Có thể nói đây là công trình nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt một cách toàn diện, triệt để và thấu đáo: từ phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đến đặc điểm của các
Trang 1
-o0o - Bình Dương, 04/2016
Trang 2Khóa: 2012 - 2016 Hệ: Chính quy
-o0o -
Bình Dương, tháng 04 năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả của
sự lao động nghiêm túc, tìm tòi và kế thừa trong quá trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác
Sinh viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin được gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Hoàng Thị Thắm – giáo viên hướng dẫn của tôi Để có được khóa luận tốt nghiệp này, cô đã hướng dẫn tôi rất nhiệt tình, cô đã sửa bài, chỉ dẫn tôi rất nhiều kiến thức bổ ích Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến cô Cảm ơn cô đã dành thời gian quý báu, dành tâm huyết của mình để hướng dẫn cho em hoàn thành khóa luận Xin cảm ơn cô rất nhiều!
Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô giáo đã giảng dạy tôi và lớp D12NV03 trong suốt bốn năm học đại học Các Thầy Cô đã chỉ dạy tận tình, xây dựng những kiến thức nền tảng giúp tôi có thêm một lượng kiến thức bổ ích và tự tin hơn trên con đường mình đã chọn
Và cuối cùng, tôi cũng xin được gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường ĐH Thủ Dầu Một, khoa Ngữ Văn, những người thân trong gia đình, bạn bè… đã hết lòng động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn! Bình Dương, ngày tháng năm 2016
Kí tên:
Đinh Thị Tường Vy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Cấu trúc khóa luận 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Một số vấn đề về phương ngữ 7
1.1.1 Khái niệm phương ngữ 7
1.1.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ 9
1.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ 11
1.2.1 Đặc điểm về ngữ âm 12
1.2.2 Đặc điểm về từ vựng – ngữ nghĩa 13
1.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp 16
1.3 Tác giả, tác phẩm 19
1.3.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư 19
1.3.2 Vài nét tiêu biểu trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 21
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG SÔNG và NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 25
2.1 Về phương diện ngữ âm 25
2.1.1 Về thanh điệu 25
2.1.2 Về hệ thống phụ âm đầu 25
2.1.3 Về vần 26
2.2 Về phương diện từ vựng – ngữ pháp 27
2.2.1 Từ dùng để xưng hô 28
2.2.2 Nhóm từ có liên quan đến sông nước 33
2.2.3 Ngữ khí từ 40
2.2.4 Từ ngữ chỉ sản vật địa phương 43
2.3 Tiểu kết 44
Trang 6Chương 3: GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG SÔNG VÀ NGỌN
ĐÈN KHÔNG TẮT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 47
3.1 Xây dựng tính cách con người Nam Bộ 47
3.1.1 Nhân vật nghệ sĩ 49
3.1.2 Nhân vật trí thức 52
3.1.3 Nhân vật nông dân 55
3.1.4 Những nhân vật khác 59
3.2 Xây dựng không gian sông nước Nam Bộ 64
3.2.1 Không gian sông nước, kênh rạch 64
3.2.2 Không gian sinh hoạt sông nước 68
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT PNN: Phương ngữ Nam
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi chúng ta ai cũng đều được sinh ra và lớn lên trên một vùng quê nào đó
mà chúng ta thường gọi nó là quê hương Đó không chỉ là nơi những người thân của
ta sinh sống mà còn là nơi mà ta có thể tự hào kể cho những người nơi khác nghe về
nó và cũng là nơi có những đặc sản vùng miền mà những nơi khác không có được
Và một trong những đặc sản quý giá nhất, đặc biệt nhất chính là tiếng địa phương Tiếng địa phương đặc trưng ấy hay còn được gọi một cách quen thuộc là phương ngữ, nó không chỉ xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày mà còn đi sâu vào các
tác phẩm văn chương và trở thành một thứ “đặc sản” giúp cho tác phẩm trở nên
gần gũi, thân thuộc hơn đối với bạn đọc Không chỉ vậy, đặc trưng ngôn ngữ vùng miền (phương ngữ) còn là một đề tài rất thú vị, thu hút các bạn đọc và đặc biệt là các nhà nghiên cứu đào sâu tìm hiểu Là một người con của đất Nam Bộ, chúng tôi thật sự yêu thích và muốn tìm hiểu sâu hơn về phương ngữ Nam Bộ để từ đó hiểu hơn về con người, văn hóa… cũng như về những tác phẩm văn chương do người Nam viết, hay những tác phẩm viết về Nam Bộ
Và khi nhắc đến các tác giả của miền Nam thì chắc hẳn chúng ta sẽ nhớ ngay đến Nguyễn Ngọc Tư, đây là một gương mặt tiêu biểu trong nền văn học nước ta hiện nay Tác giả đã mang lại một nét mới, một phong cách mới cho văn học Nam
Bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung Nguyễn Ngọc Tư được bạn đọc biết đến
thông qua hàng loạt các tác phẩm như: Ngọn đèn không tắt (Giải B - Hội văn học Việt Nam năm 2001 ), Đau gì như thể (truyện ngắn - giải ba cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ năm 2004 - 2005), Cánh đồng bất tận (Giải A - Hội nhà văn Việt Nam năm 2006), Chấm (thơ, 2013), Đảo (tập truyện ngắn, 2014), Đong tấm
lòng (gồm hơn 30 tản văn, 2015)…
Nổi bật trong các sáng tác của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư là hai tác phẩm
Ngọn đèn không tắt và Sông Ngọn đèn không tắt là tập truyện ngắn đầu tiên của tác
giả, được xuất bản năm 2000 Và đây cũng là tác phẩm đã giành được giải B của Hội văn học Việt Nam năm 2001 Tác phẩm này chính là những suy ngẫm về cuộc
Trang 9sống, những trăn trở, băn khoăn của một cô gái đôi mươi khi nhìn cuộc sống Tuy được viết khi nhà văn còn rất trẻ nhưng tác phẩm chứa đựng rất nhiều ý nghĩa sâu
sắc và đã đi sâu vào tâm hồn của người đọc Còn Sông, đây là cuốn tiểu thuyết rất
xuất sắc, đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự nghiệp văn chương của tác giả
Trong Sông và Ngọn đèn không tắt chúng ta vẫn bắt gặp lối viết quen thuộc của
người con đất Mũi, lối viết về những thứ bình dị của con người Nam Bộ, của những hiện thực trần trụi pha chút kì ảo Và hơn hết phương ngữ Nam Bộ được sử dụng dày đặc, xuyên suốt làm cho tác phẩm trở nên gần gũi hơn với bạn đọc
Nghiên cứu phương ngữ không còn là vấn đề mới, nhưng nghiên cứu phương ngữ trong tác phẩm văn học lại là hướng đi mang tính liên ngành Với tư cách là chất liệu của tác phẩm ngôn từ, phương ngữ không chỉ đơn thuần là công cụ giao tiếp, mà nó còn góp phần tạo nên diện mạo của từng vùng đất, của mỗi con người sinh sống và gắn bó với mảnh đất ấy Ví như khi tiếp xúc với phương ngữ Nam Bộ,
chúng ta sẽ bắt gặp được những cách xưng hô đặc trưng như cậu Ba Điền, anh Sáu
Bảnh, chị Ba Tường… và những lối sinh hoạt, di chuyển chủ yếu gắn liền với sông
nước cùng những đặc sản như chôm chôm, sầu riêng, ba khía, cây bần, cây đước…
Tất cả hòa quyện cùng nhau tạo ra một không gian miệt vườn và những con người bình dị, dân dã nơi vùng quê chằng chịt sông nước này
Trên đây là những lí do để chúng tôi lựa chọn và khảo sát đề tài: Phương
ngữ Nam Bộ trong Sông và Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương ngữ là một đề tài rất thú vị, đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm Ở nước ngoài, ngay từ thời Trung cổ, nhà thơ kiệt xuất người Ý Alighieri Dante (1265 – 1321) khi nghiên cứu các tác phẩm văn học ở
các địa phương đã cho in một công trình về các phương ngữ trong tiếng Ý De
vulgari eloquentia (in năm 1303 – 1304) Dựa trên phương ngữ Florence, Dante và
một hai thế hệ nhà thơ lớn sau đó như Petrarch (1304 – 1374), Bocac-cio (1313 – 1375) đã xây dựng nên ngôn ngữ văn học của Ý Tiếp đó, ở thời kì Phục hưng, chính W.Leibniz (1646 – 1716) rồi W.Humboldt (1768 – 1835) đã khẳng định sự
Trang 10cần thiết của việc nghiên cứu các phương ngữ ở các ngôn ngữ đang dùng trong cuộc sống của các dân tộc Và những tên tuổi không thể thiếu trong việc nghiên cứu phương ngữ là: Jost Winteler (1846 – 1926), J.Baudouin de Courtenay (1845 – 1929), G.Wenker (1852 – 1911), J.Gilliéron (1854 – 1926), G.I.Ascoli (1829 – 1907)…
Còn ở Việt Nam, ngay từ 1956, Nguyễn Trọng Hàn đã lập “Danh sách từ
ngữ địa phương” đăng trên Văn hóa nguyệt san, số 15-16 Sau đó, Bình Nguyên
Lộc và Nguyễn Ngu Í đã có công sưu tầm, giải thích “Tiếng địa phương” miền
Nam trên tạp chí bách khoa nhiều số liền từ năm 1958 đến 1959
Hoàng Thị Châu trong cuốn sách Phương ngữ học tiếng Việt đã “vẽ nên một
