Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp như Luật giáo dục 2005, chương I, điều 24 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hằng
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học môn Văn
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành
và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4L ời cảm ơn
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị
Ngọc Điệp, người đã dành nhiều thời gian,sự tận tâm để hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hơn lúc nào hết,tôi muốn gửi tấm lòng thành kính tới cô Nguyễn Thị
Hồng Hà, người hướng dẫn đầu tiên của tôi, người đã cho tôi nguồn động
viên tinh thần sâu sắc và bài học quý báu về tinh thần lạc quan,tình yêu
Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn trường THPT Tôn Đức Thắng đã tạo điều
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1.Đổi mới PPDH ở Việt Nam 9
1.1.1.Xu hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam trong những năm gần đây 9
1.1.2 Đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT 10
1.2 Lý thuyết về SĐTD 10
1.2.1 Khái niệm SĐTD 10
1.2.2 Thiết kế SĐTD 11
1.2.3 Tác dụng của SĐTD trong việc ghi chú 22
1.3 Văn học dân gian trong trường phổ thông 26
1.3.1 Những nét khái quát về VHDG 26
1.3.2 VGDG trong trường phổ thông 28
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC VHDG VIỆT NAM 35
2.1 Ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy 35
2.1.1 Ứng dụng của SĐTD đối với GV 35
2.1.2 Ứng dụng của SĐTD đối với HS 37
2.1.3 Các loại SĐTD 39
2.2 Sử dụng SĐTD trong dạy VHDG Việt Nam 39
2.2.1 SĐTD trong dạy học tác phẩm TSDG 39
2.2.2 Sử dụng SĐTD trong dạy bài “Khái quát VHDG Việt Nam”và “Ôn tập VHDG Việt Nam” 60
2.3 Những chú ý khi sử dụng SĐTD trong dạy học 68
2.3.1 Không xem SĐTD như phương pháp duy nhất trong dạy học 68
Trang 62.3.2 Kết hợp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học 71
2.3.3.Tránh tính hình thức trong việc lập và sử dụng SĐTD 71
2.3.4 Cần có sự thống nhất giữa hoạt động dạy của GV 72
và hoạt động học của HS 72
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 73
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 73
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 73
3.2 Lập kế hoạch thực nghiệm 73
3.2.1.Hoạch định trường THPT và GV thực nghiệm sư phạm 73
3.2.2 Trao đổi với GV dạy thực nghiệm sư phạm 74
3.2.3.Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 74
3.2.4 Chọn bài lên lớp thực nghiệm sư phạm 74
3.3 Thiết kế bài học thực nghiệm 75
3.3.1 Bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” 75
3.3.2 Truyện cổ tích “ Tấm Cám” 79
3.4 Đánh giá thực tiễn giờ dạy học thực nghiệm 84
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 89
3.5.1 Biện pháp đánh giá 89
3.5.2 Kết quả thực nghiệm – nhận xét đánh giá 89
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 7DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
VHDG : văn học dân gian
SĐTD : sơ đồ tư duy
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
1 Bảng 1.1 Thống kê đơn vị bài học VHDG trong SGK Ngữ văn
10
34
2 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát ý kiến HS sau khi dạy xong bài
“Khái quát VHDG Việt Nam” và bài “Tấm Cám” 100
4 Bảng 3.3 Tỉ lệ đạt được ở bài thực nghiệm 15 phút 104
6 Bảng 3.5 Tỉ lệ đạt được của thực nghiệm 45 phút 105
7 Bảng 3.6 Bảng tổng hợp so sánh kết quả giữa hai bài thực
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
1 Hình 1.1 Mô hình SĐTD của tác giả Tony Buzan 20
2 Hình 1.2 SĐTD dạy “Truyện Kiều” của thầy Hoàng Đức Huy 21
3 Hình 1.3 SĐTD dạy “Nhật Kí trong tù” của thầy Hoàng Đức
Huy
21
4 Hình 1.4 SĐTD học « Truyện dân gian » lớp 9 (HS thiết kế -
5 Hình 1.5 SĐTD môn Sinh (HS thiết kế - nguồn Internet) 22
