Tiểu thuyết này một mặt phản ánh những tính cách, văn hóa, phong tục tập quán tiêu biểu ở người Việt Nam Bộ, mặt khác, tác phẩm còn thể hiện một lượng lớn vốn từ ngữ địa phương của giới
Trang 1PHƯƠNG NGỮ NAM BỘTRONG TIỂU THUYẾT
“VÌ NGHĨA VÌ TÌNH” CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH BÌNH Lớp: D13NV01
Khoá: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy
-o0o -
Bình Dương, 05/2017
Trang 2PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG TIỂU THUYẾT
“VÌ NGHĨA VÌ TÌNH” CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
Người hướng dẫn: TS HỒ VĂN TUYÊN Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH BÌNH Lớp: D13NV01
Khóa: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy
-o0o -
Bình Dương, 05/ 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các thầy (cô) giáo trong khoa Ngữ văn nói chung, các thầy (cô) giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ nói riêng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt khóa luận
Sự theo sát, hướng dẫn tận tình của thầy giáo – TS Hồ Văn Tuyên đã góp phần không nhỏ trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi Một lần nữa chúng tôi xin kính gửi đến thầy lời cám ơn chân thành nhất
Để có thể vượt qua những khó khăn trong quá trình làm bài khóa luận, một phần là nhờ sự giúp đỡ, động viên của các bạn lớp D13NV01 Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn rất nhiều
Dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian hạn hẹp, trình độ chuyên môn còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét, đánh giá từ phía thầy cô để chúng tôi hoàn thiện tốt khóa luận này
Chúng tôi xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4.1 Mục đích 3
4.2 Nhiệm vụ 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Phương ngữ 6
1.1.1 Khái niệm phương ngữ 6
1.1.2 Phân vùng phương ngữ Việt 6
1.2 Phương ngữ Nam Bộ 8
1.2.1 Vùng phương ngữ Nam Bộ 8
1.2.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ 9
1.2.2.1 Đặc điểm về ngữ âm 9
1.2.2.2 Đặc điểm về từ vựng – ngữ nghĩa 11
1.2.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp 12
1.3 Giới thiệu khái quát về Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình 14
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh 14
1.3.1.1 Cuộc đời 14
1.3.1.2 Sự nghiệp văn chương 14
Trang 61.3.2 Giới thiệu khái quát tiểu thuyết “Vì nghĩa vì tình” 15
1.3.2.1 Xuất xứ 15
1.3.2.2 Hoàn cảnh ra đời 15
1.3.2.3 Nội dung cốt truyện 16
1.4 Tiểu kết 17
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ 18
TRONG TIỂU THUYẾT VÌ NGHĨA VÌ TÌNH CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 18
2.1 Đặc điểm từ vựng 18
2.1.1 Lớp từ ngoại lai trong tác phẩm 18
2.1.1.1 Thống kê, so sánh 18
2.1.2.2 Đánh giá chung 18
2.1.2 Lớp từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động, tính chất,… trong tác phẩm 20
2.1.2.1 Thống kê, so sánh 20
2.1.2.2 Nhận xét chung 41
2.2 Đặc điểm ngữ pháp 42
2.2.1 Lớp từ ngữ xưng hô và cách xưng hô theo kiểu Nam Bộ trong tác phẩm 42
2.2.1.1 Thống kê, so sánh 42
2.2.1.2 Đánh giá chung 44
2.2.2 Phong cách khẩu ngữ trong câu văn 46
2.2.2.1 Thống kê, so sánh 46
2.2.2.2 Nhận xét, đánh giá 48
2.3 Tiểu kết 49
Chương 3: GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ 52
TRONG TIỂU THUYẾT VÌ NGHĨA VÌ TÌNH CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 52
3.1 Phương ngữ Nam Bộ góp phần khắc họa tính cách nhân vật 52
3.1.1 Phương ngữ Nam Bộ thể hiện sự bộc trực, thẳng thắn của nhân vật trong tác phẩm 52
3.1.2 Phương ngữ Nam Bộ thể hiện sự trọng nghĩa, hiếu khách của nhân vật trong tác phẩm 52
Trang 73.2 Phương ngữ Nam Bộ trong miêu tả đời sống của người dân địa phương 53 3.3 Phương ngữ Nam Bộ thể hiện lời ăn tiếng nói của người bình dân Nam Bộ 54 3.4 Tiểu kết 55 KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TÀI LIỆU KHẢO SÁT 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân và được chi phối bởi các yếu
tố như lịch sử, địa lí, văn hóa, xã hội, con người của một vùng đất Phương ngữ được nhà văn sử dụng để sáng tác văn chương sẽ dễ tạo nên những giá trị khác biệt
so với những tác phẩm được sử dụng ngôn ngữ toàn dân Đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp… của phương ngữ không chỉ thể hiện ở lời kể, ở ngôn ngữ miêu tả mà nó còn thể hiện ở ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm
Có thể nói trong các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỉ XX, Hồ Biểu Chánh là nhà văn đi đầu trong việc đã vận dụng phương ngữ Nam Bộ trong các sáng tác của mình Ngôn ngữ trong tác phẩm nào của ông cũng đậm màu sắc Nam Bộ Nguyễn
Vy Khanh trong bài viết Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của mình
đã nhận xét: “Hồ Biểu Chánh là tác giả khởi đầu sự nghiệp văn hồi đầu thế kỷ XX
và là một trong những nhà văn mà tác phẩm đã góp phần làm vững mạnh nền móng
sơ khởi cho nền văn học chữ quốc ngữ Ông được xem là nhà văn sở trường đưa vào trong trong tiểu thuyết tiếng nói thường ngày - còn được gọi là bạch thoại và khẩu ngữ, của người Nam kỳ Một lựa chọn có ý thức, vì ông theo truyền thống viết như nói, nói như thật nói, nói xuôi, tức không kiểu cách” [20; 5]
Hồ Biểu Chánh là một trong những thế hệ các nhà văn mở đường cho phong trào văn học Nam Bộ, bởi những tác phẩm ông viết đều mang đậm phong vị miền Nam Trong tác phẩm của ông, hình ảnh về xã hội và con người Nam Bộ hiện lên với đầy đủ nét tính cách, nếp sống, nếp suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và cả những phong
tục tập quán chỉ bằng những ngôn từ giản dị, mộc mạc nhưng đậm chất Nam Bộ
Vì nghĩa vì tình là một trong số những tiểu thuyết đầu tay của Hồ Biểu Chánh
Tiểu thuyết này một mặt phản ánh những tính cách, văn hóa, phong tục tập quán tiêu biểu ở người Việt Nam Bộ, mặt khác, tác phẩm còn thể hiện một lượng lớn vốn
từ ngữ địa phương của giới bình dân Nam Bộ Vốn từ ngữ ấy đã góp phần tạo nên
sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ Việt
Trang 9Có nhiều công trình nghiên cứu về phương ngữ trong tác phẩm của nhà văn
Hồ Biểu Chánh Tuy nhiên, nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Vì
nghĩa vì tình của ông thì cho đến nay chưa có công trình nào
