắc dãy Hoàng Liên Sơn được phân thành hai nhánh chính và phân bố ở hầu hết các xã phía Bắc và Đông Bắc gồm các xã Sa Pả, Trung Chải, Tả Phìn với tổng diện tích lưu vực khoảng 156 km2
- Hệ thống suối Bo có chiều dài khoảng 80 km, bắt nguồn từ các núi cao phía Đông Nam dãy Hoàng Liên Sơn với diện tích lưu vực khoảng 578 km2 chạy dọc theo sườn phía Đông và Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn gồm các xã San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Nậm Cang, Nậm Sài, Thanh Phú, Suối Thầu, Thanh Kim và Bản Phùng Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưu lượng nước thất thường và biến đổi theo mùa Vào mùa khô các suối thường cạn
1.2.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Sa Pa là 68.137 ha, trong đó có 79,07 % diện tích đã được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích Việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của 3 nhóm chính cụ thể:
+ Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao (chiếm 96,21%diện tích đất đang sử dụng
tích này cần được tiếp tục đưa vào sử dụng trong những năm tới (Nguồn: Phòng tài
nguyên và Môi trường Sa Pa năm 2018)
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.1.6 Tài nguyên rừng
Tính đa dạng sinh học của Sa Pa:
- Về Động vật: Có hệ động vật phong phú và da dạng cao, theo thống kê có 555 loài động vật có xương sống, trong đó có 60 loài động vật quý hiếm ghi trong sách
đỏ Việt Nam (1992); 33 loài trong danh lục đỏ IUCN/2004; 05 loài chim đặc hữu cho Việt Nam và 25 loài chim khác đặc hữu cho vùng núi cao Hoàng liên sơn
- Về thực vật: Hệ thực vật Phan Si Păng mang đặc trưng các yếu tố thực vật Á nhiệt đới và ôn đới của ba luồng thực vật đó là: Vân Nam-Hymalaya; Bắc Việt Nam-Nam Trung Hoa và luồng thực vật Ấn Độ-Malaysia Bước đầu đã thống kê được 2.343 loài thực vật có mạch thuộc 1.020 chi và 256 họ; có số loài thực vật đặc hữu, quí hiếm có 149 trên tổng số 2.343 loài, chiếm 25% số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; số loài thực vật quí hiếm trong sách đỏ Việt Nam là 133 loài; sách đỏ thế giới
là 34 loài Những loài thực vật quí hiếm đặc trưng đó là: Pơ Mu, Bách xanh, Thông
đỏ, Vân sam Hoàng liên, Đinh, Dẻ Tùng, Sến, Vù Hương, Chò Chỉ, Lát Hoa, Tam Thất, Đẳng Sâm, Đỗ Trọng
- Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 52.064 ha, đất có rừng 45.693 ha, đất chưa có rừng là 6.371 ha, trong đó rừng đặc dụng 20.951 ha, rừng phòng hộ 21.420
ha, rừng sản xuất 9.693 ha, tỷ lệ che phủ rừng đến 31/12/2018 đạt 67%: Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng trên địa bàn huyện Sa Pa thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên quản lý, tổng diện tích rừng 20.951h, trong đó rừng tự nhiện 18.806 ha, rừng trồng
414 ha; Rừng phòng hộ: Rừng phòng hộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý, diện tích rừng tự nhiên 15.174,4 ha; Rừng sản xuất: 6.875,46 ha Diện tích rừng sản xuất chủ yếu là rừng bảo vệ của cộng đồng thôn bản, diện tích rừng tự nhiên 4.218,84 ha
1.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Tình hình dân số, lao động, thành phần dân tộc và phân bố dân cư
Dân số toàn huyện Sa Pa tính đến năm 2018 là 57.152 người, 10.975 hộ, trong
đó Nữ 28.223 người chiếm 49,38% tổng số dân Dân số thành thị là 9.715 người/2.715
hộ, chiếm 17%
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Lực lượng lao động toàn huyện 29.875 người, chiếm 52,27 %, trong đó thành thị là 6.012 người, nông thôn 23.863 người Nhìn chung lực lượng lao động phân bố không đều, lực lượng đông nhưng lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp, một số lao động còn thiếu việc làm, năng suất lao động chưa cao, tập quán sản xuất còn lạc hậu như thả rông gia súc, sản xuất nương rẫy quảng canh, luân canh còn phổ biến … Đây
là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm rừng, làm suy giảm về diện tích, nguồn tài nguyên và suy thoái đất đai
Sa Pa là một huyện miền núi với 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất
là dân tộc Hmông chiếm 54,9%, dân tộc Dao 25,5%, dân tộc Kinh 13,6%, dân tộc Tày 3%, dân tộc Giáy 1,6%, dân tộc Xá Phó 1,2%, dân tộc Thái 0,2% Dân cư phân
