1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương ngữ nam bộ trong văn học dân gian

122 3,3K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 798,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian” với mong muốn góp phần tìm hiểu thêm nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ, của văn hóa Nam B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Kiều Oanh

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Kiều Oanh

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

-

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Tổ Ngôn Ngữ, các thầy

cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm TPHCM Xin cảm ơn Phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm TPHCM

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tận tình góp ý, giúp

đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 03 năm 2012

Người viết luận văn

Đỗ Thị Kiều Oanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình khác

Người viết luận văn

Đỗ Thị Kiều Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

0.1.Lí do chọn đề tài 1

0.2.Mục đích nghiên cứu 1

0.3.Lịch sử vấn đề 2

0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ 2

0.3.2 Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian 3

0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

0.5.Phương pháp nghiên cứu 5

0.6.Tư liệu nghiên cứu 5

0.7.Đóng góp của luận văn 6

0.8.Bố cục của luận văn 6

CH ƯƠNG 1 C Ơ SỞ LÍ THUYẾT 7

1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ 7

1.1.1 Khái niệm phương ngữ 7

1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt 8

1.1.3Phương ngữ Nam Bộ 9

1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ 9

1.2 Văn học dân gian Nam Bộ 11

1.3.Văn hóa Nam Bộ 13

1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa 13

1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ 13

1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ 14

1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian 16 CH ƯƠNG 2.TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM BỘ 19

2.1 Kết quả khảo sát 19

2.2 Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa 22

Trang 6

2.2.1 Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng 23

2.2.2 Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất 64

2.2.3 Từ ngữ xưng hô 73

CH ƯƠNG 3 NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT MANG MÀU SẮC NAM BỘ 79

3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm 79

3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh 89

3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc 92

3.4 Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca Nam Bộ 98

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 116

Trang 7

MỞ ĐẦU 0.1.Lí do chọn đề tài

Về phương ngữ Nam Bộ, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Xuất phát từ các góc độ, khuynh hướng và phương pháp tiếp cận khác nhau, những bài viết, những công trình đó đã cung cấp cái nhìn mới mẻ, toàn diện hơn về phương ngữ Nam Bộ Có thể thấy, đây là vấn đề thu hút được đông đảo các

nhà ngôn ngữ học - đặc biệt là những nhà nghiên cứu từng được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Nam Bộ Thế nhưng, theo chúng tôi, việc khảo sát từ ngữ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ vẫn có thể bàn luận thêm, nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn

Khác với văn học viết, văn học dân gian là văn học truyền miệng, là sáng tác của tập thể nhân dân lao động Văn học dân gian phản ánh những gì gần gũi nhất với con người Từ ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học dân gian phản ánh lối nói của từng địa phương, mang dấu ấn của từng vùng, từng miền Nghiên cứu từ ngữ địa phương trên cứ liệu văn học dân gian của một vùng, miền nào đó không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm của từ ngữ vùng, miền ấy mà còn thấy được nếp sống, nếp nghĩ của người dân nơi đó

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian” với mong muốn góp phần tìm hiểu thêm nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ, của văn hóa Nam Bộ biểu hiện qua văn học dân gian; phân tích giá trị biểu đạt, hiệu quả biểu đạt của các yếu tố mang tính địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

Trang 8

Nam Bộ Từ đó góp phần làm rõ vai trò của các yếu tố địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

0.3.Lịch sử vấn đề

0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ là vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm từ rất sớm Từ những năm 1958 -1959, loạt bài “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc [39] đăng trên tạp chí Bách khoa nhiều số liền đã sưu tầm và giải thích tiếng địa phương Nam

Bộ Từ đó đến nay, phương ngữ đã được nghiên cứu toàn diện hơn, cả về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, chức năng văn hóa - xã hội Các công trình mang tính chất dẫn luận từ vựng học của Đỗ Hữu Châu [6], Nguyễn Thiện Giáp [18] hay tu từ học của Cù Đình Tú [91] đều có một phần nói về phương ngữ hoặc từ ngữ địa

phương Trong đó đáng chú ý nhất là công trình

“Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu [9], công trình này đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của phương ngữ học và các vùng phương ngữ của tiếng Việt

Về phương ngữ Nam Bộ, ngoài loạt bài của Bình Nguyên Lộc như đã nêu trên,

có nhiều công trình, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau

Trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, tác giả Hoàng Thị Châu có đề cập đến phương ngữ Nam Bộ Trong đó, tác giả chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm, cụ thể

là “dựa vào những phương pháp của ngôn ngữ học và phương ngữ học để miêu tả, phân tích, giới thiệu với bạn đọc những biến thể địa phương của tiếng Việt, lí giải các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó”

[8;5-6] Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy và thể hiện lịch sử phát triển của tiếng Việt

“Phương ngữ Nam Bộ” [33] của Trần Thị Ngọc Lang là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về phương ngữ Nam Bộ Trong công trình này, tác giả đã miêu tả, so sánh rất tỉ mỉ và tinh tế sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ Trần Thị Ngọc Lang cũng là tác giả

Trang 9

của nhiều bài báo bàn về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp, từ láy… của phương ngữ Nam Bộ [31,32,34,35,36]

Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả như : Hoàng Xuân Phương [61], Nguyễn Thanh Nhàn [48], Nguyễn Thanh Lợi [40], Nguyễn Thị Hai [20,21], Lê Trung Hoa [26,27,28] bàn về địa danh Nam Bộ; Cao Xuân Hạo [23], Nguyễn Hoài Nguyên [47] bàn về đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ; Hồ Xuân Tuyên [94,95,96,97,98],

Huỳnh Công Tín [68,69,70,71,72], Nguyễn Đức Dân [12], Nguyễn Thị Thanh Phượng [62], Nguyễn Kim Thản [76], Mai Thanh Thắng [78,79], Hoàng Vũ [99] bàn

về đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ …

0.3.2 Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian

Điểm qua lịch sử nghiên cứu, có thể thấy phương ngữ Nam Bộ đã được nghiên cứu khá toàn diện Tuy nhiên bàn về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian chỉ

có một số bài viết của các tác giả Lê Xuân Bột [4], Trần Văn Nam [45], Bùi Mạnh Nhị [49], Trịnh Sâm [66], Nguyễn Văn Nở [51], Nguyễn Thế Truyền [88]

Trong bài viết “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao – dân ca” [88], tác giả Nguyễn Thế Truyền đã trình bày một cách khá đầy đủ những đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ Tác giả nhận thấy trong ca dao – dân ca Nam Bộ đặc biệt rất hay gặp các từ ngữ địa phương và cách phát âm địa phương Tác giả đã liệt kê các từ ngữ Nam Bộ xuất hiện trong một số câu ca dao, đồng thời phân tích màu sắc địa phương của các từ ngữ đó Tác giả cho rằng từ ngữ được phản ánh trong ca dao – dân

ca phần lớn đều là những từ quan trọng nhất biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… rất quen thuộc, gần gũi trong đời sống của người dân địa phương Trong khuôn khổ một bài báo, tác giả chỉ khai thác màu sắc địa phương Nam Bộ ở một số từ ngữ hạn chế Tuy nhiên, bài viết đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ

Trong bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ” [49], tác giả Bùi Mạnh Nhị cũng bàn đến từ ngữ địa phương trong ca dao – dân ca Nam Bộ Tác

giả cho rằng văn học dân gian Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền

thống của ngôn ngữ ca dao – dân ca dân tộc mà cha ông từ các miền ngoài mang vào, đồng thời đó cũng là kết quả của quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của

