1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ ngữ nam bộ trong truyện ngắn của sơn nam

121 765 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huỳnh Công Tín đã cho ra đời gồm 27 bài báo được viết trong khoảng mười năm, trong đó: có 7 bài về văn chương Nam Bộ, 6 bài về những con người, tác giả, cũng như những nhân vật lịch sử ở

Trang 1

Trang

MỞ ĐẦU ……… 1

NỘI DUNG ……… 12

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12 1.1 Vùng đất Nam Bộ ……… 12

1.2 Phương ngữ Nam Bộ ……… 23

1.3 Nhà văn Sơn Nam ……… 38

1.4 Tiểu kết ……… 43

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM 2.1 Lớp danh từ riêng ……… 44

2.2 Lớp từ xưng hô ……… 51

2.3 Lớp từ chỉ sông nước ……… 54

2.3.1 Từ định danh địa hình sông nước ……… 56

2.3.2 Từ miêu tả vận động của dòng nước ……… 58

2.3.3 Từ chỉ phương tiện di chuyển trên sông nước ……… 65

2.3.4 Từ chỉ hoạt động của người dân miền sông nước ……… 63

2.3.5 Từ chỉ sản vật vùng sông nước ……… 65

2.4 Lớp từ khẩu ngữ ……… 71

2.5 Tiểu kết ……… 75

Chương 3 TÁC DỤNG CỦA TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM 3.1 Làm nổi bật cảnh sắc của thiên nhiên Nam Bộ ……… 76

3.2 Miêu tả cuộc sống, con người Nam Bộ ……… 79

3.2.1 Miêu tả cuộc sống Nam Bộ ……… 79

3.2.2 Miêu tả con người Nam Bộ ……… 85

3.2.3 Thể hiện phong tục Nam Bộ ……… 95

3.2.4 Thể hiện văn hóa ứng xử ……… 97

3.3 Tiểu kết ……… 104

KẾT LUẬN ……… 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học của mỗi vùng miền có một đặc sắc riêng, trong đó, văn học

Nam Bộ đã để lại cho độc giả những ấn tượng rất đậm đà Nói đến văn học Nam

Bộ trước 1945, ta thường nhắc tới các tên tuổi như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoàng Mưu, Phi Vân, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử, Bửu Đình, Phú Đức,… Sau năm 1945, những tác giả nổi bật thường được nhắc đến là Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Anh Đức, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng… Những tác giả này sống ở Nam Bộ và

chuyên viết về phương Nam Họ là kho tư liệu sống về con người, văn hóa, địa

lý, lịch sử của vùng đất phương Nam Thông qua truyện, ký cũng như những công trình khảo cứu về đất và người phương Nam của họ, chúng ta hiểu biết thêm về một thời oanh liệt của ông cha ta trong quá trình khai phá vùng đất mới này Các tác giả đã có góc nhìn về vùng đất và con người phương Nam tạo một dấu ấn sâu đậm cho độc giả hôm nay và mai sau Các nhà văn phương Nam đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia, dân tộc, tạo được tiếng vang lớn, làm cho độc giả trong và ngoài nước phải ngưỡng mộ

1.2 Nghiên cứu về các nhà văn của văn học Nam Bộ, chúng tôi thấy có

nhiều công trình viết về các tác giả như Anh Đức, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang

Sáng và đặc biệt là Sơn Nam Sơn Nam nổi tiếng với truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, xuất bản năm 1962, tập truyện được nhiều độc giả đánh giá rất cao Hương rừng Cà Mau đã chính thức khẳng định tên tuổi của nhà văn Sơn

Nam, góp thêm cho văn học miền Nam một tiếng nói riêng Sơn Nam đã hoàn thành bốn tập hồi kí, hơn 30 chục đầu sách văn học và khảo cứu; số lượng truyện ngắn khoảng 300 truyện; sự nghiệp sáng tác đó chính là những khám phá về vùng đất Nam bộ, những trang viết mang hơi thở của thiên nhiên, văn hóa và con người Nam Bộ

Trang 4

Tác phẩm của ông có nhiều giá trị đặc sắc, đặc biệt về mặt ngôn ngữ Do

đó, ông không chỉ được biết đến như một nhà văn hóa, nhà Nam Bộ học, mà còn là cuốn từ điển sống về Nam Bộ

1.3 Lâu nay, nhiều bài nghiên cứu, nhiều công trình khoa học, khi chọn

Sơn Nam làm đối tượng nghiên cứu, dường như đều tập trung khai thác những giá trị văn hóa Nam Bộ, thiên nhiên Nam Bộ mà ít nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ Sơn Nam - một thứ ngôn ngữ đặc Nam bộ

1.4 Tiếp xúc với những tác phẩm của Sơn Nam không chỉ mở ra cho

chúng ta một thế giới mới về vùng đất cực Nam của Tổ quốc mà còn có một thế giới ngôn ngữ được mở ra vừa quen vừa lạ Quen bởi nó là tiếng nói Nam

Bộ hàng ngày chúng ta dùng, lạ vì nó mang nhiều đặc trưng của vùng đất với những con người đặc thù, việc làm đặc thù (bắt rắn, bắt cá sấu, đốt than lậu,

ăn ong, …) với giang hồ tứ xứ, với hảo hớn kì lạ, huyền bí là một thứ ngôn ngữ đặc sệt miền Nam Những trang văn của tác giả thắm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện có cả thực có cả kỳ bí của thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả Những tác phẩm ấy

đã phổ biến trong giới học sinh, sinh viên, mà cả đối với độc giả khắp nơi trên mọi miền đất nước, họ xem nó như một áng văn về con người và vùng đất Nam Bộ khá điển hình Có được điều đó, không những là nhờ tình yêu của tác giả đối với miền đất Nam Bộ quê hương mà còn thể hiện ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn được thể hiển trong tác phẩm của mình Có thể nói, tất cả các sáng tác của các nhà văn Sơn Nam đều gắn liền với đời sống nông thôn Nam Bộ Đọc tác phẩm, chúng ta có thể cảm nhận được bối cảnh nông thôn trên một vùng đất bao la một cách khái quát, sâu rộng, đủ mọi sắc thái và diện mạo, ta như sống trong một bầu không khí dân dã, quê mùa nhưng bao giờ cũng thiết tha tình cảm, một thứ tình cảm rất đậm đà sâu lắng giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, một thiên nhiên hoang sơ,

xa vắng rất Nam Bộ

Trang 5

Từ những lý do trên, chúng tôi muốn đi sâu khám phá thế giới ngôn ngữ

này trong giới hạn Đặc điểm từ ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Sau khi đã tập hợp nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài, người viết nhận thấy đã có không ít những nhà ngôn ngữ học, khoa học, văn hóa nổi tiếng trong nước lẫn nước ngoài có mối quan tâm chung về vấn đề phương ngữ Không những thế, trong số họ còn có người đặc biệt quan tâm đến việc nghiên

cứu, thống kê, tập hợp những từ rặt miền Nam để soạn thảo ra những quyển

từ điển từ địa phương Nam Bộ có giá trị Đây là những bước tiến khá mới trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ vào những năm 1990 trở lại đây khi người ta dần dần nhận ra tầm quan trọng của phương ngữ, phương ngữ Nam

Bộ trong tiến trình chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt Trong việc đào sâu nghiên

cứu, thấy được vẻ đẹp về cả hình thức lẫn nội dung của những cây bút đặc sệt

chất Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Hồ tĩnh Tâm, Đoàn Giỏi và đặc biệt là Sơn Nam ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhờ vào việc vận dụng tinh tế vốn phương ngữ vào sáng tác văn học

Nó mang theo dấu ấn văn hóa riêng đậm chất Nam Bộ

2.1 Trước hết chúng tôi đề cập đến công trình Phương ngữ học tiếng Việt

của Hoàng Thị Châu Ở công trình này, tác giả thể hiện quan niệm của mình về

sự khác biệt từ vựng - ngữ âm giữa hai miền Nam - Bắc với tư cách là hai hệ

thống (phần II): biến đổi ngữ âm là sự biến đổi diễn ra đồng loạt trong mọi từ có

âm ấy không ngoại trừ một ngoại lệ nào [7, 70] Những biến đổi ngữ âm thường

là những âm tố nằm trong giới hạn của hai âm vị kế cận nhau trong hệ thống âm

vị của một ngôn ngữ các biến thể ngữ âm có thể xuất hiện trong những bối cảnh ngữ âm phân bố bổ túc hoặc ở thế không phân bố bổ túc [7, 71], biến thể do quy luật ngữ âm có tính chất đều đặn, nhất loạt [7, 72]

Hay tác giả Nguyễn Kim Thản trong Nguyễn Kim Thản tuyển tập đã đề cập trực tiếp đến phương ngữ Nam Bộ trong bài Thử bàn về một vài đặc điểm trong phương ngữ Nam Bộ Ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra được những đặc

Trang 6

điểm về từ vựng, ngữ âm đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ Đặc biệt, bài viết có sự so sánh giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ Từ đó, giúp độc giả hiểu rõ hơn đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ về biến đổi ngữ âm: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu

Đặc biệt, Đoàn Thiện Thuật trong Ngữ âm tiếng Việt (1999), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, trong phần giới thiệu âm đầu cũng có đề cập đến biến thể âm

đầu Tuy nhiên, tác giả nghiêng về biến thể ngữ âm âm đầu trong phương ngữ Bắc Bộ nhiều hơn Các vấn đề khác thuộc về biến thể ngữ âm trong một âm tiết nằm trong hệ thống các phương ngữ như biến thể ngữ âm - âm chính, biến thể ngữ

âm - âm cuối không được tác giả đề cập nhiều Tác giả khẳng định: Những biến thể địa phương của các âm vị rất đa dạng, cần được nghiên cứu riêng [65, 161]

Kế tiếp là công trình Phương ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ vựng- ngữ nghĩa với phương ngữ Bắc Bộ (1995) của Trần Thị Ngọc Lang

Đây là một trong những chuyên luận giúp người viết nhận ra có nhiều vấn đề liên quan đến đề tài Tác giả không chỉ đưa người đọc đến những khái niệm lịch sử hình thành đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ mà còn giúp họ phân biệt được sự tương đồng và dị biệt giữa phương ngữ hai miền Nam - Bắc Tác giả đặc biệt nhấn mạnh bình diện từ vựng - ngữ nghĩa với những dẫn chứng được phân tích hết sức rõ ràng, cụ thể Đây là những đóng góp quý báu của tác giả ở chuyên luận này Trong các kiểu khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa giữa hai phương ngữ Bắc - Nam, ở phần I, tác giả giới thiệu sơ lược về biến

thể ngữ âm và xếp biến thể ngữ âm vào kiểu thứ 6 trong phần này: Các biến thể ngữ âm này có thể do hệ thống ngữ âm của từng phương ngữ tạo nên hoặc do biến đổi lịch sử của từng vùng mà có sự sai khác Những sai khác này không đáng kể hoặc ở âm đầu [27, 59], hoặc âm chính [27, 60] hoặc ở thanh điệu [27,60], những biến thể ngữ âm đó chắc hẳn vốn bị chi phối bởi

một lĩnh vực nào đó, như qui luật chuyển đổi các phụ âm có cùng vị trí cấu

âm Cũng có một số vần biến trại do kỵ húy (trùng với tên trong hoàng tộc

triều Nguyễn), phương ngữ Nam Bộ ít chịu sự tác động này Chuyên luận này

Trang 7

chủ yếu nghiên cứu quá trình hình thành cũng như thời gian xuất hiện vốn từ phương ngữ và chỉ ra được các nơi phát sinh nguồn gốc xuất xứ của phương ngữ từ các thứ tiếng