bức tranh toàn cảnh của các phương ngữ trong cả nước và nhất là một hiểu biết cơ bản mang tính lí luận như phương pháp nghiên cứu, những xu hướng biến đổi của nguyên âm, phụ âm trong các phương ngữ, cũng như mối quan hệ của các phương ngữ với quá trình phát triển lịch sử, trong đó có lịch sử ngôn ngữ, lịch sử dân tộc, lịch sử xã hội” Có thể nói đây là công trình nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt
một cách toàn diện, triệt để và thấu đáo: từ phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đến đặc điểm của các vùng phương ngữ, sự biến đổi các thành
tố của âm tiết trong các vùng phương ngữ, kể cả vấn đề phương ngữ lịch sử xã hội
và phương ngữ trong tác phẩm văn học…Trong công trình này, Hoàng Thị Châu cũng đã xác lập những đặc trưng của vùng phương ngữ Nam trong sự đối sánh với phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và ngôn ngữ toàn dân Đồng thời đưa ra những kiến giải về những khác biệt trên bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa của phương ngữ Nam so với các vùng phương ngữ khác
Hay trong cuốn Phương ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang, tác giả đã
trình bày những đặc điểm cơ bản của phương ngữ Nam Bộ về phương diện từ vựng
- ngữ nghĩa trong sự so sánh với phương ngữ Bắc Bộ Tác giả đã chỉ ra những vấn
đề cụ thể của phương ngữ Nam Bộ như cách xưng hô, nhóm từ có liên quan đến sông nước, các yếu tố chỉ mức độ của tính từ, từ láy, ngữ khí từ trong phương ngữ Nam Bộ Bằng phương pháp phân tích ngữ nghĩa và phương pháp thống kê, tác giả
Trang 11đã đi sâu phân tích, mô tả những khác biệt về từ vựng – ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và từ vựng toàn dân Những khác biệt này được tác giả lí giải bằng những nguyên nhân về ngữ học và những nguyên nhân tâm lí – xã hội cũng như điều kiện địa lí – tự nhiên
Không dừng lại ở đó, hàng loạt các nhà nghiên cứu như Hồ Lê, Cao Xuân
Hạo, Bùi Khánh Thế, Nguyễn Văn Ái, Huỳnh Công Tín… cũng đã đi sâu tìm hiểu
về vấn đề phương ngữ
Về Nguyễn Ngọc Tư, cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tác giả này, mà tiêu biểu là trang web http://www.viet-studies.info/NNTu/ do Trần Hữu Dũng thiết kế và quản trị Đây là một trang mạng sưu tập đa số các bài viết về các tác phẩm cũng như những góc nhìn khác nhau về nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư của nhiều tác giả khác Tiêu biểu có các bài viết như: Không gian… của Nguyễn
Ngọc Tư của Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư,hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt của Du Tử Lê, Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự của Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam
của Trần Hữu Dũng… Mỗi bài viết là một khía cạnh, một góc nhìn về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như những tác phẩm của tác giả
Trên bình diện về ngôn ngữ thì có thể kể đến những công trình nghiên cứu
tiêu biểu như: Chất Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Phạm Thị Hồng Nhung, Đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Hoàng Thị Thu Hà, Tìm hiểu về từ láy trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư của Trần Thị Kim Loan… Còn về đề tài Phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm Sông và
Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư trong chừng mực tìm hiểu của chúng tôi
thì đây là công trình đầu tiên đề cập đến nội dung này Do vậy, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi gặp không ít khó khăn và chắc chắn những thiếu sót là không thể tránh khỏi
Trang 123 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ mà cụ thể là đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ được sử dụng trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư để từ đó phát hiện ra giá trị của việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ đối với việc xây dựng nội
dung và nghệ thuật của tác giả trong Sông và Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc
Tư
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm
Sông, Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đều rất hay, độc đáo và thu hút sự chú ý của người đọc Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và trong chừng mực dung lượng của bài khóa luận tốt nghiệp nên chúng tôi chỉ khảo sát phương ngữ Nam Bộ trong
tiểu thuyết Sông và tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Thống kê mô tả: đây là phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày và mô tả các đặc trưng khác nhau của phương ngữ Nam Bộ
để phản ánh một cách tổng quát về những đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ mà Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng trong việc xây dựng nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
Phương pháp so sánh: trong đề tài này, chúng tôi sẽ so sánh các ngữ
liệu, số liệu từ vựng phương ngữ Nam Bộ đã thống kê được trong tác phẩm Sông và
Ngọn đèn không tắt với các tác phẩm khác của Nguyễn Ngọc Tư Bên cạnh đó,
phương pháp so sánh còn được sử dụng để làm nổi bật những nét khác biệt của phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ
Phương pháp phân tích nét nghĩa: phương pháp này được sử dụng để giải thích nghĩa của từ, làm cho người đọc (đặc biệt là những bạn đọc không phải là
Trang 13người Nam Bộ) có thể hiểu được những gì tác giả muốn truyền đạt và đặc biệt hơn
là cho chúng ta thấy được những vẻ đẹp mộc mạc, đơn giản của những từ ngữ địa phương được tác giả sử dụng rất tài tình trong những sáng tác của mình
5 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ trong Sông và Ngọn đèn không
tắt của Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Giá trị của phương ngữ Nam Bộ trong Sông và Ngọn đèn không
tắt của Nguyễn Ngọc Tư
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về phương ngữ
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
Có thể nói rằng phương ngữ là một phổ niệm ngôn ngữ vì bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại phương ngữ Nghiên cứu về phương ngữ không còn là vấn đề mới
mẻ trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học Ở nước ngoài, chúng ta có thể kể đến những tác giả nổi tiếng như Alighieri Dante (1265 – 1321) với công trình về các
phương ngữ trong tiếng Ý De vulgari eloquentia (in năm 1303 – 1304) Hay
Petrarch (1304 – 1374), Bocac-cio (1313 – 1375) cùng với Dante đã xây dựng nên ngôn ngữ văn học của Ý Và hàng loạt những tên tuổi khác đã góp phần nghiên cứu
về phương ngữ như: Jost Winteler (1846 – 1926), J.Baudouin de Courtenay (1845 – 1929), G.Wenker (1852 – 1911), J.Gilliéron (1854 – 1926), G.I.Ascoli (1829 – 1907)…
Đối với giới Việt ngữ học cũng vậy Khái niệm phương ngữ được xem xét trong hầu hết các tài liệu liên quan đến ngôn ngữ học đại cương, từ vựng tiếng Việt, phương ngữ tiếng Việt
Theo Nguyễn Văn Ái trong Từ điển Phương ngữ Nam Bộ thì “phương ngữ
là một chuỗi các nét biến dạng địa phương của một ngôn ngữ chung toàn dân”
Theo tác giả thì sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các địa phương là một chuỗi các nét biến dạng địa phương chứ không chỉ diễn ra ở một hay một vài bộ phận trong một ngôn ngữ chung toàn dân Những khác biệt về ngôn ngữ giữa các địa phương trong cùng một đất nước có chung một ngôn ngữ thì thường được gọi nôm na là phương ngữ và sự khác biệt này có thể nhiều hay ít tùy vào khu vực địa lí trong mỗi quốc gia Ở một số nước, phương ngữ khác nhau rất xa, nói chuyện với nhau không hiểu được nhưng riêng đối với tiếng Việt – một ngôn ngữ có tính thống nhất rất cao, sự khác biệt tiếng nói giữa các vùng nói chung là không lớn và không nhiều vậy nên
dù là người miền Nam hay miền Bắc đều có thể giao tiếp với những người khác vùng miền một cách dễ dàng mà không gặp khó khăn gì
Trang 15Tác giả Huỳnh Công Tín cũng xác lập khái niệm phương ngữ trong công trình nghiên cứu của mình nhưng trước khi đưa ra quan niệm về phương ngữ của
mình, tác giả Huỳnh Công Tín đã dẫn ra quan niệm về phương ngữ trong cuốn Từ
điển tiếng Việt là “Phương ngữ là biến thể địa phương hay biến thể xã hội của ngôn ngữ” Còn phương ngữ Nam Bộ là biến thể địa lí của ngôn ngữ toàn dân, là tiếng