Trang 10

cuộc sống mới Với lập luận đó, tác giả đi đến khẳng định từ ngữ sử dụng trong ca

dao – dân ca Nam Bộ ngoài những từ ngữ toàn dân còn có những từ ngữ nảy sinh tại địa phương Tác giả đã nêu ra những từ ngữ địa phương phản ánh đời sống tình cảm của nhân dân trên sông nước, những từ gọi tên cây trái, những môtíp quen thuộc… tất

cả đều gắn chặt với cách phát âm, cách nói, với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Nam Bộ Từ đó, tác giả nhận thấy ngôn ngữ, cách nói của ca dao – dân ca Nam Bộ thường biểu hiện ở hai cực Một cực là nhỏ nhẹ, hiền lành, dễ thương…Cực thứ hai là chất xông xáo, phóng túng, trẻ trung Điều này xuất phát từ hoàn cảnh sống, tâm trạng, tính cách, phong cách sinh hoạt của người dân nơi đây Người dân Nam Bộ vốn yêu ra yêu, ghét ra ghét cộng với cách nói thẳng thắn, bộc trực nên mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ rất cao Bên cạnh

đó, do không bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ nên văn học dân gian

Nam Bộ có khả năng rộng mở để tạo nên và sử dụng những từ ngữ đầy sáng tạo

Những đóng góp của tác giả bài viết là rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu về sắc thái địa phương trong ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ nói riêng và ngôn ngữ Nam Bộ nói chung

Mở đầu bài viết “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương” [66], tác giả Trịnh Sâm mong muốn mọi người phải tôn trọng ngôn ngữ địa phương trong quá trình sưu tầm, hiệu đính ca dao – dân ca Bởi vì, theo tác giả, nếu tìm hiểu ca dao dân

ca mà tách rời hoàn cảnh sống có nghĩa là tước bỏ đi một phần tinh hoa vốn có của

nó, đồng thời còn đánh mất một tiên chí nhận diện xuất xứ cũng như phân loại ca dao – dân ca Tác giả đã dẫn một số ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa các phương ngữ

và giữa phương ngữ với tiếng Việt toàn dân Trong đó, tác giả có nêu một số đặc

điểm của phương ngữ Nam Bộ như hiện tượng vần uân chuyển thành ưa, về thường đọc là dìa, cách phát âm bùn thành bùng, cách đọc vần úc và út giống nhau… Từ đó,

tác giả kết luận: Phương ngữ Nam Bộ là hệ thống từ ngữ xù xì, ngồn ngộn, đầy sức sống Bài viết đã cung cấp những hiểu biết nhất định về phương ngữ, đồng thời còn gợi ý một số vấn đề nghiên cứu thú vị

Nhìn chung, hầu hết các bài viết chủ yếu nói đến từ ngữ địa phương trong ca dao dân ca Nam Bộ, chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chi

Trang 11

tiết các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ Trước tình hình nghiên cứu như trên, chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ bàn đến phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian một cách toàn diện và có hệ thống, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của người đi trước

0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do đặc điểm của đề tài, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không đặt vấn

đề tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ ở mọi thể loại văn học dân gian mà chỉ giới hạn tìm

hiểu phương ngữ Nam bộ trong các thể loại sau:

- Truyện cười

- Tục ngữ

- Ca dao – dân ca

0.5.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cấu tạo từ ngữ, các cách biểu đạt mang màu sắc địa phương

- Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích đặc trưng ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Để làm rõ nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ, luận văn có đối chiếu phương ngữ Nam Bộ với ngôn ngữ toàn dân để thấy được sự khác biệt, nét riêng của từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

Các phương pháp này có tầm quan trọng như nhau và được vận dụng xuyên suốt luận văn

0.6.Tư liệu nghiên cứu

Tài liệu mà chúng tôi sử dụng để khảo sát các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ là bộ tài liệu sưu tầm điền dã của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí

Trang 12

Minh Tài liệu đã được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản

Đó là những tuyển tập do Chu Xuân Diên chủ biên:

0 Văn học dân gian Sóc Trăng (2002);

1 Văn học dân gian Bạc Liêu (2005);

Và cuốn Văn học dân gian An Giang (tài liệu sưu tầm điền dã lưu hành nội

bộ, 2010)

0.7.Đóng góp của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và thực tiễn như sau:

- Đóng góp vào việc tìm hiểu đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

- Thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương, góp phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ

- Đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

- Tập hợp một khối lượng lớn, bao quát hơn về từ ngữ địa phương Nam Bộ, phục vụ cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu phương ngữ và văn học dân gian Nam Bộ

0.8.Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các nội dung chính như sau:

Chương một trình bày các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài: phương ngữ,

phương ngữ Nam Bộ, văn học dân gian Nam Bộ, mối quan hệ giữa phương ngữ và văn học, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Chương hai trình bày các vấn đề liên quan đến từ địa phương trong văn học

dân gian Nam Bộ Thông qua kết quả khảo sát về từ địa phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đi sâu miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, giá trị tu từ và đặc điểm văn hóa của từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

Chương ba miêu tả, phân tích giá trị tu từ, đặc trưng văn hóa Nam Bộ của các

cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ lâu Tuy nhiên, cho đến nay khi bàn về phương ngữ vẫn còn những quan điểm chưa thống nhất, đặc biệt là trong các vấn đề như sự phân vùng phương ngữ, vị trí của phương ngữ trong quan hệ với ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ và việc chuẩn hóa ngôn ngữ Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi sâu bàn bạc những vấn đề đó mà chỉ tập trung vào các khái niệm làm cơ sở để tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ như: khái niệm

phương ngữ, sự phân vùng phương ngữ, đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ

1.1.1 Khái niệm phương ngữ

Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn,

phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ; là hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [100;232]

Hoàng Thị Châu định nghĩa phương ngữ một cách ngắn gọn hơn:

“Ph ương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [8;24]

Ở đây, chúng tôi nhận thấy cần phân biệt ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân Tuy nhiên, phương ngữ cũng là một

hệ thống hoàn chỉnh riêng của nó chứ không phải là “một cái nhánh tách ra từ thân

cây” [8;54] ngôn ngữ toàn dân Chính vì vậy mà không thể cho rằng ngôn ngữ toàn dân là cái trừu tượng còn phương ngữ là cái cụ thể, “phương ngữ cũng như ngôn ngữ

toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể” [8;54]

Trang 14

1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt

Phân vùng phương ngữ là vấn đề phức tạp Có nhiều quan điểm khác nhau bàn

về vấn đề này Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vùng phương ngữ nào cả, chỉ có một ngôn ngữ Việt mà thôi; có quan điểm cho rằng tiếng Việt có hai, ba, bốn hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể các quan điểm

An đến Đà Nẵng), phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào)

- Quan điểm chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ có những tác giả sau: + Nguyễn Kim Thản chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc (Bắc

Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía nam Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ Nam (từ Thuận Hải trở vào)

+ Nguyễn Văn Ái chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc Bộ (từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa), phương ngữ Bắc Trung bộ (từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Thuận Hải), phương ngữ Nam Bộ (từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau)

- Nguyễn Bạt Tụy chia phương ngữ Việt thành năm vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Bắc bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Quảng Trị),

Trang 15

phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy), phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào)

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt của Nguyễn Văn Ái Theo đó, vùng phương ngữ Nam Bộ được xác định trùng với vùng địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước đến mũi Cà Mau

1.1.3.1 Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ

Vùng phương ngữ Nam bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Tuy nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách xác định khác nhau

Hoàng Phê gọi tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng

miền Nam, nơi có Sài Gòn (TP HCM) là trung tâm [57]; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn

Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam [77;51-69] Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Bình Tuy trở vào được Nguyễn Bạt Tụy gọi là phương ngữ Nam [93] Tiếng

Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam Tổ quốc, Hoàng Thị Châu gọi

phương ngữ Nam [8;90] Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao

Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [24;120-121]

Từ TK XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn Văn Ái [1;10], Trần Thị Ngọc Lang [33;7], Hồ Lê [38;229-230], Bùi Khánh Thế [82;77], Cao Xuân

Hạo [24;120] gọi là phương ngữ Nam Bộ

Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ Nam được các tác giả xác định khá rộng Không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định hẹp hơn Ở đây chúng tôi chọn cách xác định vùng phương ngữ Nam Bộ như sau:

Ranh giới phương ngữ Nam bộ trùng với ranh giới địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Bình Dương, Bình Phước đến Cà Mau

1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ

Bất cứ một phương ngữ nào cũng có những nét đặc trưng về ngữ âm, từ vựng –

ngữ nghĩa, ngữ pháp so với các phương ngữ khác “Một phương ngữ được xác định

bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng – ngữ

Trang 16

nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [8;90] Phương ngữ Nam Bộ cũng không nằm

ngoài quy luật trên

Trước hết, Nam Bộ là nơi có điều kiện giao thông thuận tiện Đồng thời cũng

là nơi phát triển kinh tế hàng hóa sớm hơn các vùng khác của đất nước nên phương

ngữ Nam Bộ đã có ảnh hưởng trên một vùng dân cư rộng lớn “Một đặc điểm nổi bật

của phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ rộng lớn” [82;77]

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số đặc điểm chính của phương ngữ Nam

Bộ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

- Về ngữ âm:

+ Thanh điệu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng (Phương ngữ Nam Bộ không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã)

+ Phụ âm đầu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ có 19 phụ âm, không có 3 phụ âm

+ Vần: Trong phương ngữ Nam Bộ, âm đệm /- w-/ hoặc bị lược bỏ (luyến  liến) hoặc được nhấn mạnh thành âm chính (loan  lon) Các nguyên âm đôi /ie, , uo/ khi đi với /- m, -p / cuối thì mất yếu tố sau (tiêm  tim, lượm  lựm) Các âm đơn / ɔ, / đứng trước phụ âm cuối /-p, -m / đều thành /o/ (nom, nơm  nôm)

Âm chính /ă/ trong vần “ay” đọc thành “ai” (tay  tai)

+ Phụ âm cuối: Người Nam Bộ phát âm không phân biệt /-n/ với /-/ (tan – tang), /- t/ với /-k/ (tắc – tắt)

- Về từ vựng – ngữ nghĩa:

Ngoài những khác biệt về ngữ âm, ở Nam Bộ còn có rất nhiều từ ngữ mang sắc thái địa phương dùng để định danh cây cỏ, cầm thú, hoa trái; công cụ, phương tiện sinh hoạt và lao động; địa hình; từ xưng hô; từ chỉ không gian, thời gian; từ ngữ liên quan đến sông nước; tiếng lóng, từ mượn gốc khác như Khmer, Hoa, Pháp, Anh…

Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ ở chương sau

Trang 17

- Về ngữ pháp:

Giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ về cơ bản không khác nhau nhiều Chính sự thống nhất về ngữ pháp giữa các phương ngữ với nhau và với ngôn ngữ

toàn dân nên tiếng Việt mới đảm bảo được tính thống nhất trên toàn quốc “Khi việc

miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng” [8;21] Tuy nhiên, nói như vậy

không có nghĩa là không có trường hợp khác nhau Trong phương ngữ Nam Bộ, có một số đặc điểm ngữ pháp khác với ngôn ngữ toàn dân Chính những đặc điểm này tạo nên nét riêng của phương ngữ Nam Bộ Phần này cũng sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở những chương sau

1.1.3.3 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ

Trong một xã hội có nhiều cộng đồng người nói nhiều ngôn ngữ khác nhau cùng sinh sống thì sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ là điều tất yếu Khi tiếp xúc sẽ có hiện tượng giao thoa, vay mượn thậm chí là đồng hóa một số yếu tố giữa các ngôn ngữ

Trong tiến trình khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc, người Việt đã mang theo mang theo nét văn hóa, vốn ngôn ngữ từ cội nguồn phía Bắc đến với vùng đất mới Do đó, trong phương ngữ Nam Bộ, dấu vết của tiếng nói cội nguồn vẫn còn

1.2 Văn học dân gian Nam Bộ

Văn học dân gian Nam Bộ có đầy đủ các loại thể như văn học dân gian các vùng miền khác trên cả nước: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao dân ca Để thực hiện đề tài, luận văn chỉ tập trung khảo sát sự thể hiện của phương ngữ Nam Bộ ở các thể loại truyện cười, tục ngữ, ca dao dân ca

Trang 18

Có thể thấy trong các thể loại mà chúng tôi chọn để khảo sát, ca dao dân ca là bộ phận có số lượng nhiều nhất Do vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số nét về ca dao, dân ca và ca dao, dân ca Nam Bộ

Trong văn học dân gian, ca dao, dân ca là bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất,

tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác

Về đại thể, ca dao, dân ca có thể chia thành ba bộ phận:

+ Thơ ca nghi lễ: Đây là thể loại sáng tác dân gian có nguồn gốc rất cổ, nảy sinh trong quá trình lao động, sinh hoạt, gắn chặt với thế giới quan của người nguyên thủy cũng như ý thức tôn giáo ở các giai đoạn sau Thơ ca nghi lễ khi diễn xướng sẽ kèm theo các hành động nghi lễ Loại thơ ca này phản ánh kinh nghiệm lao động, biểu thị những khát vọng, ước mơ của nhân dân cũng như tài nghệ sử dụng tiếng mẹ đẻ Ở Nam Bộ, loại thơ ca này chưa được sưu tầm nhiều Trong ngữ liệu khảo sát của chúng tôi chỉ có 3 bài thơ ca nghi lễ nằm trong tuyển tập văn học dân gian Sóc Trăng

+ Dân ca lao động: Đây là những bài ca được hò hát trong lao động với điều kiện là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cường độ và cách thức của

nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó Hò lao động là hình thức chủ yếu của thể loại này

+ Ca dao – dân ca trữ tình: Đây là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ Những bài ca này vẫn được hát trong lao động, nhưng nội dung cơ bản của nó là nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình

Văn học dân gian sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với văn học dân gian ở các miền khác của đất nước Tuy nhiên, văn học dân gian Nam Bộ là bộ phận sáng tác rất trẻ của dân tộc Nó gắn liền với quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ Vì vậy, những yếu tố đặc trưng ở vùng đất Nam Bộ (điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người….) đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ.Việc tìm hiểu màu sắc địa

Trang 19

phương trong văn học dân gian sẽ chỉ ra nét độc đáo, sự đóng góp riêng của từng địa phương

Văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân lao động, thế nên bản thân nó chứa đựng những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân dân Việc tìm hiểu phương ngữ trong văn học dân gian của một vùng miền không chỉ giúp ta nhận thức sâu hơn về ngôn ngữ của vùng miền mà còn giúp ta thấy được nét đặc trưng, cái hay, cái đẹp của văn học dân gian vùng miền ấy

1.3 Văn hóa Nam Bộ

1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa

- Khái niệm văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và

tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình”

[84;25]

- Theo Trần Ngọc Thêm [84;28-29], văn hóa gồm bố thành tố sau: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (tận dụng và đối phó với môi trường) và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

- “Văn hóa vùng là một phạm vi, một khu vực địa lí – văn hóa có đặc điểm và bản sắc riêng” [81;5] Như vậy, Nam bộ là một vùng văn hóa