Năm 2009, tác giả Trần Thị Ngọc Lang tiếp tục cho ra mắt bạn đọc bài

viết Chức năng văn hóa xã hội của tiếng Việt ở Nam Bộ Tác giả không chỉ

xem xét phương ngữ Nam Bộ trên bình diện từ vựng mà còn ngữ âm Đây là một bước chuyển biến mới, mở rộng hướng nghiên cứu cho những ai quan tâm đến phương ngữ Nam Bộ nói chung Tác giả bàn trực tiếp đến vấn đề phát âm của người Nam Bộ trong ngôn ngữ nói hàng ngày (khẩu ngữ) Tác

giả viết: Ở Nam Bộ do môi trường sống không quá khó khăn, khắc nghiệt nên cách phát âm khá thoải mái, không có sự cố gắng phân biệt, do vậy số lượng

âm và vần trùng nhau khá nhiều

Tác giả còn chỉ ra nguyên nhân chính yếu của việc hình thành phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác văn học là do xuất thân của người sáng tác cùng với điều kiện địa lí mà họ sinh sống Từ đó góp phần tạo nên hương vị đặc biệt và một nét đẹp mộc mạc, dân dã Mức độ sử dụng các yếu tố của phương

ngữ Nam Bộ cũng thay đổi qua các thời kì Tác giả viết: Thời kì đầu, do việc tiếp xúc phương ngữ còn hạn chế nên giọng văn của các tác giả còn đặc sệt chất Nam Bộ với một phong cách “viết như nói”

2.2 Gần đây nhất, trên các ấn phẩm như Ngôn ngữ, Ngữ học trẻ xuất hiện

các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu có sự quan tâm sâu sắc đến tầm quan trọng của phương ngữ nói chung, phương ngữ Nam Bộ nói riêng được sử dụng trong những trường hợp cụ thể

Tác giả Huỳnh Công Tín trong bài Một số đặc điểm phát âm tiếng Việt của người Khơ-me Nam Bộ vùng đồng bằng châu thổ (Ngữ học trẻ 1996) đã

bỏ nhiều tâm sức nghiên cứu trường hợp những biểu hiện ngữ âm ở thành phần phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu Cùng năm này,

tác giả lại tiếp tục ra mắt bạn đọc bài viết Tiếng Việt và vấn đề phân vùng phương ngữ [67,30-33] Đến năm 1997, tác giả lại bàn về Một số hiện tượng

Trang 8

ngôn từ của phương ngữ Nam bộ trong tiến trình chuẩn hóa tiếng Việt

[68,65-68], ông đã đưa ra nhiều trường hợp nhầm lẫn trong cách phát âm có tính phổ thông do xu hướng thích sự đơn giản và hiện tượng biến thanh ở các lớp từ, đại từ hóa chỉ đối tượng, không gian, thời gian, mức độ ( ) Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra một số trường hợp cụ thể về hiện tượng một số từ toàn dân và

từ địa phương có nét chung, tương tự hoặc không giống nhau

Đến Ngữ học trẻ 1998, tác giả Huỳnh Công Tín lại một lần nữa ra mắt độc giả bài viết Tính chất bán phương ngữ của phương ngữ Sài Gòn [69, 27-

31] xét trên bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

Đến năm 2009, Huỳnh Công Tín đã cho ra đời cuốn Từ điển từ ngữ Nam Bộ Soạn giả Huỳnh Công Tín đã nghiên cứu về từ ngữ Nam Bộ ở các

bình diện từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ âm, ngữ pháp và phong cách diễn đạt Như vậy, cảm nhận bản sắc Nam Bộ, TS Huỳnh Công Tín đã cho ra đời gồm 27 bài báo được viết trong khoảng mười năm, trong đó: có 7 bài về văn chương Nam Bộ, 6 bài về những con người, tác giả, cũng như những nhân vật lịch sử

ở vùng đất Nam Bộ, 3 bài về địa danh, phong tục tập quán của người Nam Bộ

và đặc biệt có tới 11 bài về phương ngữ Nam Bộ Tác giả của cuốn sách đã chú ý tới những vấn đề chung như sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ, tư duy

và văn hóa Nam Bộ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ chuẩn và các phương ngữ

Đến năm 2001, trên Ngữ học trẻ lại có một bài nghiên cứu liên quan

trực tiếp đến phương ngữ Nam Bộ với tiêu đề: Nhìn lại việc dùng từ địa phương trong văn học Nam Bộ qua một số thế kỉ của Nguyễn Tài Thái Nếu

như những bài viết trước, các tác giả quan tâm đến việc nghiên cứu phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ ở nhiều phương diện tổng thể nghiêng về lĩnh vực ngôn ngữ học, thì đến đây, lần đầu tiên tác giả đã đưa ra những nhận định khái quát nhưng sâu sắc, đề cập trực tiếp việc vận dụng phương ngữ Nam Bộ vào trong sáng tác văn học (văn học Việt Nam) trong thế kỉ XX Điều này có

ý nghĩa quan trọng giúp độc giả thấy được sự biến động của vốn từ ngữ địa phương trong một thế kỉ qua; thấy được thực tế sử dụng và quan niệm về cách

Trang 9

dùng từ địa phương trong quá trình chuẩn hóa ngôn ngữ dân tộc Tác giả đi vào khai thác các từ địa phương ở từng giai đoạn được phản ánh trong văn học cùng với thực trạng và quan niệm về cách dùng từ địa phương trong văn

học thế kỉ XX Cuối bài viết tác giả tổng kết: Trên đây chúng tôi vừa sơ lược trình bày về mức độ và quan niệm của việc sử dụng từ địa phương trong văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến nay Qua đó có thể thấy rằng phương ngữ trong sáng tác văn học Nam Bộ trong suốt một thế kỉ qua đã phát triển và có những biến đổi rõ rệt, tạo nên một xu hướng chung là hướng tới chuẩn hóa ngôn ngữ Xu hướng này thể hiện rất rõ trong việc dùng từ có chọn lọc và hạn chế hiện tượng sai lỗi chính tả như đã phân tích ở trên [36, 474] Điều này

cho thấy, tác giả có sự quan tâm đặc biệt về mặt từ vựng phương ngôn trong tác phẩm văn học với ưu, nhược điểm của nó trong quá trình chuyển tải nội dung, nhất là tạo mạch cảm xúc đến người đọc

Cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam do Hội khoa học lịch

sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, luật học ở trong và ngoài nước đã trình bày một cách khách quan, có hệ thống và cô đọng những tư liệu, chứng

cứ cơ bản về lịch sử phát triển của vùng đất Nam Bộ

2.3 Đáng lưu ý là các vấn đề: Thiên nhiên và con người Nam Bộ qua

truyện ngắn Sơn Nam, luận văn cử nhân Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh của Đoàn Trần Ái Thi, năm 1996; Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 - 1975, luận văn thạc sĩ của Lê

Thị Thùy Trang, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm

2003; Đinh Thị Thanh Thủy với đề tài Văn hóa và con người NamBộ trong truyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hồng với Nghệ thuật kể chuyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ, Trường đại học Vinh, đã đánh giá rất

cao diện mạo, phong cách văn chương của Sơn Nam

Trang 10

2.4 Năm 2008, nhà văn Sơn Nam đi vào cõi vĩnh hằng, đã có nhiều bài

viết nghiên cứu về ông, đăng trên hàng loạt các trang báo trong và ngoài

nước Chu Văn Sơn trên http://www.phongdiep.net có bài Sơn Nam, Sẽ là trồng cây đước tiền kiếp trên châu thổ, đánh giá cao tài năng của Sơn Nam; Đặng Tiến trên một website nhận xét: Sơn Nam, nhà văn, tác giả hàng đầu trong nền văn học Việt Nam đương đại Trên báo điện tử http//www.dantri.com có bài viết của Lê Phương, Lê Bá Lư, Sơn Nam - Nhà văn, nhà khảo cứu văn hóa, đã đánh giá cao vị thế, phong cách của Sơn

Nam… Một số tác giả khác cũng có bài viết đánh giá, nhận xét về nhà văn

Sơn Nam Tác giả Nguyễn Mạnh Trinh với bài viết Sơn Nam, ông già Ba Tri của đồng bằng Nam Bộ đã có cách nhìn bao quát, ấn tượng đầy chiêm

nghiệm: Sinh hoạt một thuở của những người di dân Nam Bộ được sống lại

trong Hương rừng Cà Mau Những câu hò trong Con Bảy đưa đò mang tâm

tình của người đi khai hoang Mùa nước nổi những đàn trâu bò phải di chuyển lên vùng cao, một nét đặc thù của người miền đồng bằng trong Mùa len trâu Cũng như với Một cuộc biển dâu, người chết trong mùa lụt phải thủy táng chứ không thể chôn được dưới ba thước đất Rồi, đóng gông ông thầy Quýt, rồi cây huê xà, người ác với những mưu mô lẫn lộn ở cạnh người hiền và rốt cuộc cũng là lẽ trả vay của trời đất tuần hoàn

Những nhân vật như ông Từ Thông, như lục cụ Tăng Liên, như bác Vật

Xà Bông, như cậu xã Nê, như ông Tư Đức, như Ông Tiên sư tổ giăng câu,…

có nhiều nét sống thực nhưng cũng có nhiều nét của những chuyện kể của những tò mò muốn tìm những nét đặc sắc của một thời đã được ghi dấu trên lịch sử… Nhân vật của Sơn Nam có nét dân gian, gần cận với sinh hoạt bình dân nên người đọc dễ hòa mình vào tâm cảm của họ…

Trong khi đó, theo nhà thơ Hoài Anh: Không cứ biên khảo, nghiên cứu ngay cả truyện ngắn ông cũng viết bằng giọng kể giản dị như có người ngồi nghe trước mặt mình Điều này ta thấy rõ trong Hương rừng Cà Mau Vùng đất lục tỉnh với Sơn Nam như đất vườn quê ông Ông là một lão nông dân cày

Trang 11

ruộng văn chương, hiểu cặn kẽ ngóc ngách thửa ruộng của mình Tức là, nhà thơ đã nhìn nhận Hương rừng Cà Mau với góc nhìn gần với thi pháp truyện

ngắn hiện đại mà cụ thể là giọng kể

Sau khi Sơn Nam mất, một nhà báo lão thành nguyên là Trưởng ban văn nghệ Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, đã có lời tri ân về những

tác phẩm của Sơn Nam, mà hiển nhiên với Hương rừng Cà Mau là chính: Đọc Sơn Nam người ta kinh ngạc về sự độc đáo của văn phong Ông viết như nói, như một ông già Nam Bộ kể chuyện đời trong quán cà phê Nhưng sức nặng của thông tin và cảm xúc của người viết khiến lời văn biến hóa khôn lường Đừng có ai đi tìm thể loại hay bố cục trong một truyện ngắn, hay một cuốn sách của Sơn Nam Nhưng cầm nó là phải đọc đến trang cuối vì càng đọc càng thấy yêu nhân vật của ông, càng thấy yêu mảnh đất Nam Bộ, miền cực Nam của tổ quốc

Còn TS Chu Văn Sơn lại nhìn truyện của Sơn Nam đầy chất thơ: Ông

đã tích tụ vào mình cả một nền văn minh mà chính ông đặt là văn minh miệt vườn cả một nền văn hóa mà chính ông đã gọi văn hóa sông nước để làm trữ lượng cho một đời cầm bút Vì thế, khi ông thả những dòng chữ trên trang giấy, thì đó không còn là những nét mực, mà đó sự thực là những ngọn sóng Cửu Long sóng sánh phù sa Hơi thở Nam Bộ, không khí miệt vườn thấm đượm chan hòa đến từng dòng văn, từng lời chú thích