Trên đây là những lí do chúng tôi chọn đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong
tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh”
2 Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về phương ngữ Việt và phương ngữ Nam Bộ sau đây:
Hoàng Thị Châu với Phương ngữ học Tiếng Việt: cuốn sách đề cập đến vấn
đề phương ngữ tiếng Việt, sự phân vùng phương ngữ tiếng Việt, đặc điểm về ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp của các phương ngữ sự khác biệt ngữ pháp; sự chia tách ngôn ngữ khỏi ngôn ngữ mẹ đẻ, đặc điểm ngôn ngữ của vùng đất mới [4]
Trong Phương ngữ Nam Bộ của mình, Trần Thị Ngọc Lang miêu tả sự khác
biệt về từ vựng, ngữ nghĩa giữa hai vùng phương ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ [3]
Gần đây, bộ sách đồ sộ gồm hai tập về Phương ngữ Nam Bộ ghi chép và chú
giải của Bùi Thanh Kiên cũng góp phần lí giải nguồn gốc hình thành ngôn ngữ Nam
Bộ thông qua quá trình cộng cư của các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long [5]
Hai cuốn từ điển về phương ngữ Nam Bộ như: Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, Từ điển phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái đã thống kê,
giải thích các từ ngữ được sử dụng ở Nam Bộ Hai cuốn từ điển này, các tác giả dành một số trang mở đầu để miêu tả, lí giải về những đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ [1]
Luận văn Phương ngữ Nam Bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của Đậu Khắc Nam và luận văn về Đặc sắc ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
của Nguyễn Quang Tuấn đều có những nhận xét bước đầu về tác dụng và giá trị mà phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh dưới góc độ ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa [23]
Trang 10Tuy nhiên, về phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết cụ thể Vì nghĩa vì tình
của Hồ Biểu Chánh thì hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
Chúng tôi muốn nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ được nhà văn Hồ Biểu
Chánh sử dụng trong tiểu thuyết cụ thể Vì nghĩa vì tình như thế nào, giá trị của
phương ngữ Nam Bộ được ông sử dụng trong tác phẩm này ra sao Từ đó, chúng ta hiểu hơn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm này, hiểu thêm về những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà và cho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc
Các công trình nghiên cứu về phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ, nghiên cứu
về ngôn ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh nói trên là những gợi ý, những tham khảo bổ ích để chúng tôi thực hiện đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong tiểu
thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh”
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đề tài tập trung tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ được nhà văn Hồ Biểu
Chánh thể hiện qua tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình
Chúng tôi cũng chỉ đi sâu tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ trên bình diện từ
vựng, ngữ pháp trong tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh mà thôi
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Đề tài tìm hiểu những biểu hiện của phương ngữ Nam Bộ về các phương
diện từ vựng, ngữ pháp trong tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh Đồng
thời nêu lên giá trị của phương ngữ Nam Bộ trong việc thể hiện nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm
Trang 114.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Sưu tầm, tìm hiểu các tài liệu, tư liệu liên quan đến phương ngữ Việt và phương ngữ Nam Bộ để rút ra những nét cơ bản của chúng
- Tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ được thể hiện trên hai bình diện chính: từ vựng và ngữ pháp thông qua việc thống kê, phân loại các từ ngữ Nam Bộ sử dụng
trong tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh
- Làm rõ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật mà phương ngữ Nam Bộ trong
tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình mang lại
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: nội dung cơ bản về phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ được chúng tôi thống kê làm cơ sở nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành thống kê và phân loại phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm về nhiều bình diện nhưng chủ yếu là về bình diện từ vựng
- Phương pháp miêu tả: Chúng tôi tiến hành phân tích ngữ âm, ngữ nghĩa của
từ ngữ địa phương, miêu tả lối diễn đạt của người Nam Bộ được thể hiện trong tác phẩm nhằm làm rõ phương ngữ Nam Bộ đã được sử dụng trong tác phẩm như thế nào Đồng thời, chúng tôi tiến hành phân tích giá trị văn học, giá trị về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm do việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ mang lại
- Phương pháp so sánh: Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành so sánh việc vận dụng phương ngữ Nam Bộ của các tác giả và các tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh, tiến hành so sánh từ địa phương Nam Bộ trong tác phẩm với từ toàn dân
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đưa ra những quan điểm, nhận định chung về vấn đề phương ngữ
được thể hiện qua tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh Qua nghiên cứu
về phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình của Hồ Biểu Chánh,
chúng tôi mong muốn có thêm những đánh giá về phong cách sáng tác của nhà văn
Hồ Biểu Chánh
Trang 12Hi vọng khóa luận sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên khi nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ cũng như nghiên cứu về tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mục lục, Tài liệu tham khảo, phần Mở đầu và phần Kết luận, bài
khóa luận còn được chia làm ba chương chính:
- Chương một: Cơ sở lí luận
Ở chương này, chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ, một số đặc điểm tiêu biểu của chúng Và ngoài ra, chúng tôi còn giới
thiệu khái quát về Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình
- Chương hai: Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Vì nghĩa vì
tình của Hồ Biểu Chánh.
