1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang

121 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 7,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đặc tính của cây vải chín sớm rất ít vùng trồng được, vì vải chín sớm đòi hỏi phải phù hợp với đất đai và các chế độ thời tiết đặc biệt như: chế độ nhiệt thấp mới phân hoá mầm hoa và

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp Hà nội

-

Trần văn tú

Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện Tân yên, tỉnh bắc giang

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.ts Phạm Tiến Dũng

hà nội - 2009

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn

là trung thực và ch−a đ−ợc sử dung để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mội sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/

đ−ợc cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 8, năm 2009

Tác giả

Trần Văn Tú

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Phạm Tiến Dũng người đ/ tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Hệ Thống Nông nghiệp - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ/ nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban l/nh đạo, tập thể cán

bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Phòng NN&PTNT huyện Tân Yên đ/ góp ý, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh em, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Hà Nội, tháng 8, năm 2009

Tác giả

Trần Văn Tú

Trang 4

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.2 Các nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây vải 11 2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất

2.4 ảnh hưởng của một số loài sâu bênh hại chính đối với sản xuất vải 26 2.5 Thu hoạch Vải và xử lý sau thu hoạch 27

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29

4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế x/ hội của huyện Tân yên 34

Trang 5

4.1.2 Điều kiện kinh tế - x/ hội 43 4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Bắc Giang 48 4.2.1 Tình hình sản xuất vải ở Bắc Giang 48

4.2.4 Tiềm năng, hạn chế đối với sản xuất vải của huyện Tân Yên 55 4.3 Khả năng đầu tư và kỹ thuật canh tác vải ở các vùng nghiên cứu 57 4.3.1 Mức độ đầu tư về phân bón ở các vùng trồng vải 58 4.3.2 Kết quả điều tra về thời gian bón và phương pháp bón phân 61 4.3.3 Kết quả điều tra về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong

4.3.4 Kết quả điều tra về tình hình sâu bệnh hại vải ở các vùng

4.4.4 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến đường

kính quả, chiều cao quả và độ dày cùi 76 4.4.5 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khối

lượng quả, tỉ lệ phần trăm ăn được, khối lượng hạt 77 4.4.6 So sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến thời

4.4.7 ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh hoá của quả 79

Trang 6

4.4.8 §¸nh gi¸ t×nh h×nh s©u bÖnh cña c¸c c«ng thøc 82 4.4.9 So s¸nh ¶nh h−ëng cña c¸c c«ng thøc ph©n bãn l¸ tíi c¸c chØ

4.4.10 H¹ch to¸n hiÖu qu¶ s¶n xuÊt cña c¸c c«ng thøc sö dông c¸c

4.5.2 Tõ kÕt qu¶ thÝ nghiÖm ph©n bãn l¸ cho thÊy 88 4.5.3 §¸nh gi¸ vÒ t×nh h×nh tiªu thô v¶i thiÒu sím cña huyÖn T©n

Trang 7

Danh mục bảng

2.1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới 72.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới 92.3 Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam 102.4 Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai 132.5 Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây 203.1 Thời gian bón phân và liều lượng phân bón 314.1 Một số đặc trưng về khí hậu của vùng nghiên cứu 364.2 Phân loại địa hình theo cấp độ dốc 394.3 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện và 3 x/ vùng nghiên cứu 404.4 Hàm lượng một số chất dinh dưỡng của đất bạc màu phát

4.5 Hiện trạng các loại đất trồng vải của huyện Tân Yên 424.6 Dân số và lao động của huyện Tân Yên năm 2007, 2008 434.7 Diện tích, năng suất và sản lượng vải của tỉnh Bắc Giang 48

4.10 Diện tích, năng suất và sản lượng vải 51

4.11 Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải ở các

4.12 Kết quả điều tra về thời gian bón phân và phương pháp bón

phân của các vùng nghiên cứu năm 2008 61

Trang 8

4.13 Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong thâm canh vải

của các hộ nông dân ở các vùng nghiên cứu năm 2008 644.14 Tình hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả ở các

4.15 Kết quả điều tra về mức độ đầu, thu nhập và hiệu quả sản

xuất từ vải ở các vùng nghiên cứu năm 2008 684.16 ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng ra

4.17 ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến số quả đậu

4.18 ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các yếu tố cấu

4.19 ảnh hưởng của các loại phân bón lá khác nhau đến đường

4.20 So sánh ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến khối

lượng quả, KLhạt và tỷ lệ % ăn được 784.21 So sánh các công thức sử dụng phân bón qua lá ảnh hưởng

đến thời gian thu hoạch của vải chín sớm 79 4.22 ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các chỉ tiêu sinh hoá 804.23 Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân qua lá đến

4.24 So sánh các chỉ tiêu đánh giá cảm quan 834.25 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân qua lá 86

Trang 9

Danh mục Hình

4.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Yên năm 2008 38 4.2 vải tươi XK sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai năm 2009 53 4.3 Xe lạnh vận chuyển tiêu thụ vải tại chợ đầu mối x/ Phúc Hoà

Trang 10

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây vải (Litchi sinensis Sonn), là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới

đặc sản của Việt Nam Trong thành phần của quả vải có chứa các chất có giá trị kinh tế cao như: đường dễ tiêu, vitamin B, C, phốt pho, sắt, canxi Trên thị trường thế giới, quả vải được xếp sau dứa, chuối, cam quýt, xoài, bơ Về chất lượng vải là cây ăn quả được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, giàu chất bổ

được nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như sấy khô, làm rượu vang, đồ hộp, nước giải khát Ngoài ra hoa vải còn chứa một nguồn mật rất tốt, cây vải có tán lá xum xuê quanh năm có thể dùng làm cây cảnh, cây bóng mát, cây chắn gió, chống xói mòn

Quả vải có tính cạnh tranh lớn là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ cao

đối với nhiều nước Vải chín sớm có ưu thế là loại cây dễ trồng có thể chịu

được hạn nên có thể sinh trưởng tốt trên đất đồi Nhiều tỉnh như: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ đ/ và đang có kế hoạch đẩy nhanh việc trồng vải với diện tích rất lớn

Hiện nay, diện tích cây vải chín sớm của huyện Tân Yên đ/ tăng lên

1788 ha vải cho thu hoạch, sản lượng không ngừng tăng năm 2008 đạt 12.500 tấn Trong đó nhóm vải chín sớm đạt 8.000 tấn Cây vải là loại cây ăn quả chủ lực chiếm diện tích lớn nhất trong cơ cấu cây ăn quả hiện nay của huyện Do

đặc tính của cây vải chín sớm rất ít vùng trồng được, vì vải chín sớm đòi hỏi phải phù hợp với đất đai và các chế độ thời tiết đặc biệt như: chế độ nhiệt thấp mới phân hoá mầm hoa và ẩm độ không khí khô ở giai đoạn nở hoa thì mới

đậu quả Huyện Tân Yên được thiên nhiên ưu đ/i có đất đai và điều kiện thời tiết phù hợp cho vải chín sớm sinh trưởng, phát triển Những năm gân đây, cây vải chín sớm đ/ mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần rất lớn vào công cuộc phát triển kinh tế trang trại của huyện

Trang 11

Tuy nhiên, hiện nay do sản lượng vải ngày một tăng, chất lượng vải không

được cải thiện nhiều, thị trường tiêu thụ vải không được chú ý mở rộng nên giá bán thấp, giá trị thu nhập của người sản xuất không ổn định Nguyên nhân chính là do chưa có quy hoạch vùng trồng cây vải thích hợp cho năng suất và chất lượng tốt Việc áp dụng sản xuất vải an toàn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chưa được quan tâm, công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm chưa được chú ý thực hiện

Với xu thế hội nhập của nền kinh tế thị trường đang ngày càng đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao, có sự đảm bảo về chất lượng, giá cả ổn định Chính vì vậy, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho vùng sản xuất vải của Bắc Giang nói chung và vải chín sớm huyện Tân Yên nói riêng phải xác định được tên tuổi và chỗ đứng trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, tăng cường lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy việc phát triển một loại cây có giá trị kinh tế tăng thu nhập cho người dân Để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất của cây vải trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: " Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang " là việc làm cần thiết tạo cơ sở cho việc thực hiện xây dựng vùng sản xuất vải chín sớm hàng hoá có thương hiệu trên địa bàn huyện Tân Yên

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài:

Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc sản xuất và tiêu thụ vải chín sớm của huyện, đề xuất một số giải pháp mới nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất vải chín sớm của huyện trong thời gian tới, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập từ SX vải của người dân