6 Hình 1.6 SĐTD môn Toán của TS Trần Đình Châu 23
7 Hình 1.7 SĐTD môn Vật lí (HS thiết kế - nguồn Internet) 23
8 Hình 1.8 SĐTD môn Hóa học (Cô Nguyễn Thị Khoa trường
Quang Trung – Bình Phước)
13 Hình 2.3 SĐTD tóm tắt truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” 54
14 Hình 2.4 SĐTD dạy nhân vật An Dương Vương 58
15 Hình 2.5 SĐTD “ Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây” 60
16 Hình 2.6 SĐTD “Diễn biến mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con
Cám”
64
17 Hình 2.7 SĐTD bài “Nhưng nó phải bằng hai mày” 63
18 Hình 2.8 SĐTD khái quát bài học “Chiến thắng Mtao Mxây” 64
19 Hình 2.9 SĐTD khái quát bài “An Dương Vương và Mị Châu –
20 Hình 2.10 SĐTD lập dàn ý đề bài “Phân tích nhân vật Đăm Săn
qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây” 68
21 Hình 2.11 SĐTD bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”(
22 Hình 2.12 SĐTD bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” 71
23 Hình 2.13 SĐTD khái quát truyện dân gian (tác phẩm tự sự) 75
24 Hinh 2.14 SĐTD lập kế hoạch hoạt động ngoại khóa VHDG 76
25 Hình 3.1 SĐTD khái quát đặc trưng truyện cổ tích thần kì 96
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đang là vấn đề mà ngành Giáo dục nói riêng
và toàn xã hội nói chung đặc biệt quan tâm và đang được thực hiện ở nước ta trong những năm gần đây Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp như Luật giáo dục 2005,
chương I, điều 24 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho mỗi HS” Việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy văn học dân gian (VHDG) nói riêng
không nằm ngoài yêu cầu đổi mới đó
Trong thực tế hiện nay, đối với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, mặc
dù đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới PPDH song tình trạng đọc chép trong giờ học vẫn còn khá phổ biến Giáo viên (GV) trong giờ dạy vẫn còn truyền thụ một chiều, chưa thực sự phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS Bản thân HS vẫn còn thụ động, vẫn còn
“nói theo thầy”, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy GV chưa mang đến cho HS phương pháp học tập hiệu quả, đặc biệt chưa gúp
HS phát triển khả năng tự học
1.2 VHDG là bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, đóng vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn HS, cung cấp cho các em kiến thức rộng lớn về đời sống các dân tộc…Tuy vậy VHDG là những sáng tác có khoảng cách xa so với thực tại, chứa đựng những tư duy, những quan niệm thẩm mĩ của người xưa,… là những khó khăn lớn đối với người học nội dung văn học này Hơn nữa, với dung lượng kiến thức lớn, khả năng phủ rộng tới nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhưng lại bị hạn chế trong thời gian 1 – 2 tiết học trong nhà trường phổ thông phần nào khiến GV khi dạy nội dung này vẫn chưa đạt được tới đích của việc dạy bài học VHDG Mặt khác, việc dạy VHDG trong trường phổ thông chưa thật sự khơi gợi được hứng thú cho HS, GV dạy trên tinh thần “cho xong bài”, HS vẫn xem nhẹ việc học VHDG Từ thực tế này đòi hỏi GV Ngữ văn cần lựa chọn phương pháp – phương tiện dạy học phù hợp với nội dung VHDG, nhằm tổ chức, định hướng cho HS thu thập thông tin, chinh phục kho tàng tri thức một cách hiệu quả
Trang 111.3 Như vậy việc phát triển tư duy cho HS, hướng các em đến một phương pháp học tập tích cực, chủ động và sáng tạo là chuyện nên làm GV không chỉ cung cấp cho các em kiến thức mà quan trọng hơn phải giúp các em “học cách học”, không chỉ giúp HS khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Bản đồ tư duy (Mind map)
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, vv…