Không ngọt ngào như TS Chu Văn Sơn, Hà Văn Thương nhận xét kiểu đặc sệt Nam Bộ: Sơn Nam là ông già kể chuyện xưa, lối kể cũng xưa Văn ông giản dị, ngắn gọn có khi cộc lốc, ông nói cho người ta hiểu chứ không cốt làm văn Đấy là cái chất của ông

Qua những cách nhìn nhận đánh giá trên, ta thấy tất cả các nhà văn, nhà phê bình đều nhìn nhận và đánh giá cao các tác phẩm của Sơn Nam, đặc biệt là sự đóng góp của ông về mặt nội dung, mà nội dung này lại không hoàn toàn giống như những loại truyện ngắn khác mà chúng ta vẫn quen thấy nơi những nhà văn hiện đại: không dữ dội, không giật gân, không ủy mị

Trang 12

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm các lớp

từ trong một số truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam, cụ thể là trong tập truyện

ngắn Hương rừng Cà Mau tập 1, tập 2 và tập 3 (65 truyện)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thống kê các lớp từ địa phương Nam Bộ được nhà văn Sơn Nam sử dụng trong tác phẩm như: danh từ riêng chỉ tên nhân vật, từ định danh địa hình sông nước, từ miêu tả vận động của dòng nước, từ chỉ phương tiện di chuyển trên sông nước, từ chỉ hoạt động của người dân miền sông nước, từ chỉ sản vật vùng sông nước…

- Tập trung làm nổi bật những nét đặc sắc về cách dùng từ ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam

4 Phạm vi tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Tư liệu khảo sát

Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ của 65 truyện trong

Hương rừng Cà Mau (3 tập) nhằm góp phần thấy được đóng góp của tác giả

về mặt ngôn ngữ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học để thu thập và phân loại tư liệu

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp để làm nổi bật đặc sắc ngôn ngữ truyện ngắn của Sơn Nam

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu để nhận diện cá tính ngôn ngữ truyện ngắn của Sơn Nam

5 Đóng góp của đề tài

Trang 13

Qua nghiên cứu ngôn ngữ trong truyện ngắn của Sơn Nam, luận văn nhằm khẳng định giá trị to lớn, vị trí vai trò của truyện ngắn trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam, truyện ngắn Việt Nam Từ việc tìm hiểu một số đặc ngôn ngữ trong 65 truyện ngắn của Sơn Nam, luận văn nhằm khẳng định đóng góp của ông đối với văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam, khẳng định vai trò to lớn trong việc thể hiện đặc trưng văn hoá - xã hội của phương ngữ Nam Bộ

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm từ địa phương Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam Chương 3: Vai trò của từ địa phương Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam

Trang 14

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Vùng đất Nam Bộ

1.1.1 Về địa lí

Nam Bộ nằm ở phía Nam của nước Việt Nam là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng thuộc hạ lưu sông Mê Kông, sông Vàm Cỏ và sông Đồng Nai, tiếp giáp với biển Đông Vùng đất Nam Bộ mang đặc điểm chung của thiên nhiên Việt Nam: bán đảo, nhiệt đới, gió mùa Là một vùng đất mở

và động, đa dạng về sinh thái, thiên nhiên vừa ưu đãi lại vừa khắc nghiệt Vùng đất Nam Bộ có độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước

ta Toàn vùng có đến 4.000 kinh rạch, dài tổng cộng 5 00 km [32], với hai hệ

thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù

sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên đây là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát

Lái, cảng Hiệp Phước, cảng Phú Mỹ Hệ thống sông Cửu Long đã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long mà diện tích lên tới 39 34 km² [32] Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao

thông đường biển quốc tế, Việt Nam với Đông Nam Á, Việt Nam với phương Tây, ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện, gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung

Khí hậu Nam Bộ mang tính chất nhiệt đới gió mùa, thời tiết có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng Ở Nam Bộ, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, những tháng còn lại không mưa gọi là mùa khô nên hầu như nơi đây nóng quanh năm và không có mùa đông Riêng đồng bằng sông Cửu Long, từ tháng

8 trở đi thường có lũ lụt, ngập khoảng 25% diện tích (Đồng Tháp, An

Trang 15

Giang,…) và nhiệt độ trung bình cả năm là 260C Các ngành kinh tế như nông, lâm, ngư nghiệp, nhất là nông nghiệp trồng lúa nước phát triển rất thuận lợi nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết điều hòa Bên cạnh phèn chua, nhiễm mặn, ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa nắng luôn luôn là những thách thức cho vùng đất nơi đây

Hiện nay, vùng đất Nam Bộ có thế mạnh về nông nghiệp, công nghiệp, thương mại - dịch vụ, thủy sản lớn nhất nước ta với 19 tỉnh thành Vùng đất hơi cao ở vùng phía Đông Bắc, thường được gọi là miền Đông Nam

Bộ, độ cao trung bình từ vài chục mét đến khoảng 200 nét trên mực nước biển Miền Đông Nam Bộ có 6 tỉnh thành là Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh Còn miền Tây Nam Bộ có 13 tỉnh thành như: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ và hàng trăm đảo lớn nhỏ, có đường biên giới bộ giáp với Campuchia dài gần 880 km Dân số toàn vùng Nam Bộ hiện nay có trên 30 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của cả nước (cả nước trên 80 triệu người), trong đó, người Khmer khoảng 1,3 triệu người, người Hoa trên 600.000 người, người Chăm trên 14.000 người, người Kinh gần 28 triệu người và một số dân tộc khác sinh sống ở vùng này nhưng với số lượng ít

1.1.2 Về lịch sử

Tiến trình lịch sử của Nam Bộ khác với những vùng đất khác, nó không phát triển liên tục mà bị đứt quãng, điển hình là trên vùng đất này đã từng có vương quốc Phù Nam cổ xưa với nền văn hóa Óc Eo một thời phát triển rực rỡ Những gì mà người ta nói về Nam Bộ ngày nay thường chỉ giới hạn trong phạm

vi trên dưới ba trăm năm Người Việt di dân vào Nam có thể nói bắt đầu khi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn nổ ra và sau đó là cuộc di dân thực sự vào thời nhà Nguyễn đầu thế kỷ XVIII khi nhà Nguyễn nắm được chính quyền Đàng Trong và kêu gọi những người giàu có vào khai khẩn trên đất Đồng Nai, Gia Định Trong mấy trăm năm định hình và phát triển, Nam Bộ đã tạo nên cho

Trang 16

mình một lịch sử với giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, độc đáo và một bản sắc rất riêng so với các vùng miền khác

Cách nay khoảng 4000 năm đến 2500 năm, những cư dân bản địa của văn hóa Đồng Nam từ vùng miền Đông Nam Bộ như Stiêng, Chơ Ro, Mạ

đã di cư xuống đồng bằng sông Cửu Long và định cư ở đó Từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VII, hình thành vương quốc Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa

Óc Eo Từ thế kỷ thứ VII, Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm sau đó chia thành Lục Chân Lạp (địa phận Campuchia hiện nay) và Thủy Chân Lạp (địa phận Nam Bộ hiện nay) Thủy Chân Lạp hoang vắng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII Chỉ khoảng thế kỷ XIII, người Khmer mới từ Campuchia đến cư trú rải rác tạo thành những nhóm nhỏ tại Thủy Chân Lạp Từ thế kỷ thứ XVI đến XVII, cư dân Việt từ Đàng Trong (sau đó từ miền Bắc, miền Trung) di

cư vào lập nghiệp ngày càng đông Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định; Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá và thiết lập chủ quyền ở Nam Bộ một cách hòa bình hữu nghị

Trên vùng đất Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã thi hành chính sách khuyến khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân Trước làn sóng tự phát di cư vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo những người nông dân Thuận - Quảng, Chúa Nguyễn cho người đứng ra tổ chức các cuộc di cư này và lập thành các xã, thôn, phường, ấp của người Việt Chúa Nguyễn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu có ở Thuận - Quảng đem tôi tớ và chiêu

mộ nông dân lưu vong vào đây khai hoang lập ấp, chính sách này được thực thi lâu dài và nhất quán như một phương thức khai hoang chủ yếu ở Nam Bộ Lực lượng khai hoang chủ yếu là lưu dân người Việt và một bộ phận những người dân gốc Chăm Pa, Chân Lạp Ngoài ra, một số lính đồn trú, một số người Trung Quốc, người dân tộc thiểu số khác cũng được sử dụng vào việc khai khẩn và canh tác

Trang 17

Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, lãnh thổ

và biên giới của Việt Nam ngày càng được củng cố và từ lâu đã trở thành thực thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ Với truyền thống kiên cường, bất khuất và tinh thần lao động cần cù của cả dân tộc, các thế hệ người Việt đã viết nên những trang sử hào hùng trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển vùng đất Nam bộ, góp phần làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt Nam

Trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam, các tác giả đã

nghiên cứu lịch sử Nam Bộ bắt đầu từ văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam, nghĩa là từ khi nhà nước đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công nguyên Cuốn sách đã trình bày quá trình nước Phù Nam suy sụp, vùng đất Nam Bộ thuộc lãnh thổ nước Chân Lạp từ thế kỷ VII cho đến thế kỷ XVI, rồi

sự xuất hiện những nông dân người Việt, người Hoa vào khai phá lập nghiệp

từ thế kỷ XVII Từ đây, cư dân bản địa người Khmer, người Chăm và một số tộc người thiểu số khác cùng người Việt, người Hoa mở rộng công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế Ở thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt Chu Đạt Quan, một người Trung Quốc có dịp đến Chân Lạp vào năm

1296 - 1297, đã mô tả vùng đất này như sau: Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng [22, 25] Trong suốt quá trình lịch sử

đó, cộng đồng cư dân các dân tộc trên đất Nam Bộ ngày càng gắn bó với nhau trong vận mệnh chung của quê hương và đất nước với nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ vùng đất Nam Bộ

Trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế, Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Cuốn sách

Trang 18

dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống của cộng đồng cư dân Nam Bộ

và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc ít người khác và những nét đặc trưng của không gian lịch sử, văn hóa Nam Bộ Các tác giả nhấn mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ trong lao động sáng tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trong đấu tranh kiên cường, bất khuất bảo

vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam Có thể khẳng

định rằng chân lý Nam Bộ là đất Việt Nam [22, 51], Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi [22, 59] đã được làm sáng tỏ trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ

- Việt Nam do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, phát hành cuối năm 2006

Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, đánh chiếm Nam Bộ, người dân Nam Bộ đã đoàn kết kháng chiến chống ngoại xâm Đặc biệt, từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1930), nhân dân Nam Bộ đã kiên cường chiến đấu góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám và tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đi đến thắng lợi hoàn toàn, cùng nhân dân

cả nước xây dựng Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau và văn bản các hiệp ước quốc tế cũng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ

Như vậy, là đến năm 1945 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó

có Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam

Bộ là của Việt Nam Đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn

nhượng cho Pháp đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý Chính phủ