Đề tài sẽ giúp cho Huyện uỷ, UBND huyện Tân Yên có chiến lược đầu tưu phát triển vùng vải chín sớm hàng hoá đủ sức cạnh tranh trên thị trường giai đoạn 2010 - 2015

Trang 12

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác và điều kiện chăm sóc

đến năng suất và chất lượng vải chín sớm

- Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm ra các yếu tố hạn chế, những tiềm năng thế mạnh phát triển

- Bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả sử dụng các loại phân bón lá thúc hoa và thúc quả đến năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế của vải chín sớm

- Đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng hiệu quả SX vải sớm của huyện trong thời gian tới

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu

về cây vải sớm tại huyện Tân Yên và các vùng trồng vải sớm tại tỉnh Bắc Giang nói chung

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất vải hiện nay như: năng suất chưa cao, vấn đề sâu bệnh, vấn đề lạm dụng thuốc trừ sâu, mẫu m/, chất lượng vải chín sớm chưa đạt yêu cầu của thị trường dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp

- Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật

đưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp cho vùng vải chín sớm của huyện,

Trang 13

nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước, góp phần nâng cao giá trị sản xuất vải chín sớm của người dân trồng vải của huyện

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp Huyện uỷ, UBND huyện Tân Yên quy hoạch và có chính sách phát triển vùng trồng vải sớm hàng hoá, tập trung an toàn chất lượng có thương hiệu trên thị trường trong thời gian tới

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

2.1 giới thiệu chung vê cây vải

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố cây vải

Cây vải (Nephelium litchi, Litchi chinensis Sonn); thuộc Chi: Vải Litchi; Họ: Bồ hòn Sapindaceae; Bộ: Bồ hòn Sapindales; Phân lớp: Hoa hồng Rosidae; Lớp: Ngọc lan Dicotyledoneae (Magnoliopsida); Ngành: Ngọc lan Magnoliophyta (Angiospermae)

Theo Menzel (2002) [69] và Hoàng Thị Sản (2003) [31] thì họ Bồ hòn

có 150 chi với trên 2000 loài ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi

và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nh/n, chôm chôm [40] Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt

Theo FAO (1989) [65] theo tài liệu này viết về cây vải đ/ ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đ/ đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia

Theo Trần Thế Tục (2004) [46] nguồn gốc cây vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malaisia Người ta thấy vải dại mọc trong rừng 4 tỉnh phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo Hải Nam và có nơi vải dại mọc thành rừng trên diện rộng và theo điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [30, Tr.5-6]

ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân

bố từ 18-190 vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng,

Trang 15

trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [46] Theo các tài liệu lịch

sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuộc vải là một trong những cống vật hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa [22], [47] Cây vải dại cũng đ/ được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác

Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải [22]

Ngày nay, trên thế giới khoảng trên 20 nước trồng vải [30], [47] Châu

á có: Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanka, Nhật Bản, Ixrael

Châu Mỹ: Hundurat, Panama, Cuba, Tsinidat, Brazil, Jamaca…

Châu Phi: Nam Phi, Madagatca, Rêunyniong, Gabông, Cônggô…

Châu Đại Dương: Austraylia, Newzilan…

ở Việt Nam, cây vải được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quan tâm, cây vải đ/ và đang được phát triển mạnh và đ/ hình thành một số vùng trồng tập trung như Phúc Hoà -Liên Sơn - Cao Thượng (Bắc Giang), Thanh Hà - Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ - Phú Lương (Thái Nguyên) Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên- Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây nguyên như

ở ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau ở Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của ấn Độ Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana

Trang 16

ở Australia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbour với các giống chính là Fay Zee Siu, Tai So, Bengal,… S K Mitra [63] ở bảng 2.1 là các giống vải chính được trồng ở một số nước trên thế giới

Bảng 2.1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới

TT Tên nước Các giống vải chính

1 ấn Độ Shahi, Rose Seented, Calcuttia, Bedana, Longia, China

2 úc Fay Zee Siu, Taiso, Bengal, Waichee, Kwaimay pink

3 Đài Loan Haakyip, Shakeng

4 Nam Phi Taiso, Bengal

5 Mỹ Taiso, Kaimana

6 Thái Lan Taiso, Waichee, Baidum, Chacapat, Kom

7 Trung Quốc Fay Zee Siu, Bahlwp, No mai chee, Souey Tung, Taiso Nguồn: Menzel (1995, 2002)

2.1.2.2 ở Việt Nam

ở Việt Nam sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sớm, chính vụ, chín muộn

- Nhóm vải chua (hay còn gọi là tu hú): cây cao lớn (khoảng 20 m) lá

to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đều phủ một lớp lông đen Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏ quả mầu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm 60 - 65% trọng lượng quả ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi nhu Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang,…

- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường cao 5 - 10 m, dạng trứng, lá thường to, cây sinh trưởng khoẻ, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa mọc thưa hơn vải chua quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn

Trang 17

nhóm vải thiều Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34 g [46], [2]

- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa chùm hoa không phủ lớp lông đen mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng 6) Trọng lượng trung bình của quả 18 - 25 g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên [46], [2] 2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và ở trong nước 2.1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới

Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 tấn Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1.95 triệu tấn Trong đó các nước Đông Nam á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng 1,75 triệu tấn, (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới) Trung Quốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về diện tích và sản lượng Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là 584.000 ha và sản lượng là 958.700 tấn [68]

Sau Trung Quốc thì ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích

và sản lượng vải Theo Ghosh (2000) [66], đến năm 2000, diện tích là 56.200

ha và sản lượng đạt 428.900 tấn các vùng trồng vải chủ yếu của ấn Độ là West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn), Bihar (310.000 tấn) Uttar Pradesh (14.000 tấn)

Châu Phi có một số nước trồng vải theo hướng sản xuất hàng hóa là Nam Phi, Madagatca, Moritiuyt, Renyniong trong đó Madagatca có sản lượng lớn nhất khoảng 35.000 tấn [48] Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thế giới- FAO (2002) [71] [72] và báo cáo của X Huang, L Zeng H.B Huang [67], R J Knigh (2000) [68]

Diện tích và sản lượng của một số nước trên thế giới được thể hiện trong bảng 2.2

Trang 18

Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới

TT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn: Huang Y L., H B Huang Lychee and Longan production in China

Các nước xuất khẩu vải trên thế giới rất ít, chủ yếu vẫn là Trung Quốc Hiện nay vải Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng, đặc biệt

là các giống vải tốt đều tập trung ở nơi đây Thị trường tiêu thụ vải lớn trên thế giới phải kể đến đó là Hồng Kông, Singapore, hai thị trường này nhập vải chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan

2.1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước

ở Việt Nam cây vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm Vùng phân

bố tự nhiên của cây vải ở Việt Nam từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra Vải được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, qua nhiều năm đ/ hình thành các vùng trồng vải

có diện tích tương đối lớn Năm 2000, diện tích vải của Việt Nam đạt trên 20.000 ha, trong đó có 13.5000 ha đang cho thu hoạch với năng suất 2 tấn/ha Sản lượng khoảng 25.000 - 27.000 tấn quả tươi [4]

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến năm 2004 diện tích trồng vải của cả nước đạt 102.300 ha, sản lượng 305.000 tấn (chiếm 13.69% diện tích và 16.62% sản lượng các loại quả trong cả nước) Giống trồng phổ biến

là giống vải thiều Thanh Hà (chiếm 95% diện tích) Tập trung nhiều ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Tây,… Diện tích và sản lượng vải ở một số tỉnh nước ta được thể hiện trong bảng 2.3

Trang 19

Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam

TT Địa phương

Tổng diện tích

Diện tích cho sản phẩm

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng

Khoảng 70% sản lượng vải của nước ta hiện nay được tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa Phần còn lại được xuất khẩu chủ yếu là sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, ngoài ra một lượng vải nhỏ còn xuất khẩu sang một số nước trong khu vực và thị trường Châu Âu Đại đa số vải được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, một số ít được sấy khô hay đóng hộp, chế biến nước giải khát [63]

2.1.3.3 Tình hình tiêu thụ và chế biến vải

Quả vải được tiêu thụ trên thị trường dưới hai dạng chính là quả tươi và một số sản phẩm chế biến chủ yếu là dạng vải sấy khô nguyên quả Trong