nói của người dân Nam Bộ Do điều kiện địa lí, điều kiện xã hội hình thành mà các phương ngữ có sự khác nhau ở giọng nói, cách phát âm, từ ngữ, phong cách, ngữ pháp… Và hơn hết, sự cách ngăn về không gian địa lí của nước ta đã làm cho sự giao lưu, tiếp xúc của người dân giữa các vùng hạn chế Tiếng Việt toàn dân bị cô lập giao tiếp trong các vùng, miền nhỏ và đó là điều kiện khiến tiếng Việt thống nhất phát triển theo những khuynh hướng khác nhau, mặt khác, ý thức làng xóm cũng dần tạo ra tâm lí ngại đi lại, không bước ra khỏi cây tre đầu làng của người dân Việt… Và đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc chia cắt trong tiếng Việt Từ đây,
tác giả Huỳnh Công Tín đã đưa ra khái niệm về phương ngữ: “Phương ngữ là một
chuỗi các nét biến dạng địa phương từ một ngôn ngữ toàn dân, do những tác động địa lí, xã hội mà dần hình thành”
Ngoài ra còn có hàng loạt các nhà nghiên cứu như: Đái Xuân Ninh, Nguyễn
Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn… Theo các tác giả này, “phương ngữ là
hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay hẹp hơn là ngôn ngữ Là hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng”
Khi đề cập đến vấn đề phương ngữ, chúng ta không thể không nhắc đến quan
niệm của tác giả Hoàng Thị Châu trong cuốn Phương ngữ học Tiếng Việt Tác giả cho biết rất khó để có thể giải thích chính xác khái niệm “phương ngữ” bởi khi
nhắc đến phương ngữ Nam Bộ, Bắc Bộ hay Trung Bộ thì ngay lập tức người nghe
sẽ cảm thấy vô cùng mơ hồ, khó hiểu Bởi lẽ, ở thời điểm hiện tại vẫn đang tồn tại rất nhiều kết luận khác nhau về biên giới của một phương ngữ, đặc điểm chủ đạo
Trang 16cấp cho nó cương vị một phương ngữ là cái gì Và chính những băn khoăn này đã dẫn đến việc hình thành nhiều khái niệm phương ngữ khác nhau Để tránh sự mò mẫm vô ích trong việc tìm hiểu khái niệm phương ngữ, tác giả đã tìm hiểu về sự đối lập giữa ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể, tác giả đã kết luận sự ra đời của các phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân
là kết quả của hai sự tác động: tác động bên trong – từ cấu trúc ngôn ngữ và tác động từ bên ngoài về địa lí, yếu tố xã hội, sự tiếp xúc ngôn ngữ Sau khi hệ thống các kết luận về phương ngữ, tác giả đã chỉ ra khái niệm phương ngữ như sau:
“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” Muốn thấy được đặc điểm của phương ngữ thì
phải đặt nó trong mối quan hệ, trong sự so sánh với ngôn ngữ toàn dân Và cũng theo Hoàng Thị Châu, khi nghiên cứu phương ngữ thì cần nghiên cứu trên cả ba bình diện về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì ta mới có thể hiểu được nó một cách trọn vẹn
Và ở đây, chúng tôi lấy quan niệm của tác giả Hoàng Thị Châu “Phương
ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” làm cơ sở để đi sâu tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ
trong hai tác phẩm Sông và Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư
1.1.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ
Vấn đề phân vùng phương ngữ hiện nay vẫn đang có nhiều ý kiến phân chia khác nhau và hiện chưa có một sự thống nhất nào Có người thì quan niệm rằng không cần phân chia các vùng phương ngữ bởi vì hầu như chúng ta đều có thể hiểu được ý của những người đến từ các vùng miền khác và dễ dàng giao tiếp được với
họ Và S.C.Thompson chính là người đưa ra quan điểm không cần phân chia các vùng phương ngữ trong tiếng Việt vì ông cho rằng khi khảo sát tiếng Việt từ Bắc vào Nam thì ta sẽ thấy được trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia mà
Trang 17phương ngữ các thành phố lớn như Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể xem là tiêu biểu
Một số khác thì lại quan niệm nên phân chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ H.Maspéro quan niệm rằng trong tiếng Việt có hai vùng phương ngữ
đó là phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Theo ông, đa số người miền Nam là người gốc Bắc di cư vào Nam sinh sống cách đây không lâu cho nên cách sử dụng
từ ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Nam là giống với phương ngữ Bắc cho nên ông đã gộp chung hai vùng này thành vùng phương ngữ Bắc Còn phương ngữ miền Trung thì đối lập với phương ngữ Bắc và ở phương ngữ Trung vẫn còn giữ lại những nét cổ xưa đặc trưng của vùng miền này nên không thể phân chia hay gộp lại với bất cứ vùng phương ngữ nào được Cũng phân chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ, nhưng hai nhà Việt ngữ học Liên Xô M.V Gordina và I.S Bystrôv lại
có sự khoanh vùng hai vùng này khác với sự phân chia trên Trong cuốn Cơ cấu
ngữ âm tiếng Việt, hai tác giả đã chỉ ra về cơ bản vẫn là hai vùng Bắc và Trung
nhưng thêm một vùng nữa là vùng phương ngữ Huế Vùng này có tính cách như một vùng đệm Hay Hoàng Phê (1963) cũng công nhận tiếng Việt có hai vùng phương ngữ là phương ngữ miền Bắc – nơi có thủ đô Hà Nội và phương ngữ miền Nam – nơi có thành phố Hồ Chí Minh và Trung Bộ chính là một chuỗi phương ngữ nhỏ có tính chuyển tiếp
Phân chia phương ngữ thành ba vùng phương ngữ lớn: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam là sự phân chia nhận được nhiều sự đồng tình của các nhà nghiên cứu và đặc biệt là phù hợp với quan niệm của nhân dân ta Hằng ngày, chúng ta vẫn thường nghe mọi người nói rằng, cô này nói giọng Nam, cô kia nói giọng Bắc, cô nọ nói giọng Trung… sở dĩ có cách gọi như vậy là do nhân dân ta dựa vào thanh điệu để nhận ra phương ngữ Còn đối với các nhà nghiên cứu, họ không chỉ dựa vào thanh điệu mà còn căn cứ vào các tiêu chí khác để đánh giá ví như về ngữ âm, từ vựng để phân chia các vùng phương ngữ
Một số khác lại phân chia phương ngữ thành bốn vùng mà tiêu biểu là Nguyễn Kim Thản (1982) Tác giả đã chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ:
Trang 18phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam và phương ngữ Nam Và sự phân chia này cũng gần giống với quan điểm của L.Cadière Cũng phân chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ, tuy nhiên Huỳnh Công Tín và Nguyễn Văn Ái lại phân chia thành: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Bắc Trung Bộ, phương ngữ Nam Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ
Ông Nguyễn Bạt Tụy thì lại phân chia tiếng Việt thành năm vùng phương ngữ: phương ngữ miền Bắc, phương ngữ Trung Trên, phương ngữ Trung Giữa, phương ngữ Trung Dưới và phương ngữ Nam
Việc phân chia tiếng Việt vẫn đang là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi và hiện chưa có một sự thống nhất nào, tuy nhiên, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi sẽ chọn cách phân chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ: phương ngữ Nam, phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung do tác giả Hoàng Thị Châu đề
xuất trong Phương ngữ học tiếng Việt
1.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Phương ngữ Nam chính là biến thể địa lí của tiếng Việt toàn dân ở miền Nam Miền Nam là một vùng đất mới nên phương ngữ Nam Bộ cũng chỉ mới xuất hiện, sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự hình thành, phát triển của mảnh đất này Năm 1558, Nguyễn Hoàng y lệnh triều đình vào trấn giữ phương Nam và từ đây, cuộc chiến giữa Đàng Ngoài, Đàng Trong Trịnh – Nguyễn bùng nổ Cuộc chiến này kéo dài đến hơn hai thế kỉ Cũng như những cuộc chiến tranh khác, cuộc chiến tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài đã gây ra biết bao đau thương, mất mát cho người dân xứ này Nó cũng chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự đồng nhất và khác biệt trong tiếng nói giữa tiếng của vùng đất mới hình thành này với hai miền còn lại là miền Trung và miền Bắc
Xét theo đặc điểm nguồn gốc, phương ngữ Nam Bộ chính là kết quả của sự hợp nhất và tiếp biến giữa các đặc điểm của tiếng Việt cổ sẵn có trong hai vùng phương ngữ Trung và Bắc với những đặc điểm mới của các tiếng đang sử dụng của các cộng đồng cư dân bản địa cổ như Khơ me và Chăm Cuối cùng, phương ngữ Nam Bộ ấy lại tiếp tục vận động và phát triển khi chủ động tiếp nhập và đồng hóa
Trang 19các yếu tố Hoa của vùng Triều Châu, Phúc Kiến do những người chạy nạn đem đến trong thế kỉ XVII – XVIII
Trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ học, Xtalin đã đề cập
đến vấn đề ngôn ngữ dân tộc và tiếng địa phương Mỗi ngôn ngữ trong quá trình phát triển vẫn là một công cụ duy nhất của mọi thành viên trong xã hội Quá trình phát triển của ngôn ngữ nói chung hay của một ngôn ngữ cụ thể nào đó đều dài lâu
và phức tạp Trong quá trình đó, ngôn ngữ thị tộc phát triển lên ngôn ngữ bộ lạc rồi