Những khám phá khảo cổ học cho chúng ta biết từ xa xưa, ít nhất là cách nay

từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có mặt trên vùng đất Nam Bộ Họ có mặt đầu tiên ở vùng phù sa cổ (tức là vùng Đông Nam Bộ) ngày nay, sau đó mới tiếp tục hành

trình xuống vùng phù sa mới (tức là vùng Tây Nam Bộ ngày nay)

Chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam, người Chân Lạp

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chủ nhân ban đầu của vùng đất Nam Bộ là người Phù

Nam mà sách Tấn thư của Trung Hoa mô tả là “đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp” với hoạt động nông nghiệp và giao thông đường thủy rất phát triển Rồi đến TK VI thì Phù Nam nông nghiệp đã bị

người Chân Lạp dương tính hơn thôn tính” [81;603]

Trang 20

Từ TK XVII trở đi, Nam Bộ xuất hiện người Việt Người Việt là những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung vào Đây là những người bần cùng hoặc muốn tránh cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn lúc bấy giờ mà vào Nam Họ ra đi để kiếm sống và cũng mong được an thân Mặt khác, có một lớp nông dân nghèo cũng tiến vào Nam

theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn “Trong sự nghiệp 300 năm mở mang,

khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất sinh tụ lâu đời của mình là vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển miền Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam Bộ ngày nay” [38;3] Ngoài ra, thời kì này còn có lính tráng, các tội đồ bị triều đình bắt buộc vào Nam lập đồn điền, bảo vệ biên cương phía Nam của đất nước

Những người dân nghèo này chinh phục vùng đất phía Nam bằng bàn tay, bằng

khối óc, bằng sự cần cù, chăm chỉ: “Nam Kì được chinh phục không phải bằng thanh

gươm, vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày, đôi trâu đi từng bước một” [50;60]

TK XVII, XVIII, người Hoa từ các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) dắt díu nhau vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long lập nghiệp Cả người Pháp, Anh, Mã Lai, Ấn Độ cũng có mặt ở Nam Bộ

TK XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía Nam sông Hậu Họ đã chinh phục vùng đất mới, biến một vùng hoang dại thành vùng đất trù phú, cây trái sum sê

Tóm lại, Nam Bộ là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em: người Việt, người Hoa, người Chăm, người Khmer…Lớp dân cư đông nhất là người Việt Nơi tập trung đông nhất của họ là những vùng đất dễ làm, có nước ngọt, thuận lợi cho việc trồng lúa nước Người Khmer là dân tộc đông thứ hai ở Nam Bộ Họ thường định cư, canh tác trên những vùng đất cao, màu mỡ Các dân tộc lập làng, dựng nhà cạnh nhau, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Tuy nhiên, dân tộc nào theo phong tục của dân tộc đó, tuy có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhiều

Khi tiến vào vùng đất phía Nam, người Việt đã mang theo mình một nền văn hóa Việt Trước điều kiện sống mới, con người đã có những cách ứng xử mới cho

Trang 21

phù hợp Chính vì vậy mà văn hóa Việt truyền thống đã được người Việt ở phương Nam vận dụng linh hoạt hơn Từ đó, hình thành một vùng văn hóa Nam Bộ có bản sắc riêng, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam nói chung

Có thể phác thảo vài nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ như sau: “Vùng văn hóa

Nam Bộ có hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ (lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn)

và Tây Nam Bộ (lưu vực sông Cửu Long), với khí hậu hai mùa (mưa – khô), với mênh mông sông nước và kênh rạch Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Mạ, Stiêng, Chơro, Mnông) Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thủy sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây…”[84;63]

Trong cách ứng xử với tự nhiên, người Việt ở Nam bộ vẫn giữ được nếp sống hòa hợp và tôn trọng Sinh hoạt và sản xuất ở Nam bộ luôn gắn với những thay đổi, biến động của con nước, của dòng sông và thủy triều Những biểu hiện của văn minh sông nước thể hiện rõ trong phương thức lao động, trong nhịp sống sinh hoạt, trong tín ngưỡng, trong phong tục và ngôn ngữ

Trong lối ứng xử xã hội, người Việt phương Nam vẫn giữ được sự mềm dẻo, hiền hòa của con người gốc nông nghiệp Họ thích ứng với môi trường linh hoạt hơn,

ít câu nệ, thiết lập những quan hệ được quy định bởi điều kiện sống Làng Nam Bộ

“ở tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện làm ăn”, “làng xã Nam Bộ không

có những thiết chế quá chặt chẽ (nhiều làng không có hương ước, thần tích, thần phả)” [84;198] Thôn ấp thuở ban đầu có đặc điểm là “dễ hợp dễ tan” Những người

tứ phương đến lập làng lập ấp, thấy làm ăn khó thì lại tìm nơi khác Do đó, “thành

phần dân cư Nam Bộ thường hay biến động, người dân không bị gắn chặt với quê hương như ở làng Bắc Bộ” [84;198]

Tính cách con người Nam Bộ là sự biểu hiện của con người Việt Nam trong những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nhất định Đó là đức cần cù, là sự đoàn kết giúp

đỡ thương yêu nhau “Dù làm ăn dễ dãi, người nông dân Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù

Dù kinh tế hàng hóa phát triển, người Việt ở Nam Bộ vẫn coi trọng tính cộng đồng”

Trang 22

[84;199] Đặt chân đến vùng đất mới, những lưu dân đã nhanh chóng kết thành chòm xóm Họ dựa vào nhau làm ăn, sinh sống, chống lại thú dữ, chống lại cường hào ác bá… Người Nam Bộ can trường, gan góc, không lùi bước trước bất kì trở ngại nào

của tự nhiên cũng như những bất công, vô lí của xã hội

Trong giao tiếp, người Nam Bộ bộc trực, chất phác, thẳng thắn, ít nói văn hoa,

rào đón “Người dân đồng bằng sông Cửu Long – Đồng Nai vẫn chân thật, trung tín,

cởi mở, bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên thủy), xử sự với người ngay một cách không suy tính thiệt hơn Họ cũng đòi hỏi kẻ khác cũng như vậy đối với họ”

[50;161-162]

Người Nam Bộ ít chịu sự ràng buộc của đạo đức Khổng – Mạnh, ít thuần phục

quyền uy phong kiến Một quá khứ với bao khuôn phép gò bó, những quan niệm cổ

hủ đã được họ “cởi bỏ lại đằng sau để sáng tạo ra một phong cách sống tự do, phóng

khoáng hơn và làm cho nền đạo lí giàu tính nhân ái của dân tộc ánh lên những sắc màu độc đáo Họ không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng cứu khốn phò nguy, sống cái đạo làm người “kiến ngãi bất vi vô dũng dã”” [38;68]

- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa:

Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ Ngôn ngữ là công cụ của văn hóa vì không có ngôn ngữ thì không có một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra được Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Đỗ Hữu Châu viết: “Văn hóa là một tổng thể gồm nhiều hợp phần nên ngôn ngữ phục

vụ mỗi hợp phần theo những cách thức khác nhau” [7;2] Hồ Lê khẳng định: “Trên lĩnh vực văn hóa bao la thì ngôn ngữ là một bộ phận Trước hết ngôn ngữ là sản phẩm do loài người tạo ra và vì thế nó cũng được loài người nhận thức, được nhận thức ngay trong quá trình nó được tạo ra và được nhận thức ngày càng sâu hơn trong quá trình nó tồn tại và phát triển” [38;333]

