Đây là lần đầu tiên banchấp hành TW Đảng ra một nghị quyết toàn diện về doanh nghiệp Nhà nớc, tạo điềukiện thuận lợi để doanh nghiệp Nhà nớc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gópphần
Trang 1Sự đổi mói và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nớc luôn là mối quan tâmlớn của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta Trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đãthực hiện nhiều chủ trơng biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp Nhà nớc, đã vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm, có sự đổi mới đúng h-ớng với bớc đi thích hợp.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng,Hội nghị lần thứ ba Banchấp hành Trung ơng Đảng khoá IX đã có Nghị quyết 05-NQ/TW "Về tiếp tục đổimới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh nhà nớc" Đây là lần đầu tiên banchấp hành TW Đảng ra một nghị quyết toàn diện về doanh nghiệp Nhà nớc, tạo điềukiện thuận lợi để doanh nghiệp Nhà nớc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gópphần quan trọng vào đẩy nhanh tốc độ phát triển, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế,
đáp ứng tốt các nhu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện thành công
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Qua ba tháng thực tập tại Công ty In Hàng không, em nhận thấy rằng vấn đề "làmthế nào để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh" là vấn đề đợc Công ty rất quantâm Mặc dù Công ty đã thực hiện nhiều biện pháp, song do những nguyên nhân chủquan và khách quan nên vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty cònmột số tồn tại cần khắc phục Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này em đã
chọn đề tài:"Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại
Công ty In Hàng không" làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề này đợc chia làm ba phần:
Phần I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Phần II: Phân tích tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty In Hàng
không
Trang 3Chơng I
một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
I Vai trò và chức năng của nâng cao hiệu quả kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả do điềukiện lịch sử và giác độ nghiên cứu từ nhiều phía khác nhau
1 Quan điểm thứ nhất
Trớc đây, ngời ta coi hiệu quả là kết quả đạt đợc trong hoạt động kinh tế, là doanhthu trong tiêu thụ hàng hoá Trong bản dự thảo phơng pháp tính hệ thống chỉ tiêu hiệuquả kinh tế của Viện nghiên cứu khoa học thuộc Uỷ ban kế hoạch nhà nớc Liên xô( cũ ) đã xem hiệu quả kinh tế là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xãhội Nh vậy, ở đây hiệu quả đợc đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh hoặc nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó Ngày nay, các quan điểm nàykhông còn phù hợp Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sảnxuất các nguồn sản xuất Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có hai mức chi phí khácnhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả
2 Theo quan điểm thứ hai
Hiệu quả đợc xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhậpquốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp độ tăng các chỉ tiêu đó cao, nhng chi phí sảnxuất hoặc các nguồn lực đợc huy động tăng nhanh hơn thì sao Hơn nữa, điều kiện sảnxuất năm hiện tại khác với những năm trớc Các yếu tố bên trong và bên ngoài củanền kinh tế có những ảnh hởng khác nhau, việc chọn năm gốc so sánh có ảnh hởng
đến kết quả so sánh Năm gốc bị mất mùa, thiên tai, cấm vận, kết quả kinh tế đạt thấp,thì năm nghiên cứu có hiệu quả cao Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có cácmức hiệu quả khác nhau của cùng một năm nghiên cứu
Trang 43 Quan điểm thứ ba.