bộ tộc và cuối cùng lên ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ bộ tộc xuất hiện vào thời kì chủ nghĩa tư bản rồi một mặt hình thành ngôn ngữ của toàn dân, mặt khác do tính chất đặc thù của bộ phận lãnh thổ trong một bộ tộc, nó phát triển thành tiếng địa phương mới hay còn được gọi là phương ngữ Như vậy, chúng ta thấy rằng cũng như ngôn ngữ dân tộc, tiếng địa phương hoàn toàn không có tính giai cấp Nó phục
vụ cho mọi giai cấp ở một địa phương nào đó, người giàu, người nghèo cũng đều có thể sử dụng nó Tuy nhiên, bất cứ một vùng phương ngữ nào cũng có những đặc trưng riêng biệt về ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp, phương ngữ Nam Bộ cũng vậy, nó cũng có những nét đặc trưng riêng biệt Ở đây chúng tôi thống nhất với ý kiến của tác giả Hoàng Thị Châu trong việc nêu đặc điểm của phương ngữ
Nam Bộ
1.2.1 Đặc điểm về ngữ âm
Cũng giống như những quan niệm về phương ngữ hay việc phân chia vùng tiếng Việt, chuẩn ngữ âm cũng chưa được chính thức quy định và nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả làm chuẩn để khảo sát sự khác nhau của ba vùng phương ngữ Bắc, Trung, Nam thì có thể nêu đặc trưng ngữ âm của vùng phương ngữ Nam như sau:
- Đầu tiên là về hệ thống thanh điệu: ở phương ngữ Nam có 5 thanh điệu, thanh hỏi
và thanh ngã được sử dụng như nhau và thường phát âm thành thanh hỏi Và khi xét
về mặt điệu tính thì đây là một hệ thống thanh điệu khác với hai vùng phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung
Trang 20- Về hệ thống âm đầu thì có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như [s, ʐ, ʈ] chữ viết
ghi là s, r, tr Ở Nam Bộ r có thể phát âm rung lưỡi [r] So với các phương ngữ khác
thì phương ngữ Nam Bộ thiếu phụ âm [v] nhưng lại có âm [w] bù lại, không có âm [z] và được thay thế bằng âm [j]
Ví dụ: cá rô cá gô; vy jy
- Về âm đệm: âm đệm [-w-] đang biến mất trong phương ngữ Nam
Ví dụ: lo toan lo tɔ:ng; tuyến tiến
- Về vần: ở phương ngữ Nam mất đi rất nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Trong khi đó, cặp âm cuối [-ngm, kp] lại trở thành những âm vị độc lập Và đặc biệt là thiếu đôi âm cuối [-nh, -ch]
- Và trong phương ngữ Nam ta có thể chia thành ba vùng nhỏ hơn:
+ Phương ngữ Quảng Nam – Quảng Ngãi khác với các nơi khác ở sự biến động
đa dạng của âm a và âm ă trong kết hợp với các âm cuối khác nhau
+ Giải phương ngữ từ Quy Nhơn đến Bình Thuận mang những đặc tính chung nhất của phương ngữ Nam
+ Phương ngữ Nam Bộ đồng nhất các vần:
-in, -it với -inh, -ich
-un, -ut với -ung, -uc
Phương ngữ Nam có khuynh hướng lẫn lộn s/x và tr/ch như trong phương
ngữ Bắc, nhưng trong ngôn ngữ thông tin đại chúng, trong hoạt động văn hóa, giáo dục, sự phân biệt các phụ âm trên được duy trì rất có ý thức
1.2.2 Đặc điểm về từ vựng – ngữ nghĩa
Phương ngữ Nam Bộ còn giữ lại một lớp từ cổ của tiếng Việt mà phương ngữ Bắc Bộ, tiếng Việt chuẩn không còn sử dụng Điều này có thể là do phần đông dân cư nơi này là người dân vùng Bắc Trung Bộ nên còn khá nhiều yếu tố tương tự
giữa hai vùng này ví dụ: “mầng (mừng), ngộ (dễ nhìn), coi (xem), cậy (nhờ), méc (mách), hun (hôn), thơ (thư), nhơn (nhân)…”
Bên cạnh đó, người dân vùng đồng bằng còn sử dụng một số từ vay mượn
của các dân tộc sống chung như Khorme, Hoa như “cà rá, cà ràng, cà ròn, xà rong,
Trang 21lục, thốt nốt, len trâu, bò hóc, đi ênh…; chế, hia, tía, số dách, chào quẩy, xập xám, bạc xỉu, miệt, mai, báo…” trong quá trình giao tiếp Và do người Việt có sự tiếp
xúc lâu dài với người Pháp nên đã tiếp nhận qua lại vay mượn lẫn nhau tạo ra những từ mới Cách vay mượn của người Nam Bộ vừa giống, vừa khác so với cách vay mượn của người Bắc Bộ, cụ thể như sau:
Tiếng Pháp Phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ Bắc Bộ Ghi chú
Ronéo (máy in) rô-nê-ô (máy in) rô-nê-ô không biến âm
Có một lớp từ vựng Nam Bộ có hiện tượng biến âm so với lớp từ vựng chung Sự biến âm này có thể do khuynh hướng phát âm đơn giản hóa của người
Nam Bộ: “hảo hớn, minh mông, phui pha, tuồm luôm, nươm nướp, tiên phuông,
cháng váng, lè lẹt…”; hoặc do khuynh hướng kiêng kị: “huê (hoa), kiểng (cảnh), hường (hồng), huỳnh (hoàng), phước (phúc), quới (quý), luông (long), mệnh
(mạng)…” Trong phương ngữ Nam Bộ, hiện tượng biến âm còn diễn ra ở hàng loạt
từ, chẳng hạn: “chư bư, chư bứ, chừ bự, chừ bư, chứ bứ…; tèo, tẻo, téo…; rỉnh,
rảng, rểnh…; cà cựng, cà cửng, cà khỉa, cà khía, cà khịa…; chằm bằm, chằm quằm, chằm vằm…”
Ở vùng đồng bằng sông nước có một lớp từ ngữ phản ánh địa hình cây cối,
sông nước của miền như: “sông, rạch, xẻo, kinh, mương, rãnh, láng, lung, đầm, ao,
bầu, ; tràm, đước, bần, mù u, xuồng ba lá, trẹt, xà lan, tắc rán…” Các sản vật,
Trang 22riêng loài “tôm”, theo thống kê của Nguyễn Văn Ái, có rất nhiều loại được phân biệt rất tỉ mỉ: “tôm bạc, tôm càng, tôm chấu, tôm chông, tôm chục, tôm đá, tôm đất,
tôm sú, tôm thẻ, tôm tích, tôm vang…” Không chỉ vậy, ấn tượng sáng tạo riêng của
dân vùng sông nước là lối diễn đạt mang đậm màu sắc sông nước như: “chìm
xuồng”, “ngâm tôm”, “mò tôm”, “râu cá chốt”, “đua ghe ngo”, “cầu khỉ”, “đầu sặc rằn”, “công tử Bạc Liêu”, “cải lương”, “nhạc tài tử”, “vọng cổ”… Vốn từ
vựng này đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt
Lớp từ vựng phương ngữ Nam Bộ có khuynh hướng diễn đạt nhiều khía cạnh, nhiều thực tại trong một hiện tượng từ ngữ khác với khuynh hướng từ vựng toàn dân có riêng từ để diễn đạt từng khía cạnh, thực tại riêng ấy Nói cách khác từ trong ngôn ngữ toàn dân có chi tiết hóa, cụ thể hóa thực tại; từ trong phương ngữ Nam Bộ có khuynh hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa thực tại, ví như:
vật hình tấm thủy tinh trong suốt kiếng Kính
Không chỉ vậy, phương ngữ Nam Bộ còn giàu tính hình tượng, tính biểu cảm, có lối so sánh ví von cụ thể, dí dỏm, hài hước, khỏe khoắn, cường điệu và khuyếch đại…
Trang 231.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp
Trên bình diện ngữ pháp, nhìn chung không có sự khác biệt lớn giữa các phương ngữ Tuy nhiên, trong cách nói của người Nam Bộ cũng có một số nét rất riêng Một ví dụ điển hình là cách xưng hô, từ dùng trong xưng hô ở nông thôn
miền Nam Ở ngôi thứ nhất thường dùng từ “tui” để xưng hô giữa bạn bè, giữa
những người trong gia đình khi nói với những người ngang hàng hay người trên Điều này, giống như ở các vùng dân tộc thiểu số, như trong các ngôn ngữ châu Âu Đây là một ảnh hưởng để lại của ngôn ngữ bản địa trước đây, có hệ thống đại từ nhân xưng trung tính
Trong gia đình, ngoài xã hội người Nam Bộ có thói quen dùng thứ kết hợp
với tên để xưng gọi: “hai, ba, bốn, năm, sáu, út…”, chẳng hạn “Ba Điền, Tư Hiền,
Sáu Bảnh, Năm Tèo, Tám Nghệ…” Còn từ xưng gọi “họ hàng” như “cậu, mợ, dì dượng, chú thím…” được dùng trong cả gia đình lẫn xưng hô với làng xóm
Thêm dấu hỏi (thanh hỏi) để biến danh từ thành đại từ là một phương ngữ thức ngữ pháp sử dụng rộng rãi trong phương ngữ Nam Ngoài những từ nhân xưng
như ổng, cổ, chỉ, ảnh, bả… còn hình thành những đại từ chỉ không gian: trỏng (trong ấy), ngoải (ngoài ấy), đại từ chỉ thời gian: hổm (hôm ấy), nẳm (năm ấy)…
Ở phương ngữ Nam có cả một hệ thống từ phái sinh:
lớn: bao lớn, bây lớn
to: bao to, bây to
dài: dài bao dai, dài bây dai
Để nhấn mạnh ý phủ định, ở các địa phương cũng có những từ khác nhau
bên cạnh từ không, chẳng dùng thống nhất như:
chả có / chả nỏ / hổng có
(PNB) / (PNT) / (PNN)
Dùng phó từ và trạng từ đa dạng để tăng cường cho tính từ và động từ là một
đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ Nếu như người Bắc Bộ và Trung Bộ nói một
câu đơn giản là “hôm nay cơm ăn rất ngon”, thì người Nam Bộ thường nói là “hôm
nay cơm ăn ngon quá trời quá đất, hôm nay cơm ăn ngon thấy mồ tổ luôn”… Trong
Trang 24phương ngữ Nam Bộ, có hàng loạt từ dùng riêng cho từng tính từ, động từ và có thể
có nguồn gốc Khorme, ví như:
già : già khú, già ngắt, già khằng, già ngắt khú đế
thưa : thưa rích, thưa rỉnh, thưa rểu
b đi cà rịch cà tang, đi cà lơ xơ xí xụi
ngồi chềm bệp, ngồi chình ình, ngồi chồm hổm
ngồi chò hõ, nằm chèo queo, nằm chò co
la tang quác, nói tang quác…
Và bên cạnh đó, ngữ khí từ phụ họa với ngữ điệu tạo ra sắc thái địa phương
rõ nét của từng vùng miền riêng biệt Cùng một cấu trúc ngữ pháp và từ vựng, chỉ cần thay đổi ngữ khí từ và giọng điệu, nó thể hiện ngay sự khác nhau về phương ngữ:
Ở đây vui quá nhỉ? Ở đây vui quá hén (héng)!