Pháp đã khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với Vương quốc Campuchia Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam bộ được tất cả các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận như Hiệp định Giơneve (1954) giữa nước ta và Pháp ký, Hiệp định Pari (1973) giữa nước ta và Mỹ ký

cũng được cộng đồng quốc tế thừa nhận Như vậy, bằng bao xương máu, hy

Trang 19

sinh, nhân dân Nam bộ và cả nước đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; giữ vững độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thống nhất giang sơn Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ và hàng triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã đổ máu hy sinh để bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Trước mọi âm mưu xâm chiếm hoặc chia cắt đất nước, dù chỉ là một tấc đất, trong đó có vùng đất Nam bộ, toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam đều không tiếc máu xương cầm súng đứng lên bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình [22, 61]

Vùng đất miền Nam màu mỡ đã sản sinh ra rất nhiều tác gia chuyên viết về cảnh vật và con người trên quê hương của họ như: Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,… Họ xứng đáng được xem như những cây bút tiêu biểu, góp tiếng nói khẳng định những giá trị của văn chương Nam Bộ, làm cho nền văn học Việt Nam có thêm những thành tựu mới ở thế kỷ XX

1.1.3 Về văn hóa

Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú Nam Bộ tuy là vùng đất mà tổ tiên ta mới khai phá và lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Nam Bộ vốn là miền đất hoang vu, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy, nhiều sông rạch, đầm lầy, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh,

trên rừng có nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý, dưới nước tôm cá bạt ngàn, còn có rùa, cá sấu, Người nông dân Nam Bộ thì lao động cần cù, dũng cảm, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước để cải tạo thiên nhiên, phòng chống thú

dữ để sản xuất Ðể tồn tại và phát triển giống nòi, sản xuất và bảo vệ sản xuất tất yếu các gia đình nông dân trong họ tộc, trong xóm làng liên kết nhau trong lao động, phá rừng làm ruộng rẫy, đào sông rạch, làm đường giao thông, săn

bắn thú dữ, vừa cưu mang đùm bọc lẫn nhau, sống theo đạo lí thương người

Trang 20

như thể thương thân, giúp đỡ nhau chén cơm manh áo, con giống, hạt giống

Đúng với câu ca truyền miệng gần như nông dân Nam Bộ ai cũng thuộc lòng

một miếng khi đói bằng cả gói khi no, trong sản xuất cũng như trong đời sống

Tuy cuộc sống vô cùng cơ cực, ngày ngày phải lao động trên đồng ruộng, đêm đêm nam nữ quây quần giã gạo, chày đôi, chày ba, rồi ca hát hoặc hò đối đáp dưới ánh trăng, tình quê tuy mộc mạc nhưng thấm đậm nghĩa tình

Những người nông dân có mặt ở vùng đất Nam Bộ là những người nông dân đến từ miền Trung, miền Bắc Tuy buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất hoang sơ trăm đắng ngàn cay, bởi rừng thiêng nước độc, người nông dân thiếu cả công cụ, phương tiện lao động nhưng mọi người đều kiên cường

bám trụ đến đây thì ở lại đây/ trăm năm bám rễ xanh cây không về Bám rễ

xanh cây không chỉ có nghĩa là lao động sáng tạo ra của cải vật chất, mà sự xanh cây bám rễ còn chỉ mối quan hệ giữa người với người từ bốn phương hội

tụ trên mảnh đất Nam Bộ ấm áp tình người Tấm lòng người nông dân Nam

Bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thứ cho kẻ gian ác, điêu ngoa Họ coi trọng nhân nghĩa, với lòng thương người bao la vô tận, nhưng họ cũng rất ghét bọn

gian tà, xu nịnh, những kẻ tham phú phụ bần Nếu ai là người lương thiện có

đạo đức, sống trung thực, nhân nghĩa dẫu từ nơi đâu đến với xóm làng Nam

bộ thì cũng được người nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa tứ hải giai huynh đệ, sẵn sàng cưu mang giúp đỡ người đói rét, bệnh tật anh em như thể tay chân hay là Bầu ơi thương lắy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn như dân gian ta thường nói

Nam Bộ là vùng đất của sự tiếp xúc văn hóa Khi nghiên cứu về Nam

Bộ, dễ nhận thấy diện mạo văn hóa hết sức đặc sắc của Nam Bộ được biểu hiện ra ở chỗ: một mặt, xuất hiện những hiện tượng, những đặc điểm riêng chỉ

có ở Nam Bộ, không thấy ở bất cứ vùng miền nào; nhưng mặt khác, những hiện tượng, những đặc điểm ấy vẫn là sự tiếp nối, hơn nữa, còn là một sự tiếp nối làm sâu sắc, phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt Cái đặc sắc ấy là

Trang 21

do Nam Bộ đi đầu trong tiếp xúc văn hóa, xét trong tương quan với cả nước Ngay từ thời kỳ khai phá vùng đất mới này ở các thế kỷ XVII - XVIII, những truyền thống văn hoá Việt, Khmer, Hoa, Chăm, đã gặp gỡ nhau, đan xen và hòa trộn với nhau Do vậy, Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cư dân nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer…), đến từ khắp mọi miền của đất nước (Bắc –

Trung – Nam) và khu vực Mức độ tứ xứ cao nhất nước Văn hóa Nam Bộ là

sản phẩm của quá trình dương tính hóa trong không gian và thời gian Nó là khâu cuối cùng trong quá trình dương tính hóa trong không gian: từ Bắc qua Trung vào Nam Nó cũng là khâu cuối cùng trong quá trình dương tính hóa theo thời gian: từ lớp văn hóa bản địa qua lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa đến lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Trong công cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nam Bộ cũng đi trước cả nước Chính từ miền đất này, những cuộc cách tân đã khởi phát, sau đó lan ra

cả nước: sản xuất hàng hóa lớn và thương mại quốc tế, văn học quốc ngữ, ăn uống (đồ Tây), mặc (âu phục), âm nhạc (tân nhạc, cải lương), nghề in và xuất bản, nghề báo Đó là những lĩnh vực quan trọng đã làm thay đổi cách nghĩ, cách cảm của cả dân tộc Ngày nay, Nam Bộ cũng đang dẫn đầu trong công cuộc đổi mới và tái hội nhập của đất nước với thế giới

Như vậy, công cuộc khai phá Nam Bộ xét về mặt văn hóa đã mở ra cho cả dân tộc con đường trở về với Đông Nam Á cội nguồn, đồng thời cũng

là con đường đến với thế giới Ðiều này vô cùng quan trọng, vì nhiều thế kỷ trước đây, thế giới với người Việt Nam chỉ là Trung Hoa Và Nam Bộ lẽ ra đã

có thể đưa cả nước vào con đường cách tân và hiện đại hóa sớm hơn rất nhiều nếu cơ hội lịch sử không bị bỏ qua chỉ vì triều đình nhà Nguyễn khư khư ôm giữ những giáo điều cổ hủ, sợ sự thay đổi có thể đe dọa đến địa vị thống trị của họ Ngày nay, Nam Bộ đang đi tiên phong trong tiếp xúc văn hóa hẳn sẽ đóng vai trò to lớn xứng đáng của nó trong công cuộc hiện đại hóa của dân tộc Về mặt tôn giáo cũng không phải ngoại lệ, Nam Bộ trở thành nơi khởi phát của phong trào chấn hưng Phật giáo nửa đầu thế kỷ XX, là nơi nảy sinh

Trang 22

và phát triển các phong trào tôn giáo lớn theo xu hướng cách tân và mang đậm dấu ấn địa phương như Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo Các hiện tượng này chính là những đối tượng thích hợp nhất cho sự phân tích nhằm lý giải vì sao những truyền thống văn hóa có gốc gác khác nhau có thể kết hợp được với nhau nhuần nhuyễn đến như vậy Công việc đó chẳng những góp phần giúp ta hiểu thêm về con người và văn hóa Nam Bộ, hiểu thêm sức mạnh của truyền thống văn hóa Việt, đồng thời còn gợi cho chúng ta suy nghĩ thêm về con đường hội nhập với thế giới hôm nay Góc nhìn mới về văn hóa vùng đất mới, quyển Nho giáo ở Gia Định đã lý giải

được điều đó một cách tường minh Nho giáo ở Gia Định xuất phát từ con người Việt Nam ở Nam Bộ thời Đàng Trong đã mang trong hành trang Nam tiến của mình một loại Nho giáo được dân tộc hóa qua ba thế kỷ Cũng phải

kể tới bộ phận được du nhập theo chân những di thần nhà Minh Trung Hoa tìm tới tị nạn chính trị [37] Từ đó, Nho giáo ở Nam Bộ có bản sắc riêng, có

giá trị riêng và song hành với sự phát triển của địa phương và dân tộc

Nho giáo được xem như mạch chủ đạo để đối chiếu, phân tích với ảnh hưởng của Phật giáo, văn hóa Đông Nam Á, văn hóa Tây phương, văn hóa các dân tộc bản địa trong cuộc sống hỗn dung của cộng đồng các dân tộc ở Gia Định và Đàng Trong nói chung Từ phương pháp tiếp cận đó, tác giả cuốn

sách Nho giáo ở Gia Định đã phát hiện và lý giải nhiều hiện tượng văn hóa thú vị của vùng đất phía Nam như: tìm hiểu truyền thuyết về các ông đạo ở

miền Tây Nam Bộ mà đặc biệt là các nhân vật có liên quan với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ nửa sau thế kỷ XIX đến 1945, có thể tìm thấy vô số ví dụ

về bùa ngải phù phép, nhưng nhìn chung loại ma thuật này thường có nguồn

gốc Đông Nam Á, chứ ít có liên hệ với pháp thuật của các đạo sĩ Trung Hoa… Chẳng hạn, dưới thời Pháp thuộc, khi các mâu thuẫn kinh tế - xã hội thuộc địa đã định hình vẫn còn sự xuất hiện các tôn giáo như đạo Cao Đài năm 1926, rồi Phật giáo Hòa Hảo năm 1939, trong đó, Cao Đài mang dáng dấp một hội đoàn có khuynh hướng chính trị ôn hòa của tầng lớp trên nhưng

Trang 23

lùi lại vị trí một tôn giáo để thu hút hội viên, còn Phật giáo Hòa Hảo giống như một phong trào vận động tư tưởng trong quần chúng tầng lớp dưới nhưng được nâng lên thành một tôn giáo để tránh bị đàn áp

Về không gian văn hoá, thì vùng văn hoá này bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn Hiện nay, Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người thiểu số là cư dân bản địa: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ Các tộc người khác thì di dân vào Nam Bộ theo ba đợt chính: di dân có tổ chức vào các năm 1954, 1975, và di dân tự do ồ ạt từ năm 1994 Do đó, Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người sinh sống Bởi vì, Nam Bộ được hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên một vùng đất đa tộc người Văn hoá Nam Bộ có hai đặc trưng chủ đạo là đặc trưng đồng bằng sông nước

và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hoá Việt trong vùng Xét về mức độ, những đặc trưng chủ đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hoá Nam Bộ Bởi vì, đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nước mới nổi lên thành một đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng như các thành tố văn hoá của các cộng đồng cư dân Mặc dù, các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều có tiếp biến văn hoá của các tộc người khác nhau, nhưng chỉ ở Nam Bộ, văn hoá các tộc người thiểu số cộng cư mới đủ sức khúc xạ văn hoá của cư dân Việt trong vùng đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung Cho nên, không ở đâu có nhiều từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như ở vùng này:

sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào,

Trang 24

láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu ; nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước nhửng, nước rông, nước rặc, nước lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước cạn, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi Vì vậy, sông

nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hoá nơi đây

Về tín ngưỡng, Nam Bộ là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, người Việt Nam Bộ cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, kết hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên Nam Bộ là một vùng đất mới, nhưng Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hoá như Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai, di tích Rạch Gầm - Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, luỹ Pháo Đài, lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt ở Tiền Giang, Văn Miếu ở Vĩnh Long, Gần đây, một số địa phương ở Nam Bộ đã tiến hành phục dựng, trùng tu các di tích này để tôn vinh những người có công đối với lịch sử và văn hoá của vùng đất phương Nam