Hiệu quả là quan điểm đợc trình bày trong giáo trình kinh tế học của P.Samueleson và W Nordhaus (Viện quan hệ quốc tế Bộ Ngoại giao xuất bản, bản dịchtiếng Việt năm 1991) Các tác giả viết “Hiệu quả là một mối quan tâm trung tâm củakinh tế học.Hiệu quả nghĩa là không có lãng phí
Trong ví dụ đơn giản súng chọi bơ, nền kinh tế hoạt động có hiệu quả khi nókhông thể sản xuất một mặt hàng không có số lợng nhiều hơn mad không sản xuấtmột mặt hàng khác với số lợng ít hơn, khi nó nằm trên giới hạn khả năng sản xuất”
“Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lợng một loại hàng hoá
mà không cắt giảm sản lợng một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằmtrên đờng giới hạn khả năng sản xuất của nó” Giới hạn khả năng sản xuất đợc đặc tr-
ng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng (Potetial Gross National Product),
là mức tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt đợc trong một tình hình công nghệ
và dân số ổn định, đôi khi còn gọi là “sản lợng trong tình hình có nhiều công ăn việclàm” Ngày nay ngời ta thờng cho là tình hình đó tơng đơng với mức sản lợng tơngứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp mà xã hội không thể tránh khỏi, làmức tối thiểu cần có do nhiều nguyên nhân mang tính tự nhiên, khách quan Ví dụ nhthôi việc để chuyển chỗ ở đi nơi khác, thôi việc nhằm chờ đợi một chỗ làm việc vớimức lơng cao hơn Kinh tế càng phát triển mức sống càng cao thì tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên càng cao do có nhiều ngời tự nguyện thất nghiệp
Tỷ lệ tổng sản phẩm quốc dân thực tế và tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉtiêu hiệu quả Chỉ tiêu tuyệt đối chênh lệch giữa sản lợng tiềm năng và sản lợng thực
tế là phần sản lợng tiềm năng mà xã hội không sử dụng đợc, bị lãng phí
Theo quan điểm này, hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực tế và mức “tối đa”
về sản lợng, tỷ lệ so sánh đó càng gần 1, càng có hiệu quả Tỷ lệ đó bằng 1 khi haimức đó bằng nhau, sản xuất xã hội nằm trên đờng giới hạn khả năng sản xuất của nó
Có những năm tỷ lệ đó lớn hơn 1, nền kinh tế quá nóng Phơng pháp tính trên cơ sở
Trang 5quan điểm này cho ta một cái nhìn ở tầm vĩ mô, tổng quát về trình độ sử dụng tiềmnăng của xã hội Phơng pháp tính cũng đơn giản nếu xác định tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên và tỷ lệ thất nghiệp thực tế.
Tuy nhiên, vẫn có thể đặt ra những câu hỏi Khái niệm sản lợng tiềm năng, giớihạn khả năng sản xuất là khá rõ ràng Khi đã ở giới hạn, xã hội muốn tăng bơ thì phảigiảm súng và ngợc lại Nhng bớc tiếp theo là điều khó hiểu Sản lợng tiềm năng chỉphụ thuộc vào lao động tiềm năng, là lợng lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.Còn vốn cố định và tài nguyên thì sao Mức độ khai thác chúng có thể ảnh hởng tớisản lợng tiềm năng không, chúng cũng có vai trò nhất định trong kinh tế Sản lợngtiềm năng phải ứng cả với một tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý
Về thực tiễn tính toán thống kê ở nớc ta, vẫn cha thể tính chính xác đợc tỷ lệ thấtnghiệp hiện nay và những năm tới Và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nớc ta hiện nay baonhiêu là hợp lý Do vậy, điều kiện thực tế nớc ta cha cho phép vận dụng quan điểmnày
Hơn nữa, có thể phơng pháp này chỉ tính đợc ở phạm vi toàn nền kinh tế hoặc cácvùng Còn ngành thì tính sao ở phạm vi ngành không thể có khái niệm thất nghiệp tựnhiên đợc Sản lợng tiềm năng ở phạm vi ngành cũng có thể xác định đợc nhng khôngphải tính trên cơ sở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Nh vậy, phơng pháp này chỉ thuận lợi ởphạm vi toàn nền kinh tế mà không áp dụng đợc cho phạm vi ngành, không tạo ra đợcmối liên hệ giữa hiệu quả toàn bộ và hiệu quả bộ phận Khi đó chúng ta sẽ không phântích đợc vai trò của các bộ phận, các ngành trong hiệu quả chung nền kinh tế quốcdân
Tóm lại, quan điểm này rất độc đáo và có ý nghĩa về mặt nhận thức phạm trù hiệuquả, nhng về lý luận và thực tiễn còn phải tìm hiểu thêm và thục tế cha thể áp dụng ởnớc ta
4.Quan điểm thứ t.