Trước tiên đối với đặc điểm về từ vựng, chúng tôi phân thành hai lớp từ chính: lớp từ ngoại lai trong tác phẩm và lớp từ chỉ sự vật, hoạt động, tính chất, trong tác phẩm Lớp từ xưng hô trong tác phẩm và phong cách khẩu ngữ trong câu văn là hai vấn đề chính được đề cập trong đặc điểm về cú pháp
- Chương ba: Giá trị của phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết “Vì nghĩa vì
tình” của Hồ Biểu Chánh
Trong chương này, chúng tôi chú trọng khai thác hai giá trị tiêu biểu của tiểu thuyết: nội dung và nghệ thuật
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Phương ngữ
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học từng đưa ra những quan điểm, nhận định khác nhau về khái niệm phương ngữ:
Trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái đưa ra khái niệm ngắn gọn về phương ngữ Theo ông, “Phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa
phương của một ngôn ngữ chung toàn dân” [2; 9]
Huỳnh Công Tín trong Từ điển từ ngữ Nam Bộ cũng đưa ra nhận định tương tự: “Phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa phương từ một ngôn ngữ toàn
dân, do những tác động địa lí, xã hội mà hình thành” [1; 41]
Hoàng Thị Châu lại cho rằng: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học
để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [4; 29]
Giáo trình Phương ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang nêu lên quan niệm
sau: “Phương ngữ là phương tiện diễn đạt giao tiếp của một địa bàn (khu vực) dân
cư” [3; 10] Đồng thời tác giả còn giải thích thêm rằng: “hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có biến dạng địa phương và được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ của địa phương đó” [3; 10]
Nhìn chung, mỗi tác giả có một cách diễn đạt khác nhau về khái niệm phương ngữ Nhưng chúng tôi nhận thấy các quan niệm ấy đều có chung một ý
nghĩa và có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng: “phương ngữ là hệ thống ngôn ngữ
riêng biệt của mỗi vùng đất, mỗi địa phương khác nhau được biến thể từ ngôn ngữ toàn dân”
1.1.2 Phân vùng phương ngữ Việt
Cho đến thời điểm hiện tại, việc phân vùng phương ngữ Việt vẫn còn là một vấn đề đang được quan tâm và tranh cãi Trên thực tế đã có nhiều luồng quan điểm
Trang 14khác nhau về việc phân vùng phương ngữ Việt từ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong và ngoài nước
Học giả người Pháp – H Maspero (1912), trong công trình Nghiên cứu ngữ
âm lịch sử Tiếng Việt đã chia phương ngữ Việt thành hai vùng phương ngữ chính là
phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Cũng cùng quan điểm trên là hai nhà Việt ngữ học Liên Xô M.V Gordina và I.S Bystrov
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, Nguyễn Bạt Tụy đã chia phương ngữ Việt thành năm vùng phương ngữ chính: phương ngữ miền Bắc bao gồm các tỉnh Bắc Bộ và Thanh Hóa, phương ngữ Trung Trên bao gồm các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Trị, phương ngữ Trung Giữa bao gồm các tỉnh từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi, phương ngữ Trung Dưới bao gồm các tỉnh từ Bình Định Đến Bình Tuy và phương ngữ Nam là từ Bình Tuy trở vào
Hoàng Phê khi đưa ra ý kiến về vấn đề thống nhất và chuẩn hóa tiếng Việt cũng chỉ ra có hai phương ngữ cơ bản là phương ngữ Bắc và Phương ngữ Nam Riêng ở Trung Bộ, theo ông chỉ là một chuỗi phương ngữ nhỏ có tính chuyển tiếp
Nguyễn Kim Thản lại có cách chia ngắn gọn hơn, ông cho rằng tiếng Việt được chia thành sáu vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc bao gồm các tỉnh Bắc Bộ
và một phần của tỉnh Thanh Hóa, phương ngữ Trung Bắc tính từ phía Nam Thanh Hóa và hai tỉnh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên, phương ngữ Trung Nam tính từ tỉnh Quảng Nam đến Phú Khánh, phương ngữ Nam Bộ từ Thuận Hải trở vào
Hoàng Thị Châu trong Phương ngữ học Tiếng Việt cho rằng: “có thể phân
chia Tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ Bắc (viết tắt PNB) dùng trong giao tiếp
ở Bắc Bộ Phương ngữ này là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học Phương ngữ Trung (PNT) bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ Thanh Hóa đến Đèo Hải Vân Đây
là phương ngữ bảo lưu nhiều yếu tố cổ của Tiếng Việt Phương ngữ Nam (PNN) trải dài từ Đèo Hải Vân đến cực Nam của đất nước, là phương ngữ mới được hình thành dần dần trong vòng 5 thế kỷ gần đây” [4; 91]