Trang 20

những năm mất mùa thì vải được tiêu thụ đáp ứng nhu cầu ăn tươi là chủ yếu; những năm được mùa, sản lượng lớn, lượng vải đưa vào sấy khô thường chiếm trên 50% tổng sản lượng vải của tỉnh Một số sản phẩm chế biến khác từ vải như cùi vải đóng hộp, cùi vải lạnh đông, rượu vang vải…nhưng với sản lượng nhỏ, hàng năm chỉ chiếm 3 đến 5% tổng sản lượng vải của tỉnh

Thị trường tiêu thụ vải hiện nay ngoài thị trường trong nước còn lại chủ yếu

là xuất khẩu sang Trung Quốc Hàng năm, lượng vải xuất bán sang Trung Quốc chiếm tới trên 80% tổng lượng vải sấy khô và trên 30% lượng vải tiêu thụ tươi của tỉnh Như vậy, Trung Quốc hiện nay vẫn là thị trường chính tiêu thụ vải thiều của tỉnh Tuy nhiên, quan hệ xuất khẩu vải sang Trung Quốc hiện nay vẫn chủ yếu là quan hệ biên mậu và xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch nên giá cả không ổn

định, tác động lớn đến sản xuất của nông dân và các nhà thu mua chế biến

2.2 Các nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây vải

Sự ra hoa đậu quả của vải được quyết định bởi đặc tính của giống, song chúng cũng chịu sự chi phối nhiều của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,

ẩm độ, ánh sáng, đất đai

2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 260C thì có phản ứng tốt Giống chín sớm là ở 40C, giống chín muộn là ở 00C thì ngừng sinh trưởng dinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất

Vì thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, do vậy nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hóa cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thủy của lá, thiên hướng về sinh thực

Trang 21

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải ở Trung Quốc qua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đ/ phát hiện giữa chúng

có mối tương quan nghịch R= - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao [30]

Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và cành lá vải Khi nhiệt độ đất từ 10 - 200C, rễ hoạt động mạnh, từ 23 - 260C, rễ hoạt động thích hợp nhất Cành lá vải họat động mạnh từ 24 - 320C Nhiệt độ quá cáo hoặc quá thấp đều không có lợi cho mầm cành [48]

2.2.2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm

Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 -1700

mm, lượng mưa thích hợp nhất là 1.500 mm mỗi năm Độ ẩm không khí là 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Cây vải yêu cầu lượng mưa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng, trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khác như nh/n, xoài… nhưng có khă năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11-12 cây vải cần

75-có thời tiết khô và rét để phân hóa mầm hoa [12]

Theo tác giả Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [29], nhân tố mưa ảnh hưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân hóa trục chùm hoa, thời kỳ phân hóa hoa, đủ nước thì tổng số hoa/ chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng

số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn

đến mất mùa

Theo Trần Thế Tục cây vải yêu cầu nước qua các thời kỳ như sau:

Thời kỳ phân hoa mầm hoa: yêu cầu đất khô, không có mưa để ức chế sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực

Thời kỳ ra hoa: đất đủ ẩm, gặp hạn thời gian ra hoa chậm, nếu gặp hạn thì phải tưới

Thời kỳ tăng trưởng quả: cung cấp đủ nước, nếu gặp hạn phải tưới

Trang 22

2.2.3 Yêu cầu về ánh sáng

Cây vải là cây ưa sáng, cần có ánh sáng quanh năm Tổng số giờ chiếu sáng thích hợp cho vải cả năm là 1800 - 2100 giờ Theo Trần Thế Tục(1997), cây vải phải được trồng ở nơi có ánh sáng trực xạ ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa của cây, xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất của quả Không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày sẽ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, ra hoa, đậu quả của cây [47]

Người Trung Quốc nói “Đương nhật Lệ chi, bối nhật long nh/” tức là nh/n quay lưng lại với mặt trời (ở chỗ râm mát một chút), còn vải thì phải ở chỗ

đối diện với mặt trời (ở nơi có ánh sáng toàn phần) Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành phân hóa mầm hoa, hoa nở và quả phát triển [41]

2.2.4 Yêu cầu về đất đai

Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, cây vải có thể trồng trên nhiều loại

đất, kể cả đất chua, độ phì nhiêu kén vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt vì vải

có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn rễ (Mycorthize) sống ở đất chua gọi là

“khuẩn căn” có thể phấn giải dinh dưỡng khoáng trong đất để rễ hút nuôi cây

Đánh giá về mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với các loại đất

được thể hiện ở bảng 2.4

Bảng 2.4 Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai

Mức độ thích nghiChỉ tiêu Rất thích

hợp Thích hợp

ít thích hợp

Không thích hợp N Loại đất P, FP, Fs FK, FV Fa,Fq Không có

Trang 23

Ghi chú: N1: Rất thích hợp; N2: Thích hợp; N3: ít thích hợp; P: Đất phù sa; Pa: Đất đỏ vàng trên đá mac ma axít; Fs: Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và biến chất; Fp: Đất nâu vàng trên phù sa cổ; Fq: Đất vàng trên đá cát; Fk: Đất nâu

đỏ trên mac ma bazơ và trung tính; Fv: Đất nâu đỏ trên đá vôi

Theo Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính (1997) [48] Cây vải có tính thích nghi cao với điều kiện đất đai có thể trồng vải trên nhiều loại đất Đất b/i ven sông là loại đất phù sa tính có lý hóa thích hợp với vải, độ ẩm tốt, nên

ở đây cây vải sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng cao, chất lượng tốt Độ pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải là 5,5 - 6,5

2.2.5 Gió

Gió có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí, nâng cao hiệu suất quang hợp, giảm bớt sâu bệnh Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp, gió có tác dụng hỗ trợ cho truyền phấn thụ tinh, mùa hoa kị gió tây bắc và gió nam qua đêm, gió tây

sẽ làm cho đầu nhị khô ảnh hưởng đến thụ phấn, gió nam qua đêm oi nóng, ẩm

ướt dễ làm cho hoa héo dẫn đến rụng hoa

2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và

chất lượng cây vải

2.3.1 Những nghiên cứu về các chất điều hòa sinh trưởng trên cây vải

Các chất điều hoà sinh trưởng là những chất có thể điều khiển quá trình sinh trưởng của cây như: kích thích, ức chế qua trình ra lá, ra hoa, đậu quả, ra rễ Để nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất người ta có thể phun trực tiếp lên từng

bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở nồng độ và thời gian khác nhau 2.3.1.1 Các chất kích thích sinh trưởng

Các chất sinh trưởng bao gồm các nhóm chất Auxin, Gibberellin và Xytokinin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quả non… Chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng độ thấp và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan sinh dưỡng [13]

Trang 24

Auxin tổng hợp đ/ được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải

ở Florida và Hawai (Mỹ) vào những năm 1950 - 1960 Khan và cộng sự (1976) đ/ dùng GA3 100 ppm, NAA 20ppm, 2,4,5 TP 10 ppm phun lên giống vải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả [64] Trên giống Early, GA3 50 ppm có tác động giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăng kích thước của quả [75]

Để làm giảm kích thước hạt Kadman và Gzit (1970) sử dụng 2, 4, 5 - Trichlorophenoxy propionic acid (2,4,5 - TP) làm cho hơn 75% quả vải có hạt nhỏ Tuy nhiên, khi hoa nở, xử lý 2, 4, 5- TP lần thứ nhất sau đó phun phối hợp 2, 4, 5 - TP và GA3 thì 50 - 100% quả lớn hơn khi chỉ xử lý 1 lần trước đó,

và 90-100% quả không có hạt

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004) [33] trong việc nghiên cứu làm tăng

tỷ lệ đậu quả và rải vụ thu hoạch đ/ phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với nồng độ 15, 30, 75 ppm hoặc 20, 40, 100 ppm (vào các thời điểm hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) đ/ làm tỷ lệ đậu quả tăng từ 2,78% lên 4,92 - 5,05% quả to hơn m/ đẹp hơn, tỷ lệ nứt vỏ giảm tỷ lệ phần ăn được tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85% năng suất tăng từ 51% - 59%

Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [24] về việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản quả tươi bước đầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là Kiviva làm tăng tỷ lệ đậu quả (tăng 10% so với đối chứng) Thấy rụng quả (nếu phun 2 lần lúc hoa nở rộ và sau đó 10 ngày) Làm tăng kích thước quả vải và cải thiện tình trạng vỏ quả (Phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày) Làm chậm chín 10 ngày

so với đối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả đạt tối đa và đang bước vào giai đoạn chín)

Theo Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi xử lý GA3 khi xử lý GA3 4 lần trong quá trình phát triển của quả cho két quả tốt nhất Tỷ lệ đậu quả tăng 20,28%, khối lượng trung bình quả tăng 12,18%, tỷ lệ ăn được tăng 19,19% và năng suất tăng 21,76% so với đối chứng