Cho cháu ông nhé! Cho con hén nội!
Thôi, tôi về nhé! Thôi, tôi về ngheng!
Thế anh tưởng tôi không biết sao? Bộ, anh tưởng tôi không biết sao?
Người ta cũng làm được chứ lị Người ta cũng làm được chớ bộ
Nó đi từ sáng sớm kia đấy Nó đi từ sáng sớm lậng
Cả ngày nó chỉ đi chơi thôi Cả ngày nó chỉ đi chơi không hà Anh không biết à? Anh không biết há?
Trang 25Chuyện gì đấy nào? Chuyện gì vầy nè?
Một cách nhấn mạnh ý phủ định thường gặp trong phương ngữ Nam là thêm
có sau phó từ phủ định
Em không muốn đi Em hổng có muốn đi
Con chưa đói bụng Con chưa có đói bụng
Nói lái là một hiện tưởng phổ biến, được sử dụng nhiều trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Nam Bộ Hiện tượng này tạo sự liên tưởng thú vị, hài hước, thể hiện lối lạc quan yêu đời theo cách của người Nam Bộ Tuy vậy, đôi lúc nói lái sẽ tạo ra những suy nghĩ thiếu trong sáng và những tiếng cười thiếu nghiêm
túc Ví như khi nói “ít li” cứ nghĩ ai đó uống rượu ít, không được nhiều; nhưng nghĩa lái thì khác hoàn toàn, đó là “y lít” là tửu lượng vô song, không có đối thủ, nói “lộng kiếng” thì lại được hiểu là “liệng cống”…
Tóm lại, phương ngữ Nam Bộ là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân với những đặc trưng ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp điển hình Phương ngữ Nam Bộ bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân và cho đến ngày nay vẫn giữ được những nét đặc trưng cơ bản của tiếng nói mẹ đẻ nên hầu hết mọi người đến từ mọi miền của vẫn có thể hiểu và giao tiếp với nhau dễ dàng Tuy nhiên, ngoài những đặc trưng chung thì phương ngữ Nam Bộ còn tồn tại những đặc trưng riêng tiêu biểu và làm nên một nét đẹp văn hóa miền Nam mà không nơi nào có được Những đặc trưng tiêu biểu này giúp chúng ta nhận biết được là người dân nơi nào, nói tiếng miền nào và đặc biệt hơn là sẽ dễ dàng nhận ra ngay những người đồng hương của mình Những đặc trưng này được chia làm ba nhóm chính là đặc trưng về ngữ âm,
về từ vựng – ngữ nghĩa và về ngữ pháp Khi đi sâu tìm hiểu những đặc trưng này chúng ta sẽ càng hiểu rõ hơn về phương ngữ Nam Bộ và đặc biệt sẽ càng yêu quý hơn cái giọng nói của quê hương ta Và ở đây, chúng tôi tán đồng với quan điểm những đặc sản, những tên riêng đặc trưng của mảnh đất Nam Bộ cũng chính là
phương ngữ Nam Bộ Ví như: chôm chôm, sầu riêng, canh rau đắng, cơm
mẻ…Những từ này hoàn toàn không có từ thay thế nên chúng độc lập và có thể
Trang 26đứng tách biệt và những từ này là một nét đặc trưng vùng miền Những biến thể ngôn ngữ này không chỉ được người dân Nam Bộ sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày mà còn thâm nhập, thẩm thấu vào trong các sáng tác văn học tạo nên một phong vị riêng khó lẫn, có giá trị nhất định đối với việc xây dựng nội dung và nghệ
thuật của các tác phẩm văn học mà Sông và Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc
Tư chính là ví dụ điển hình
1.3 Tác giả, tác phẩm
1.3.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư
1.3.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Ngọc Tư (1976) là một nhà văn trẻ thuộc thế hệ hậu chiến, sống tại
xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Tác giả là một nữ nhà văn trẻ của nền văn học Việt Nam nói chung, của đồng bằng sông Cửu Long nói riêng có số lượng tác phẩm đồ sộ và đạt được nhiều giải thưởng cao của Hội nhà văn Việt Nam Các sáng tác của nhà văn nữ này không chỉ thu hút bạn đọc trong và ngoài nước mà còn thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu, phê bình… Và từ lâu, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một trong số ít những cây bút trẻ được dư luận đặc biệt quan tâm
Nguyễn Ngọc Tư là người con của mảnh đất miền Nam nên từ trong tính cách của tác giả cũng như những trang văn đều toát ra cái hồn quê chân thật, mộc mạc, gần gũi thân quen Cây bút trẻ này đã đem đến cho độc giả những trải nghiệm thú vị về tính cách con người cũng như về những hành trình khám phá những ngóc ngách nơi vùng quê sông nước miền Tây
1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ đầy tài năng, các sáng tác của nhà văn trẻ này ra đời một cách liên tục và nhận được rất nhiều sự ủng hộ của bạn đọc trong cả nước Và có thể nói, thành công đầu tiên đến với Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu từ tập
truyện ngắn Ngọn đèn không tắt (2000) - tác phẩm này đã đạt giải nhất cuộc vận
động sáng tác văn học tuổi 20 lần II do Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Báo Tuổi trẻ tổ chức Năm 2001, tác phẩm này đã giành Giải B ở Hội nhà
Trang 27văn Việt Nam Từ thành công này, tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư được bạn đọc biết
đến qua hàng loạt các tác phẩm như: Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi), 2001; Biển
người mênh mông (tập truyện), 2003; Giao thừa (tập truyện), 2003; Nước chảy mây trôi (tập truyện và kí), 2004; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện), 2005…Và
đặc biệt năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một tiếng vang rất lớn trong làng văn
Việt Nam với sự ra đời của tác phẩm Cánh đồng bất tận Tác phẩm này nhận được
rất nhiều lời ca ngợi của người đọc cũng như của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, nó cũng vấp phải không ít lời phê bình, chê bai Và cuối cùng, tác phẩm này cũng đã giành cho mình một chỗ đứng khi đạt được Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm
2006
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nở rộ với hàng loạt các tác phẩm lần lượt xuất hiện trên Văn đàn văn học Việt Nam như:
Ngày mai của những ngày mai (tạp bút, 2007)
Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)
Biển của mỗi người (tạp bút, 2008)
Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009)
Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)
Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012)
Bánh trái mùa xưa (2012)
Sông (tiểu thuyết, 2012)
Chấm (thơ, 2013)
Đảo (tập truyện ngắn, 2014)
Trầm tích (tập truyện ngắn, 2014), ra chung với Huệ Minh, Lê Thuý Bảo Nhi,
Thi Nguyễn
Đong tấm lòng (gồm hơn 30 tản văn), Nhà xuất bản Trẻ, 2015
Những đóng góp của tác giả cho văn học miền Nam cuối cùng cũng đã được đền đáp khi Hội nhà văn đề cử Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ nhất từ trước đến nay được nhận giải thưởng văn học của khối Đông Nam Á tại Thái Lan Nguyễn
Trang 28Ngọc Tư xứng đáng là “đặc sản” của miền Nam, là hiện tượng tiêu biểu của 40
năm văn xuôi Việt!