Cách chia vùng phương ngữ Việt được cho là mới nhất và đây là quan điểm
mà chúng tôi đồng tình Đó là quan điểm của các tác giả Nguyễn Văn Ái, Cao Xuân
Trang 15Hạo, Bùi Khánh Thế, Hồ Văn Tuyên, Huỳnh Công Tín, v.v Quan điểm này chia phương ngữ Việt thành bốn vùng như sau: phương ngữ Bắc Bộ (gồm Bắc Bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Bắc Trung Bộ (gồm các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế), phương ngữ Nam Trung Bộ (gồm các tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Bình Thuận (Thuận Hải)) và phương ngữ Nam Bộ (gồm hai khu vực là miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến mũi Cà Mau)
1.2 Phương ngữ Nam Bộ
“Phương ngữ Nam Bộ là tiếng nói của người dân Nam Bộ,…là biến thể địa
lí của ngôn ngữ toàn dân” [1; 40], vì chịu sự chi phối và thừa hưởng từ những đặc
tính chung của phương ngữ là “một trạng thái ngôn ngữ toàn dân bị phân chia ra
do hoàn cảnh lịch sử để lại, làm biến dạng đi ít nhiều, tạo ra một số nét riêng biệt,
là thứ tiếng nói sinh động của nhân dân lao động, được sử dụng chủ yếu trong khuôn khổ của một vùng địa phương nhất định” [2; 33,34] , nên phương ngữ Nam
Bộ cũng như những phương ngữ khác đều phải tuân theo những quy luật của sự phát triển riêng biệt, gắn liền với đặc điểm xã hội và tâm lí con người ở địa phương
đó Dưới đây, chúng tôi nêu lên một số cách phân vùng phương ngữ Nam Bộ của một số nhà nghiên cứu dựa trên sự khác biệt về giọng nói, cách phát âm, từ ngữ, ngữ pháp,…từ đó làm cơ sở cho việc phân tích những đặc điểm của vùng phương ngữ Nam Bộ
1.2.1 Vùng phương ngữ Nam Bộ
Vùng phương ngữ Nam Bộ luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, cũng giống như việc phân vùng phương ngữ Việt, có rất nhiều cách phân chia khác nhau về vấn đề này:
Theo Nguyễn Bạt Tụy và Nguyễn Kim Thản thì cho rằng: phương ngữ Nam
Bộ được tính từ Bình Tuy trở vào đến mũi Cà Mau
Hoàng Thị Châu cho rằng: “Phương ngữ Nam (PNN) trải dài từ Đèo Hải
Vân đến cực Nam của đất nước, là phương ngữ mới được hình thành dần dần trong vòng 5 thế kỷ gần đây” [4; 91]
Trang 16Khi biên soạn cuốn Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái chỉ rõ cách phân vùng phương ngữ Nam Bộ: “ phương ngữ Nam Bộ từ Đồng Nai – Sông
Bé đến mũi Cà Mau” [2; 42], tức là gồm hai vùng:
- Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai
- Tây Nam Bộ, gồm các tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng,… đến mũi Cà Mau
Cách chia như trên trùng với ranh giới địa lí tự nhiên của Nam Bộ Đây cũng
là cách chia vùng phương ngữ Nam Bộ của nhiều nhà ngôn ngữ học khác như chúng tôi đã nhắc ở trên
1.2.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Trong cuốn “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, Hoàng Thị Châu quy ước :
“một phương ngữ được xác định từ một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [7; 90]
Theo đánh giá và nhận xét của các nhà ngôn ngữ học khác như Nguyễn Văn
Ái, Huỳnh Công Tín, Trần Thị Ngọc Lang, hiện nay phương ngữ Nam Bộ so với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác hầu như có sự khác biệt về phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa,…trùng với sự quy ước về việc xác định đặc điểm phương ngữ của Hoàng Thị Châu
Về đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ, chúng tôi tham khảo và có cùng nhận xét như của [1], [2], [3] và [4]
1.2.2.1 Đặc điểm về ngữ âm
Xét trên phương diện ngữ âm, rõ ràng phương ngữ Nam Bộ đã có sự chênh lệch đáng kể về hệ thống thanh điệu, hệ thống phụ âm đầu và phần vần trong cấu tạo âm tiết
- Thanh điệu:
Hệ thống thanh điệu gồm 5 thanh: ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng Trong khi đó
ở phương ngữ Bắc Bộ có thêm thanh ngã Sở dĩ có sự sai lệch này là do ở phương
Trang 17ngữ Nam Bộ khi phát âm, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một nên hệ thống thanh điệu ở vùng phương ngữ này bị lược bớt Ngoài ra, ba thanh: hỏi, ngã và nặng khi dùng trong việc phát âm ở phương ngữ Nam Bộ có phần nhẹ hơn so với phương ngữ Bắc Bộ
Các lớp từ mới hoặc từ láy được tạo ra có sự đa dạng và khác biệt ở phương ngữ Nam Bộ so với các phương ngữ khác một phần nhờ vào sự vận dụng 5 thanh