bố trong 17 xã và một thị trấn gồm 95 thôn, bản với 6247 hộ Tổng dân số 37272 người, tỷ lệ tăng dân số 2,84%, mật độ dân số 54,9 người/km2 Trong mỗi thôn bản lại có sự phân hóa theo các đặc điểm sinh thái của các tộc người Nhóm Dao - Giáy -
Xá Phó sống tập trung trên đai cao 700 - 1500 m, nhóm Mông cư trú trên đai cao 700
- 2000 m, còn nhóm Tày - Thái cư trú ở độ cao dưới 700m, sống tập trung ở một số
xã phía nam huyện như Bản Hồ, Nậm Sài, Thanh Phú là vùng thung lũng bằng phẳng
có nhiều ruộng nương dễ sinh sống Người Kinh cư trú ở phần lớn chỗ bằng phẳng, dọc theo hai bên đường và nhiều ở thị trấn
Mật độ dân số phân bố không đều giữa các xã trong huyện, giữa nông thôn với thành thị Các dân tộc chung sống đan xen nhau, tuy nhiên mỗi dân tộc có tập quán sinh hoạt riêng tạo nên sự phong phú đa dạng trong văn hóa Sa Pa, đây chính là điểm hấp dẫn không nhỏ đối với du khách đặc biệt đối với du khách nước ngoài trong việc tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Người dân sống chủ yếu phụ thuộc vào rừng và những ngành nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, mây tre đan… Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở trị trấn Sa Pa, sống bằng nghề nông nghiệp và dịch vụ
thương mại (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Sa Pa năm 2018)
1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Từ năm 2010 đến nay nền kinh tế của huyện Sa Pa được duy trì, ổn định và phát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, là huyện có tốc độ phát triển kinh tế và thu ngân sách đứng thứ 2 của tỉnh (sau thành phố Lào Cai) Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp và giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Với lợi thế lớn nhất của huyện Sa Pa là tiềm năng phát triển kinh
tế du lịch, nguồn thu từ dịch vụ du lịch đã đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng kinh
tế của huyện Bên cạnh đó tài nguyên đất màu mỡ, thích hợp với phát triển trồng rau, hoa cao cấp và cây ăn quả
Tính đến cuối năm 2018 thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện Sa
Pa là 6,5 triệu đồng/người/năm Nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông lâm nghiệp, lâm sản phụ dưới tán rừng là thảo quả và từ các dịch vụ du lịch Trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn thấp nhất là ở phụ nữ, trẻ em nhiều người còn chưa biết tiếng phổ thông, chưa hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu, đồng bào vẫn còn dùng lửa đốt dọn thực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR
1.2.2.3 Hệ thống giao thông
Hiện nay huyện Sa Pa có các tuyến đường bộ Quốc lộ 4D chạy từ thành phố Lào Cai qua huyện Sa Pa đi Lai Châu, đoạn qua địa bàn huyện dài 35 km đã được đầu tư nâng cấp; Tỉnh lộ 155 đoạn qua địa bàn huyện xuất phát từ ngã ba Ô Quí Hồ đến Tả Giàng Phình dài 20 km, đi Bản Xèo Bát Xát; Các tuyến huyện lộ: Từ Thị trấn
Sa Pa đi các xã vùng hạ huyện đã được nâng cấp đổ bê tông và giải nhựa Hệ thống mạng lưới giao thông từ các xã đi các thôn bản đang được sửa sang và mở theo chương trình xây dựng nông thôn mới Nhìn chung, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện được phân bố tương đối hợp lý, các xã đều có đường ô tô đến trung tâm xã
Tuy nhiên một số xã, thôn bản đi lại khó khăn nhất là vào những ngày mưa
1.2.2.4 Y tế
Trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện (105 giường bệnh); 05 Phòng khám đa khoa (50 giường bệnh); 18/18 xã thị trấn đều có trạm Y tế xã (90 giường bệnh) Hàng năm huyện đều làm tốt công tác chăm sóc sức khỏa cho nhân dân, công tác y tế dự phòng và phòng chống các tệ nạn xã hội nên không có dịch bệnh xảy ra diện rộng
trên địa bàn Có 5,6 % xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Huyện có 65 trường học các cấp, trong đó: Mầm non, mẫu giáo: 20 trường,
190 lớp học, với 4034 học sinh và 312 giáo viên; 22 trường tiểu học, 19 trường trung học cơ sở, 4 trường trung học phổ thông; trong đó, đạt chuẩn: Mầm non 02 trường, tiểu học 10 trường, trung học cơ sở 6 trường Nhìn chung, hệ thống các cấp trường học khá hoàn chỉnh Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành giáo dục toàn huyện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, trang thiết bị cung cấp cho các trường còn thiếu và lạc hậu; đội ngũ giáo viên giỏi, có chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề
còn ít do đó chất lượng đào tạo chưa cao (Nguồn: Niên giám thống kê năm 2018)
1.2.3 Nhận xét và đánh giá khu vực nghiên cứu
- Sa Pa có địa hình núi cao, dốc lớn, bị chia cắt mạnh, các khu vực có rừng lại
ở xa khu dân cư nên việc đi lại rất khó khăn dẫn đến việc phát hiện ra cháy rừng cũng như việc tuần tra kiểm soát, tiếp cận đám cháy, huy động lực lượng, phương tiện và chỉ huy chữa cháy gặp nhiều khó khăn Thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp khô hanh, nắng nóng kéo dài kèm theo sương muối, mưa đá, mưa tuyết nhiều làm chết hàng loạt thực bì dẫn đến làm tăng khối lượng vật liệu cháy trong rừng do đó nguy
cơ cháy rừng là rất lớn Vào mùa khô hanh gió Tây Nam, còn gọi là gió Ô Quý Hồ, thổi mạnh ảnh hưởng rất lớn đến công tác PCCCR của các xã vùng trọng điểm cháy
rừng khu vực thượng huyện
- Diện tích đất có rừng trên địa bàn lớn chiếm 67,1 % diện tích tự nhiên, các trạng thái rừng giàu IIIa1, IIIa2, IIIa3 phân bố ở các khu vực xa khu dân cư, giao thông đi lại tới các vùng rừng này rất khó khăn, dốc, nhiều thác gềnh rất khó kiểm soát được các hoạt động du lịch, đốt lửa sưởi ấm, đốt than, đun nấu trong rừng Mặc
dù một số diện tích đã được giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình nhưng hiệu quả còn hạn chế (việc vệ sinh rừng làm giảm lượng vật liệu cháy, làm đường băng cản lửa trên diện tích rừng giao khoán bảo vệ chưa được thực hiện đầy đủ, đồng bộ vào mùa khô hanh) do đó tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao
- Dân số trên địa bàn huyện Sa Pa chủ yếu là dân tộc thiểu số, sống phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông lâm nghiệp Tập quán canh tác nương rẫy còn lạc hậu chủ
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
yếu là phát, đốt nương rẫy không có kiểm soát nên ảnh hưởng lớn đến công tác PCCCR
- Hàng năm vào thời điểm sau tết Nguyên đán đồng bào dân tộc ở các xã đốt nương làm rẫy Trong khi thời điểm này thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, gió to
nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao
- Trên địa bàn toàn huyện Sa Pa nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội đã có bước phát triển, trường học, trạm xá, đường giao thông, thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt đã được đầu tư xây dựng, tu sửa Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp các chỉ tiêu đều tăng vượt kế hoạch, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ người lao động có việc làm tăng, thu nhập của người dân tăng, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- Tình hình kinh tế xã hội phát triển làm cho áp lực đối với rừng giảm Tuy nhiên, đặc thù của Sa Pa chủ yếu dân tộc thiểu số, giao thông đi lại tới các thôn, bản còn khó khăn, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn hạn chế Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu vẫn phổ biến đốt phát dọn thực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR Việc khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc còn bừa bãi, tuỳ tiện ảnh hưởng tới chất lượng rừng Sa Pa là huyện du lịch, hàng năm du khách đến với Sa Pa rất lớn các hoạt động
du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, dã ngoại ảnh hưởng tới rừng và công tác PCCCR Một số chính quyền cơ sở xã còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác PCCCR nên còn chủ quan, lơ là không chỉ đạo sát sao, chưa coi trọng tính phòng ngừa trong công tác PCCCR Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các công trình thuỷ điện làm giảm một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nhân dân, làm giảm đáng kể sản lượng lương thực tạo áp lực lớn đối với rừng và đất lâm nghiệp do phát sinh nhu cầu khai phá đất sản xuất nương rẫy, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố Nghiên cứu PCCCR có nhiều nội dung, đòi hỏi đầu tư công sức và kinh phí lớn Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thời gian
và điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu hiện trạng tài nguyên rừng
và tình hình thực hiện các biện pháp PCCCR trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Liên quan tới vật liệu cháy, đề tài chỉ giới hạn trong việc xác định khối lượng thảm khô (vật rơi rụng) và sinh khối cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Đây là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng phương án PCCCR phù hợp, sát với tình hình thực tế ở địa phương
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tác PCCCR trên địa bàn huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai
- Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện
Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác PCCCR tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lửa dẫn đến cháy rừng ở Việt Nam phần lớn là do con người Những hoạt động phổ biến nhất của con người có thể tạo nguồn lửa gây cháy rừng là đốt nương rẫy, săn thú, bắt ong, đốt than, tảo mộ, nấu ăn, dọn thực bì trồng rừng, hoạt động du lịch v.v…
Ở những nơi càng đông dân cư, hoạt động kinh tế xã hội càng nhộn nhịp, trình độ dân
trí càng thấp, mâu thuẫn xã hội càng cao v.v… thì tần suất cháy rừng càng cao
Vật liệu cháy và những tính chất của nó có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến cháy rừng Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì những tính chất của vật liệu quyết định đến khả năng bắt lửa và duy trì cháy rừng là độ ẩm, thành phần hoá học (tinh dầu, chất tro), kích thước, khối lượng và phân bố không gian v.v Tính chất vật liệu cháy cũng như đặc điểm về khối lượng, kích thước và phân bố không gian của nó được quyết định bởi đặc điểm sinh học của cây rừng, tình trạng sinh trưởng, phát triển và
sự phân bố của chúng theo không gian trong hệ sinh thái Các trạng thái rừng có đặc điểm vật liệu cháy khác nhau sẽ có nguy cơ cháy rừng khác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các trạng thái rừng cụ thể
Tuy nhiên, cho đến nay vì ảnh hưởng xã hội đến cháy rừng là vấn đề tương đối phức tạp và ít được nghiên cứu, các yếu tố này đang có sự thay đổi không ngừng dưới ảnh hưởng của di cư tự do, của việc thực hiện các chương trình và dự án phát triển,
và sự tuyên truyền giáo dục của Nhà nước Vì vậy, trong đề tài này việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội được xem như một nhóm yếu tố tham khảo khi đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện
Các bước nghiên cứu cụ thể của đề tài được thể hiện qua sơ đồ 2.1 dưới đây:
Thu thập các thông tin, số
liệu đã có
Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu, lựa chọn địa điểm điều tra
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 2.3 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài
Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn, địa bàn nghiên cứu rộng với nhiều tính đặc thù khác nhau, vì vậy cách tiếp cận chủ yếu của đề tài là kế thừa các thông tin, số liệu đã có
Trong quá trình nghiên cứu, quan điểm lịch sử sẽ được quán triệt Đề tài không chỉ quan tâm đánh giá công tác PCCCR hiện tại mà sẽ xem xét nó trong quá trình lịch
sử từ trong quá khứ đến hiện tại (giai đoạn từ năm 2010 đến nay) cũng như những dự đoán có thể xảy ra trong tương lai
Mỗi kiểu rừng, mỗi khu vực có đặc điểm riêng, có các yếu tố ảnh hưởng khác nhau đến cháy rừng, vì vậy khi nghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các kiểu rừng/dạng rừng và theo các khu vực cụ thể
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Đề tài kế thừa các thông tin và số liệu sau:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai: Các số liệu liên quan về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, Dân số, dân tộc, thu nhập của người dân, tình
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hình khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật rừng để từ đó phân tích những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào, mức độ ảnh hưởng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Báo cáo đánh giá về hiện trạng diện tích, chất lượng rừng khu vực nghiên cứu Căn cứ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm của hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa để thu thập các thông tin về đánh giá hiện trạng về tài nguyên rừng: tập trung vào phân tích các trạng thái rừng, mức độ dễ cháy của các loại rừng; khối lượng vật liệu cháy trên địa bàn