1.3.2 Vài nét tiêu biểu trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
1.3.2.1 Về nội dung
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ đầy tài năng và tuy mới xuất hiện trên văn đàn văn học những năm gần đây nhưng tác giả đã để lại rất nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc Nhiều người cho rằng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là sự chân phương, bình dị trong cả con người lẫn cách thể hiện trên con chữ của tác giả Thật vậy, nổi bật lên trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là những mảnh đời con người miền Nam rất giản dị, đời thường Họ hầu như có những mối tình không trọn vẹn, những mối tình đó không phải chỉ có ở người già, mà còn là những mối tình của thế hệ tác giả Đó là những mối tình chóng vánh của mẹ Ân với những người đàn ông khác – ngoài ba Ân hay mối tình đồng tính đầy dằn vặt của Ân và Tú trong
Sông, mối tình vợ chồng nhưng không có được cái hạnh phúc, ấm áp của Tam và
Nhàn trong Tro tàn rực rỡ; mối tình đầy xót xa, cay đắng và không trọn vẹn của anh
Út Võ với vợ mình hay những cô gái còn son, những người đàn bà trong hành trình
đi dọc những Cánh đồng bất tận… Hay Hiu hiu gió bấc là một tình cảm đẹp nhưng bất hạnh đã để lại nỗi đau ở hai con người tha thiết yêu nhau Và cũng có khi tình
bất ngờ đến rồi cũng bất ngờ đi, nhưng khoảng trống cho thực tại và một kỉ niệm
đẹp trong quá khứ vẫn còn mãi trong lòng người như ở truyện Cái nhìn khắc khoải, Nguyễn Ngọc Tư đã viết: “Chị bật khóc, con Cộc điềm đạm lại cả mẻ lúa, nó ăn
chậm rãi Ý nói sao mà tội nghiệp hai người quá đi, làm người mà khổ vậy, làm vịt còn sướng hơn Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông thở dài Tự mình làm mình chịu, ai biểu ”
Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên ở mảnh đất cuối cùng của nên trong từng trang viết, tác giả đã đưa những hình ảnh của quê hương, của nơi chôn nhau cắt rốn của chính bản thân mình vào như sông, đảo, cánh đồng bất tận, U Minh, sông Di, chợ Rơm, chợ Vàm, Xẻo Đắng Tác giả không viết về những thứ cao sang, khác lạ
mà đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, đi vào tận cùng những ngóc ngách,
Trang 29những nét đẹp văn hóa của miền Tây và tạo ra những tác phẩm rất hay, rất miền
Nam và rất Nguyễn Ngọc Tư Đó chính là cái tài, cái “đặc sản” của riêng tác giả!
Ngọn đèn không tắt là tập truyện ngắn đầu tay của tác giả, ghi lại những suy
nghĩ của một cô gái đôi mươi khi nhìn cuộc đời Ở đó có những người thanh niên luôn sống vì lí tưởng của Tổ quốc, sống với tình yêu thương quê nhà vô bờ bến như
Tươi trong Ngọn đèn không tắt Tươi chính là một thế hệ trẻ - tương lai của đất
nước và chính cô cũng đã rất thích thú với những câu chuyện của ông nội, của những cuộc kháng chiến và đã thuộc lòng những khúc ca hùng tráng ấy Cô sẽ là ngọn đèn ngọn đèn không tắt, soi đường cho những thế hệ thanh niên đi theo Hay
cũng viết về tầng lớp thanh niên, nhưng Miên trong Cỏ xanh lại là một con người
khác Cô được coi là một thành phần cá biệt của khu phố và thường xuyên bị phạt đi cắt cỏ Hình ảnh của cô gái này hiện lên thật ngang tàng nhưng cũng vô cùng tội nghiệp, cô đã bỏ đi khỏi nơi cô sống vì câu chuyện của chàng trai đã nói với cô vào buổi chiều khi cô bị phạt Và trong những sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã đưa vào đó những trái ngang, bất công của cuộc đời Một con người mà khói binh, lửa đạn không thể quật ngã mà lại bị những tham ô, những lợi danh đánh
gục, đó chính là Tư Đờ trong Nỗi buồn rất lạ Một truyện ngắn nữa trong tập truyện ngắn này chính là Chuyện của Điệp Đây chính là câu chuyện kể về Điệp, một cô
gái có vóc người nhỏ nhắn nhưng lại có lòng đam mê nghệ thuật cháy bỏng Cô gái này đã cháy hết mình với những vai diễn dù rằng những vai diễn đó chỉ là vai con nít Cũng có lúc cô muốn từ bỏ nhưng máu đam mê nghệ thuật cùng với những bài học của ngoại nên cô vẫn sống tiếp, vẫn cháy hết mình với những vai trẻ con Một
mẫu chuyện ngắn nữa cũng xuất hiện trong tập Ngọn đèn không tắt chính là Ngổn
ngang Truyện này viết về một cô gái trẻ trung, làm nghề phóng viên là thường lang
thang khắp mọi nơi để viết bài Cuộc sống của cô lúc này cũng giống như tên của tác phẩm vậy – ngổn ngang Tuy chúng bạn đã có chồng, có con nhưng cô vẫn đang độc thân và vẫn chưa có người yêu, cuộc sống của cô cũng chỉ xoay quanh những
bản tin, những bài viết… Hay truyện ngắn cuối cùng Lý con sáo sang sông trong tập
Ngọn đèn không tắt chính là một bài viết, một nỗi lòng của người con trai không thể
Trang 30mang lại hạnh phúc, ấm êm cho người con gái mình thương Phi là một người có năng khiếu đờn ca nhưng anh lại thật bất hạnh khi đánh mất đi người yêu của mình,
và càng bất hạnh hơn nữa khi chính anh là người đã “gã” người yêu mình cho một
người đàn ông khác
Hay như khi đến với tác phẩm Sông, người đọc như cuốn theo hành trình
khám phá sông Di của Ân, Bối và Xu Ba con người, ba số phận khác nhau và họ đã
bỏ lại những quá khứ của mình, bỏ lại những nỗi niềm riêng tư để cùng nhau đi dọc con sông Di, dọc những mảnh đời nơi phía Tây Mỗi chương như một truyện ngắn, vừa đem lại cho người đọc cảm giác như đang sống trong hiện thực nơi Cà Mau sông nước nhưng cũng có lúc lại như đang chìm trong thế giới ảo do Nguyễn Ngọc
Tư xây dựng nên Nhưng dù là hiện thực hay hư ảo thì người đọc cũng rất thích thú
khi ngốn nghiến từng trang sách
1.3.2.2 Về nghệ thuật
Sự hấp dẫn, lôi cuốn trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chính là ở nghệ thuật sử dụng phương ngữ Nam Bộ để tạo ra những giá trị độc đáo cho nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm Đó là phong vị của miền Nam với những ruộng vườn xanh tươi, với chằng chịt những con sông, với những con mưa bất chợt và với những nét đẹp riêng rất riêng được tô đậm trong những sáng tác của Nguyễn Ngọc
Tư như Dòng Nhớ, Chợ nổi Cà Mau - chút tình sông nuớc, Qua cầu nhớ người,
Nhớ sông, Nước chảy mây trôi…và của cả những yên bình, dân dã của một vùng
quê Bâng quơ khói nắng, Mưa qua trảng gió,… những dấu tích của chiến tranh:
Ngọn đèn không tắt, Mối tình năm cũ…
Không chỉ tài tình trong việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ, tác giả đã rất tinh tế trong cách chọn lựa tình tiết, hình thành cốt truyện Nguyễn Ngọc Tư nói rằng chị không sinh ra và lớn lên ở đó nên biết gì đâu mà viết về nơi đó, không khéo lại làm cho người khác cười chê Vậy đó, cây bút trẻ này chỉ viết về những gì quen thuộc, gần gũi với bản thân tác giả Và cũng vì lẽ này mà khi đọc những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc là người miền Nam sẽ cảm thấy rất thú vị, họ như được sống trong vòng tay thân quen của mảnh đất quê nhà và cảm giác được rằng
Trang 31những trang văn thơ kia như được viết ra là dành riêng cho mình, viết về những cảm xúc của chính bản thân mình Còn những người không phải là người miền Nam thì
sẽ rất tò mò, hấp dẫn với những đặc trưng văn hóa, đặc sản vùng miền của vùng đất Nam Bộ được tác giả tinh tế đưa vào từng con chữ
Một nét rất đặc sắc nữa trong truyện Nguyễn Ngọc Tư là cách dẫn truyện nhẹ nhàng, sâu lắng Tác giả đưa người đọc đi từ hành trình này sang hành trình khác, từ mảnh đời này tới những mảnh đời khác một cách hết sức độc đáo Đây quả là một cái tài thiên bẩm của tác giả