Trang 25

2.3.1.2 Những nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng

Sự sinh trưởng phát triển của cây được bảo đảm bởi hai tác nhân có tác dụng sinh lý đối lập nhau: tác nhân kích thích và tác nhân ức chế Sự cân bằng giữa các chất kích thích sinh trưởng và các chất ưc chế sinh trưởng có một ý nghĩa rất quyết định trong việc điều hòa sinh trưởng gồm axít abxixic (ABA), Ethylen, các phenol…

Phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Nồng độ Ethrel thích hợp là 1000 ppm Phun kết hợp Ethrel với GA3 và Oxyclorua đồng ở diện rộng tăng năng suất 12% Phun chất điều hòa sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất cây vải [13]

Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel có tác dụng diệt lộc đông, khống chế việc ra lộc đông của cây vải, kìm k/m sinh trưởng, xúc tiến phân hóa mầm hoa giúp cây vải ra hoa đậu quả tốt hơn Theo Phạm Minh Cương, 2005 [14] Phun Ethrel ngoài tác dụng ức chế sinh trưởng, kích thích phân hóa mầm hoa vải

nó còn làm tăng tỷ lệ hoa cái chống nứt quả làm cho quả chín sớm [28]

ở Trung Quốc một trong các biện pháp để khắc phục những nhân tố hạn chế trong việc sản xuất là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩy phân hóa mầm hoa (Zhuiyuab Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai và YunLi) (2000) [77] Theo Nivimala Ramburn khi phun Paclobutazol 5000 ppm+ Ethrel 1000 ppm có thể làm tăng khả năng ra hoa của giống Taiso trồng ở Mauritius [75]

Năm 1984 Khâu Tự Đức (Trung Quốc) dùng Malein hydrazit (MH) 1000-1500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đ/ làm cho quả vải Hoài Chi bé lại hiệu quả đạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [30]

Điều này giống như kết luận của Đào Quang Nghị (2005) [28] Xử lý Malein hydrazit bằng cách phun lên tán cây ở thời điểm sau khi tắt hoa 10 ngày có xu hướng làm giảm khối lượng quả, nhưng khối lượng hạt nhỏ đi nhiều và tỷ lệ ăn

được cũng tăng lên so với đối chứng

Trang 26

Các chất điều hòa sinh trưởng hiện nay có rất nhiều loại cùng một tác dụng kích thích hoặc ức chế nhưng đối với từng loại cây trồng, từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau không phải lúc nào cũng cho tác dụng như nhau [28] Ta có thể sử dụng đơn lẻ hay phối hợp để kích thích hay ức chế quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh

tế cao cho con người

2.3.2 Những nghiên cứu về tạo hình cắt tỉa và tác động cơ giới

Theo kết quả nghiên cứu của C.M.Menzel (1998) [70] ở Austraylia cho biết cắt khoanh vỏ một đường rộng 0,3 cm trên cây vải 3 - 10 tuổi làm tăng năng suất 15 - 40kg/cây ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) năm 1994 người

ta tiến hành cắt khoanh vỏ theo hình xoắn ốc trên gốc cây của 2 giống vải có tính ra hoa rất chậm (cây dưới 10 năm chưa bói quả) đ/ làm cho chúng ra hoa sớm

Theo Đỗ Xuân Bình (2003) [6] khoanh thân kết hợp với phun Ronstar

va Ethrel có hiệu quả cao trong việc xử lý những cây vải không ra hoa vào vụ xuân, làm cho 100% số cây ra lộc đông đều ra hoa và đậu quả, có số quả đậu tăng 2,6quả/chùm và năng suất tăng từ 15,8 - 20,5kg/cây

Cắt tỉa cành ngoài việc tạo cho tán cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại, thuận lợi chăm sóc còn nhằm mục đích điều hoà sự sinh trưởng ra hoa và kết quả của cây Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] ở cây vải thì có 3 lần cắt tỉa tạo cành đó là tạo cành cấp 1, tạo cành cấp 2 và tạo cành cấp 3, cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau, các cành này không

được giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp được tốt Ngoài cắt tỉa cành cắt tỉa hoa có ý nghĩa rất lớn đối với năng suất chất lượng quả Theo Phùng Quốc Hưng (2006) [23] cắt tỉa để lại 15 nhánh hoa/chùm đ/ làm tăng năng suất của giống vải thiều 4,83%

Theo Phạm Minh Cương và cộng sự (2005) [14] thì tỷ lệ ra hoa cao ở phương pháp khoanh xoắn ốc với tỷ lệ 92%, đồng thời với số quả đậu cao nhất

Trang 27

đạt tỷ lệ 86% trong khi đó khoanh vòng tròn chỉ đạt 42% và so với đối chứng

là 26% Do vậy khoanh vỏ có tác dụng làm tăng số cây ra hoa đồng thời tăng

số cây có quả đậu

2.3.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng

2.3.3.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải

Những nghiên cứu về sinh lý và dinh dưỡng của cây vải cho đến nay có thể nói là còn ít, nhiều vấn đề chưa được làm rõ ví dụ muốn có 100 kg quả thì cần bón bao nhiêu đạm, lân, kali,… tỷ lệ ra sao, bón vào thời kỳ nào,… chưa

có công trình khoa học nào công bố đầy đủ Chỉ thông qua việc phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả trong lá rồi từ đó suy luận ra Qua phân tích quả và lá cho thấy cây vải cần nhiều K, sau đó đến đạm và lân ở lá cây cần nhiều N sau đó đến Mg và K Tỷ lệ N: P2O5: K2O: CaO: MgO ở trong lá là 7,8: 1: 4,6: 2,3: 2,5 còn ở trong quả là 1,6: 1,9: 5,3: 1,3: 1 nhìn chung cây vải cần nhiều N và K [47]

Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao năng suất, phẩm chất quả Bón dủ đạm cành quả phát triển nhiều, là cơ sở để đạt năng suất cao Nhưng nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cành lá phát triển quả mạnh,

ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa, gây nên rụng hoa, rụng quả, sản lượng thấp và phẩm chất kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Nếu thiếu đạm các đợt lộc phát sinh không đúng lúc mọc yếu, lá cành bé, có màu vàng, rụng hoa và rụng quả nhiều

Lân thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, thúc đẩy ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút tăng cường khả năng chống hạn, chống rét cho cây, nâng cao phẩm chất quả, hạn chế tác hại của bón thừa đạm

Kali trong các mô thực vật tồn tại dưới dạng ion ngậm nước giúp cho cấu tạo các mô thêm cứng cáp Việc vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các

Trang 28

tổ chức của cây được thuận lợi Kali làm tăng tính đề kháng của cây như chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp quả lớn nhanh và thành thục, tăng phẩm chất, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả

Theo nguyễn Văn Dũng, phun B 0,1% + urê (46%)0,50% tăng cường được khả năng giữ quả, tăng hàm lượng đường tổng số, giảm tỷ lệ axít do đó nâng cao phẩm chất quả vải Để tránh hiện tượng quả vải ra cách năm thì cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây qua 2 con đường (qua đất và qua lá) là hết sức quan trọng

2.3.3.2 Những nghiên cứu về phân bón qua đất

Cây vải cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng để tạo nên sản phẩm qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm sút năng suất và phẩm chất sản phẩm Nhưng nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm và đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [13]

Theo Trần Thế Tục (2004) [46] bón phân cho vải những năm trước lúc

ra hoa rất quan trọng và sau khi trồng 1 tháng lúc cây đ/ bén rễ hồi xanh là đ/

có thể bón cho cây Lúc này cây còn nhỏ, nên bộ rễ chưa phát triển khả năng hấp thụ của cây còn yếu có nhiều đợt lộc trong năm nên cần bón ít, nồng độ lo/ng và cần chia làm nhiều lần

ở thời kỳ cây cho quả lượng phân bón và thời kỳ bón cho vải là hết sức quan trọng vì đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất của vải

Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần chính trong năm

Lần 1: Bón thúc hoa và nuôi lộc xuân (6/1-20/1) bón 25% đạm urê, 25% kaliclorua và 30% lân supe

Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả khi quả

có đường kính bằng viên bi (đường kính khoảng 0,4 cm) bón 25% đạm urê, 50% kaliclorua và 30% lân supe

Trang 29

với tỉa cành giúp cây phục hồi sinh trưởng bón 50% đạm urê, 25% kaliclorua 40% lân Supe và toàn bộ phân chuồng