Trên phương diện giao tiếp, ngôn ngữ được xem là hình thức biểu hiện của văn hóa Ngôn ngữ trực tiếp biểu hiện những, tình cảm, cách nghĩ, nếp sống hằng ngày của con người Trong quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa cá nhân với

Trang 23

cộng đồng, ngôn ngữ đã trở thành một chiếc cầu nối, trở thành một phương tiện biểu hiện cách ứng xử văn hóa

Tuy nhiên, ngôn ngữ không chỉ là hình thức biểu hiện của văn hóa mà còn là

một hợp phần của văn hóa “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa nhưng đồng thời nó

cũng là một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hóa” [7;2]

Bàn về mối quan hệ này, Cao Xuân Hạo viết:“Những ảnh hưởng của các nhân tố văn

hóa đối với cấu trúc của một ngôn ngữ là điều khó có thể hồ nghi, tuy không phải bao giờ cũng dễ chứng minh Và do đó, ít ra cũng có thể tìm thấy những sự kiện ngôn ngữ nào đó có thể cắt nghĩa được bằng những sự kiện thuộc bản sắc văn hóa của khối cộng đồng nói thứ tiếng hữu quan, và đến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể gợi cho ta những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ đấy về nền văn hóa của họ” [24;289]

Mặt khác, nhìn từ góc độ tri nhận, có thể nói “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn

ngữ đều phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa – bản ngữ đó, thường được gọi là mô hình thế giới, bức tranh thế giới, hình ảnh thế giới hay biểu tượng về thế giới…” [80]

Tóm lại, “ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó với nhau, không thể

tách rời nhau Ngôn ngữ là chất liệu truyền tải văn hóa, văn hóa là cái hàm chứa trong ngôn ngữ Sự sáng tạo về văn hóa thường không thể tách rời khỏi ngôn ngữ, còn sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với sự biến đổi

và phát triển của văn hóa” [59] Đồng thời, “hệ thống từ ngữ của một ngôn ngữ là một cuốn bách khoa toàn thư văn hóa của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định” [7;2]

Như vậy, việc tìm hiểu ngôn ngữ của một vùng miền nào đó không chỉ cung cấp cho ta những hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ của vùng miền mà còn cho ta thấy đặc trưng văn hóa của vùng miền ấy

TIỂU KẾT

Nam Bộ là vùng đất mới, nằm ở phía Nam Tổ quốc, được xác định ranh giới địa lí từ Bình Dương, Bình Phước đến mũi Cà Mau Tuy còn rất trẻ nhưng Nam Bộ cũng đã kịp hình thành những nét văn hóa đặc trưng, phân biệt với văn hóa các vùng

Trang 24

khác Ngôn ngữ và văn hóa lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì thế mà tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ cũng góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa Nam Bộ

Văn học dân gian Nam Bộ nằm trong mạch chảy của văn học dân gian dân tộc Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên đặc thù, hoàn cảnh lịch sử đặc thù mà văn học dân gian Nam Bộ có những nét khác biệt nhất định so với văn học dân gian các vùng khác Một trong những biểu hiện của sự khác biệt đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ không chỉ thể hiện thói quen sử dụng ngôn ngữ của người dân Nam Bộ mà còn thể hiện tính cách, tâm tình của người Nam Bộ

Trang 25

CHƯƠNG 2

TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM BỘ 2.1 Kết quả khảo sát

Để tìm hiểu từ ngữ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đã tiến hành khảo sát từ ngữ địa phương Nam Bộ trong các tài liệu sau:

(1) Văn học dân gian Bạc Liêu, 2002, NXB Văn nghệ TPHCM

(2)Văn học dân gian Sóc Trăng, 2005, NXB Văn nghệ TPHC

(3)Văn học dân gian An Giang, 2010, Tài liệu điền dã lưu hành nội bộ

Tất cả các tuyển tập trên đều là kết quả điền dã của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM

Ba tuyển tập có 971 tục ngữ, 2355 bài ca dao dân ca, 463 truyện cười Trong luận văn này, chúng tôi tập hợp các từ ngữ mang màu sắc Nam Bộ gồm: những từ riêng có ở Nam Bộ, những từ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng được người dân Nam Bộ sử dụng không hoàn toàn giống với cách dùng trong ngôn ngữ toàn dân, những biến thể ngữ âm của từ, những danh từ riêng (cụ thể là địa danh ở Nam Bộ), những cách diễn đạt mang màu sắc Nam Bộ Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các yếu tố của phương ngữ xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam

Bộ Đồng thời, chính những yếu tố phương ngữ ấy đã góp phần làm nên bản sắc rất riêng của văn học dân gian Nam Bộ

Dưới đây là bảng thống kê các từ ngữ địa phương xuất hiện với tần số cao trong nguồn ngữ liệu khảo sát:

Trang 26

Bảng 2.1

Stt Từ ngữ

địa phương

Số lần xuất hiện

Nghĩa

Từ ngữ biến âm

so với ngôn ngữ toàn dân

(2)Sai khiến người khác làm một điều

Về, di chuyển trở lại chỗ ở trước đó

của mình

Đang, biểu thị sự việc, hiện tượng

diễn ra, chưa kết thúc

ấy

Tôi, cách xưng hô của người nói khi tiếp chuyện với những đối tượng ngang hàng hoặc nhỏ hơn

Từ ngữ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng mang

Bệnh, ốm, ở trạng thái ở trạng thái cơ

thể hoạt động không bình thường

nổi trên nước bằng cử động của thân

Trang 27

8 Thương 145

thể (2) Di chuyển, có thể bằng phương tiện nhưng thường là bằng chân

Yêu, có tình cảm thắm thiết giữa hai người khác giới

Từ ngữ chỉ có ở Nam Bộ

Đạt tiêu chuẩn, đạt yêu cầu, làm cho

có thể hài lòng, hoặc đủ điều kiện để thực hiện

Để, để mà; từ biểu thị điều sắp nói là

mục đích mà người nói muốn đạt tới

Ao được đào sâu có bờ chắn giữ nước

để nuôi cá

Từ người lớn dùng để tự xưng một cách thân mật với người nhỏ, hoặc cách tự xưng có đôi chút tính chất khách quan nhưng thân tình

Cha, cách xưng gọi người đàn ông có con, trong quan hệ cha con

Yêu, chấp nhận lấy làm chồng vợ Tổng cộng 548 lần

Với một số từ ngữ hạn hẹp được nêu ở bảng trên, ta đã thấy từ ngữ địa phương xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam Bộ (548 lần), chưa kể đến hàng loạt các địa danh, tên các sản vật chỉ riêng có ở Nam Bộ Vì vậy, chúng tôi cho rằng văn học dân gian Nam Bộ là kho tư liệu phong phú để tìm hiểu cả phương ngữ Nam

Trang 28

Bộ lẫn văn hóa Nam Bộ Đồng thời, khi làm sáng tỏ các đặc điểm về từ địa phương

và văn hóa Nam Bộ cũng có thể góp phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ

2.2 Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa

Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Từ địa phương là

những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương, từ địa phương là một dạng biến thể của vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc” [18;292] Từ địa phương phát

sinh do khoảng cách địa lí, điều kiện tự nhiên, sự kiện lịch sử, phong tục, tập quán của một cộng đồng người Vì vậy, từ địa phương mang đậm dấu ấn văn hóa nơi sinh

ra nó Đồng thời, nó cũng có những khác biệt nhất định về ý nghĩa, sắc thái biểu cảm

so với từ toàn dân

Ngoài ra, trong ngôn ngữ học, từ là kết quả của hoạt động định danh Hiện thực

thường được gọi tên theo cách tri nhận của con người Sự gọi tên này đã tạo ra các từ

và các đơn vị tương đương Từ là kết quả của hoạt động phân cắt hiện thực của con

người Phân cắt hiện thực là biểu hiện đặc trưng văn hóa của từng dân tộc Mỗi dân tộc sống trong một môi trường tự nhiên khác nhau, tuy quy luật tư duy của các dân tộc trong quá trình nhận thức là giống nhau nhưng cảm nhận, phân tích, gọi tên các hiện tượng thiên nhiên lại không hoàn toàn giống nhau Khả năng quan sát cùng với thói quen, phong tục tập quán làm cho mỗi cộng đồng có cách định danh khác nhau