trong hệ thống thanh điệu của vùng phương ngữ này, ví dụ: ““Tăn măn”, “tằn
mằn”, “tẳn mẳn”, “tắn mắn”, “tặn mặn” đều mang ý nghĩa riêng, gần nghĩa; hoặc
“cạn xều”, “cạn xểu”, “cạn xếu”, “cạn xệu” là những từ đồng nghĩa có tác dụng láy từ kiểu như: “cạn xếu cạn xệu”, “cạn xều cạn xểu” Chỉ ít nghe “cạn xêu” , nhưng nếu ai đó nói: “cạn xêu” thì người nghe vẫn chấp nhận và hiểu trong khuôn khổ nghĩa của các từ nói trên” [2; 15]
- Phụ âm đầu:
Với số lượng 23 phụ âm đầu, hệ thống phụ âm đầu ở phương ngữ Nam Bộ có
khuynh hướng lẫn lộn giữa các cặp phụ âm giống với phương ngữ Bắc Bộ như : s/x
(sao sáng, xấu xí, xanh xao, ); tr/ch (tre, trộm, chó, chết,…)
Phương ngữ Nam Bộ có một đặc điểm về hệ thống phụ âm đầu giống với phương ngữ ở một số tỉnh miền Trung là đều có các phụ âm uốn lưỡi mà chữ viết
ghi là s, r, tr
Tuy không có phụ âm môi - răng /v/ ở dạng phát âm như ở phương ngữ Bắc
Bộ và phương ngữ ở một số tỉnh miền Trung nhưng trong cách viết thì vẫn còn Các
âm v, d, gi đều phát âm thành d, ví dụ: vào – dào – giào
Ở một vùng miền Đông, có dạng phát âm vần êm - ếp thành im – ip: nêm –
nim, bếp – bíp; th thành kh: thấp – khấp Một số nơi ở miền Tây phát âm r thành g,
tr thành t: róc rách – góc gách, cây tre – cây te Đây được gọi chung là hiện tượng
“thổ âm” của phương ngữ Nam Bộ
Khi đứng trước uy, ua, ươ thì các phụ âm như /k-, h-/ đều phát âm giống nhau, ví dụ: qua – hoa = wa
- Phần vần:
Trang 18Âm đệm /-w-/ vốn là một âm lướt nhẹ, lơi, do đó khi phát âm ở phương ngữ này, hoặc bị lược bỏ, ví dụ: ngoan – ngan, tuyến – tiến, hoặc được nhấn mạnh thành một âm chính (mất vai trò âm đệm), ví dụ: ngoan – ngon
Khi đứng trước /-m, -p/ thì: ở các âm đôi như: ie, ươ, uô mất yếu tố sau, ví dụ: yếm – ím, kiếp – kíp; nước – nức, lườm – lừm; uống – úng, luộm thuộm – lụm
thụm; còn ở các âm đơn o, ô, ơ đều phát âm thành ôm, ốp, ví dụ: gom – gơm = gôm, cọp – cợp = cộp
- Phụ âm cuối:
Ba cặp âm cuối là n – ng, t – c, y – i không có sự phân biệt khi phát âm, ví dụ: lan – lang, bát – bác, hay – hai Tuy nhiên, các vần: ang, ác và ai lại được phân
biệt khi phát âm ở phương ngữ này
Do đặc thù về tính cách thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy và thích nói chuyện ngắn gọn nên trong việc phát âm của người Nam Bộ ít nhiều đã có sự khác biệt và được tỉnh lược một số so với các phương ngữ khác trên đất nước Ngoài ra, với cấu trúc ngữ âm như thế này, phương ngữ Nam Bộ cũng hạn chế hơn trong việc hình thành thổ ngữ
1.2.2.2 Đặc điểm về từ vựng – ngữ nghĩa
Xét trên phương diện từ vựng, chúng tôi nhận thấy vốn từ vựng Nam Bộ có một số khác biệt so với tiếng Việt toàn dân:
Có một số lớp từ cổ của tiếng Việt tuy đã mất đi ở tiếng Việt chuẩn và một
số vùng phương ngữ khác, nhưng đối với phương ngữ Nam Bộ thì chúng vẫn còn tồn tại và được sử dụng với mật độ cao Hiện tượng này xuất phát nguyên nhân chính là do sự tác động của lớp cư dân tổ phụ ở vùng Bắc Trung Bộ di cư vào từ xa xưa Nhiều cứ liệu ngữ học đã chứng minh được các yếu tố tương tự giữa hai vùng
phương ngữ Trung Bộ và Nam Bộ này thể hiện qua một số từ như: cậy (nhờ), nhơn
(nhân), gởi (gửi),…
Vì là một vùng đất có nhiều tộc người từ các nước lân cận di cư đến sinh sống như Chăm, Khmer, Hoa,…và cả một thời gian dài bị nô lệ bởi thực dân Pháp
nên Nam Bộ có một vốn từ vay mượn khá phong phú, ví dụ: tía, chế, hia,
Trang 19miệt,…(vay mượn tiếng Hoa); len trâu, cà rá, cà ràng, (vay mượn tiếng Khmer); cà vạt, xẹc tuya, ghi đông,…(vay mượn tiếng Pháp)
Do sự ảnh hưởng về tính cách của người Nam Bộ, nên có một lớp từ vựng của phương ngữ này có hiện tượng biến âm Cách phát âm của người dân vùng này
đơn giản hóa hơn so với các vùng phương ngữ khác, lấy ví dụ như: lè lẹt (lòe loẹt),
tật bịnh (tật bệnh), hảo hớn (hảo hán), nhứt tâm (nhất tâm),…
Quy định về địa hình cũng là một lí giải cho sự hình thành phương ngữ Nam
Bộ Là vùng đất có diện tích sông ngòi dày đặc nên nơi đây đã hình thành một lớp
từ vựng phản ánh địa hình sông nước, cây cối, sản vật hết sức đa dạng, phong phú
và không bị nhầm lẫn với các phương ngữ khác: miệt, kênh, rạch,… (lớp từ chỉ sông ngòi); mù u, thốt nốt, xà bần, điên điển, dừa nước…(lớp từ chỉ cây cối); tôm sú, cá
sặt, cá rô phi,…(lớp từ chỉ sản vật)
Không chỉ có sự hình thành tên gọi sông nước, sản vật, cây cối,…mà ở phương ngữ Nam Bộ còn có những từ ngữ diễn tả hiện tượng của vùng sông nước:
nước ròng, nước nổi, nước lớn,…; từ chỉ tên gọi các phương tiện di chuyển trên
sông nước: ghe, xuồng, bè,…; từ ngữ gắn với hoạt động sinh hoạt: thôi nôi, đám hỏi,
đám nói,…Từ ngữ được dùng hết sức phong phú, được phân định trong sự nhận
thức tinh vi, ít khi nhầm lẫn
Với khuynh hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa thực tại, phương ngữ Nam
Bộ đã dần hình thành một hệ thống từ vựng có thể diễn đạt được nhiều khía cạnh, nhiều thực tại trong một hiện tượng từ ngữ khác Có thể lấy ví dụ điển hình như: để xưng hô trong quan hệ với cha, mẹ, ông, bà, cô, chú,…thì ở phương ngữ Bắc Bộ
phải dùng đến hai từ là con và cháu để phân biệt Thế nhưng ở phương ngữ Nam
Bộ, từ cháu bị lược bớt và chỉ sử dụng từ con để xưng hô chung
1.2.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp
Không chỉ khác biệt về từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ âm, phương ngữ Nam
Bộ còn có một điểm chênh lệch đáng chú ý so với các phương ngữ khác, đó là về phương diện ngữ pháp Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến cách xưng hô, từ dùng để xưng hô đối với phương ngữ này
Trang 20Dù là trong gia đình hay ngoài xã hội, người Việt Nam Bộ thường có cách
gọi kết hợp thứ bậc với tên, chẳng hạn: Ba Khía, Út Loan, Hai Lúa, Tư Tiền,…hay
từ xưng gọi họ hàng như: Mợ Ba, Cậu Năm, Thím Tư,… cũng đều được sử dụng
chung mà không phân biệt thân tộc hay xóm làng
Với cách gọi theo ngôi thứ ba mang tính chất giản lược âm: ảnh, chỉ, ổng,
bả, ẻm,…có hai luồng ý kiến Theo ý kiến thứ nhất thì đây là cách gọi thể hiện sự
thiếu tôn trọng và không lịch sự Còn đối với ý kiến thứ hai lại cho rằng cách xưng
hô như vậy nhằm cân bằng giữa các mối quan hệ với nhau, nới lỏng các quy luật về phép tắc xưng hô trong giao tiếp của người Nam Bộ
Xét về từ để xưng gọi giữa những người có tính tới quan hệ thứ bậc trong gia đình, cách gọi không nặng về nghi thức nhưng vẫn giữ được sự tôn kính Với người
lớn hơn cha mẹ thì gọi bằng ông, bà chứ không cần phân biệt cụ, kỵ, cố,…; với người ngang bậc với cha mẹ như cô, dì, chú, bác, cậu, mợ,…thì có thể dùng tên thứ
để xưng hô, ví dụ: hai, tư, út,…; cha mẹ hay ông bà khi gọi con cháu cũng dùng từ như: con (gái), thằng (trai) dù là con cháu đã trưởng thành và đã lập gia đình
Những cách xưng gọi như thế trong hệ thống phương ngữ dùng để xưng gọi ở Nam
Bộ thể hiện sự gần gũi, bình đẳng và thân thuộc giữa các mối quan hệ với nhau
“Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của phương ngữ Nam Bộ, nhất là trong buổi ban đầu vừa mới hình thành và tự khẳng định bản sắc của mình bằng con đường “khẩu ngữ” là chính, thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ đắc lực của “bút ngữ” (hình thức ngôn ngữ viết hay ngôn ngữ thành văn) để làm cơ sở cho việc củng cố và chuẩn hóa khẩu ngữ” [2; 34] Vậy có thể thấy rằng, ngoài từ xưng hô, thì khẩu ngữ
cũng chính là một phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển phương ngữ Nam Bộ Đây được xem là một hình thức giao tiếp nhằm tăng sức biểu cảm cho lời nói cũng như trong văn học
Trang 211.3 Giới thiệu khái quát về Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh
1.3.1.1 Cuộc đời
Một trong những cây bút tiên phong góp phần xây dựng sự nghiệp văn học Nam Bộ phải kể đến cái tên Hồ Biểu Chánh Ông là một nhà văn hay còn gọi là nhà viết tiểu thuyết xứ Nam Việt Ông tên thật là Hồ Văn Trung, còn có bút hiệu Thứ Tiên, tự Biểu Chánh Ông sinh năm 1885 tại Gò Công (Tiền Giang) trong một gia đình nghèo, đông anh em
Khi còn rất nhỏ, Hồ Biểu Chánh đã học và biết nhiều về chữ Nho Sau này, khi nhu cầu chữ Quốc ngữ được xem trọng, ông lại đổi sang học chữ Quốc ngữ và
có thêm một ngôn ngữ nước ngoài – chữ Pháp
Năm 1905, Hồ Biểu Chánh học và thi đỗ bằng thành chung Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm quan Ban đầu giữ chức thông ngôn, sau đó thăng dần đến chức Đốc Phủ sứ Sự nghiệp chính trị của ông kéo dài từ năm 1906 đến năm 1946
Đến cuối năm 1946, Hồ Biểu Chánh chính thức cáo quan về quê sống đời yên nhàn, làm bạn với văn chương Cũng từ đây, sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu nở rộ Năm 1958, Hồ Biểu Chánh mất tại Phú Nhuận
1.3.1.2 Sự nghiệp văn chương