Trên cơ sở tổng kết những vấn đề cơ bản của lý thuyết SĐTD mà Tony Buzan đã tạo dựng, hệ thống hóa đặc điểm nội dung phần VHDG trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập
1, ban cơ bản, với mong muốn sử dụng thành thạo, hiệu quả SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và VHDG nói riêng để mang lại kết quả tốt trong phương thức học tập của
HS, phương pháp giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề
tài “ SỬ DỤNG SĐTD TRONG DẠY VÀ HỌC VHDG VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng SĐTD vào dạy và học VHDG Việt Nam ở trường THPT
2.2 VHDG là một bộ phận cùng với văn học viết cấu thành văn học Việt Nam, chính vì vậy VHDG là một mảnh đất rộng lớn khơi gợi nhiều vấn đề nghiên cứu rất lý thú và giàu ý nghĩa Việc sử dụng SĐTD vào VHDG là rất cần thiết, tuy vậy trong phạm vi luận văn chúng tôi không thể khảo sát được việc sử dụng SĐTD ở tất cả các thể loại, các tác phẩm trong chương trình VHDG mà chỉ khảo sát trên nhóm tác phẩm tự sự dân gian (TPTSDG)
và dạng bài khái quát, ôn tập VHDG trong chương trình Ngữ văn 10 ban cơ bản, tập 1 Mặt
khác chúng tôi chỉ chọn những phần kiến thức này vì SĐTD không phải lúc nào cũng sử dụng phù hợp cho tất cả bài học, nhóm TPTSDG và dạng bài khái quát, tổng kết VHDG là
Trang 12những bài học đòi hỏi tính khái quát, hệ thống vấn đề khá cao và việc sử dụng SĐTD vào dạy học những bài này là phù hợp
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực nghiệm ở khối 10 thuộc hai trường là: Trường THPT Tôn Đức Thắng và trường THPT Đoàn kết, đây là hai trường thuộc huyện Tân Phú – Đồng Nai Trường THPT Tôn Đức Thắng điểm tuyển đầu vào thấp, trường THPT Đoàn Kết điểm tuyển đầu vào khá cao đồng thời cũng là một trong những trường có chất lượng cao của tỉnh Đồng Nai, việc thực nghiệm ở hai trường này sẽ thuận lợi cho việc đánh giá kết quả
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Trên thế giới
Tony Buzan là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (Sơ đồ tư duy) từ những năm 70 của thế kỉ XX Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐH British Columbia năm 1964 Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới Tony
Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head” Trong đó, ông trình bày cách
thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp SĐTD Những cuốn sách nổi tiếng của Tony Buzan về SĐTD đã được dịch sang tiếng Việt là:
Tony & Barry Buzan (2008), Bản đồ Tư duy, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp
TPHCM
Tony BuZan (2008), Lập bản đồ tư duy, NXB Alphabooks & NXB Trí Thức
Tony Buzan (2008), Sử dụng trí tuệ của bạn, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp
tính sáng tạo và giải quyết vấn đề” Cuốn sách nhằm phổ biến phương pháp SĐTD, chứng
minh tính ứng dụng thực tiễn của nó trong cuộc sống
Trang 13Bốn tác giả Jean – Luc Deladriere; Frederic Le Bihan; Pierre Mongin; Dennis Rebaud
cũng đã viết cuốn “Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy” (Trần Chánh Nguyên dịch), NXB
Tổng hợp TPHCM, đã chỉ ra rất rõ thế mạnh của SĐTD trong cuộc sống cũng như học tập
Năm 2007, cuốn “Tôi tài giỏi bạn cũng thế” của Adam khoo đã được Trần Đăng Khoa
và Uông Xuân Vy dịch sang tiếng Viêt Adam khoo đã từng là một cậu bé học hành kém cỏi với kết quả thi cử thảm hại, nhưng với phương pháp học bằng SĐTD, không những anh đã vươn lên để đạt đuợc kết quả xuất sắc trong các kỳ thi cuối cấp hai và cấp ba, anh còn được xếp hạng trong số 1% sinh viên tài năng nhất của trường Đại học Quốc gia Singapore và trở
thành tỷ phú của Singapore khi còn rất trẻ “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” tổng hợp những kỹ
năng và phương pháp đã mang tới thành công vượt bậc cho cậu bé Adam kém cỏi Một trong những phương pháp mang lại thành công cho Adam khoo chính là áp dụng công cụ học bằng SĐTD, chương 7 của cuốn sách trình bày khá rõ về SĐTD