Vì vậy, ý nghĩa của từ không chỉ lưu giữ kinh nghiệm, tri thức mà nó còn lấp lánh

trong đó một nền văn hóa “Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con

người đã thu nhận, tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan (…) Ngoài ra, trong ý nghĩa của từ cũng còn ghi lại cả những yếu tố văn hóa dân tộc như: các hình ảnh, cách so sánh truyền thống, sự biểu trưng…” [85;62] Cùng một đối

tượng có thể được gọi tên khác nhau tùy thuộc vào tâm lí của cộng đồng, văn hóa cũng như điều kiện tự nhiên xã hội của mỗi vùng

Nam Bộ là vùng đất phía Nam của Tổ quốc Vùng đất này có lịch sử, điều kiện thiên nhiên khác với các vùng khác Chính môi trường thiên nhiên, điều kiện sống đã tạo nên một vùng văn hóa rất đặc trưng Các từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ góp phần thể hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng

Trang 29

2.2.1 Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng

2.2.1.1 Từ ngữ chỉ địa danh

Địa danh là các danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ vị trí địa lí, các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính, quân sự, xã hội Việc đặt tên các địa danh chịu sự chi phối của lịch sử, xã hội, văn hóa

Việc định danh trong địa danh không hoàn toàn võ đoán mà gắn với một vùng hạn định nào đó Vì vậy, địa danh chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, lịch sử, văn hóa…

Trong hoạt động xã hội, việc đặt tên cho một vùng địa lí, một đơn vị hành chính là nhu cầu tất yếu Địa danh vừa là hiện tượng của ngôn ngữ học vừa là một hình thức thể hiện văn hóa của cộng đồng cư dân đã từng hiện diện trong vùng lãnh thổ tương ứng

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều địa danh được nhắc đến trong văn học dân gian Nam Bộ

a) Địa danh Hán Việt

Từ nguồn ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thống kê được 22 địa danh Hán Việt, với tần số xuất hiện là 58 lần

Trong các địa danh Hán Việt, người Nam Bộ thường lựa chọn các yếu tố Hán

Việt mang ý nghĩa những điều tốt lành để đặt tên cho một vùng đất nào đó

+ Phú( giàu có): An Phú, Phú Quốc, Thạnh Phú

Ai qua sông Đốc Thị Tam

Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên

+ Phước (tốt lành, giàu sang): Thường Phước, Phước Long

Tàu vượt Phước Long, tàu chạy về Phụng Hiệp

Em đưa anh về cho kịp chuyến đi Anh đi bảo vệ quê nhà Thương về Ninh Hóa xã nhà quê em + Thạnh (thịnh vượng): Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Phong

Ai về Thạnh Phú, Thạnh Phong

Nhắn anh chiến sĩ biên phòng nhớ thương

Trang 30

+ Vĩnh (lâu dài): Vĩnh Hưng, Vĩnh An, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Vĩnh Mỹ, Vĩnh Thông

Sông Vĩnh An tuy dài mà hẹp

+ An (êm đềm): An Giang, An Phú, Vĩnh An, An Bình, An Phú, Hòa An

Muốn ăn cơm trắng cá mè

Muốn đội nón lá thì về An Giang

+ Mỹ (đẹp): Thạnh Mỹ, Mỹ Lồng, Vĩnh Mỹ, Long Mỹ, Mỹ Thuận, Bình Mỹ

Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu

Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam + Long (con rồng, tốt thịnh): Long Điền, Phước Long, Long Mỹ

Long Điền, chợ Thủ quê anh

Trai chuyên nghề tủ, gái sành cửi canh + Bình (bằng phẳng, yên ổn, hòa hảo): Vĩnh Bình, Hòa Bình, An Bình, Bình Mỹ

Anh đi ghe từ Vĩnh Long đi Vĩnh Mỹ

Xu ống tàu thủy đi tuốt Vĩnh Bình

Trước là thăm viếng gia đình Sau nhờ mai mối cho hai đứa mình kết duyên

Trong số các yếu tố Hán Việt chỉ những điều tốt lành thì yếu tố vĩnh và an có tần số xuất hiện cao nhất (6 lần), sau đó là các yếu tố bình và mỹ (3 lần), thạnh (2

lần)

Từ những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ, ta thấy được ước nguyện của cha ông thời mở đất Trước hết, đó là mơ ước có một cuộc sống yên ổn, tốt lành, sau đó là mơ ước có được cuộc sống sung túc và thịnh vượng Cuộc sống tốt lành, thịnh vượng

không chỉ là mơ ước của riêng người dân Nam Bộ, tuy nhiên, đối với người dân Nam

Bộ, mơ ước ấy thường trực hơn và cháy bỏng hơn Những người đầu tiên khai phá vùng đất Nam Bộ, họ phải đối mặt với vô vàn khó khăn: vùng đất này hoàn toàn mới

mẻ và xa lạ, thiên nhiên mênh mông và hoang sơ Con người đã gắng hết sức chinh

Trang 31

phục thiên nhiên đồng thời không ngừng mơ đến một cuộc sống sung túc ở tương lai Điều này thể hiện rõ trong hàng loạt những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ

b) Địa danh thuần Việt

* Địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người

Bảng 2.2.1.1a

Stt Địa danh có nguồn gốc từ ngôn

ngữ các dân tộc ít người Số lần xuất hiện

Mĩ Tho

Sa Đéc Sóc Trăng Trà Cú Trà Kha Trà Ôn Trà Sô Trà Vinh

Chúng tôi xếp những địa danh trên vào loại địa danh thuần Việt vì trong quá trình sử dụng các địa danh này đã được Việt hóa Các địa danh kiểu này ưu tiên cho mục đích giao tiếp Người sử dụng không cần phải tìm hiểu xem địa danh đó có nguồn gốc từ đâu và phát âm thế nào cho đúng Địa danh Cần Thơ là địa danh quen

thuộc đến nỗi không còn ai nhận ra nguồn gốc Khmer của nó Cần Thơ có gốc là từ

Kìn Tho (cá sặt rằn) trong tiếng Khmer Đây là cách đặt tên địa danh theo kiểu lấy tên loài động vật có nhiều ở một vùng đất nào đó để đặt tên cho vùng đất ấy

Các địa danh Khmer được Việt hóa xuất hiện nhiều trong văn học dân gian Sóc Trăng, nơi có nhiều người Khmer sinh sống Điều này, xét ở góc độ văn hóa, cho thấy người Việt rất tôn trọng các cư dân khác Người Việt đối xử với người Khmer

Trang 32

như một trong những chủ nhân của vùng đất mới này Những địa danh Khmer được Việt hóa còn cho thấy nét văn hóa đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư sống xen kẽ nhau

* Địa danh gốc Việt

Dưới đây là bảng thống kê những địa danh gốc Việt xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ:

Cù lao Ông Chưởng Cửa Tùng Giồng Giữa

Gò Công Kinh Cùng Kinh Đào

Trang 33

Có một số địa danh bắt đầu bằng những từ có gốc thuộc ngôn ngữ khác như

vàm, cù lao thế nhưng chúng tôi vẫn xếp chúng vào loại địa danh gốc Việt Đó là vì mức độ Việt hóa của các từ trên rất cao, chúng được người dân ở Nam Bộ nhận thức

và sử dụng như những đơn vị thuần Việt

Các địa danh loại này có đặc điểm cấu tạo chung như sau:

(1)Yếu tố đứng trước chỉ các vật thể tự nhiên:

+ Sông:Sông Cái, Sông Tiền, sông Hậu

Đưa tay phân chứng với trời Người này gá nghĩa ở đời với tôi

Nước ròng sông Hậu chảy xuôi Trời đã xây định mình với tôi vợ chồng

+ Rạch: Rạch Cỏ Thum, Rạch Giá

Trang 34

Anh đi Rạch Giá qua truông

Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em

+ Cù lao: Cù lao Ông Chưởng

Chiều chiều quạ nói với diều

+ Cồn: Cồn Tiên, Cồn Cát

Tàu Nam Giang chạy ngang cồn Cát

Xuồng câu tôm đậu sát mé nga Thấy em có một mẹ già Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không?