Nam Bộ cũng là một vùng đất mà giao lưu, tiếp biến văn hoá đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh Hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế kỷ qua Có thể nói, giao thoa văn hoá chính là một trong những bản sắc của văn hoá Nam Bộ,

nó khiến cho văn hoá Nam Bộ vừa tương đồng, lại vừa khác biệt với cội nguồn của nó là văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là văn hoá Nam bộ chỉ là con số cộng các luồng văn hoá đã hội tụ nơi đây Trong quá trình giao thoa văn hoá,

cư dân Việt nơi đây đã không tiếp thu trọn gói các nền văn hoá khác mà chỉ những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào hành trang văn hoá mang theo Vì vậy, văn hoá Việt nơi đây không tự đánh mất mình mà chỉ tái tạo các giá trị văn hoá mà vùng đất này thu nạp được theo hướng làm cho nó thích ứng với văn hoá Việt, với nhu cầu của người Việt

Trang 25

trên vùng đất mới Có thể nói, sự tái tạo các giá trị văn hoá đó cũng là một bản sắc của văn hoá nơi đây

Bên cạnh đó văn hoá Nam Bộ còn mang đặc trưng của đồng bằng sông nước Hai đặc trưng văn hoá chủ đạo này của vùng đất Nam Bộ đã buộc tất cả các nền văn hoá sinh tụ nơi đây đều phải tự cấu trúc lại, lược bỏ những giá trị không còn phù hợp với môi trường mới, phát triển hoặc sáng tạo những giá trị mới giúp con người có thể tồn tại và phát triển trên một vùng đồng bằng sông nước, đan xen những tộc người khác biệt nhau về văn hoá Vì vậy, uyển chuyển, linh động, phóng khoáng, bao dung, dần dần đã trở thành bản sắc của văn hoá Việt ở Nam Bộ và văn hoá Nam bộ nói chung

1.2 Phương ngữ Nam Bộ

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1.1 Từ địa phương

Tiếng nói của mọi quốc gia trên thế giới đều là một thể thống nhất

về mặt bản chất nhưng lại hết sức đa dạng về mặt biểu hiện Nghĩa là, trong cái thống nhất đó vẫn có những khác biệt giữa các địa phương: có thể là khác biệt về ngữ âm (cách phát âm), lối dùng từ của người dân ở từng địa phương hoặc cũng có thể là sự khác biệt về mặt cấu tạo ngữ pháp Do đó, mỗi vùng địa lí - dân cư sẽ hình thành một phương ngữ mà địa phương đó sử dụng

Tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ thống nhất, song trong quá trình phát triển lịch sử đất nước, tiếng Việt dần dần phân chia thành nhiều tiếng địa phương, đặc biệt là trong thời đại phong kiến Kết quả là, tiếng Việt tồn tại dưới dạng những tiếng địa phương và giữa tiếng địa phương này với tiếng địa phương khác có những sự khác nhau nhất định dẫn đến tình trạng cùng một ngôn ngữ nhưng không thật sự thống nhất Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn, chủ yếu là khác biệt ở một số yếu tố về mặt ngữ âm và từ vựng

Về khái niệm từ địa phương, vì có liên quan đến đề tài nên chúng tôi xin nêu ra một vài định nghĩa của các nhà nghiên cứu với những cách hiểu và

lí giải khác nhau Theo tác giả Nguyễn Văn Tu thì: Từ địa phương không ở

Trang 26

trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định, chúng mang sắc thái địa phương, người của địa phương này không hiểu những từ của địa phương khác [24, 129] Ở đây, tác giả đã chỉ ra rằng, chính sắc thái

riêng của từ địa phương đã tạo ra sự khác biệt trong ngôn ngữ các vùng miền dẫn đến người của địa phương này, đôi khi không hiểu được từ của địa phương khác Còn theo ý kiến của nhà nghiên cứu Phạm Văn Hảo thì từ địa

phương là: Khác với một số biến thể vốn là đơn vị trong cùng một hệ thống,

từ ngữ địa phương là loại biến thể gắn với một hệ thống nằm ngoài hệ thống

từ vựng tiếng Việt văn hóa Điều đó đảm bảo cho một phương pháp định nghĩa phù hợp với chúng Định nghĩa qua từ có nghĩa tương đương (trong tiếng Việt văn hóa) [16, 59] Theo định nghĩa này, nghĩa của những từ địa

phương có giá trị ngang hàng với nghĩa của từ trong ngôn ngữ văn hóa Hiểu một cách đơn giản là từ địa phương và từ toàn dân phải có chung nét nghĩa tương đương Tuy nhiên, trong thực tế ta thấy có một số từ địa phương ở vùng

đồng bằng sông Cửu Long như: măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, bòn bon,…

không có nghĩa tương ứng với từ trong ngôn ngữ toàn dân

Một hướng định nghĩa khác của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc vài địa phương Nói chung

từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào

đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại

đặc điểm của từ địa phương, đặc điểm của nhân vật… [17, 293] Với định nghĩa

này, tác giả đã chỉ ra được giới hạn phạm vi sử dụng của từ địa phương

Còn theo nhóm tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng

Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1990) cho rằng: Những

từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương Qua định nghĩa này, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng từ địa phương là

Trang 27

những biến thể từ ngôn ngữ dân tộc đồng thời chỉ ra được giới hạn phạm vi sử dụng của từ địa phương

Phương ngữ là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học thuộc phân môn Phương ngữ học, chuyên ngành Ngôn ngữ học Trong lịch sử nghiên cứu hơn một trăm năm, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt Vì thế, trong suốt quá trình nghiên cứu, đã có không ít cách hiểu về khái niệm phương ngữ Người viết xin điểm qua cách hiểu khái niệm phương ngữ của một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Văn Khang trong Ngôn ngữ học xã hội những vấn

đề cơ bản cho rằng: Phương ngữ hay phương ngôn, tiếng địa phương là các cách gọi khác nhau trong tiếng Việt của cùng một thuật ngữ dialect trong tiếng Anh (dialecte trong tiếng Pháp, dialectus trong tiếng Latinh, Fangyan trong tiếng Hán) Thuật ngữ dialect có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp dialektos,

đây là khái niệm dùng để chỉ các biến thể ngôn ngữ sách vở có cùng nguồn gốc Liên quan đến khái niệm phương ngữ, trong tiếng Pháp có hai từ dialecte

và patois: để chỉ cả phương ngữ có chữ viết lẫn không có chữ viết, cả biến thể địa lí lẫn biến thể xã hội của phương ngữ Trong cách nhìn của người Anh, phương ngữ là biến thể không thống nhất, chỉ dùng trong các tầng lớp thấp hoặc ở nông thôn Kết hợp với cách nhìn nhận của ngôn ngữ học truyền thống, tác giả đưa ra cách hiểu riêng về phương ngữ Điều này được xem xét

từ hai mặt cấu trúc và chức năng Tác giả cho rằng: Nếu nhìn từ góc độ cấu trúc, gọi là phương ngữ của một ngôn ngữ, một khi các phương ngữ này tuy

có hệ thống cấu trúc riêng, nhưng vẫn có thể chứng minh được mối quan hệ cội nguồn giữa các phương ngữ đó với ngôn ngữ(…) Nếu nhìn từ góc độ chức năng, thì phương ngữ là một loại biến thể ngôn ngữ mà chức năng giao tiếp chịu sự hạn chế mang tính địa phương và sự phát triển của nó chưa đạt đến mức tiêu chuẩn hóa [39,109]

Tác giả Nguyễn Kim Thản thì cho rằng: Tuy thế, như mọi người đều biết, trên mấy vùng lớn của đất nước chúng ta, tiếng nói của mỗi vùng vẫn có

Trang 28

một số sắc thái riêng về ngữ âm và từ ngữ Tiếng nói của dân tộc ở một vùng rộng lớn mang sắc thái riêng như vậy gọi là phương ngôn [55, 122]

Theo Hoàng Thị Châu: Phương ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác [7, 29]

Còn theo Nguyễn Văn Ái, người đã biên soạn ra quyển Từ điển phương ngữ Nam Bộ thì đưa ra cách hiểu: Có thể nói nôm na phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa phương của một ngôn ngữ chung toàn dân [3, 9]

Tác giả Nguyễn Như Ý trong Từ điển đối chiếu từ địa phương đưa

ra cách hiểu về PN như sau: Phương ngữ (dialect) hay còn gọi là tiếng địa phương là hình thức ngôn ngữ được sử dụng trong cộng đồng dân cư tại một vùng miền nhất định trên lãnh thổ một nước [68, 3]

Trần Thị Ngọc Lang lại quan niệm rằng: Phương ngữ là phương tiện diễn đạt và giao tiếp của một địa bàn dân cư [27, 10]

Như vậy, có rất nhiều ý kiến xoay quanh vần đề khái niệm về phương ngữ Mỗi tác giả đều có cách hiểu riêng Chúng tôi xin phép đưa ra

cách hiểu của mình như sau: Phương ngữ là ngôn ngữ riêng của một vùng, một khu vực dân cư với những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân

1.2.1.2 Khái quát về phương ngữ Nam Bộ

Nam Bộ là một vùng đất mới được hình thành trên 300 năm, kể từ năm 1698 là năm chúa Nguyễn lập phiên Trấn dinh Phương ngữ Nam Bộ (PNNB) cũng được hình thành và phát triển từ mốc này Đây là quá trình hội

tụ của nhiều dạng tiếng nói địa phương khác nhau mà người Việt từ các nơi khác mang lại Bên cạnh đó, còn có sự tiếp xúc vay mượn các ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng này Trong các công trình nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ, chúng tôi thấy có các ý kiến sau đây:

Theo Nguyễn Kim Thản: Phương ngữ Nam Bộ sử dụng từ Thuận Hải trở vào, phương ngữ này trẻ nhất, mới hình thành dần dần từ thế kỉ 18, tuổi đời ấy khiến nó thuần nhất hơn cả [55, 16] Qua đó, chúng tôi nhận thấy,

Trang 29

tác giả Nguyễn Kim Thản quan niệm rằng PNNB được phân vùng ở một khu vực địa lí khá cụ thể (từ Thuận Hải trở vào) Điều này cũng có nghĩa là: PNNB là tiếng nói riêng của người dân Nam Bộ trong một ranh giới xác định

trên, chúng ta nhận ra cách hiểu của tác giả về PNNB không gì khác hơn chính là tập hợp các nét biến dạng địa phương của tiếng Việt ở khu vực Đồng

Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau

Còn tác giả Trần Thị Ngọc Lang thì đưa ra cách hiểu chung về PNNB

như sau: Phương ngữ là phương tiện diễn đạt và giao tiếp của một địa bàn dân cư [27, 10] Như cách hiểu này, PNNB chính là tiếng nói của người dân

Nam Bộ Điều này cũng gần với cách hiểu của tác giả Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Văn Ái Về cơ bản, cả ba tác giả đều cho rằng PNNB chính là ngôn

từ được sử dụng trong một địa bàn khu vực dân cư nhất định Tuy nhiên, giới hạn địa lí khi phân vùng phương ngữ của ba tác giả còn chưa đồng nhất Tác giả Nguyễn Kim Thản phân chia PNNB tính từ Thuận Hải trở vào trong khi Nguyễn Văn Ái và Trần Thị Ngọc Lang thì cho rằng nó nằm trong giới hạn vùng Nam Bộ nghĩa là từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau

Tiếp bước những người nghiên cứu trước, tác giả Huỳnh Công Tín cũng đưa ra một cách hiểu khá ngắn gọn, đơn giản về khái niệm phương ngữ Tác giả

viết: Phương ngữ Nam Bộ là tiếng nói của người dân Nam Bộ Hay nói cách khác: Phương ngữ Nam Bộ được hiểu là biến thể địa lí của ngôn ngữ toàn dân [61]

Trang 30

Nhìn chung, các tác giả dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng về cơ bản cũng có sự nhất trí: PNNB là tiếng nói của người dân ở khu vực Nam Bộ Xuất phát từ cách hiểu của mình, chúng tôi xin đưa ra kiến giải về khái niệm PNNB Đó là ngôn ngữ mang đặc trưng của miền đất Nam Bộ được sử dụng trong cộng đồng người Nam Bộ trên lãnh thổ Việt Nam Hay PNNB chính là những biến thể địa phương của tiếng Việt trên bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp ở khu vực Nam Bộ Tuy nhiên, do tính chất bán phương ngữ giữa hai vùng phương ngữ giao nhau, chúng ta khó xác định ranh giới chính xác của PNNB Ở bài viết này, chúng tôi thống nhất theo ý kiến của đa số nhà nghiên cứu tạm lấy mốc từ Đồng Nai, Sông Bé trải dài xuống mũi Cà Mau làm vị trí khu biệt vùng PNNB

1.2.2 Sự hình thành phương ngữ Nam Bộ

Hầu hết các nhà nghiên cứu về phươg ngữ ngữ đều thừa nhận các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt từ Đồng Nai, Sông Bé (Nay thuộc Bình Dương, Bình Phước) kéo dài đến mũi Cà Mau thuộc vùng phương ngữ Nam Bộ, và đương nhiên, nội tại bản thân của phương ngữ này có nhiều nét khác biệt với phương ngữ vùng miền khác bởi những đặc trưng như ta đã nói ở phần trên

Ngôn ngữ luôn vận động, phát triển theo qui luật tiến hóa riêng Nhưng không phải mỗi vùng, mỗi địa phương, ngôn ngữ đều có điều kiện thay đổi, biến đổi với mức độ khác nhau Chính vì vậy, ngôn ngữ ở vùng này với vùng kia theo thời gian có sự khác biệt nhất định, từ đó hình thành nên những vùng phương ngữ tiếng Việt Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu

ở cách phát âm, từ ngữ, phong cách, ngữ pháp Các mặt khác nhau này không đồng đều; ở bình diện ngữ pháp ít có sự biến đổi so với các bình diện còn lại Riêng bình diện từ vựng - ngữ âm có sự khác biệt khá lớn trong các ngôn ngữ của tiếng Việt Sự khác nhau này không ở nguồn gốc ngôn ngữ mà do điều kiện địa lí, điều kiện xã hội hình thành Cho nên, phương ngữ là một chuỗi các biến dạng địa phương so với ngôn ngữ toàn dân do những tác động về địa

lí, xã hội mà dần hình thành Sự cách trở về địa lí với những ngọn núi cao,

Trang 31

những con sông lớn và những quả đồi chạy dọc theo chiều dài địa hình từ Bắc chí Nam đã làm cho sự giao lưu, tiếp xúc giữa người dân bị hạn chế Tiếng Việt toàn dân một thời bị cô lập giao tiếp trong các vùng miền nhỏ Và đây cũng chính là điều kiện đưa tiếng Việt đến sự thống nhất, phát triển theo những hướng khác nhau

Bên cạnh đó, ý thức làng, xóm đã tạo tâm lí ngại đi lại, tiếp xúc của người dân giữa các vùng miền dẫn đến tình trạng tiếng Việt bị chia cắt thành các vùng phương ngữ Cho nên, phương ngữ Nam Bộ gắn liền với lịch sử hình thành của miền đất Nam Bộ

Nam Bộ là một vùng đất mới được thành lập trên ba thề kỉ qua, kể

từ 1698 là năm chúa Nguyễn lập phiên trấn dinh Phương ngữ Nam Bộ cũng hình thành và phát triển từ đây Lịch sử phát triển vùng đất Nam Bộ gắn liền với nhiều cuộc nội chiến và ngoại xâm Thêm vào đó, địa hình đất nước kéo dài hơn 3000km, đã cắt đứt và hạn chế con đường giao lưu giữa các vùng trong cả nước, làm yếu đi sự giao tiếp giữa các dân cư trong cộng đồng dân tộc thống nhất, tạo nên những phương thức sinh hoạt vật chất và tinh thần mang ít nhiều nét biến dạng khác nhau Theo dòng chảy của thời gian, ngôn ngữ dần hình thành nên những biến thể địa phương hay nói cách khác sẽ xuất hiện nhiều vùng phương ngữ Về lịch sử, nước ta có cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn ở Đàng Ngoài và Đàng Trong kéo dài hơn hai thến kỉ từ khi chúa Nguyễn Hoàng được lệnh vào Nam đến ngày Nguyễn Ánh lấy Phú Xuân và thống nhất đất nước 1802 Rồi những năm tháng cai trị ngắn ngủi của vua chúa nhà Nguyễn chưa thể thống nhất xã hội thì đất nước lại rơi vào họa ngoại xâm Năm 1858, Pháp xâm lượt Việt Nam, chúng chia đất nước ra làm

ba miền: Bắc kì – Trung kì – Nam kì Ba miền này đều khác nhau về thể chế hành chính và luật lệ góp phần tô đậm thêm sự chia cắt về ngôn ngữ Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954, đất nước lại bị chia hai trong một thời gian tương đối dài cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với sự thống

Trang 32

nhất của tiếng Việt Chúng ta lại tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ cho đền ngày thống nhất đất nước 30/04/1975

Mặt khác, từ đầu thế kỉ XVII trở đi, do tình hình lịch sử biến động, từng đoàn người lánh nạn từ miền Trung và Bắc bắt đầu di cư về phía Nam

Họ chính là những bậc tiền nhân có công lớn khi biến Nam Bộ từ vùng đất hoang sơ, rừng rậm thành ruộng vườn, ao cá Họ đến mảnh đất này với nhiều tiếng nói khác nhau của nhiều địa phương Bắc, Trung Do cuộc sống tha phương, nhất là phải đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt, ẩn chứa nhiều nguy hiểm đòi hỏi họ phải liên kết lại, phải sống quần tụ, hợp tác với nhau trong lao động sản xuất và giao lưu tình cảm Do đó, tiếng nói của họ dần đi đến sự thống nhất do sự tiếp xúc thường xuyên của cộng đồng dân cư nơi đây cùng với sự tiếp xúc thường xuyên của cộng đồng dân cư nơi đây cùng với sự tiếp xúc vay mượn giữa tiếng Việt mới du nhập vào ngôn ngữ các dân tộc sinh sống lân cận vùng này Theo thời gian, ngôn ngữ có sự biến đổi và chọn lọc, mất đi và thêm vào một bộ phận ngôn từ, hình thành tiếng nói chung mang màu sắc Nam Bộ như ngày nay Vậy, sự phân chia lãnh thổ chính trị - hành chính do lịch sử để lại là nhân tố chính hình thành nên phương ngữ Nam Bộ

Trong quá trình phát triển hơn 300 năm, vốn từ ngữ Nam Bộ có sự giao thoa giữa tiếng nói của nhiều dân tộc, đặc biệt là ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer (trong số này, ta thấy có ngôn ngữ miền Trung , miền Bắc do luồng di dân chiến tranh phong kiến hay những cuộc khẩn hoang, ngôn ngữ người Khmer sinh sống tại chỗ, người Việt tại chỗ và cả luồng dân cư chạy nạn từ Trung Quốc mà chủ yếu là Triều Châu, Phúc Kiến trong thời Minh – Thanh…)

Tiếng Việt dù có sự thống nhất cao, nhưng vấn đề phân vùng phương ngữ không thể tránh khỏi Dựa trên thực tế ngôn ngữ: trên bình diện từ ngữ, ngữ pháp, nhất là bình diện ngữ âm, có thể chia phương ngữ ra các vùng lớn Trong đó, vùng phương ngữ Nam Bộ bao gồm ba khu vực là miền Đông Nam

Bộ, Sài Gòn và Tây Nam bộ, tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến mũi Cà Mau

Trang 33

Như vậy, chúng ta thấy vốn từ ngữ Nam Bộ có ba luồng chính để hình thành là luồng di cư từ miền Trung, Bắc, luồng di cư từ Trung Quốc và ngôn ngữ bản địa cho thấy tính đa dạng và sáng tạo của người Việt ở phương Nam này Từng đặc điểm cụ thể của vốn từ ngữ Nam bộ là cơ sở cho chúng

tôi tìm hiểu vấn đề, giải thích trong mối liên hệ với các tác phẩm trong Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam

1.2.3 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ Nam Bộ hiểu nôm na là tiếng Việt của người dân Nam

Bộ Nó phân biệt với tiếng Việt của các vùng khác ở khu vực Bắc và Trung

Bộ Căn cứ để phân biệt chủ yếu dựa trên bốn bình diện: ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp và bình diện phong cách diễn đạt Điều này đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt

1.2.3.1 Bình diện ngữ âm

Khi tiếp xúc với những người thuộc các vùng miền khác nhau, người

ta dễ dàng nhận ra người Nam Bộ nhờ vào nét khác biệt về mặt ngữ âm Theo

ghi nhận của tác giả Nguyễn Văn Ái: Nhiều người có cảm giác chung là

“giọng Nam bộ dịu nhẹ”… cái chính cần nói là cách phát âm nhẹ nhàng, động tác phát âm tương đối thư giãn, không căng thẳng các cơ thịt ở bộ máy phát âm nhiều như ở phương ngữ Bắc, không rít, sít hay nghẹn nhiều (các nhà ngôn ngữ gọi là xát, tắc và yết hầu hóa) [3,14]

Tại sao lại có sự khác biệt này? Quá trình tìm hiểu cho thấy: chất giọng miền Nam khác hẳn so với các vùng miền khác là do hiện tượng sai biệt

ở các thành phần âm tiết: bộ phận phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu Ở Nam Bộ, do môi trường sống không quá khắc nghiệt nên cách phát âm khá thoải mái, không có sự cố gắng phân biệt, vì vậy số lượng âm và vần trùng nhau khá nhiều

Với thành phần phụ âm đầu, một bộ phận người Nam Bộ phát âm không phân biệt /s/ và /ş/, /ţ/ và /c/, /z/, /v/ > /j/ hoặc /z/ > /y/ Ví dụ như vô

giáo dục thành dô dáo dục Trước đây, âm đầu /v/ ở phương ngữ Nam Bộ chỉ

Trang 34

tồn tại trong chữ viết, không tồn tại trong phát âm Các âm được thể hiện trên chữ viết là “v, d, gi” đều có chung cách phát âm là /j/ Tuy nhiên, ngày nay, hiện tượng ấy có sự chuyển biến tích cực Sống trong thời kì hội nhập, cách phát âm đúng [v] đã tương đối phổ biến từ thành thị đến nông thôn Nam Bộ