3.2 Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về SĐTD cũng như những ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy và học tập trong những năm gần đây đã có sự phát triển Đã có những ứng dụng trong thực tế của các GV và HS, đồng thời cũng có những nghiên cứu thành dự án của Bộ Giáo dục – Đào tạo Tuy vậy việc sử dụng SĐTD trong giảng dạy và học tập vẫn chưa trở thành hệ thống rộng khắp trong cả nước
Tháng 3 năm 2006, chương trình Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy – Bản đồ tư duy” cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội Dự án đã nhận được sự ủng
hộ sâu rộng từ lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, các thầy cô giáo và đông đảo học sinh sinh viên Những đề tài nghiên cứu khoa học về ứng dụng SĐTD trong làm viêc theo nhóm, trong học ngoại ngữ, học các môn xã hội khác đã đạt giải cao tại các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong chuyến thăm Việt Nam của Tony Buzan năm 2007 và cuộc trò chuyện cùng nhà
báo Tạ Bích Loan trong chương trình “Người đương thời” vào tháng 4 năm đó trên VTV1,
có lẽ hình ảnh của Tony Buzan cùng với SĐTD nay đã không còn quá xa lạ với nhiều người Việt Nam
Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy là dịch giả của cuốn sách “Tôi tài giỏi bạn cũng
thế”, đã cùng một số thành viên khác sáng lập ra công ty Thế giới mới (TGM), với những
Trang 14hoạt động khá sôi nổi có liên quan tới SĐTD, mọi người người có thể tham gia trao đổi về SĐTD cũng như tham dự cuộc thi vẽ SĐTD theo chủ đề một cách thoải mái trên Website www.vuontoithanhcong.com Đồng thời khóa học “Tôi tài giỏi” của công ty TGM có giảng dạy về SĐTD thu hút rất đông các bạn trẻ tham dự trên địa bàn TPHCM
Ngành Giáo dục đã có ứng dụng SĐTD vào dạy học, cụ thể:
“Dự án phát triển Giáo dục – Bộ Giáo dục – Đào tạo THCS 2” do tiến sĩ Trần Đình
Châu làm Giám đốc đã triển khai chương trình “Sử dụng Bản đồ tư duy góp phần dạy học
tích cực và hỗ trợ công tác quản lí nhà trường” Từ năm 2006 đến 2009 nhóm nghiên cứu
của Dự án THCS 2 và Viện Khoa học Giáo dục đã ấp ủ, nghiên cứu, thử nghiệm thành công thiết kế BĐTD trong dạy học ở một số trường ở Hà Nội, Bắc Giang Sau đó nhóm nghiên cứu đã “trình làng” kết quả nghiên cứu bằng một đề tài khoa học Nhiều bài báo khoa học của nhóm nghiên cứu này được công bố ở một số Tạp chí Khoa học và tờ báo chuyên ngành có uy tín đã thu hút sự quan tâm và áp dụng vào dạy học của nhiều GV và cán bộ quản lí giáo dục khắp cả nước như:
- Trần Đình Châu, “Sử dụng Bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS học tập
môn Toán”, Tạp chí Giáo dục kì 2, tháng 9 – 2009
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tích cực hóa hoạt
động của HS”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề Thiết bị dạy học năm 2009
- Đặng Thị Thu Thủy, “Hướng dẫn sử dụng phần mềm bản đồ tư duy”, Tạp chí Thiết bị
giáo dục, tháng 11/ 2009
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Tổ chức hoạt động dạy học với Bản đồ tư duy”,
Giáo dục & thời đại, số 184, 185, ngày 18,19/ 11/2010
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Thiết kế Bản đồ tư duy dạy học kiến thức mới
trong môn Toán”, Tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 12/ 2010
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Thiết kế Bản đồ tư duy dạy – học môn Toán dùng
cho GV và HS THPT”, NXB Giáo dục Việt Nam, tháng 4/ 2011
Nói về SĐTD trong dạy và học, kết quả thu về từ những GV tham gia dạy thử nghiệm