Nguyễn Ngọc Tư tuy là một cây bút trẻ, xuất hiện trên văn đàn văn học mới đây nhưng đã tạo được tiếng vang rất lớn và một chỗ đứng vững chắc cho mình Tác giả đã rất thành công với hàng loạt truyện ngắn, tản văn và đặc biệt là sự thay đổi mang tính bứt phá trong thể loại tiểu thuyết Có thể nói, thành công lớn nhất của nhà văn chính là việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ trong hầu hết các tác phẩm của mình Điều này đã tạo ra một nét khu biệt, không lẫn lộn với các tác giả khác và nhận được sự đánh giá cao của các nhà nghiên cứu lẫn bạn đọc trong và cả ngoài nước
Trang 32Chương 2: ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG SÔNG và NGỌN
ĐÈN KHÔNG TẮT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
2.1 Về phương diện ngữ âm
2.1.1 Về thanh điệu
Phương ngữ Nam Bộ có 5 thanh điệu, trong đó thanh hỏi và thanh ngã được
sử dụng lẫn lộn, không có sự phân biệt và người miền Nam thường phát âm thành thanh hỏi nhiều hơn Trên thực tế, hiện tượng phát âm lẫn lộn hai thanh điệu này diễn ra rất nhiều và phổ biến ở hầu hết mọi tầng lớp, nhưng trong tác phẩm của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư hiện tượng này xuất hiện rất ít là vì những tác phẩm của nhà văn là những văn bản viết, chúng cần phải đáp ứng yêu cầu về chính tả và hơn hết là cần viết đúng để người đọc không hiểu sai lệch ý mà tác giả muốn gửi gắm
Sự khác nhau về thanh điệu xuất hiện trong sáng tác của tác giả rất hạn chế Chúng
tôi chỉ thống kê được một số trường hợp sau: mậy/mày (TS 4), vầy/vậy (TS 14),
miễu/miếu (TS 4)
Ví dụ:
“Thằng Tư Đờ sao mậy, tao nghe đài nói như búa bổ, nó bị bắt phải không? (B3/31)
Ba khỏe không mậy?” (B3/31)
“Mình thích được chôn giữa một đồng hoa cải vàng như vầy” (A/23)
“Cổ chê miếu nên đốt cháy, người ta làm miễu lớn Bữa cúng miễu có mời hát bội
về, Phàn Lê Huê đang hát ỉ ì i thì miễu tách đất trôi đi chừng nửa cây số.” (A/40)
2.1.2 Về hệ thống phụ âm đầu
Trong hai tác phẩm Sông và Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư đã sử
dụng một số biến thể phụ âm đầu sau:
- Biến thể l/nh: lạt/nhạt (TS 7), lanh/nhanh (TS 1)
“Canh lạt Xu gọi cô gái mang ra thêm chút muối” (A/95)
“Nó tuổi con gà, hai chục rồi, nó lanh lắm” (B1/10)
Trang 33- Biến thể s/th: sẹo/thẹo (TS 10)
“Dấu hiệu duy nhất cho thấy Xu có uống rượu là đuôi mắt mướt kia hơi đỏ, quầng mắt cũng đỏ, những chỗ còn lại trên mặt đều bị râu che phủ, kể cả vết sẹo lẹm xuống cằm, đã không còn chút dấu vết nào” (A/141)
thuyết Sông và truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của cây bút trẻ Nam Bộ - Nguyễn
Ngọc Tƣ
- “u” / “ô”: tui/tôi (TS 16), rún/rốn (TS 4)
Ví dụ:
“Tui hư rồi, mấy ông nói cũng như không” (B2/18)
“Kéo ông già khỏi cuộc bù khú với mấy bà bạn hàng bằng cái liếc mắt bén lẹm,
“đừng có tưởng tui không ghen”” (A/165)
“Nói Phi ai cũng buột miệng khen “Thằng đó ca mùi rụng rún”” (A/73)
“Tôi gọi Hường Buồn vì cái rún của cổ buồn lắm, nhìn như mặt người đang khóc”
(A/27)
- “ƣ” / “â”: nhứt/nhất (TS 1)
“Xóm Rạch vắng một người già cỗi cằn ngồi hát sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn” (B1/10)
- “â” / “a”: mậy/mày (TS 4)
“Đám đá banh í ới: “Sứa lửa đó nghen mậy, coi chừng chết nghen!”” (B2/23)
Trang 34- “ơ” / “a”: đờn/đàn (TS 1)
“Ban nhạc nhỏ, gồm sáu bảy người trong xóm, già có, trẻ có, vừa đờn vừa ca”
(B6/72)
- “a” / “i”: sanh/sinh (TS 6)
“Nhớ sanh hai đứa thôi, đúng chính sách Sanh nhiều mau già, dễ chết - Phi dặn thêm” (B6/81)
- “ơ” / “ư”: thơ/thư (TS 6), chớ/chứ (TS 29 ), gởi/gửi (TS 8)
“Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ Thơ đề “Kính gởi ông Hai Tương” Cả nhà bối rối không ít Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa” (B1/5)
“Cũng phải có người quay về để kể lại người kia chết kiểu nào chớ” (A/7)
“Má à, sáng này má kêu con Giàu theo con ra đoàn, mấy bộ đồ của bé Bơ còn nguyên một giỏ y thinh, con gởi nó đem về cho má, mai mốt má sanh cho em bé mặc, nghen má” (B4/56)
tự nhiên, hồn hậu như cỏ cây, như đất trời phương Nam Con người, văn hóa, phong tục tập quán… của Nam Bộ được khắc họa rõ nét thông qua hệ thống từ địa phương được tác giả sử dụng công phu và giàu sức sáng tạo Trên phương diện từ vựng – ngữ pháp, chúng tôi chia nhỏ làm ba nội dung chủ yếu là: từ dùng để xưng hô, nhóm từ liên quan đến sông nước và ngữ khí từ
Trang 352.2.1 Từ dùng để xưng hô
Văn hóa giao tiếp từ lâu đã trở thành một nét đẹp mà con người có được Mỗi đất nước, mỗi vùng miền, khu vực có một cách xưng hô khác nhau, điều này thể hiện nét đặc trưng văn hóa trong sinh hoạt và ứng xử cộng đồng Và mảnh đất miền Nam vốn là một mảnh đất hiền hòa, màu mỡ, con người miền Nam phóng khoáng, đôn hậu nên trong cách xưng hô của họ cũng mang đậm những dấu ấn Nam
Bộ, những tính cách điển hình này
2.2.1.1 Xưng hô trong gia đình
Ở hàng ông bà: cách xưng hô của người Việt đối với những người thuộc vai
vế ông bà thường được xưng là “cháu” và gọi là “ông, bà” Tuy nhiên, người miền Nam có lối xưng hô hơi khác là ít sử dụng yếu tố gốc là “ông, bà” mà thường sử dụng các yếu tố phụ là “nội, ngoại” và xưng là “con” Trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, cách xưng hô này xuất hiện cũng khá nhiều, cụ thể, từ “nội” xuất hiện 27 lần trong Ngọn đèn không tắt và 4 lần trong Sông Từ “ngoại” xuất hiện 26 lần trong Ngọn đèn không tắt và 2 lần trong Sông
Ví dụ:
“Con Tươi ngồi kế ông nội, có khi nó nhắc :
- Còn chuyện nội với thầy lên Hòn bắn chim bằng nạng thun đó nội
Ông nội nó đang nói, gật gù :
- Ờ, đúng là tôi còn quên cái chuyện nội nói với thầy xách nạng thun lên Hòn bắn chim” (B1/6)
Cách xưng hô này vừa thể hiện được sự tôn kính đối với người lớn lại vừa thể hiện sự gần gũi, thân mật trong tình cảm của các thành viên trong gia đình
Ở hàng cha mẹ: ba, má là những tiếng gọi phổ biến của người miền Nam và
trong hai tác phẩm Sông và Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư, từ xưng hô này cũng thường được sử dụng để xưng hô với bậc sinh thành Cụ thể từ “ba” xuất hiện trong tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt 46 lần, trong tập tiểu thuyết Sông 9
lần
Trang 36Ví dụ:
“Thì bữa nào nội biểu ba lấy ghe chở nội đi Mà phải con lội hay con lội cõng nội
ra ngoài Gần thí mồ chớ gì, nội” (B1/8)
“Ba bỏ đi theo vợ nhỏ đó chớ Sao sống nổi với con người xấu xa như má” (A/37)
Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, người thân thiết và gắn bó sâu sắc với chúng ta chắc hẳn là người mẹ Và có lẽ cũng vì vậy mà trong sáng tác của tác giả Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh người mẹ xuất hiện rất nhiều Nếu người Bắc
thường gọi là “mẹ” thì ở miền Nam, người ta thường xưng hô là “má”, từ này xuất hiện 116 lần trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, và 12 lần trong tác phẩm Sông
Và điều này cũng dễ lí giải bởi vì người mẹ chính là người kề cận bên con, chăm sóc con và luôn chia sẻ cùng con mọi chuyện trong cuộc sống
Ngoài từ “ba” Nguyễn Ngọc Tư còn sử dụng từ “cha” 33 lần trong tác phẩm Sông và 3 lần trong tác phẩm Ngọn đèn không tắt Từ này thường được dùng
trong giao tiếp gia đình của người miền Tây Nam Bộ
Ví dụ:
“Hỏi cha mẹ, nó lắc đầu, tui từ đất nẻ chui lên” (B2/26)