Bảng 2.5 Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây

Lượng phân bón (kg cây/năm) Tuổi cây

(năm) P chuồng Đạm Urê Lân Supe Kali clorua

phát triển chè và cây ăn quả

2.3.3.3 Những nghiên cứu về phân bón qua lá

Ngoài khả năng hút dinh dưỡng từ đất qua rễ cây trồng còn có khả năng hút dinh dưỡng qua lá Cây tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15- 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ Chất dinh dưỡng được bón qua lá chỉ có thể vào mô lá qua các lỗ khí khổng Như vậy bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì hiệu quả đạt cao nhất [11] Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp chất lân còn giúp cho cây chịu đựng được một số vấn đề như hạn hán, bệnh tật và mật độ cây cao Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như đạm, lân, và các chất vi lượng như Fe, Zn, Cu, Bo, Mn, Mg và cả các chất kích thích tố Sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 -50% phân bón

được hấp thụ ở rễ

Trang 30

Mặt khác, bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt là con

đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng hồi phục Phun phân bón lá không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn có tác dụng làm tăng phẩm chất nông sản

đối với cây vải khi hoa tàn là lúc cây huy động rất nhiều chất dinh dưỡng, sau khi hoa tàn lúc này cây đang khủng hoảng về dinh dưỡng vì vậy việc bổ sung kịp thời dinh dưỡng là việc làm cần thiết Vào thời điểm này bộ

rễ hoạt động kém vì bị ức chế do hoa nở rộ đất thiếu nước vì thế khi bón phân

rễ chưa có điều kiện hấp thu ngay được việc phun dinh dưỡng lên lá lúc này là nhằm bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây để giảm bớt rụng quả sinh lý

Theo kết luận của Đỗ Văn ái (2004) [1] khi sử dụng chế phẩm phân bón lá VACVINA-KB1 cho cây vải đ/ làm tăng khả năng tích lũy các nguyên

tố dinh dưỡng giúp cây phát triển nhanh, nhưng không gây độc hai cho cây hệ

số hấp phụ sinh học cao hơn và làm tăng năng suất tới 13% Quả tròn, màu đỏ,

vị thơm ngon và đặc biệt là cùi vải dày hơn, trong hơn

Theo Phạm Văn Côn (2005) [12] đ/ tiến hành trên vải Phú Hộ thì phun

Bo và phun phối hợp Bo + Zn đều làm tăng số quả cao nhất so với đối chứng (tăng 50,4-92,8%) ở giống Phú Hộ phân vi lượng làm tăng hàm lượng đường (2,0-17,0% so với đối chứng), tăng hàm lượng vitamin (từ 17,0-22,7% so với

đối chứng), giảm lượng axít (25% so với đối chứng), còn đối với vải Thanh Hà các chỉ tiêu thay đổi rất ít Cũng với giống vải thiều Thanh Hà ở Phúc Hoà (Bắc Giang) Bo + Cu và Bo + Zn làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5% Khối lượng quả tăng 5,9 - 8,5% tăng năng suất 101,3-127,3% Chất lượng quả cũng tăng: độ Brix tăng 4,5-7,3% đường tổng số tăng 4,5-12,1% axít giảm 33,4% vitamin C giảm 3,7-3,1%

Đỗ Phương Chi (2005) [8] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm

đậu quả và chế phẩm KIVIVA trên vải có kết luận:

Trang 31

Đối với chế phẩm đậu quả có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng khối lượng trung bình quả, bệnh nớt vỏ quả và sâu đục quả không xuất hiện, tăng tỷ

lệ phần ăn được và tăng năng suất 26,42%

Đối với chế phẩm KIVIVA phun cả 4 giai đoạn phát triển của quả tăng tỷ

lệ đậu quả, tăng tỷ lệ phần ăn được và năng suất tăng 28,5% Ngoài ra làm cho thời gian chín của quả chậm hơn 7 ngày, vườn m/ quả đẹp, quả không bị nứt

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2005) [34] Khi phun vân đài tố cho vải làm tăng tỷ lệ đậu quả và khối lượng quả dẫn đến năng suất vải tăng từ 19 - 34% Phun hai lần Vân đài tố 0,01% vào lúc tàn hoa và trước lúc thu hoạch 1 tháng cho hiệu quả cao nhất, và phun Vân đài tố đại trà 2 lần cho vải ở nồng

độ 0,03% cho vải đ/ làm tăng năng suất lên 28%

Như vậy khi sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá ngoài tác dụng làn tăng khả năng đậu quả tăng khối lượng và năng suất quả, còn có tác dụng làm tăng đường tổng số, vitamin C, chất khô, bộ Brix, giảm tỷ

lệ axít do đó nâng cao được phẩm chất của quả vải

2.3.4 Mật độ trồng

Theo truyền thống, cây vải được trồng với khoảng cách rộng: 9 hoặc 10

m x 12 m, thậm chí: 12 m x 12 m, với khoảng 70 – 80 cây/ ha Năng suất cá thể có thể cho rất cao đối với cây được trồng sau 10 hoặc 15 năm, nhưng sẽ bị l/ng phí đất trong những năm đầu Với những cây lớn này, sẽ là vấn đề khó khăn lúc thu hoạch, phun và bảo về sự phá hoại của chim, dơi (Menzel et al , 2000) Khu vườn quả với những cây già ở ấn Độ, Australia, Thái Lan và Trung Quốc đ/ được trồng với mật độ 80 – 150 cây/ ha Những vườn vải mới

được trồng ở Australia có khoảng cách hẹp từ 6 m x 8 m hoặc 4 m x 6 m hoặc

7 m x 3 m, tương đương với 200 – 600 cây/ ha (Menzel et al , 2000) Kết quả bước đầu việc trồng cây theo hàng sẽ cho thu hoạch cao ở Trung Quốc bắt

đầu từ những năm 1980 cây vải đ/ được trồng với khoảng cách hẹp, phổ biến

5 m x 4 m hoặc 6 m x 5 m, tương đương với 330 – 500 cây/ ha Cũng có một

Trang 32

số vườn cây ăn quả có mật độ dày hơn: 1.500 cây/ ha (3 m x 2,5 m) (Cheng và Huang, 2000) Những hệ thống cây trồng khác ở ấn Độ tạo thành hình hời gian sớm nhất

2.3.5 Quản lý dinh dưỡng

Một trong những yếu tố chính gây nên sự hạn chế đến sản xuất vải thiều

là thiếu một chương trình dinh dưỡng phù hợp Năng suất có thể thấp vì sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây phát triển quá mức vào cuối mùa Đông hoặc lượng đạm quá nhiều làm cho cây sinh trưởng quá mạnh Thiếu đạm, kaly và một số nguyên tố vi lượng như: Bo, Zn và Cu có thể làm hạn chế đến năng suất của cây, bởi vì sự hình thành và phát triển của quả bị hạn chế Đối với Trung Quốc, Australia, Thái Lan và ấn Độ người trồng vải thường cung cấp dinh dưỡng dựa trên cơ sở kích thước tán cây, số lượng quả/ cây và tuổi cây, mặc dù tiêu chuẩn dinh dưỡng của lá đầy đủ

ở Trung Quốc, đ/ giới thiệu liều lượng bón hàng năm: 0,6 kg urê, 1,2

kg supe lân và 0,6 kg kalyclorua, đối với 1 cây 5 năm tuổi, với tỷ lệ N:P:K là 1: 0,96: 1,3 Phân bón hoá học được sử dụng riêng cho 3 thời kỳ: Thời kỳ nở hoa (từ đầu đến giữa tháng giêng); thời kỳ quả phát triển nhanh (từ đầu đến giữa tháng năm) và thời kỳ chuẩn bị quả chín (cuối tháng sáu đến tháng bảy) Mặc dù, việc bón phân cho cấc vườn cây ăn quả đ/ được áp dụng thường xuyên, với một liều lượng nhỏ trong mỗi lần bón (trong nhiều trường hợp có thể bón đến hơn 10 lần, kể cả việc bón dưới đất và phun lên lá) Đối với Australia, khi lập một kế hoạch bón phân cho cây được dựa trên cơ sở tuổi cây

và kích thước tán cây (Menzel và Simpson, 1989) Tuy nhiên, những tỷ lệ bón phân này được xem như là một sự hướng dẫn và lời khuyên, cần phải phân tích