- Thu thập số liệu các báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác PCCCR trên địa bàn huyện Sa Pa do Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa cung cấp Các số liệu về cơ cấu tổ chức nhân lực, các trạm bảo vệ rừng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, con người của huyện; sự phối hợp PCCCR như thế nào; hiệu quả PCCCR (số vụ cháy, thiệt hại), vai trò của các bên có liên quan, Từ đó đánh giá thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn
- Thông tin về tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu được thu thập qua số liệu thống kê hàng năm của Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa,
từ năm 2010 đến nay Căn cứ số liệu về số vụ cháy rừng trên địa bàn, phân tích nguyên nhân gây cháy, diện tích, loại rừng xảy ra cháy, công tác chỉ huy chữa cháy, huy động lực lượng, phương tiện tham gia và công tác hậu cần cho chữa cháy để từ đó rút ra kinh nghiệm và bài học trong phòng và chữa cháy rừng Đặc biệt là thông qua các vụ cháy lớn đề tài tập chung phân tích về đặc điểm loại rừng, cách thức tổ chức huy động lực lượng, phương tiện, công tác chỉ huy chữa cháy và đảm bảo hậu cần cho công tác chữa cháy để từ đó đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy trên địa bàn
- Tìm ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong phòng và chữa cháy rừng của địa phương
2.3.2.2 Phương pháp điều tra thực địa
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) để thu thập thông tin về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng như: công tác chuẩn bị, số lần cháy rừng, nguyên nhân cháy rừng, phương tiện PCCCR, nguồn lực, kinh phí,… Quá trình điều tra được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc theo mẫu
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phiếu đã được soạn sẵn với những câu hỏi mở (Bộ câu hỏi phỏng vấn xem phụ lục 1
và 2) Quá trình điều tra được tiến hành qua các bước sau đây:
Bước 1: Làm việc với cán bộ quản lý cấp tỉnh để nắm được tình hình chung về
công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh lào Cai, trong đó có huyện Sa Pa, đặc biệt là về các chính sách và biện pháp chỉ đạo trong PCCCR, hiệu quả của các giải pháp đã áp dụng; những khó khăn, tồn tại hiện nay, Tổng số người phỏng vấn 10 người (xem phụ lục 3)
Bước 2: Trên cơ sở kết quả bước 1, tiến hành làm việc với các đơn vị quản lý
và sản xuất có liên quan trên địa bàn huyện như Hạt Kiểm lâm, Phòng Kinh tế huyện,
UBND các xã, Ban quản lý rừng phòng hộ, Vườn Quốc gia Hoàng Liên Nội dung làm việc tập trung vào các vấn đề sau đây:
+ Diễn biến diện tích, phân bố tài nguyên rừng trên địa bàn huyện;
+ Tình hình tổ chức, triển khai công tác PCCCR; các biện pháp kỹ thuật đang được áp dụng
+ Các chính sách và giải pháp PCCCR
+ Số lượng các vụ cháy rừng và thiệt hại
+ Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cháy rừng
+ Những khó khăn, tồn tại trong PCCCR
Số lượng phỏng vấn 20 người (xem phụ lục 4)
Bước 3: Phỏng vấn các hộ gia đình sống trong khu vực gần rừng: Tiến hành
chọn ra 40 hộ gia đình để phỏng vấn, là những người dân sống gần rừng có tham gia
và hiểu biết về PCCCR Nội dung phỏng vấn tập trung làm rõ các nguyên nhân dẫn tới cháy rừng, sự tham gia của địa phương vào công tác PCCCR, những khó khăn,…(xem phụ lục 5)
2.2.2.3 Phương pháp điều tra vật liệu cháy
Điều tra Vật liệu cháy được thu thập bằng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời theo các trạng thái rừng IIIa1, IIb, IIa, Ic, Mỗi trạng thái
bố trí 01 Ô tiêu chuẩn (OTC) Đối với rừng trồng đề tài tập trung điều tra chủ yếu cho
2 cấp tuổi/loài với các loài cây Thông Mã Vĩ thuần loại và hỗn giao Sa Mộc + Tống quá sủ trên địa bàn với đối tượng đã có trữ lượng, tuổi từ 3 năm trở lên; mỗi loại rừng trồng bố trí 01 OTC/cấp tuổi (tổng số OTC rừng trồng là 4)