Coi hiệu quả là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủnghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống
Trang 6nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội Quan điểm này có u
điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất XHCN là không ngừng nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân Song, khó khăn ở đây lại là phơng tiện đo l-ờng thể hiện t tởng định hớng đó Đời sống nhân dân nói chung và mức sống nóiriêng, rất đa dạng, rất phong phú, nhiều hình nhiều vẻ, phản ánh trong các chỉ tiêuthống kê mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao mức sống là điều kiện khókhăn Quỹ tiêu dùng là một bộ phận thu nhập quốc gia, bộ phận quốc gia còn lại làquỹ tích luỹ Chọn quỹ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả là cha thấy đầy đủ vai trò củaquỹ tích luỹ là nhằm phats triển sản xuất, là để có tiêu dùng nhiều hơn trong tơng lai.Không thể đa quỹ tiêu dùng lên tối đa mà lại không tuân theo một tỷ lệ thích hợp giữaquỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng, kết hợp một cách tốt nhất lợi ích trớc mắt và lợi ích lâudài
ở đây, cần phân biệt hiệu quả và vai trò tác dụng của nó Hiệu quả nói chung hayhiệu quả nền kinh tế nói riêng có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao mức sống nhân dân
Nó là phơng tiện để đi đến thoả mãn mục tiêu cao hơn là không ngừng thoả mãn nhucầu ngày càng tăng và sự phát triển của mọi thành viên trong xã hội Bản thân hiệuquả không phải là mục tiêu mà chỉ là phơng tiện, phải xác định nó ở dạng công cụ chứkhông phải ở tác dụng của nó
Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết mục tiêu, mỗi hệ thống đều có một mục tiêungoài (mục tiêu cuối cùng) cần đạt tới nhng việc đạt tới nó phải thông qua mục tiêutrong là mục tiêu trực tiếp của hệ thống Mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân của hệthống kinh tế chỉ có thể thực hiện đợc khi đạt tới mục tiêu trong sản xuất thu nhậpquốc gia với chi phí hợp lý tốt nhất và sự thực hiện mục tiêu trong trực tiếp đó mớiphản ánh hiệu quả
Vì vậy, hiệu quả của hệ thống kinh tế phải đo lờng một cách trực tiếp bởi sự đápứng mục tiêu trong cuả hệ thống
5 Quan điểm thứ năm.
Cho rằng hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là mức độ hữu ích của sản phẩm
đ-ợc sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải giá trị
Trang 7Theo quan điểm này, mức độ thoả mãn nhu cầu xã hội phụ thuộc vào các tácdụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tợng nào đó Tạp chí kinh tế và phơngpháp toán của Viện toán kinh tế Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ) đã đăng nhiềubài ủng hộ quan điểm này Họ tiếp cận tính hữu ích của sản phẩm bằng các hàm số vàcác đại lợng do tốc độ tiêu dùng của các dạng của cải Yếu tố thời gian cũng đợc xéttới, so với những của cải mới làm ra thì những của cải lâu năm bị giảm tính hữu ích đinhiều Nhợc điểm của cách tiếp cận này là không thể xác định đợc tính hữu ích ở dạngtổng thể gộp lớn Loanh quanh thế nào rồi họ cũng đi đến thớc đo giá trị, không ởdạng trực tiếp thì cũng ở dạng trung gian đo lờng mức hữu ích của sản phẩm Hầu hếtcác nhà kinh tế ở các nớc đều công nhận rằng cùng lắm chỉ có thể đặt vấn đề về sự uviệt của rạng của cải này hơn dạng của cải khác chứ không thể đo lờng tính hữu íchcủa chúng bằng một đơn vị đo nào cả.
6 Quan điểm thứ sáu.
Cho rằng hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ tiết kiệm chiphí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lợng kết quả hữu ích của hoạt
động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội,của nền kinh tế quốc dân
Ưu điểm của quan điểm này là đã gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả là sự phản
ánh trình độ sử dụng chi phí Nhợc điểm của quan điểm này là cha rõ ràng và thiếutính khả thi ở phơng diện xác định và tính toán Cụ thể là, “chỉ tiêu so sánh biểu hiệnmức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích” vì rằng muốn biết mức
độtiết kiệm thì phải có hai phơng án để so sánh Điều đó chỉ có trong lĩnh vực kếhoạch chọn các phơng án sản xuất hoặc dự án đầu t Trong thống kê, mỗi đối tợngtrong một phạm vi thời gian và không gian cụ thể, chỉ có một kết quả và một chi phí t-
ơng ứng, làm sao biết đợc mức độ tiết kiệm Chố không rõ ràng ở đây là không phânbiệt giữa kế hoạch và thống kê, giữa tơng lai và quá khứ, khi đa ra các yêu cầu “lớnnhất” “bé nhất” max và min trong khi chỉ có một trị số của chỉ tiêu đợc xét
Từ các quan điểm trên ta có thể xem vai trò và chức năng của hiệu quả kinh tếnền sản xuất xã hội trong phát triển sản xuất, thể hiện ở tỷ lệ tăng trởng kinh tế theo
Trang 8chiều sâu Toàn bộ mức tăng trởng kinh tế có thể chia làm hai phần: phần tăng trởngtheo chiều rộng, tức là dựa vào sự thu hút thêm vào sản xuất các nguồn lực; phần tăngtrởng theo chiều sâu là phần tăng trởng dựa vào nâng cao hiệu quả kinh tế nền sảnxuất xã hội.