đất và lá Tỷ lệ đưa ra đối với một cây có 10 – 11 năm tuổi, với tán cây có

đường kính 4,0 – 4,5 m và mức độ che phủ 12 – 16 m cần bón: 0,5 kg N; 0,7

kg P2O5 và 0,7 kg K2O Khuyến cáo bón một nửa số lượng đạm bón sau khi hình thành nhuỵ hoa, nửa còn lại bón sau khi thành quả Các loại dinh dưỡng

Trang 33

khác (P và K) đựơc bón làm hai lần: Số lượng một nửa bón sau khi hình thành nhuỵ hoa, số còn lại bón sau khi đ/ thu hoạch quả ở ấn Độ, kế hoạch bón phân chủ yếu dựa vào tuổi cây, tuy nhiên các giống khác nhau thì sinh trưởng phát triển ở các vùng cũng khác nhau Những cây cho quả ở tuổi 7 – 10 năm thường nhận được 0,4 – 0,6 kg N; 0,2 – 0,3 kg P2O5; 0,4 – 0,6 kg K2O và 40 –

50 kg phân chuồng hàng năm Liều lượng đủ đối với phân chuồng là toàn bộ lượng phân được bón ngay sau lúc thu hoạch vào tháng sáu và tháng bẩy

Tiêu chuẩn về dinh dưỡng của lá chủ yếu dựa vào việc nghiên cứu đánh giá về năng suất cao của cây trồng Thăm dò mức độ dinh dưỡng lá phù hợp ở các vườn vải ở Quảng Đông – Trung Quốc đưa ra là: 0,93 – 2,10 % N; 0,08 – 0,21 % P; 0,12 – 0,33 % K ở tỉnh Quảng Tây đưa ra mức: 1,766 – 1,78 % N; 0,25 – 0,28 % P; 0,75 – 0,92 % K Mức độ phù hợp với các nguyên tố vi lượng là: 1,5 – 5,0 mg/ kg đối với Zn; 1,5 – 5,0 mg/ kg đối với khả năng thay đổi của Mn; 1,0 – 5,0 mg/ kg đối với Cu; 0,4 – 1,00 mg/ kg đối với Bo hoà tan và 0,15 – 0,32 mg/ kg đối với Mo

2.3.6 Quản lý việc tưới nước

Các nghiên cứu ở Australia, ấn Độ và miền Bắc của Thái Lan, cây vải

được tưới trực tiếp từ thời kỳ nở hoa cho đến sau thu hoạch hoàn toàn Nhiều vườn quả ở Australia được tưới nước từ 2 – 3 lần trong một tuần, nhưng điều này cũng có thể là thừa nếu thực hiện ở những khu vực trồng cây trên đất ướt Tuy nhiên, nếu thực hiện tưới được ở những khu vực bị khô hạn thì việc tưới nước lại là rất quan trọng, đặc biệt có hiệu quả đối với phát triển chồi hoa, thời

kỳ nở hoa và phát triển quả ở ấn Độ, việc tưới nước cho cây được đưa ra để tưới khi độ ẩm của đất bị mất nước từ 30 – 45 % Tuy nhiên, thực tế người trồng cây sẽ tưới thường xuyên từ 7 – 10 ngày một lần vào thời kỳ nẩy chồi hoa cho đến lúc thu hoạch hoặc cho đến sau thu hoạch, khi thấy mầm non xuất hiện Trong khi tưới phun là một thực tế được áp dụng hầu hết ở các vườn quả của Australia, miền Bắc Thái Lan và một số khu vực của Trung Quốc, thì

Trang 34

việc tưới mặt (tưới tràn) lại chủ yếu được áp dụng ở ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh và Đài Loan

2.3.7 Điều khiển chu kỳ nẩy mầm và sự nở hoa

Sự nở hoa của câyvải được bắt đầu khi mới nứt mầm, cùng với điều kiện nhiệt độ thấp Vì vậy, sự nở hoa chỉ xẩy ra khi đồng thời có thời tiết mát

mẻ và phát triển sự nứt mầm Theo Olesen và các đồng nghiệp (2000), ở Australia đưa ra bốn cách có thể thay đổi hoàn toàn sự nảy mầm và sự nở hoa của cây vải Cây có thể bị ức chế để gây ra một hoặc hai đợt sinh trưởng sinh dưỡng qua mùa Hè và mùa Thu Lần thứ hai hoặc thứ ba vào mùa Đông hoặc làm khô hạn trong mùa Thu để kìm h/m tốt hơn một hoặc hai lần nẩy lộc trước lúc thu hoạch Người ta cũng có thể tỉa ngay trong mùa Đông đối với những cành đ/ cắt tỉa Công việc này cũng có thể dùng chất Ethephon (từ 1 –

3 lít Ethrel và 5 kg urê pha trong 1000 lít nước) để loại bỏ những mầm non trong mùa Đông

Theo điều tra đánh giá của Yuan và Huang (1993) ở Trung Quốc, dựa vào sự sinh trưởng phát triển ở đầu rễ cho thấy: Đặc điểm đầu rễ của giống vải Nuomici càng non thì rụng quả càng nhiều Theo Zhou el al (1996) không thấy xuất hiện đỉnh sinh trưởng rễ ở các vườn vải non đối với giống Huaizu cũng như vườn vải đ/ cho thu hoạch đối với giống Nuomici cho thấy rụng quả rất ít Câu trả lời chắc chắn, việc khoanh một vòng theo hình xoắn xung quanh thân cây đ/ được phát hiện ở Trung Quốc để đẩy nhanh tốc độ phân hoá mầm hoa trong mùa Thu và để hạn chế sự bắt đầu nở hoa trong mùa Đông Tỷ lệ nở hoa tăng, số quả được hình thành nhiều, tỷ lệ quả rụng cũng khá, chất lượng

và kích thước quả cũng được cải thiện đáng kể Kết quả này được khuyến cáo

đối với sự ra hoa, việc khoanh một vòng vỏ xung quanh thân cây nên thực hiện vào giữa giai đoạn rụng lá và thời kỳ bắt đầu phân hoá mầm hoa (mùa Đông)

Để thúc đẩy sự nở hoa của giống vải Feizixiao thường được khoanh một vòng

vỏ theo hình xoắn xung quanh thân hoặc cành có đường kính 10 cm vào giữa

Trang 35

tháng 10, nhưng đối với giống Nuomici và Guiwei việc khoanh vỏ được thực hiện muộn hơn, vào tháng mười một và đầu tháng mười hai

2.4 ảnh hưởng của một số loài sâu bênh hại chính đối với sản xuất vải

Có đến hơn 58 loài sâu hại đ/ gây thiệt hại cho cây vải Các loài sâu hại chính là: Bọ xít hại vải (Tessaratoma papillosa), sâu đục cuống quả (Conopomorha sinensis), xén tóc hại vải (Aristobia testudo), ruồi (Dasineura sp), nhện lông nhung Eriophyes lichi (Ren và Tian, 2000) là những loài nguy hiểm nhất đối với cây vải ở ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam Sâu đục quả (Cryptophlebia ombrodelta) là sâu hại vải nguy hiểm nhất ở Australia Những quy trình đ/ thật sự được kiểm soát đối với hầu hết các loài sâu hại ở các nước khác nhau Có khoảng 25 loài thiên địch sống ký sinh trên trứng của các loài sâu hại vải Chẳng hạn như: Anastatus ssp quản lý đối với rệp, giun tròn Steinemema calpocapsea đối với xén tóc và loài ăn thịt Agistemus exsetus đ/

được sử dụng thành công

Có những bệnh không gây hại nghiêm trọng cho cây vải Tuy nhiên, hiện tượng cây vải chết đột ngột được quan sát thấy ở Australia, Trung Quốc, Việt Nam, đ/ đưa ra nhận xét bước đầu đối với hiện tượng tự nhiên cây bị héo

là do trong đất bị chua kết hợp với nấm Fusarium solani, Phytophrthora sp và Phythium sp Cây vải trồng sâu ở vị trí thoát nước kém và dinh dưỡng không

đầy đủ thì rất dễ bị bệnh (Hà Minh Trung, 2000) Một số loại bệnh có ảnh hưởng đến cây vải ở giâi đoạn sau thu hoạch Chúng phát triển cùng với sự phát triển của quả, ngay từ đầu cho đến sau thu hoạch Một vài loài nấm đ/ liên kết với triệu chứng bệnh để gây ảnh hưởng đến kích thước quả hoặc bám xung quanh thân, cành, của cây cho đến lúc thu hoạch Bệnh loét (Col erolrichwnl oeosporioides) là nguyên nhân chính làm mất sản lượng vải ở Trung Quốc, Australia, Đài Loan, Thái Lan