“Người thứ mười một hả mẹ? Mười hai chứ, mẹ chỉnh lại, tính luôn cha Ân là mười hai thằng” (A/133)
Trong thực tế cuộc sống còn có một cách xưng hô khác ở hàng cha mẹ nữa
chính là gọi đấng sinh thành bằng “ông già”, “bà già” khi nói chuyện với người khác Từ “ông già” với nghĩa là “ba” xuất hiện 2 lần trong Ngọn đèn không tắt và
4 lần trong Sông
Ví dụ:
“Ông Tư Đờ bạn của ba tôi, từng là bạn nhậu của tôi, đã từng vỗ đầu tôi và hỏi:
“Ông già khỏe hôn mậy?” và hình như có một lần, một lần nào đó, khuya, rất khuya, tôi đã đưa ông Tư Đờ về nhà, ông say lắm, rất say Hình như ông tựa hẳn vào tôi” (B3/40)
“Con nhỏ bỏ xứ mất biệt rồi Chưa kịp nói thằng con là của chồng hay ông già chồng” (A/21)
Trang 37 Ở phương ngữ Nam Bộ, người ta thường xuyên sử dụng các từ kiểu như:
ổng, bả, chỉ, cẩu, mở, dỉ, dưởng… thay cho các từ như ông ấy, bà ấy, chị ấy,… Và
trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư, tác giả cũng đã đưa yếu tố đặc trưng vùng miền này vào và nó trở thành một thứ đặc sản rất riêng cho tên tuổi của cây bút trẻ này
Cụ thể:
Ví dụ:
“Ổng nói vậy cho mát lòng ba chứ cực nỗi gì Ổng đi nước ngoài như cơm bữa Ở nhà máy lạnh, ra đường đi xe máy lạnh, đi nhậu cũng nhà hàng máy lạnh Ai như
ba, đầu tắt mặt tối, mưa nắng dẫu dài, nghèo vẫn hoàn nghèo Thôi bỏ chuyện đó,
vô cái này đi ba” (B3/30)
“Tôi đã rủ cổ đi rồi Cổ nói cậu chỉ một mẩu con con vậy thì làm gì để nuôi tôi” (A/27)
Trong cách xưng gọi của người miền Nam, người ta thường dùng tiếng
“con” hơn là “cháu” Người cháu xưng hô với ông bà hay cô, bác, chú, dì… cũng
thường xưng là “con” hơn là “cháu” và ngược lại, ông, bà, cô, bác, chú, dì… cũng gọi là “con”
Ví dụ:
“Cô con dạy “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là vậy đó nội” (B1/8)
“Ngoại dạy: “Con muốn diễn hay thì phải sống nhân ngãi trước đã Mình sống có tình đóng vai nào cũng dễ, con à”” (B4/44)
Và một cách xưng hô thường xuyên được người Nam sử dụng và cũng xuất
hiện rất nhiều trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là từ “tui” Từ này xuất hiện 11 lần trong tác phẩm Sông và 9 lần trong tác phẩm Ngọn đèn không tắt
Trang 38Ví dụ:
“Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa Hổng ấy cho con Tươi đi, chịu hôn?” (B1/10)
“Tới giờ tui còn tức mình” (A/48)
Nhìn chung, cách xưng hô trong gia đình của người miền Nam tương đối thoáng hơn so với người miền Bắc và miền Trung Tuy vậy, cách xưng hô này vẫn giữ được những yếu tố truyền thống như phép lịch sự, lễ phép và tôn trọng người nghe Và đây cũng là một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp, nó không chỉ xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày mà còn thẩm thấu vào trong các tác phẩm Văn học Nhờ vào lối xưng hô địa phương này mà người đọc là những người miền Nam sẽ càng đồng cảm hơn với tác giả và cũng nhờ đó mà họ như được sống trong không khí gia đình nơi vùng quê sông nước với những cảnh vật, con người và lối sinh hoạt thật bình dị, chân quê
Cách xưng hô từ cuộc sống đến tác phẩm Văn học chính là sự dịch chuyển câu chuyện cuộc đời, câu chuyện nhân sinh, câu chuyện của những tương tác xã hội vào trong Văn học Hệ thống từ xưng hô không chỉ có tác dụng quy chiếu nhân vật mà còn làm tái hiện cuộc sống bình dị của người dân Nam Bộ vào trong các trang viết với những mối quan hệ xã hội dày đặc, với những tương tác cụ thể và đa dạng Chính điều này góp phần xây dựng nên hệ thống các nhân vật rất Nam Bộ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
2.2.1.2 Xưng hô ngoài xã hội
Cách xưng hô ngoài xã hội cũng tương đối giống với cách xưng hô trong gia
đình Đối với những người lớn hơn thì thường gọi theo vai là ông, bà, cô, bác, chú,
dì… và thường đi kèm với thứ tự như: Bác Hai Tương, ông Tư Đờ, Tư Đấu, Mười Mực, Út Hết…Và khi xưng hô với người khác, người nói thường xưng là “con” đối
với người có vai lớn hơn và “tui” hoặc “mình” đối với những người bằng vai vế
Trang 39Ví dụ:
“Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ Thơ đề “Kính gởi ông Hai Tương” Cả nhà bối rối không ít Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa” (B1/5)
“Cuốn sách Những làng nghề thủ công châu thổ sông Di mà cậu ém được của thư viện viết rằng nghệ nhân đầu tiên sáng tạo ra nghề đẽo chi bằng gỗ son là Út Hết, vào năm cậu ta mười ba tuổi” (A/47)
Và có một kiểu xưng hô với những người bằng tuổi hoặc hơn kém nhau một hai
tuổi nhưng rất thân nhau là kiểu kêu đối phương bằng “cha nội” Đây là một kiểu
xưng hô rất riêng, thể hiện sự thân mật của hai người đối thoại với nhau nhưng cũng
không làm mất đi yếu tố lịch sự trong giao tiếp Từ “cha nội” này xuất hiện 1 lần trong Sông và 1 lần trong Ngọn đèn không tắt
Nhìn chung, cách xưng hô của người miền Nam rất bình dân, gần gũi và tạo cho chúng ta cảm giác thoải mái chứ không gò bó, khuôn phép như lối xưng hô của người miền Bắc Tuy nhiên, hiện nay, người miền Nam có xu hướng là xưng hô
theo cách xưng hô của đại đa số người dân Việt Nam là thay vì gọi “má” thì thường gọi “mẹ” và tiếng gọi “ngoại”, “nội” cũng dần được gọi kèm với từ “ông”, “bà”
Điều này cho thấy cách xưng hô cũng dần được thống nhất trong cả nước
Và khi nhắc đến lối xưng hô của người miền Nam thì chúng ta sẽ nhớ ngay đến
những cái tên đậm chất vùng miền của nơi này như: Ba Điền, Hai Tương, Sáu
Bảnh, Mười Mực, Út Hết… Những tên gọi này thường chính là sự kết hợp của thứ
tự của nhân vật trong gia đình và tên của nhân vật (có thể là tên thật nhưng cũng có
Trang 40thể là biệt danh) Những cái tên này không chỉ tạo ra sự gần gũi, thân thiết mà còn
ngầm ẩn thông tin về các nhân vật, “và nếu có thời gian đi hỏi mọi người về lịch sử
của những cái tên, sẽ viết được một cuốn sách hấp dẫn” Và đây cũng là cách xưng
hô rất đặc trưng, rất riêng chỉ có người dân ở miền Nam mới sử dụng
Trong hai tập truyện Sông và Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng
tương đối nhiều từ xưng hô đặc trưng của người miền Nam, đây là một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người dân nơi đây Khi các từ xưng hô này đi vào tác phẩm, nó không chỉ đem lại những giá trị nghệ thuật nhất định mà còn mang cả không khí gia đình, không khí làng xã với những lối xưng hô bình dị của nơi này vào tác phẩm Cũng vì lẽ này mà những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư luôn được bạn đọc tiếp nhận một cách nồng nhiệt
2.2.2 Nhóm từ có liên quan đến sông nước
2.2.2.1 Nhóm từ chỉ địa hình:
Từ địa phương xuất hiện trong những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư mà đặc
biệt là trong tập tiểu thuyết đầu tay Sông và tập truyện ngắn đầu tay Ngọn đèn
không tắt đã cho thấy sự am hiểu về lời ăn tiếng nói hằng ngày, lối sinh hoạt của
người dân nơi đây Không chỉ vậy, tác giả còn là một người rất am hiểu về địa hình nơi đây, bằng chứng là trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, tác giả đã đưa vào rất nhiều nhóm từ chỉ địa hình Các nhóm từ này đã giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn và có thêm nhiều hiểu biết về địa hình của vùng đất quanh năm phù sa màu mỡ này
Để miêu tả cụ thể nhóm từ chỉ địa hình này, ta có sơ đồ sau:
thiên tạo nhân tạo thiên tạo nhân tạo
Sông rạch xẻo kinh mương rãnh láng lung đầm ao bầu đìa