Để đảm bảo kết quả đúng đắn, khách quan, phân tích và dự đoán hiệu quả kinh tếnền sản xuất xã hội cũng giống nh các lĩnh vực khác, phải tuân theo những yêu cầusau:
Một là, phân tích và dự đoán phải tiến hành trên cơ sở phân tích lý luận kinh tế xãhội Phân tích lý luận giúp ta hiểu tính chất xu hớng chung của hiện tợng trên cơ sở đódùng số liêụ và phơng pháp phân tích khẳng định tính chất cụ thể của nó Thí dụ, trong
lý luận kinh tế chính trị học, có quy luật năng suất lao động tăng lên không ngừng.Phân tích và dự đoán cụ thể về năng suất lao động tăng lên thực sự là hợp quy luật, ng-
ợc lại, năng suất lao động giảm xuống, trái với quy luật, phải tìm hiểu nguyên nhân vìsao, số liệu không đúng hay thực tế khách quan của đối tợng nghiên cứ nh vậy
Hai là, phân tích và dự đoán thống kê hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hộiphải căn cứ vào tính tổng thể thống nhất của đối tợng đợc nghiên cứu và đặt các chỉtiêu trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Phân tích và dự đoán phải sử dụng nhiềuchỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiện tợng Nếu đặt cô lập chỉ tiêunày với chỉ tiêu khác chúng ta không thể thấy thực chất của hiện tợng, vì sự tồn tại củahiện tợng không phải là kết quả tổng cộng đơn giản các mặt của nó mà là các mặt liênkết với nhau, mặt này làm cơ sở cho mặt kia, đồng thời chịu tác động lẫn nhau
II Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh.
1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói đến doanh nghiệp là ngời ta nhắc ngay tới hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Đó là một quá trình bao gồm nhiều khâu trong lĩnh vực sản xuất luthông Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau Vì vậy, nâng cao hiệuquả kinh doanh chính là nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động của quá trình kinhdoanh ở doanh nghiệp
Trang 9Trong bất kỳ quốc gia nào, cơ chế nào, thì kinh doanh đều phải luôn lấy hiệuquả làm mục tiêu phấn đấu Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện cần thiết đểdoanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Trong thực tế, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì có thể đứng trên nhiều góc độkhác nhau để xem xét Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, hiệu quả kinh doanh thể hiệntrình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theomục đích nhất định
Trong xã hội t bản thì giai cấp t bản nắm quyền sở hữu về t liệu sản xuất, việcphấn đấu tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là đem lại lợi nhuận nhiều hơnnữa cho nhà t bản Trong xã hội, xã hội chủ nghĩa, nền sản xuất vẫn là nền sản xuấthàng hoá do đó phạm trù hiệu quả vẫn tồn tại Do các tài sản thuộc quyền sở hữu củaNhà nớc, toàn dân, tập thể và cá nhân, nên hiệu quả luôn phải đảm bảo kết hợp hàihoà các loại lợi ích này Mục đích nâng cao hiệu quả không chỉ vì lợi nhuận mà còn
đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội, tức là lợinhuận tăng nhng phải đảm bảo nâng cao đời sống ngời lao động
Hiệu quả kinh doanh theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánhnhững lợi ích đạt đợc từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Hiệu quảkinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội đợc xác định bằng cách so sánh giữalợng kết quả hữu ích cuối cùng thu đợc với hao phí lao động xã hội
Hiệu quả kinh tế là những lợi ích kinh tế đạt đợc sau khi đã bù đắp các khoảnhao phí về lao động xã hội Hiệu quả kinh tế đợc xác định thông qua việc so sánh giữacác chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó Cóthể biểu diễn khái niệm bằng công thức tổng quát sau:
Trang 102 Bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế rất rộng phản ánh những lợi ích đạt