mà Dự án THCSII triển khai ở trường THCS Đống Đa, THCS Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai (Hà Nội), nhiều trường ở huyện Lạng Giang (Bắc Giang), huyện Hương sơn (Hà Tĩnh), 35 trường THCS tham gia Dự án ở Bắc Kạn, Lào Cai, Lai Châu cho rằng PPDH mới này sẽ trợ giúp cho HS sử dụng sức mạnh của bộ não để học và ghi nhớ những gì đã học Quan trọng
Trang 15hơn, phương pháp học này làm cho bài học được trình bày một cách sáng tạo, khiến cho cả thầy và trò đều thấy lý thú
Trong Hội thảo khoa học: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào đào tạo GV tiểu học”
khoa Giáo dục tiểu học – Đại học Sư phạm TPHCM, ngày 5 tháng 10 năm 2007, Thạc sĩ Trương Tinh Hà – khoa Vật lý của trường trình bày chuyên đề “Giảng dạy và học tập với công cụ Bản đồ tư duy”
Năm 2009, thầy Bùi Phương Thanh Huấn, giảng viên trường Đại học Cần Thơ đã bảo
vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông vùng đồng bằng sông Cửu Long” Đây là luận án tiến sĩ Giáo dục học nghiên cứu về lý luận và PPDH bộ môn Hóa học bằng SĐTD của Tony Buzan nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học ở trường THPT vùng ĐBSCL Luận án đã chỉ ra những ứng dụng cụ thể của SĐTD để sơ đồ hóa giáo án Hóa học của GV bằng phần mềm Mindjet MindManager Pro7, kết hợp tổ chức dạy học SĐTD với phương pháp grap và algorit và vận dụng SĐTD để sơ đồ hóa phương pháp tự học tập hóa học của HS Luận án đã khẳng định việc sử dụng SĐTD vào dạy học Hóa học rất phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện nay
ở các trường THPT, đáp ứng được chủ trương tin học hóa nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đối với môn Văn, điển hình áp dụng SĐTD là ông Hoàng Đức Huy Ông Huy đã áp dụng rất thành công ở trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) quận 4 và trường THPT
Tư thục Nguyễn Khuyến - TP.HCM năm học 2008-2009 Ông đã thành lập website www.hoangduchuy.com để HS cùng lên học, trao đổi kinh nghiệm về SĐTD, đồng thời
xuất bản cuốn sách “Bản đồ tư duy đổi mới dạy học” Cuốn sách đã hướng dẫn chi tiết cách
vẽ SĐTD và ứng dụng của SĐTD ở các cấp học từ bậc mầm non tới trung học, đặc biệt chú trọng nhiều tới việc sử dụng SĐTD trong dạy văn ở bậc trung học cơ sở Cuốn sách đưa ra những đề tài có thể sử dụng SĐTD phù hợp như: tác phẩm tự sự (VD: bài “Bánh chưng bánh giầy” ở lớp 6; “Cô bé bán diêm” lớp 8,…); tác phẩm trữ tình (VD: bài “Đêm nay Bác không ngủ” lớp 6; “Bánh trôi nước” lớp 7, “Nhật kí trong tù” lớp 8,…) Đồng thời cũng cho những ví dụ về SĐTD ở thể loại VGDG bậc trung học cơ sở đó là: truyền thuyết (VD: Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm); truyện cổ tích (VD: Sọ Dừa, Thạch Sanh, Em bé thông minh); truyện ngụ ngôn (Thầy bói xem voi),… SĐTD cũng được sử dụng phù hợp trong các kiểu văn bản như: văn bản nghị luận; văn bản thuyết minh Nhìn
Trang 16chung, ông Hoàng Đức Huy đã chỉ ra những ứng dụng rộng rãi của SĐTD trong mọi cấp học, việc sử dụng SĐTD đối với môn Văn cũng khá đa dạng ở các thể loại Tuy nhiên, ở mỗi thể loại ông mới đưa ra các ví dụ, chưa cụ thể hóa một cách chi tiết bằng hệ thống lí thuyết Báo Tuổi trẻ ngày 4 tháng 11 năm 2008 đăng bài viết “Dạy Văn bằng Bản đồ tư duy” nói về việc ứng dụng SĐTD trong dạy học của ông Hoàng Đức Huy Tháng 11 năm
2008, Đài truyền hình Việt Nam VTV9 đã ghi hình hai tiết học Văn có sử dụng SĐTD của ông Theo ông Phạm Chí Dũng – Phòng Giáo dục thường xuyên – Sở GDĐT TP.HCM:
“SĐTD rất phù hợp khi áp dụng vào giảng dạy vì giúp giảm tải chương trình, HS dễ hiểu, dễ nhớ, dễ học Sở Giáo dục Đào tạo không chỉ nhân rộng trong hệ Giáo dục thường xuyên mà
cả hệ phổ thông”