Thành phần âm đệm trong phương ngữ Nam Bộ hầu như vắng mặt

Âm đệm /-w-/, vốn là một âm lướt nhẹ, lơi, do đó khi phát âm ở phương ngữ này, xảy ra hai trường hợp hoặc bị lướt bỏ, hoặc bị nhấn mạnh thành một âm

chính cho nên mất luôn vai trò âm đệm Chẳng hạn, trường hợp như loan thành lan; luyến phát âm thành liến, hay thường nhấn mạnh lan > lon… hay ở một số từ khác như: lòe loẹt, ra tòa, làm toán, đường thủy, chung thủy…thì người miền Nam phát âm thành lè lẹt, ra tò, làm tán, đường thỉ, chung thỉ…với khuôn vần “oa” Người Nam Bộ có khuynh hướng phát âm thành /o/

giống người lớn tuổi phát âm không còn âm đệm, tức là “oa” thành “a” Hay với vần “uâ”, cư dân khu vực này lại phát âm thành ”ư” Sự kết hợp âm đệm với hai phụ âm đầu: thanh hầu /h-/ hoặc gốc lưỡi /k-/ đều được phát thành âm

xát, hữu thanh, môi như trường hợp đường thủy, lòe loẹt, ra tòa

Kế đó là các nguyên âm đôi IÊ, ƯƠ, UÔ và các âm đơn O, Ô, Ơ khi đứng trước các âm cuối -m, -p thì các âm đôi mất yếu tố sau như trường hợp

phát âm tiêm- tim, tiếp- típ, lượm- lựm, luộm thuộm- lụm thụm…còn các

nguyên âm đơn đều phát âm thành ÔM, ỐP

Đây có thể xem là hiện tượng nói gộp các khuôn vần của phương ngữ Nam Bộ Ngoài trường hợp ÔM, ỐP còn có trường hợp khác cũng tương

tự như ĂM, ẮP và ÂM, ẤP có cách phát âm gần giống nhau Chẳng hạn như

nắm tay - nấm tay; ngăn nắp - ngăn nấp (…) Bên cạnh đó, phải kể đến

trường hợp chuyển đổi /-e/ thành /-i-/ trong hầu hết các khuôn vần /ênh/, /êm/,

/ếp/ như: chuyển từ kênh ra kinh, mênh mông - minh mông, nề nếp - nề níp

(…), hay một sai biệt khác nữa là phần vần của phương ngữ Nam Bộ là việc

phát âm chuyển đổi khuôn vần ưu, ươu thành u như con hươu phát thành con

hu, về hưu thành về hu

Trang 35

Thêm nữa là cách phát âm không phân biệt các cặp âm cuối như:

/n/-/ƞ /; /t/-/k/ như tang - tác, tác - tát…

Riêng về thanh điệu, cách phát âm của người Nam không phân biệt

hai thanh hỏi, ngã như các từ: nghỉ ngơi, suy nghĩ, thủ quỹ…Theo Huỳnh Công Tín, trường hợp này là do: Xu hướng phát âm thanh hỏi, ngã thành một thanh trung gian, mà nhiều người cho là thanh hỏi [62, 55]

Nhìn chung, các hiện tượng khác biệt trong cách phát âm của phương ngữ Nam Bộ so với các vùng khác là do khuynh hướng thích sự dễ dãi, thoải mái trong phát âm Các bộ phận cơ thể (môi, lưỡi, lợi, răng, hầu…) tham gia vào quá trình phát âm không phải xê dịch nhiều Một số động tác khó trong phát âm được đơn giản hóa như hiện tượng quặt lưỡi, môi hóa, yết hầu…song song với sự biến đổi này còn do ảnh hưởng bởi tính cách của người Nam bộ trong quá trình sinh sống ở vùng đất mới tạo nên

1.2.3.2 Bình diện từ vựng - ngữ nghĩa

Sức mạnh của một phương ngữ hay của một ngôn ngữ không chỉ ở cách phát âm như thế nào mà còn ở vốn từ vựng của nó Vốn từ ngữ càng dồi dào bao nhiêu thì sức biểu hiện của phương ngữ đó, ngôn ngữ đó càng mạnh bấy nhiêu Ngôn ngữ phát triển ở mặt từ ngữ bao gồm các dạng như: tăng thêm từ mới và bổ sung, biến đổi nghĩa của từ cũ Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả diễn đạt của ngôn từ trên tất cả mọi phương diện Ở bình diện này, vốn từ của phương ngữ Nam Bộ vô cùng phong phú Nó bao gồm nhiều lớp

từ Thứ nhất, phải kể đến phương ngữ Nam Bộ còn giữ lại lớp từ cổ mà cho

đến ngày nay tiếng Việt chuẩn hiếm hoặc không sử dụng nữa như từ: mầng (mừng), ngộ (dể nhìn), coi (xem), mần (làm)…

Thứ hai, lớp từ vay mượn từ các dân tộc khác cùng sinh sống trên

một lãnh thổ như Hoa, Khmer, Chăm như các từ: cà rá, thốt nốt, tía, số dách

(…) Bên cạnh đó, từ vựng Nam Bộ còn có trường hợp vay mượn ngôn ngữ

của nước ngoài (Pháp) do có quá trình tiếp xúc lâu dài như: từ savon thành xà phòng, salade thành sà lách

Trang 36

Kế tiếp, phải đề cập đến lớp từ vựng có được do việc biến âm tạo nên Sự biến âm này do tính cách của người Nam thích sự tự do, phóng

khoáng trong giao tiếp, sự đơn giản trong phát âm như từ: minh mông (mênh mông), hường (hồng), phước (phúc)…, hoặc do khuynh hướng kiêng kị: kiểng (cảnh), huỳnh (hoàng), qưới (quý), nhơn (nhân)…

Bên cạnh lớp từ vựng do biến âm, phương ngữ Nam Bộ còn có lớp từ phản ánh địa hình, cây cối mang ấn tượng của một vùng sông nước Cửu Long với mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Về đặc điểm địa hình có các từ

như: sông, rạch, xẻo, kinh, mương, láng, lung, bàu, đìa (…); về thực vật có các

từ như: tràm, đước, bần, mù u, trâm bầu, điên điển, (…); về phương tiện có các

từ như: ghe, ghe chài, ghe bầu, xuồng ba lá, tam bản, vỏ lãi, tắc rán (…), còn

về sản vật, từ ngữ cũng khá đa dạng Theo thống kê của Nguyễn Văn Ái, riêng

loài tôm cũng có nhiều loại được phân biệt rất tỉ mỉ như tôm bạc, tôm càng, tôm chấu, tôm chông, tôm chục, tôm đá, tôm đất, tôm rộng,…[3, 22]

Không những thế, ấn tượng về một Nam Bộ sông ngòi dày đặc, cây cối um tùm còn thể hiện ở lối diễn đạt bằng một lớp từ mang đậm màu sắc sông

nước như chìm xuồng, ngâm tôm, cá nhảy hầm, mò tôm, lặn hụp, cù lao, cầu khỉ, râu cá chốt, đầu cá sặc, công tử Bạc Liêu, cải lương, rành sáu câu,… [64,

25] Điểm đặc biệt ở lớp từ này chính là sự sáng tạo của người dân Nam Bộ khi định danh cho một sự vật, hiện tượng bất cập trong đời sống hàng ngày Chẳng

hạn như nói đồ cùi bắp thì có thể hiểu cụm từ này là một sự liên tưởng thú vị Người Nam gọi ngô là bắp Cùi bắp: (dt) lõi ngô, phần cứng nằm ở giữa mang hạt ngô xung quanh [64, 41] Cùi này không còn giá trị sử dụng nữa, người ta ném bỏ Vì thế, nói đồ cùi bắp tức là đồ bỏ đi, thứ đồ dùng không còn giá trị sử dụng hoặc có giá trị thấp, xuống cấp Chẳng hạn trong ngữ cảnh sau: Ba cái cùi

bắp đổ vào chuồng heo nó nhai đi con [64, 70]; …hôm mình quay phim tụi nó bằng cái máy ảnh cùi bắp [64, 90] Hoặc khi dùng cho đối tượng là người thì

với ý chỉ người không thể chơi được Nó mang ý nghĩa tiêu cực Cho nên, người Nam Bộ mới liên tưởng mà sáng tạo nên cụm từ trên Điều này còn góp

Trang 37

phần hình thành nên các thành ngữ, tục ngữ vững bền cho đến ngày nay: ăn như sáng múc, làm như lục bình trôi; bắt cá hai tay, (…)

Chỉ có trạng thái thay đổi của dòng nước mà người Nam đã tạo ra một lượng từ kha khá và có xu thế chuyển vào kho từ vựng toàn dân như:

nước lớn, nước ròng, nước rong, nước đứng, nước ròng sát, nước ròng cạn,

(…) Hiện tượng này có được là do quá trình quan sát thiên nhiên của cư dân địa phương trong sinh hoạt Đây là một trong số nhiều nguyên nhân góp phần làm cho kho tàng ngôn từ của tiếng Việt ngày càng đa dạng, phong phú về số

lượng lẫn chất lượng Trong Đồng quê Nam Bộ thập niên 40, Vương Liêm có

nhắc đến một trường hợp khá thú vị mà gần gũi với chúng ta liên quan đến

vấn đề sáng tạo này Đó là việc xuất hiện cụm từ bìm bịp kêu nước lớn Theo

ông, con bìm bịp là loài động vật không có linh cảm như câu nói trên Nhưng

theo quan sát, khi dòng sông cạn nước thì bìm bịp thường xuống mé sông để bắt cá, tôm tép ăn Đến khi nước lên, con bìm bịp nào hay thì kêu vang cho các con còn lại nghe mà bay lên khỏi mặt nước Do đó, người dân khu vực này thấy mỗi lần bìm bịp kêu là nước bắt đầu lớn cho nên mới có câu tục ngữ:

bìm bịp kêu nước lớn

1.2.3.3 Bình diện ngữ pháp

Ở bình diện này, không có sự khác biệt lớn giữa các phương ngữ Người Nam Bộ có khuynh hướng gắn bó với cộng đồng, gia đình nên cách xưng hô của họ được xem là một hiện tượng khác biệt so với các vùng miền

khác Người Nam Bộ có thói quen dùng thứ để gọi như: hai, ba, bốn, năm…út… Xưng gọi trong quan hệ họ hàng thường dùng các từ như: cậu,

mợ, chú, thím, dì, dượng… Hoặc do ảnh hưởng cách xưng hô của đồng bào

người Hoa cùng sinh sống trên lãnh thổ, người Nam Bộ nảy sinh thêm cách

gọi úm, tía, hia, số, củ, ý, kiểm… được dùng rộng rãi trong các gia đình, và cả

những người có quan hệ thân - sơ Điều đặc biệt, trong cách xưng hô của

người Nam Bộ còn là cách gọi ở ngôi thứ ba có tính giản ước như: ổng (ông ấy), bả (bà ấy), ảnh (anh ấy), bả (bà ấy), chỉ chị ấy) Lối xưng hô này được

Trang 38

đánh giá là có tính thân mật, chân chất Nó thể hiện thái độ bình đẳng trong giao tiếp, không thích sự tôn ti, trang trọng, phân biệt giai tầng của người Nam bộ Riêng trong gia đình, cư dân nơi đây yêu chuộng cách nói theo thứ bậc nhưng chừng mực và không nặng nghi thức Với người lớn tuổi thì xưng