+ Giồng: Giồng Giữa, giồng Cồn Tiên

Ai qua sông Đốc Thị Tam

Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên

+ Kinh: Kinh Ông Huyện, Kinh Đào, Kinh Cùng, Kinh Một

Ai đi kinh Xáng, kinh Cùng

Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi

+ Núi: Núi Sam, Núi Sập

Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu

Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam

+ Vàm: Vàm Nao, Vàm Lau

Thuyền trôi Châu Đốc thả xuống Vàm Nao

Thẳng tới Ba Sào coi chừng con nước nổi

(2)Yếu tố đứng sau chỉ tên một loài động thực vật hoặc tên một nhân vật:

+ Thực vật, động vật: vàm Lau, rạch Cỏ Thum, Rạch Giá

+ Tên một nhân vật: cù lao Ông Chưởng, kinh Ông Huyện, kinh Vĩnh Tế,

sông Đốc Thị Tam

Qua các địa danh gốc Việt ở Nam Bộ, ta thấy được khung cảnh sinh hoạt của người dân trên một vùng địa lí có núi, có sông, có những vùng đất nổi lên giữa dòng

sông được người dân gọi là cù lao, cồn, bãi Đó là một vùng địa lí có cấu trúc địa

hình rất phong phú, chủ yếu là gắn với sông nước

Trang 35

Ngoài ra, Nam Bộ là vùng đất nông nghiệp trù phú Vì thế mà nhiều sản vật nông nghiệp hay những loài cây cỏ gắn bó với đời sống nông nghiệp của địa phương

được đưa vào địa danh: giá, dừa, gáo, lau, cỏ thum …Việc gọi tên xứ sở mình đang

sống bằng chính sản vật của địa phương, bằng những gì gần gũi nhất vừa thể hiện niềm tự hào của người dân về nơi mình sinh sống vừa thể hiện tấm lòng tri ân của người dân đối với thiên nhiên

Xét ở khía cạnh khác, văn học dân gian là tác phẩm của nhân dân lao động nên những mảng hiện thực nào gần gũi nhất với đời sống người dân sẽ được đưa vào văn học một cách tự nhiên nhất, không cần dụng công nhiều Điều này giúp ta giải thích được vì sao trong văn học dân gian Nam Bộ, những địa danh nôm na, bình dị xuất hiện với tần số cao hơn các địa danh có yếu tố Hán Việt (địa danh thuần Việt xuất hiện 96 lần, trong khi địa danh Hán Việt xuất hiện 58 lần), đặc biệt là các địa danh

bắt đầu bằng những từ chỉ địa hình như vàm, kinh, cù lao, ngã ba, giồng, chợ, cầu

Điều này đã trở thành đặc điểm đặc trưng của tiếng Việt ở Nam Bộ như nhà nghiên

cứu Đào Thản đã nhận xét: “Tiếng Việt Nam Bộ có xu hướng ưu tiên chọn lựa những

yếu tố nôm na, gốc rễ hơn là đi vay mượn chữ nghĩa Việc đặt tên đất, tên người ở đây phản ánh xu hướng đó” [75] Qua các địa danh gốc Việt trong văn học dân gian,

ta có thể hình dung được quang cảnh tự nhiên, nếp sinh hoạt của người dân Nam Bộ

Đó là vùng đất có nhiều sông ngòi, kênh rạch; làng xóm được xây dựng dọc theo hai

bờ sông; việc có nhiều sông ngòi và nếp sinh hoạt gắn với sông nước đã làm cho người dân có ý thức phân biệt rất rõ các loại địa hình tự nhiên gắn với sông nước như

vàm, xẻo, gành, cù lao…

Địa danh gốc Việt ở Nam Bộ còn thường được bắt đầu bằng yếu tố cái: Cái Bè,

Cái Thia, Cái Ngang, Cái Dầu, Cái Răng

Khen ai khéo bắt Cầu Kè

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì sắm một chiếc đò

Để đường qua lại em mua cò gửi thư

Trang 36

Cái ở đây vốn có nghĩa là sông nước Nếu những địa danh bắt đầu bằng kẻ là đặc trưng của địa danh phía Bắc thì những địa danh bắt đầu bằng cái là đặc trưng của địa danh vùng đất Nam Bộ Những địa danh bắt đầu bằng cái mang đậm màu sắc

Nam Bộ, khó có thể lẫn lộn với nơi khác vì nó nảy sinh từ điều kiện tự nhiên đặc trưng của vùng – nhiều sông ngòi chằng chịt nhưng tất cả các sông, ngòi, kinh, rạch nhỏ thường đổ về một sông lớn gọi là sông cái

Có một số địa danh mang tên người ở Nam Bộ xuất hiện trong văn học dân gian Tên người được lấy làm địa danh thường là những người có công lao đối với vùng đất ấy Kinh Vĩnh Tế là con kênh nối liền Châu Đốc và Hà Tiên Đây là công trình của Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh - Thoại Ngọc Hầu Địa danh kinh Vĩnh Tế được đặt theo tên phu nhân của ông là bà Châu Thị Tế thuộc dòng họ Châu Vĩnh

Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên

Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền

Có những địa danh, trong cấu tạo, tên người không trực tiếp xuất hiện nhưng lại gắn với một câu chuyện kể về một nhân vật cụ thể nào đó Địa danh Cao Lãnh gắn với câu chuyện về ông bà Đỗ Công Tường, có tục danh là Lãnh Dân gian kể rằng, năm 1820 (Canh Thìn), ở vùng đất nọ, nạn dịch tả hoành hành dữ dội Dân chúng bị bệnh, nhiều người chết, làng xóm tiêu điều Ông Lãnh đã lập bàn thờ khấn vái trời đất, nguyện thế mạng mình để cầu cho dân chúng thoát cảnh đau thương Mấy ngày sau, ông bà mắc bệnh qua đời đồng thời, nạn dịch tả cũng hết Từ đó, người dân đã lấy tên tục của ông bà, cùng với chức vụ của ông bà (câu đương) để đặt tên cho vùng đất đó là Câu Lãnh Sau này đọc chệch thành Cao Lãnh

Đường nào sang cho bằng đường Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cái Răng

Như vậy, có thể thấy, các địa danh gắn liền với tên người thể hiện lòng tri ân đối với người có công Đồng thời, chúng cũng góp phần ghi lại một giai đoạn lịch sử của vùng đất ấy Nó còn đọng lại dấu ấn của một thời vất vả, gian nan, con người tìm mọi cách để khắc phục, chế ngự thiên nhiên Đồng thời, các địa danh này còn thể