Như trên đã nói việc nghiên cứu và ứng dụng SĐTD ở Việt Nam nhìn chung bước đầu phát triển tuy vậy vẫn chưa thật sự phổ biến, hi vọng trong tương lai không xa, SĐTD sẽ được áp dụng rộng rãi ở mọi cấp học như một phương pháp mới, hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong việc nghiên cứu, xử lý các tài liệu liên quan đến SĐTD, VHDG, việc đổi mới PPDH Từ chỗ đọc, phân tích, rồi tổng hợp để đi đến xác lập những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng khi thu thập thông tin, nắm bắt thực tế nhằm đánh giá về phương pháp học tập, khả năng tiếp nhận tác phẩm văn chương của HS trong quá trình tiếp cận tác phẩm Từ đó, xác lập những thông số về thực tiễn dạy học ở trường phổ thông và năng lực của HS
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình thực hiện đề tài như thiết kế giáo án, tổ chức dạy học thực nghiệm Phương pháp này giúp cho việc kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý, tính khả thi của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn
Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê kết quả khảo sát và và kết quả thực nghiệm, từ đó đưa ra những kết luận chính xác nhất
Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp này nhằm so sánh đối chiếu việc dạy sử dụng SĐTD có mang lại hiệu quả so với các cách dạy học khác, đồng thời so sánh hiệu quả
Trang 17đạt được khi vận dụng SĐTD với những đối tượng HS khác nhau Từ đó rút ra những mặt mạnh và hạn chế khi sử dụng SĐTD trong trường phổ thông
5 Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu về SĐTD trên thế giới không phải là mới lạ, ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX Tony Buzan đã có hàng loạt công trình về SĐTD, tuy nhiên ở Việt Nam, SĐTD vẫn còn là khái niệm mới mẻ với nhiều người Sử dụng SĐTD trong giảng dạy và học tập đã
có tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng vẫn chưa thật sự phổ biến Với đề tài “Sử
dụng SĐTD trong dạy và học VHDG trong nhà trường THPT”, dù mới bước đầu thử
nghiệm, chúng tôi cũng mong muốn góp phần đưa SĐTD vào sử dụng rộng rãi và có hệ thống hơn trong trường học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng và đặc biệt là VHDG
Trước hết, đối với công tác nghiên cứu khoa học, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ bé thúc đẩy sự phát triển của các PPDH tích cực đang được sử dụng trong những năm gần đây Cụ thể là hệ thống hóa lý thuyết về SĐTD, chỉ ra những ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy VHDG, xây dựng quy trình bài giảng VHDG có sử dụng SĐTD
Thứ hai, đối với công tác giảng dạy, VHDG là bộ phận quan trọng trong bộ môn Ngữ văn Việc sử dụng SĐTD trong dạy và học VHDG sẽ giúp GV có một phương pháp giảng dạy mới tránh tình trạng đọc chép, phát huy cao khả năng sáng tạo của GV Mặt khác việc
sử dụng SĐTD trong giảng dạy sẽ giúp HS “học cách học”, HS có thể tự học với SĐTD, tăng cường khả năng sáng tạo và tư duy logic, phát huy tính chủ động tích cực của riêng mình
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thiết kế và sử dụng SĐTD vào dạy học VHDG Việt Nam
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục giới thiệu thêm hai giáo án thực nghiệm; phiếu tham khảo ý kiến GV và HS và một số SĐTD do HS thiết kế trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Trang 18C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.Đổi mới PPDH ở Việt Nam
1.1.1.Xu hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam trong những năm gần đây
Giáo dục Việt Nam đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ Cách mạng
tháng Tám đến nay, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo
đã đạt được nhiều thành tựu: nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào quá trình đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Giáo dục của chúng ta đã qua ba lần cải cách (năm 1950, 1956, 1980), những lần cải cách đó chỉ tập trung vào thay đổi mục tiêu, chương trình, nội dung mà chưa đề cập trực diện đến đổi mới phương pháp giáo dục