Khi nhìn nhận về Hồ Biểu Chánh và những đóng góp của ông cho sự nghiệp văn chương Việt Nam, các nhà phê bình văn học đã có những lời nhận xét và ca ngợi hết sức xác đáng
Trang Quang Sen từng nhận xét về Hồ Biểu Chánh: “Nếu Trương Vĩnh Ký,
Huỳnh Tịnh Của là những người tiên phong đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ thì
Hồ Biểu Chánh là một trong những người đã làm cho chữ Quốc ngữ được phong phú Khi nói đến tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, người ta không thể không nói đến những đặc thù từ ngữ của ông Những nhân vật trong truyện của ông thường là những người bình thường và môi trường sinh hoạt hầu hết được diễn ra ở vùng đất phương Nam, vì vậy những từ ông dùng trong truyện hoàn toàn có tính cách Nam Bộ” [21; 21]
Trang 22Trần Bạch Đằng từng có những lời ca ngợi về tác phẩm của Hồ Biểu Chánh:
“Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh không thuộc hệ thống cách mạng, nhưng về tính
nhân bản thì chắc chắn không thể nào bị phủ nhận Chừng đó thôi đã là đáng trân trọng rồi Càng lâu về sau, ông trở thành nhà văn cổ điển của nền văn học Việt Nam và chắc chắn không phải nhiều nhà văn Việt Nam đương đại với chúng ta sống mãnh liệt và lâu bền được như vậy” [21; 12]
Với Trần Hữu Tá thì “Hồ Biểu Chánh đã viết 134 cuốn sách đa dạng về thể
loại Tất cả đều thấm đậm sắc thái Nam Bộ không thể lẫn với vùng quê nào khác…Ngay cả những cuốn ông “Việt hóa” tác phẩm nước ngoài Có thể coi ông là văn của nông dân Nam Bộ, của lòng mong muốn xác lập một mặt bằng nhân ái cho cuộc sống hằng ngày” [9; 12]
Với hơn 100 tác phẩm, trong đó phần lớn là các bộ tiểu thuyết lớn, vừa và nhỏ (hơn 64 bộ), Hồ Biểu Chánh đã thật sự trở thành cây bút sáng giá nối gót cho
sự nghiệp văn chương Nam Bộ, đặc biệt đối với nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Các tác phẩm tiêu biểu phải kể đến như: Cha con nghĩa nặng (Càn Long –
1929); Con nhà nghèo (Càn Long – 1930); Bức thơ hối hận (Gò Công – 1953); Cười gượng (Sài gòn – 1935); Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn – 1955); Hai chồng (Sài Gòn – 1955); Kẻ làm người chịu (Càn Long – 1928); Lá rụng hoa rơi (Sài Gòn – 1955); Lạc đường (Vĩnh Hội – 1937); Mẹ ghẻ con ghẻ (Vĩnh Hội – 1943); Nhơn tình ấm lạnh (Sài Gòn – 1925); Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn – 1926); Vì nghĩa vì tình (Càn Long – 1929);…
1.3.2 Giới thiệu khái quát tiểu thuyết “Vì nghĩa vì tình”
Trang 23nữa, cho nên ông đã sớm học tập tiểu thuyết Pháp rồi đem những khái niệm nghệ thuật mới châm chế với sở thích một công chúng trung lưu, tạo ra một lối tiểu thuyết có màu sắc riêng Trước năm 1925, khi văn gia miền Bắc còn đang dè dặt tập tành, ông đã cho ra đời những tác phẩm tuy không đạt tới một trình độ cao về nghệ thuật mới song đã có tất cả dáng dấp của một tiểu thuyết mới Đến năm 1929, bộ
tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình đã chính thức ra đời với sự pha trộn giữa hai nền văn
hóa, hai ngôn ngữ Á – Âu
1.3.2.3 Nội dung cốt truyện
Với dung lượng 129 trang, chia làm 19 chương, tiểu thuyết Vì nghĩa vì tình
đã khắc họa thành công tâm lí, giọng điệu, ngôn ngữ, tính cách, hoạt động và cách xưng hô của các nhân vật; cách miêu tả vật dụng trong sinh hoạt được xây dựng trong truyện để từ đó làm nổi bật giá trị của phương ngữ Nam Bộ mà Hồ Biểu Chánh sử dụng trong tác phẩm của mình
Nội dung cốt truyện được chúng tôi lược bớt như sau: Câu chuyện bắt đầu từ một bức thư nạp danh Ông Bác vật Trọng Quý vì có tư tình với em gái Lý Chánh Tâm là cô Lý Tố Nga nên hai người có chung một đứa con trai đặt tên là Phùng Sanh Chồng của Tố Nga cũng biết rõ điều ấy nhưng vì hám tiền nên chấp nhận đứa
bé ấy là con mình Vì là gái đã có chồng nên Tố Nga không muốn xấu mặt hai bên gia đình nội ngoại nên Tố Nga viết cho Trọng Quý một bức thư tuyệt tình và đề tên Cẩm Vân (vợ Chánh Tâm) cho mọi người không nghi ngờ rồi nàng tự vẫn Nhưng chẳng may, bức thư bị Chánh Tâm xem được, cũng vì mới du học bên Tây về chưa
rõ ngọn ngành, nên Chánh Tâm tức giận mà đánh đuổi vợ ra khỏi nhà và cho đứa con trai - Chánh Hội cho một tên ăn trộm, vì Chánh Tâm nghĩ đứa bé ấy không phải con mình
Mãi về sau khi hiểu ra mọi chuyện, Chánh Tâm vội vàng đi tìm vợ nhưng vì quá giận chồng nên Cẩm Vân xua đuổi và giao hẹn nếu Chánh Tâm tìm được con cho mình thì cô mới bỏ qua mọi việc Về nhà, Chánh Tâm và Trọng Quý bắt đầu lên kế hoạch đi tìm con Trong khoảng thời gian ấy, nhờ có sự an ủi, động viên tinh