ông, gọi ông là cao nhất, hiếm khi sắp xếp treo trình tự lớn, nhỏ như: cụ; cố,…với những người có thứ bậc lớn như: cha, mẹ, cô, chú,… bậc nhỏ hơn có

thể dùng thứ để xưng hô Còn đối với bậc nhỏ hơn (con cháu), dù đã lớn tuổi,

địa vị xã hội có cao sang thì vẫn được người lớn hơn gọi là thằng, con như

thuở nhỏ Lớp từ này đã mang lại hiệu quả bất ngờ khi phản ánh cách nhìn, cách nghĩ của người Nam Bộ trong quá trình sáng tác văn chương Chúng tôi

sẽ trở lại vấn đề này ở chương hai của luận văn khi nghiên cứu đặc điểm của phương ngữ Nam bộ ở lớp từ xưng hô

Bên cạnh các trường hợp trên, hiện tượng nói lái cũng rất phổ biến, quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của cư dân miệt sông nước Cách nói này tạo sự liên tưởng thú vị, dí dỏm, thể hiện lối sống lạc quan, yêu đời trong cá tính của người dân Nam Tác giả Huỳnh Công Tín cũng đưa ra một

số trường hợp cụ thể về việc nói lái này Ông viết: Nói: “ít li”cứ nghĩ ai đó uống rượu ít, không được nhiều; nhưng, nghĩa lái thì khác hoàn toàn: “y lít”

là tửu lượng vô song, không có đối thủ;…nói “lộng kiếng” trang trọng nhưng được hiểu “liệng cống” thì tệ quá Trẻ rủ nhau “đi tắm” ngang qua nhà nhau, nói lái: “đâm tí đi! Đâm tí đi!” Trẻ hiểu nhưng người lớn đôi khi chậm hiểu hơn thành thử bị chúng “qua mặt”; uống “trà Thái Đức” cứ tưởng là

trà ngon, nào dè lại là “trà thức đái”! [64, 164] Cùng mối quan tâm chung

về hiện tượng nói lái, người viết xin đưa ra thêm một số trường hợp khác thường bắt gặp trong giao tiếp của người dân Nam bộ với nhau Vốn thích sự

sòng phẳng, người Nam bộ hay dùng từ chai hia Trường hợp này mới nghe

qua cứ tưởng là họ mượn ngôn ngữ của người Tàu để diễn đạt ý Nhưng thực

ra là cách nói ví von, tạo màu sắc, thu hút người nghe Chai hia có nghĩa là chia hai Hoặc câu quýt xơ măng, võng xưa, ọt măng trong một dịp nói chơi,

Trang 39

người ta dễ hiểu nhầm là anh này, cô này biết tiếng nước ngoài nhưng thật ra

là quăng xơ mít, giữa sông, ăn mót Điều này có tác dụng tạo ra tiếng cười

thoải mái trong dân gian

Tất cả những đặc điểm trên đã tạo cho phương ngữ Nam Bộ có một nét đặc trưng riêng, mang đặc thù của vùng sông nước Cửu Long Điều đó còn góp phần làm phong phú và đa dạng kho tàng ngôn ngữ dân tộc và văn hóa người Việt

1.2.3.4 Trên bình diện phong cách diễn đạt

Ngôn ngữ của người Nam Bộ phản ánh được lối tư duy của họ Đó là một tư duy phóng khoáng, nặng tình nghĩa nhưng không nặng quy tắc, khuôn luật Có thể khái quát đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ trên bình diện phong cách diễn đạt ở một số điểm sau:

Cách diễn đạt của người Nam Bộ không cầu kì, trau chuốt nhưng rất dễ tiếp nhận do lối so sánh, liên tưởng dễ hiểu Sống trong môi trường thoáng đạt, ruộng đồng mênh mông, cây trái bốn mùa, chim muông phát triển, mọi vật đều sinh sôi đã hình thành trong tư duy con người nặng về dấu ấn của thiên nhiên Ca dao - dân ca Nam Bộ đã chở đấy ắp những hình tượng ấy Đó

có thể là hình ảnh quen thuộc về cây bần, mù u, bông điên điển…, chiếc xuồng ba lá lênh đênh trên sông rạch Nó dầm sâu, bám rễ vào tiềm thức con

người: Linh đinh một chiếc xuồng ba lá / Anh cảm thương nàng mẹ góa con côi Hay: Bên bờ điên điển hai hàng/ Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng

Đây chính là những hình ảnh thiên nhiên cụ thể, sinh động Nó tạo ấn tượng gợi nhớ đến vùng đất Nam Bộ trù phú với nhiều sản vật trong thời kì khai khẩn Hình ảnh ấy đã in sâu vào lòng người mà nhất là những ai đang lìa quê xa xứ Họ không thể nào quên được quê hương với những hàng điên điển

nở hoa vàng rực ven sông, cũng như làm sao quên được những đêm trăng hò

hẹn, với chiếc xuồng ba lá bơi trên dòng kênh xanh, vương vấn lòng ai bởi giọng hò trong trẻo của những chàng trai, cô gái: Bằng lòng đi em anh về quê rước má lên liền/ ngày mai đám cưới rước dâu bằng xuồng ba lá… Những

Trang 40

điều quen thuộc ấy đã đi vào ca dao, dân ca với lòng kính yêu trân trọng của người Nam Bộ khi nhìn về xứ sở

Do đặc điểm địa hình nơi đây có những con sông lớn, những cánh rừng ngút ngàn nên khi được người dân diễn đạt cần phải dùng đến lớp từ phản ánh

địa hình, cây cối, sông nước miền Nam như: sông, kinh, rạch, mương, xuồng

ba lá, ao, bàu, ghe, vỏ lãi, bình bát, trâm bầu (…) Ngoài ra, phương ngữ Nam

Bộ còn có một lớp từ phản ánh được sản vật Chẳng hạn khi nói đến tôm thì có

đa dạng các chủng loại: tôm lóng, tôm thẻ, tôm rong (…), khi diễn tả trạng thái

của dòng nước, người Nam Bộ không chỉ phân biệt được nước lớn (thủy triều

dâng) và nước ròng (thủy triều hạ) mà còn thêm nhiều từ ngữ khác: nước trồi, nước rong, nước kém, nước sụt, nước nhửng, nước ương, nước chết, nước sát,…[1, 22] Điều này phản ánh hiệu quả tri giác của con người với hiện thực

khách quan Khi con người nhận thức được thực tiễn một cách sâu sắc với những sự vật đa dạng họ sẽ cảm thấy cần phân biệt chúng bằng những từ ngữ khác nhau Nhìn chung, phương ngữ Nam Bộ có xu hướng cố gắng vươn tới sự tối đa các hình thức cấu trúc của ngôn ngữ để biễu thị những khái niệm hay những sắc thái ý nghĩa khác nhau mà con người nhận thức được

1.3 Nhà văn Sơn Nam

1.3.1 Vài nét về tác giả

Sơn Nam sinh ngày 11.12.1926, tên thật Phạm Minh Tài (Một số tài liệu ghi Phạm Minh Tày, có thể vì tên khai sinh tên Phạm Minh Tày) chữ Tài đúng hơn vì cha ông đặt tên hai con là Tài và Trí Nguyên quán làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang Bút hiệu Sơn Nam là kỉ niệm người vú nuôi gốc Miền Thoại Sơn, còn Nam là Việt Nam, Sơn Nam còn là một địa danh lịch sử, có từ thời Trần

Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghiệp chủ khá giả trong làng Thuở nhỏ học tiểu học ở quê, học trung học ở Cần Thơ Ông tốt nghiệp cũng là lúc cách mạng tháng Tám thành công, cùng nhân dân tham gia cướp chính quyền Sau đó, ông được làm Tỉnh ủy viên, Phó bí thư tỉnh đoàn thanh

Ngày đăng: 16/12/2015, 11:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[17] Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt, NXB trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2003
[18] Lê Trung Hoa (2005), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ, NXB Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2005
[19] Lý Tùng Hiếu (2009), “Vùng văn hóa Nam bộ: Định vị và đặc trưng văn hóa”, http://blog.yume.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vùng văn hóa Nam bộ: Định vị và đặc trưng văn hóa”
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Năm: 2009
[20] Nguyễn Hữu Hiệp (2006), “Cần giữ gìn sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ Nam bộ”, http://www.vannghesongcuulong.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cần giữ gìn sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ Nam bộ”
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp
Năm: 2006
[21] Lê Minh Hùng (1998), “Phương ngữ Nam bộ trong hoạt động giao tiếp ăn, uống”, Ngữ học trẻ, tr.35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ Nam bộ trong hoạt động giao tiếp ăn, uống”, "Ngữ học trẻ
Tác giả: Lê Minh Hùng
Năm: 1998
[22] Trần Đức Hùng (2008), Từ địa phương trong thơ ca dân gian Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương trong thơ ca dân gian Nam Bộ
Tác giả: Trần Đức Hùng
Năm: 2008
[23] Lê Phú Khải (nhiều tác giả) (2009), Đó là Sơn Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đó là Sơn Nam
Tác giả: Lê Phú Khải (nhiều tác giả)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2009
[24] Cao Huy Khanh (1970), “Sơ khảo 15 năm văn xuôi miền Nam 1955 – 1969”, Khởi hành, (74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo 15 năm văn xuôi miền Nam 1955 – 1969”, "Khởi hành
Tác giả: Cao Huy Khanh
Năm: 1970
[25] Vũ Khiêu (2010), “Góc nhìn mới về văn hóa vùng đất mới”, http://www.phapluat.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc nhìn mới về văn hóa vùng đất mới”
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 2010
[26] Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Phùng Ngọc Kiếm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1998
[27] Trần Thị Ngọc Lang (1995), Phương ngữ Nam bộ, những khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa so với phương ngữ Bắc bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ Nam bộ, những khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa so với phương ngữ Bắc bộ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
[28] Trần Thị Ngọc Lang (2009), “Chức năng văn hóa-xã hội của tiếng Việt ở Nam bộ”, Tạp chí ngôn ngữ, (số 5)(240), tr.26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng văn hóa-xã hội của tiếng Việt ở Nam bộ”, "Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lang
Năm: 2009
[29] Huỳnh Lứa (chủ biên, 1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
[30] Sơn Nam (1992), Văn minh miệt vườn, NXB văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh miệt vườn
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB văn hóa
Năm: 1992
[31] Sơn Nam (2005), Nói về miền Nam- cá tính miền Nam- Thuần phong mỹ tục Việt Nam, NXB trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về miền Nam- cá tính miền Nam- Thuần phong mỹ tục Việt Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2005
[33] Sơn Nam (2007), Biên khảo Sơn Nam Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên khảo Sơn Nam Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
[34] Sơn Nam (2007), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
[35] Sơn Nam (2009), Hương rừng Cà Mau, tập 1,2,3, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương rừng Cà Mau
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2009
[36] Nguyễn Văn Nở (2000), “Cách xưng hô trong ca dao trữ tình Đồng bằng sông Cửu Long”, Ngữ học trẻ, tr.317-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách xưng hô trong ca dao trữ tình Đồng bằng sông Cửu Long”, "Ngữ học trẻ
Tác giả: Nguyễn Văn Nở
Năm: 2000
[37] Bùi Mạnh Nhị (1994), “Đặc điểm ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ”, Tạp chí ngôn ngữ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ”, "Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê từ Nam bộ trong cách hiểu toàn dân - Đặc điểm từ ngữ nam bộ trong truyện ngắn của sơn nam
Bảng th ống kê từ Nam bộ trong cách hiểu toàn dân (Trang 54)
Bảng 1: Thống kê danh từ riêng chỉ người - Đặc điểm từ ngữ nam bộ trong truyện ngắn của sơn nam
Bảng 1 Thống kê danh từ riêng chỉ người (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w