Trang 37

hiện truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: uống nước nhớ nguồn, nghĩa tình, thủy chung

Các địa danh chỉ các công trình do con người xây dựng ở Nam Bộ cũng có những đặc điểm khó lẫn lộn với nơi khác Các địa danh chỉ các công trình do con người xây dựng chỉ một nơi chốn có tính chất định vị để phân biệt với các vị trí khác nhưng không gian được định vị hẹp hơn Ở Nam Bộ, trong loại này, những địa danh bắt đầu bằng yếu tố “cầu” và “chợ” chiếm đa số

Ở Nam Bộ, nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hóa xuất hiện sớm “Từ cuối TK

XVI, khi người Việt đến đây khai phá, lập nghiệp thì cũng chính là lúc phương Tây nhòm ngó và đặt chân vào, cho nên dễ hiểu là tại sao Đàng Trong lại chịu ảnh hưởng kinh tế hàng hóa tiểu tư sản cao hơn Đàng Ngoài” [84;603] Vì vậy, chợ xuất hiện

nhiều ở các khu vực dân cư, nghề buôn bán rất phát triển “Trong khi người dân ở

Bắc Bộ coi buôn bán là nghề xấu thì người Việt ở Nam Bộ không những đã chấp nhận mà còn coi buôn là một “đạo”, còn là một “đạo” vui” [84;199] Chợ Lớn ở

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi buôn bán sầm uất nhất khu vực miền Nam lúc bấy giờ

Chợ ở Nam Bộ vẫn gắn liền với hệ thống kênh rạch, gắn liền với sông nước Cách đặt tên chợ cũng để lại dấu ấn của những con người chất phác, không ưa cầu kì, thích cái giản dị và mộc mạc: một chợ mới được thành lập người ta thường gọi tắt là chợ Mới và lâu dần thành địa danh; chợ buôn bán sầm uất thì được gọi ngắn gọn là

Chợ Lớn Một chữ lớn ngắn gọn nhưng thể hiện đầy đủ các yếu tố như diện tích, quy

mô của chợ, số lượng người buôn bán, số lượng mặt hàng buôn bán…; tất cả đều không nhỏ

Do địa hình có nhiều kênh rạch nên mật độ cầu ở Nam Bộ rất dày Tên cầu thường là những cái tên dân dã, mang dáng dấp của nền văn hóa nông nghiệp Ngoài

ra, người Nam Bộ còn lấy ngay vật liệu làm cầu để gọi tên: cầu Ván, cầu Sắt; lấy phương thức xây dựng để đặt tên cầu: cầu Đúc; đôi khi nó là một tên gọi bình dị đến bất ngờ: cầu Sập Tên cầu đặt theo kiểu này rất phổ biến ở làng, xã Nam Bộ; vì vậy

rất dễ bị trùng tên nên nó chỉ có tác dụng phân biệt vị trí ở vùng không gian nhỏ hẹp

Trang 38

Các địa danh khi xuất hiện trong văn học dân gian không chỉ đơn thuần là tên gọi một vùng đất, nó trở thành đối tượng nhận thức đồng thời là nơi nhân dân gửi gắm tình cảm của mình Những câu ca dao có địa danh xuất hiện thường là những câu nói bày tỏ niềm tự hào, thể hiện sự gắn bó yêu thương đối với vùng đất ấy

Gắn với một địa danh thường là đặc điểm nổi bật để nhận dạng vùng đất mà địa danh ấy gọi tên Đó có thể là những cánh đồng lúa bạt ngàn, những dòng sông đầy tôm cá:

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

Mỹ Hòa, Mỹ Quới, Mỹ Đông

Xứ nào cũng đẹp, cũng mênh mông lúa vàng

Đó còn là những sản vật, nghề nghiệp, đặc điểm đặc trưng nhất của địa phương:

Ai về chợ Vạn thì về Chợ Vạn có nghề cất rượu nuôi heo

Ai đi Kinh Xáng, Kinh Cùng Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi

Tiếng đồn Châu Đốc mắm ngon Tân Châu lụa tốt mãi còn âm vang

An Bình đất mẹ cù lao Thêm hương hoa bưởi ngọt ngào thanh long

Khách về nhớ mãi trong lòng Nhớ cù lao nhỏ bên dòng An Giang Bạc Liêu là xứ quê mùa Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu

Trang 39

Ai về tới xứ cây Bàng Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh

Đi đôi với tên đất, tên làng, ta thấy toát lên niềm tự hào, kiêu hãnh của con người sống trên mảnh đất đó Họ tự hào về quê hương, làng xóm; tự hào về sự giàu

có, trù phú của ruộng đồng:

Bạc Liêu giàu lúa, ngô, khoai Giàu cô gái đẹp, giàu trai anh hùng Bạc Liêu nắng bụi mưa sình Muối mặn, nhãn ngọt đậm tình quê hương

Long Điền gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về

Đẹp sao miền đất Châu Thành Lúa xanh trải khắp ruộng đồng quê ta

Hòa Bình vang mãi lời ca Đẹp mùa lúa chín, đầy mùa cá tôm

An Giang nước ngọt giồng vàng

Ai đi tới đó lòng không muốn về

An Giang gạo chợ nước sông

Ai mà về đó thong dong cuộc đời

Họ tự hào về lời ca, tiếng hát của quê hương:

Đất Năm Căn sóng bủa láng cò Anh thương em vì bởi câu hò có duyên

Họ còn tự hào về con người ở xứ sở mình:

Trai nào thanh bằng trai Nhơn Ái

Trang 40

Gái nào lịch bằng gái Tân Châu Tháng ngày dệt lụa trồng dâu Thờ cha dưỡng mẹ quản bao nhọc nhằn

Chính những đặc điểm ấy khiến người đi xa nhớ về quê hương xứ sở của mình – một nỗi nhớ không trừu tượng, chung chung mà rất cụ thể, gần gũi, thân thương:

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ sông Châu Đốc, nhớ người An Giang Sông An Giang tràn đầy ước hẹn Người An Giang trọn vẹn thủy chung

Anh đi anh nhớ quê mình Nhớ tô bún cá đậm tình Long Xuyên

Xa quê anh nhớ mẹ hiền

Xa Long Điền nhớ bánh chuối chiên

Tóm lại, hệ thống địa danh trong văn học dân gian Nam Bộ, tuy không thể hiện hết các đặc điểm của địa danh ở vùng đất này, nhưng đã thể hiện được những nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ

+ Qua các địa danh gốc Việt, ta nhận thấy một vùng đất với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; giao thông, buôn bán bằng đường thủy rất nhộn nhịp Người Nam Bộ làm ăn, buôn bán, sinh hoạt đều gắn liền với sông nước

+Qua các địa danh Hán Việt, ta thấy được ước vọng của nhân dân Nam

Bộ Là những người đi khai phá vùng đất mới, họ lạ lẫm với mọi thứ, có phần lo sợ trước thiên nhiên hoang sơ, mỗi địa danh là một niềm mong ước: ước được cuộc sống

an lành, sung túc, hạnh phúc và thịnh vượng

+ Các địa danh mang tên người thể hiện sự tri ân đối với những người có công khai phá và xây dựng vùng đất mới Các địa danh này cho thấy tinh thần “uống nước nhớ nguồn” – một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

+ Các địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người tồn tại ở Nam Bộ có số lượng không nhỏ Nhưng ngày nay, những địa danh ấy đã được Việt

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dạng của công cụ, phương tiện được so sánh với hình dạng của sự vật  khác để gọi tên - phương ngữ nam bộ trong văn học dân gian
Hình d ạng của công cụ, phương tiện được so sánh với hình dạng của sự vật khác để gọi tên (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w