Trang 24thần từ cô Năm Đào (em họ Trọng Quý) mà Chánh Tâm cũng phần nào nguôi ngoai
Trong suốt khoảng thời gian hơn năm năm tìm kiếm, cuối cùng anh cũng gặp được Chánh Hội, còn Chánh Hội trong thời gian sống tha phương cũng quen biết Hồi và trải qua bao nhiêu sóng gió cùng nhau cho đến ngày gặp lại cha Về phần Trọng Quý, chàng cũng chuộc được Phùng Sanh từ tay Phùng Xuân sau bao nhiêu kế hoạch chuộc con
Khép lại câu chuyện là hình ảnh hai vợ chồng Chánh Tâm nhìn Chánh Hội
và Quỳ nô đùa, nói chuyện với nhau vui vẻ, hạnh phúc Kể từ đó, Chánh Tâm, Cẩm Vân, Hồi (Chánh Hội) và Quỳ sống rất quây quần, sum họp bên nhau
1.4 Tiểu kết
Khi nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ, một mặt chúng tôi nêu khái quát về phương ngữ Việt, phương ngữ Nam Bộ và việc phân vùng phương ngữ của chúng Mặt khác, là một vùng đất có sự chung sống của nhiều tộc người khác nhau cùng sinh sống, Nam Bộ nhanh chóng hình thành một hệ thống phương ngữ thống nhất với nhiều sự đa dạng cả về ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa lẫn ngữ pháp Đó là lí do
để phần đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ có mặt trong chương cơ sở lí luận
Như vậy, những khái niệm về phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ và các đặc điểm của chúng là tiền đề cho việc phân loại, khảo sát đặc điểm của phương ngữ
Nam Bộ thông qua tác phẩm văn học Nam Bộ, cụ thể là tiểu thuyết Vì Nghĩa vì tình
của Hồ Biểu Chánh
Trang 25Chương 2 ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
TRONG TIỂU THUYẾT VÌ NGHĨA VÌ TÌNH
2.1.2.2 Đánh giá chung
Sau khi thống kê từ ngoại lai được Hồ Biểu Chánh sử dụng trong tiểu thuyết
Vì nghĩa vì tình, chúng tôi nhận thấy có một lượng từ ngữ thuộc phương ngữ Nam
Trang 26Bộ dùng để xưng hô đã vay mượn của người Hoa như tía, hóa, lứ Tuy nhiên, số lần
xuất hiện không nhiều Ví dụ, trong những cuộc trò chuyện giữa nhân vật Quỳ và
Hồi thường xuất hiện từ tía: “tao sợ tía tao lắm mầy Tía tao bạt tai thiệt là đau.”;
hay lúc nói chuyện với Chánh Tâm, khi cô Ba Hài kể chuyện quá khứ của Cẩm Vân
có dùng các từ xưng hô ngoại lai vay mượn người Hoa: “làm bậy làm bạ lấy chồng
Y Nam làm cái gì Hồi đó phải nghe lời hóa thì đâu có vậy”; “cha mẹ nó chết hết
Lứ là dì của nó, lứ nuôi nó.”
Các từ ngoại lai khác có nguồn gốc chủ yếu từ Pháp, dùng để gọi tên đồ vật
đã biến âm hoặc chưa biến âm như trái banh, khăn mùi soa, sa bô chê, xa
lông…hoặc một số từ vay mượn của người Hoa như mì thánh, cũng chỉ xuất hiện
rải rác và rất ít trong tác phẩm Khi miêu tả cuộc dạo chơi giữa Chánh Tâm và cô
Năm Đào, tác giả viết: “Cô Năm Đào thấy có một bụi sa bô chê nhành lá sum sê,
nhánh nào cũng như nhánh nấy, trái đơm bèo, lại oằn là đà sát đất.”; vật dụng
trong nhà cô Ba Hài được tác giả miêu tả: “Bộ ghế xa lông cái thì day vô, cái thì
day ra không đối diện, không ngay hàng.”; hay mãi đến chương XII của tác phẩm,
mới có đoạn viết: “ở phía trên lại có gánh mì thánh đi xuống, gõ lắc cắc cụp”
Nhìn chung, số lượng từ ngoại lai được tác giả dùng trong tiểu thuyết Vì
nghĩa vì tình là không cao Tuy nhiên, như vậy cũng không thể phủ nhận rằng,
chúng đã có một vai trò nhất định trong việc góp phần làm đa dạng và phong phú vốn từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ Cho đến nay, gần như các từ ngoại lai này đã được gọi bằng một cái tên thay thế và được sử dụng ở các phương ngữ khác Thế nhưng hầu hết trong các tác phẩm văn học Nam Bộ vẫn còn duy trì sử dụng vốn từ ngoại lai này rất nhiều, chúng nghiễm nhiên trở thành phương ngữ đặc trưng và không thể thiếu của Nam Bộ
Trang 27đong lúa gạo, bằng 40 lít
Trang 28chữ nhật, có nắp đóng
mở dựa vào bản lề, có kháo, dùng để đựng quần áo, đồ dùng
Trang 29ở được ngăn riêng bằng tường, vách
một số đặc điểm tự nhiên hoặc xã hội nào đó
còn gọi là tàu vị yểu
mối lái giữa mua và bán
phố
theo bờ sông, quả tròn giẹp, ăn chua và chát, có
rễ phụ mọc ngược lên khỏi mặt bùn, nhọn và
Trang 31biết để làm một việc gì,
từ dùng có thể hàm nghĩa xấu
Trang 32sự hài hòa với nhau
phản bác, không nhân nhƣợng
67 nhắc (ghế) nhấc (ghế), bê (ghế) 20
Trang 3368 bỏ cho (thức ăn) vào; để 18 Lấy cái cần cho vào bát
đó
nhanh
mang đi đâu đó