đợc từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để có thể hiểu đợc bản chất của nócần phải phân biệt rõ hiệu quả và kết quả
Có thể hiểu kết quả là chỉ tiêu kinh tế phản ánh lợi ích kinh tế mà doanh nghiệpthu đợc trong hoạt động kinh doanh của mình Bất cứ một hành động nào của con ngời
đều đạt tới một kết quả nào đó, cho dù là kết quả tốt hay xấu Trong kinh doanh thì kếtquả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả đó có thểcân đo đong đếm nh số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận và cũng có thể làcác đại lợng chỉ phản ánh mặt chất lợng, hoàn toàn có tính chất định tính nh: uy tín,chất lợng sản phẩm Nhng đối với doanh nghiệp thì các kết quả đó không cho thấy đ-
ợc trình độ quản lý, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp mà phảithông qua khái niệm “hiệu quả”
Trong công thức (1) ta thấy, trong khái niệm hiệu quả kinh doanh bao gồm tất cảkết quả và chi phí đều đợc tính bằng cả hai đơn vị hiện vật và giá trị Nhng khi đobằng đơn vị hiện vật thì khó xác định do tính không đồng nhất về đơn vị đo lờng nênngời ta thờng tính hiệu quả theo đơn vị giá trị mà biểu hiện ra là tiền tệ
Nh vậy, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng cácyếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời là một phạm trù kinh tế gắn liềnvới nền sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá có phát triển hay không là nhờ đạt đợchiệu quả cao hay thấp Biểu hiện của hiệu quả là lợi ích mà thớc đo quan trọng là
“đồng tiền”
Từ đó ta thấy bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xãhội, nó phản ánh mặt chất lợng của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt đợc mục tiêu cuối cùng củamọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp- mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Nó cũng là thớc đo trình độ tiết kiệm yếu tố đầu vào, nguồn lực xã hội
Đỗ Quỳnh Trang - CN 40A
Trang 11Hiệu quả kinh doanh là một khái niệm phức tạp, vừa là một khái niệm cụ thể, vừa
là một khái niệm trừu tợng khó đánh giá chính xác Vì ngay ở khái niệm cho thấy hiệuquả kinh doanh đợc xác định bởi mối tơng quan giữa hai đại lợng là kết quả đạt đợc vàchi phí bỏ ra Mà cả hai đại lợng này đều khó đánh giá chính xác
3 Phân loại hiệu quả kinh tế.
Trong quản lý sản xuất kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế đợc biểu hiện ởnhững dạng thức khác nhau Việc phân loại hiệu quả kinh tế tạo nền tảng để xây dựngcác chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, chỉ ra các nhân tố tác động và đa ra những biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh tế một cách thích hợp
3.1 Hiệu quả tơng đối và hiệu quả tuyệt đối.
+ Hiệu quả t ơng đối:
Hiệu quả tơng đối đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối,
cụ thể là hiệu quả tơng đối đợc tính bằng tỷ lệ giữa kết quả đạt đợc và chi phí bỏ ra.Hiệu quả tơng đối càng lớn hơn 1 càng tốt Đây là một đại lợng có tính chất so sánhcho nên hiệu quả tơng đối là căn cứ để đánh gái mức độ hiệu quả của các phơng ánkinh doanh để lựa chọn phơng án có lợi nhất về kinh tế
+ Hiệu quả tuyệt đối:
Hiệu quả tuyệt đối đợc tính toán cho từng phơng án kinh doanh bằng cách xác
định mối quan hệ giữa kết quả thu đợc của phơng án đó với chi phí bỏ ra khi thực hiệnnhững nhiệm vụ kinh tế cụ thể Trong trờng hợp này, hiệu quả kinh tế là hiệu số giữakết quả thu đợc và chi phí bỏ ra
3.2 Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội.
+ Hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả tài chính là hiệu quả thu đợc từ hoạt độngcủa từng doanh nghiệp Biểu hiện trực tiếp của hiệu quả kinh doanh là số lợi nhuận mà
Đỗ Quỳnh Trang - CN 40A