Trang 36

2.5 Thu hoạch Vải và xử lý sau thu hoạch

2.5.1 Thu hoạch vải

Màu sắc quả là một biểu hiện rất quan trọng đối với quả chín Trong thời gian chín, vỏ quả phải trải qua sự thay đổi của màu sắc từ xanh đến xanh vàng rồi đến màu đỏ sáng sau 7 – 10 ngày Khi màu sắc vỏ quả thay đổi từ đỏ sáng đến đỏ sẫm, tức là quả đ/ quá chín, nó sẽ làm giảm khả năng cất giữ cũng như hàm lượng đường trong quả Để thu hoạch quả đúng lúc, nó được người ta khuyến cáo, nên thu hoạch khi vỏ quả đ/ chín được 80 % đỏ hoàn toàn ở giai đoạn chín này, quả sẽ có chất lượng tốt nhất ở trung Quốc và Việt Nam, việc thu hoạc vải được thực hiện hoàn toàn bằng tay, tốt nhất thu hoạch vào những ngày có thời tiết tốt hoặc những ngày thời tiết u ám Những ngày mưa và buổi trưa năng nóng thì không nên thu hoạch Việc phân loại và

đóng gói cũng hoàn toàn được thực hiện bằng tay dưới bóng mát, ngay sau khi quả được thu hoạch

2.5.2 Xử lý sau thu hoạch

Hầu hết các sản phẩm quả đều phải đem đi tiêu thụ ngay sau khi thu hoạch, với một lượng nhỏ được bảo quản lạnh để sau đưa ra thị trường Việc

đóng gói và xử lý sau thu hoạch cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào khoảng cách

và thời gian vận chuyển quả Đối với những thị trường địa phương, nơi chỉ cần vận chuyển mất một vài giờ là đến, thì quả không cần xử lý và thường chỉ cần

đóng trong các sọt bằng tre hoặc hộp cát tông Đối với thị trường có khoảng cách xa, những nơi cần vận chuyển mất nhiều giờ, cũng không cần hệ thống làm lạnh, quả thường được đóng trong túi Plastic và những thùng có thêm một

ít đá (khoảng 113 quả/ thùng) Với phương tiện vận chuyển nhanh, có hệ thống làm lạnh tốt thì có thể vận chuyển vải tươi dến các thị trường quốc tế Tuy nhiên, quả vải sẽ trở lại mầu nâu và bị thối nhanh sau thu hoạch, đặc biệt khi lấy ở nhiệt độ thấp để bỏ ra ngoài Việc xử lý sau thu hoạch bằng sông khói SO2 và xử lý (nhúng) bằng axít là để bảo vệ màu và duy trì được

Trang 37

màu sắc vỏ quả Tuy nhiên, có vấn đề về dư lượng sunfua đioxite và thị trường quả bị thu hẹp

2.6 Thị trường vải của Việt Nam

ở miền Bắc Việt Nam, hầu hết vải sớm chín vào tháng 5 đến tháng 6

Có một vài loại vải sớm chín vào cuối tháng 4, nhiều nơi đ/ chọn lọc kỹ một

số giống này để kéo dài vụ thu hoạch

Về vấn đề tiêu thụ vải của Việt Nam có khoảng 70 – 75 % sản lượng vải thiều được tiêu thụ nội địa, phần còn lại xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông, các nước Đông Nam á và một vài nước Châu Âu như Pháp, Nga Quả vải cũng được chế biến thành nước sirô hoặc quả vải khô Nước vải được xuất khẩu sang Trung Quốc và tiêu thụ nội địa

Trang 38

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và

phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tình hình SX và tiêu thụ vải chín sớm của các hộ trồng vải chín sớm thuộc x/ Phúc Hoà (đại diện cho vùng có trình độ thâm canh cao), Liên Sơn (đại diện cho vùng có trình độ thâm canh trung bình) và Cao Thượng (có trình độ thâm canh thấp) là vùng vải sớm chủ lực của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Nghiên cứu được thực hiện trên giống vải chín sớm Phúc Hoà là giống

được trồng phổ biến ở huyện

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Điều tra tình hình sản xuất và tiêu thu vải chín sớm với quy mô lớn tại 03 x/ là: Phúc Hoà, Cao Thượng, Liên Sơn thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Bố trí thí nghiệm tại vườn vải thuộc x/ Cao Thượng và Phúc Hoà 3.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2008 đến tháng 7/2009

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - x/ hội liên quan đến SX và tiêu thu vải của huyện

- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải của các hộ trồng vải

- Tìm hiểu các chính sách của Nhà nước và các tổ chức khác về hỗ trợ phát triển SX và tiêu thụ vải

- Bố trí thí thực nghiệm: “Đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón qua lá đến năng suất và chất lượng vải sớm”

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm của huyện

Trang 39

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin

3.4.1.1 Điều tra thu thập các số liệu thứ cấp

- Điều kiện tự nhiên:

+ Vị trí địa lý, địa hình

+ Số liệu về khí hậu trung bình 10 năm từ năm 1998 - 2008 (thông qua Trạm khí tượng thuỷ văn Bắc Giang)

+ Số liệu về hiện trạng sử dụng đất thông qua Phòng TN&MT huyện

- Điều kiện kinh tế - x/ hội của huyện gồm: Số liệu về dân số và lao động, cơ

sở hạ tầng, điều kiện trồng trọt và các thông tin có liên quan khác thông qua Phòng Thống Kê, Phòng NN&PTNT huyện Tân Yên và Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang 3.4.1.2 Điều tra các hộ SX vải theo phương pháp PRA

- Điều tra về tình hình sản xuất, biện pháp kỹ thuật trồng trọt và tình hình tiêu thụ của vải thiều ở các vùng nghiên cứu thông qua phỏng vấn nông dân theo phiếu điều tra về:

+ Diện tích, năng suất, sản lượng ở các địa bàn nghiên cứu

+ Tình hình canh tác và chăm sóc vải ở các hộ trồng vải trên địa bàn thực hiện nghiên cứu

+ Một số kinh nghiệm sản xuất được áp dụng có hiệu quả tại địa phương + Tình hình sâu bệnh hại vải ở các vùng nghiên cứu

+ Tình hình tiêu thụ vải

+ Nhu cầu chính sách hỗ trợ của nhà nước

* Tổng số phiếu điều tra là 180 phiếu ( 3 x/ x 60 hộ/ x/ = 180 hộ)

- Điều tra thông tin thị trường thông qua các điểm cân để nắm nhu cầu của thị trường về chất lượng vải

- Phỏng vấn sâu tham khảo ý kiến các vấn đề liên quan đến nâng cao hiệu quả SX vải sớm thông qua các chuyên gia, những người am hiểu về vải thiều như: Cán bộ khuyến nông, cán bộ Phòng NN&PTNT, Sở NN&PTNT, các hộ có kinh nghiệm trồng vải

Trang 40

- Tìm hiểu các chính sách phát triển vải của tỉnh và huyện (thông qua Sở NN&PTNT, Phòng NN&PTNT huyện)

3.4.2 Bố trí thí nghiệm

* Tên thí nghiệm : “Đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón qua lá đến năng suất và chất lượng vải chín sớm”

* Thí nghiệm gồm 3 công thức và 1 đối chứng :

- Công thức 1 : Sử dụng phân bón qua lá Siêu kali (2 : 2 : 40)

- Công thức 2 : Sử dụng phân bón qua lá Đầu trâu (7 : 5 : 44)

- Công thức 3: Sử dụng phân bón qua lá Siêu kali (17 :21 :21)

- Đối chứng : phun nước l/

* Địa điểm nghiên cứu : Thí nghiệm được nghiên cứu tại vườn hộ ông : Ngô Xuân Thưởng - thôn Hoà Sơn, x/ Cao Thượng, huyện Tân Yên

* Bố trí thí nghiệm : Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối nghẫu nhiên

đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại, giống vải nghiên cứu là giống vải chín sớm Phúc Hoà 10 năm tuổi, với mật độ 250 cây/ha Mỗi công thức thí nghiệm trên

3 cây (mỗi cây là một lần nhắc lại), tổng số cây theo dõi là 12 cây

* Thí nghiệm có cùng một chế độ phân bón và chăm sóc như nhau, với lượng phân bón cho 1 cây 10 năm tuổi theo bảng 3.1:

Bảng 3.1 Thời gian bón phân và liều lượng phân bón

Lượng phân bón (g/cây) Lần

bón

Thời gian và mục đích bón

Năm

Urê

Lân Supe

Kali Clorua

Phân chuồng (kg)

Ngày đăng: 04/11/2015, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn á i (2004), Nghiên cứu ứng dụng phân vi l−ợng chứa đất hiếm bón lá nhằm tăng năng suất và phẩm chất cây vải thiều Phúc Hoà – Bắc Giang, Báo cáo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phân vi l−ợng chứa đất hiếm bón lá nhằm tăng năng suất và phẩm chất cây vải thiều Phúc Hoà – Bắc Giang
Tác giả: Đỗ Văn á i
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 2004
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2002), ứng dụng công nghệ bảo quản để nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ vải, nhtn (phía Bắc) Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại hội nghị Bắc Giang 13/1/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng công nghệ bảo quản để nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ vải
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2002
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tiêu chuẩn ngành - Ph−ơng pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn ngành - Ph−ơng pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
6. Đỗ Xuân Bình (2004), Điều tra xác định nguyên nhân và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm khắc phục hiện t−ợng ra hoa, quả cách năm của cây vải tại huyện Phúc Hoà, luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra xác định nguyên nhân và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm khắc phục hiện t−ợng ra hoa, quả cách năm của cây vải tại huyện Phúc Hoà
Tác giả: Đỗ Xuân Bình
Nhà XB: Tr−ờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Năm: 2004
7. Phùng Cảnh, “Phân bón Kỳ nhân mới 3 năm tạo hiệu ích 4,3 tỷ NDT”, Nhật báo Khoa học kỹ thuật 20/8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bón Kỳ nhân mới 3 năm tạo hiệu ích 4,3 tỷ NDT
8. Đỗ Ph−ơng Chi (2005), Nghiên cứu ảnh h−ởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại An Lto - Hải Phòng, luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Tr−ờng Đại học nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh h−ởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại An Lto - Hải Phòng
Tác giả: Đỗ Ph−ơng Chi
Nhà XB: Tr−ờng Đại học nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 2005
9. Võ Văn Chi, D−ơng Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật bậc cao, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật bậc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, D−ơng Đức Tiến
Nhà XB: Nxb
Năm: 1978
10. Vũ Thiện Chính (1999), Khả năng phát triển của một số cây ăn quả chủ yếu ở vùng Đông Bắc- Bắc Bộ, luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phát triển của một số cây ăn quả chủ yếu ở vùng Đông Bắc- Bắc Bộ
Tác giả: Vũ Thiện Chính
Nhà XB: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 1999
11. Chu Văn Chuông, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Mạnh Hải (1995), B−ớc đầu nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm đến tỷ lệ đậu quả của cây vải, kết quả nghiên cứu về Rau quả (1990-1994), Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: B−ớc đầu nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm đến tỷ lệ đậu quả của cây vải, kết quả nghiên cứu về Rau quả (1990-1994)
Tác giả: Chu Văn Chuông, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Mạnh Hải
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1995
14. Phạm Minh C−ơng và cộng sự (2005), “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải
Tác giả: Phạm Minh C−ơng, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
15. Ngô Thế Dân (2002), Kinh nghiệm trồng vải thiều ở Phúc Hoà. Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trồng vải thiều ở Phúc Hoà
Tác giả: Ngô Thế Dân
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Đường Hồng Dật (2003), Hỏi đáp về cây nhtn, cây vải. Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về cây nhtn, cây vải
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2003
17. Nguyễn Văn Dũng (2005), “Nghiên cứu ảnh h−ởng một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất phẩm chất vải chín sớm”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số đặc san Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh h−ởng một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất phẩm chất vải chín sớm
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2005
18. Phạm Tiến Dũng (2003), xử lý kết quả thí nghiệm trên máy vi tính bằng IRRISTAT 4.0 trong Windows”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: xử lý kết quả thí nghiệm trên máy vi tính bằng IRRISTAT 4.0 trong Windows
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Lê Thị Đức (2006), Nghiên cứu ảnh h−ởng của phân bón kỳ nhân trên một số cây trồng nông nghiệp, luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh h−ởng của phân bón kỳ nhân trên một số cây trồng nông nghiệp
Tác giả: Lê Thị Đức
Nhà XB: luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Năm: 2006
20. Lê Thị Hà (2003), Sự thiếu vi l−ợng của cây trồng ở châu á, Trung tâm công nghệ phân bón và thực phẩm (tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thiếu vi l−ợng của cây trồng ở châu á
Tác giả: Lê Thị Hà
Nhà XB: Trung tâm công nghệ phân bón và thực phẩm
Năm: 2003
23. Phùng Quốc H−ng (2006), Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất của 2 giống vải Hùng Long và vải thiều Thanh Hà tại huyện Quốc Oai - Hà Tây, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp- Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất của 2 giống vải Hùng Long và vải thiều Thanh Hà tại huyện Quốc Oai - Hà Tây
Tác giả: Phùng Quốc H−ng
Nhà XB: Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 2006
26. L−ơng M/o(2001), So sánh hiệu quả tăng sản của Kỳ nhân với 4 loại chất điều tiết sinh tr−ởng, Trạm xúc tiến mở rộng nông sản phẩm mới, Cục nông nghiệp, Huyện thị Túc Ninh, Tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiệu quả tăng sản của Kỳ nhân với 4 loại chất điều tiết sinh tr−ởng
Tác giả: L−ơng M/o
Nhà XB: Trạm xúc tiến mở rộng nông sản phẩm mới
Năm: 2001
27. Nguyễn Thị Ngà (1999), Điều tra, nghiên cứu tình hình sinh tr−ởng, phát triển và ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật rải vụ thu hoạch vải tại Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, nghiên cứu tình hình sinh tr−ởng, phát triển và ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật rải vụ thu hoạch vải tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Ngà
Nhà XB: Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 1999
28. Đào Quang Nghị (2005), Đánh giá khả năng sinh tr−ởng, phát triển và ảnh hưởng của một số chất điều hoà sinh trưởng đến giống vải chín sớm Kình Khê tại Uông Bí- Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp- Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh tr−ởng, phát triển và ảnh hưởng của một số chất điều hoà sinh trưởng đến giống vải chín sớm Kình Khê tại Uông Bí- Quảng Ninh
Tác giả: Đào Quang Nghị
Nhà XB: Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích và sản l−ợng vải của một số n−ớc trên thế giới - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 2.2. Diện tích và sản l−ợng vải của một số n−ớc trên thế giới (Trang 18)
Bảng 4.1. Một số đặc tr−ng về khí hậu của vùng nghiên cứu - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.1. Một số đặc tr−ng về khí hậu của vùng nghiên cứu (Trang 45)
Hình 4.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Yên năm 2008 - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Yên năm 2008 (Trang 47)
Bảng 4.8. Diện tích, năng suất và sản l−ợng vải của các huyện - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.8. Diện tích, năng suất và sản l−ợng vải của các huyện (Trang 58)
Bảng 4.10. Diện tích, năng suất và sản l−ợng vải - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.10. Diện tích, năng suất và sản l−ợng vải (Trang 60)
Hình 4.2. vải t−ơi XK sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai năm 2009 - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.2. vải t−ơi XK sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai năm 2009 (Trang 62)
Hình 4.4. Điểm cân vải năm 2009 - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.4. Điểm cân vải năm 2009 (Trang 63)
Hình 4.6. Cở sở hạ tầng giao thông tại vùng trồng vải tập trung xã Phúc Hoà - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.6. Cở sở hạ tầng giao thông tại vùng trồng vải tập trung xã Phúc Hoà (Trang 65)
Bảng 4.11. Kết quả điều tra về mức độ đầu t− phân bón cho vải - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.11. Kết quả điều tra về mức độ đầu t− phân bón cho vải (Trang 68)
Bảng 4.15. Kết quả điều tra về mức độ đầu, thu nhập và hiệu quả sản - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.15. Kết quả điều tra về mức độ đầu, thu nhập và hiệu quả sản (Trang 77)
Hình 4.7. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ đậu quả của các công thức - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.7. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ đậu quả của các công thức (Trang 82)
Hình số 4.8. Biểu đồ biểu diễn khối l−ợng quả - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình s ố 4.8. Biểu đồ biểu diễn khối l−ợng quả (Trang 84)
Hình 4.9. Biểu  đồ biểu diễn năng suất thực thu - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.9. Biểu đồ biểu diễn năng suất thực thu (Trang 84)
Hình 4.11. Mẫu mã quả ở công thức 1 - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.11. Mẫu mã quả ở công thức 1 (Trang 92)
Hình 4.14. Mẫu mã quả ở công thức đối chứng - nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải chín sớm tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang
Hình 4.14. Mẫu mã quả ở công thức đối chứng (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w