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2002 là một chủ trương lớn đã thực sự được chuẩn bị từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau khi ban hành nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X Lần đổi mới này là một quá trình đổi mới toàn diện mà một trong những trọng tâm của nó là tập trung đổi mới PPDH, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của HS với sự tổ chức hướng dẫn đúng mực của
GV Tiếp tục tận dụng các ưu điểm của PPDH truyền thống, dần dần làm quen với những PPDH mới và hiện đại đang được áp dụng ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Trong sự nghiệp phát triển đất nước, nền Giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường
và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quết vấn đề…”, từ đó đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho ngành Giáo dục cần phải đổi mới PPDH để đào tạo con người mới có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn hiện nay: cách mạng truyền thông và công nghệ thông tin, cách mạng
khoa học và công nghệ Một trong những đổi mới ngành Giáo dục cần phải thực hiện đó là đổi mới PPDH bằng hoạt động hoá người học, hay hướng vào người học trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức theo quan điểm “lấy HS làm trung tâm”, theo hướng này GV chỉ
Trang 19đóng vai trò là người tổ chức và điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự lực hoạt động, tìm tòi và sáng tạo để giành lấy kiến thức mới
1.1.2 Đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT
Xu hướng dạy văn hiện nay là phát huy tính chủ động, tích cực ở HS, tránh tình trạng đọc chép Vào đầu thế kỉ XX, thế giới đã bắt đầu đề cập đến “thị hiếu”, “công chúng” trong văn học Khái niệm tác phẩm văn học theo quan niệm của mĩ học tiếp nhận phải là: Tác phẩm văn học = văn bản + sự tiếp nhận của độc giả
Từ thành tựu của lí luận tiếp nhận văn học hiện đại cho thấy việc tiếp nhận văn học không còn là sự tiếp nhận thụ động của chủ thể mà là sự tiếp nhận tích cực, tác động trở lại khâu sáng tác của tác giả Chính vì vậy trong nhà trường HS là một đối tượng bạn đọc độc lập, có thể đóng vai trò người đọc tích cực để lĩnh hội, khám phá những thông tin từ tác phẩm cũng như tư tưởng, tình cảm trong thông điệp của nhà văn Vậy nên PPDH cần phải phát huy tính chủ động, tích cực của HS Trong những năm gần đây, với xu hướng đổi mới dạy học nói chung, việc dạy học văn đã có sự chuyển biến rõ rệt về phương pháp Các phương pháp truyền thống không mất đi hoàn toàn mà kết hợp với các phương pháp khác để việc học văn đạt hiệu quả cao, đó là các phương pháp như: dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thuyết trình, ngoại khóa…Nhìn chung tất cả các phương pháp nhằm hướng đến một giờ học văn thân thiện mà ở đó cả GV lẫn HS đều là những người đọc GV đóng vai trò là người có kinh nghiệm dẫn dắt các em tiếp nhận tác phẩm Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy văn như trên, việc sử dụng SĐTD vào dạy học là hoàn toàn phù hợp, phát huy tính chủ động, tích cực của HS trong học tập
1.2 Lý thuyết về SĐTD
1.2 1 Khái niệm SĐTD
SĐTD còn gọi là Bản đồ tư duy, Lược đồ tư duy,… là một trong những công cụ được dùng để trình bày thông tin một cách cụ thể, cho phép người sử dụng vừa tập trung vào chi tiết vừa có được cái nhìn tổng quát Nhờ vậy, họ có thể nhanh chóng nắm bắt những tình huống có vấn đề
SĐTD là một phương pháp ghi chú gồm một hình ảnh hoặc một từ khóa ở trung tâm,
và từ từ khóa trung tâm đó phát triển ra nhiều ý, mỗi ý sẽ là một từ khóa mới, có nhiều ý nhỏ hơn Với đặc tính này, bất kì từ khóa hay hình ảnh chủ đạo nào bổ sung vào SĐTD đều
Trang 20có thể mở rộng phạm vi liên kết mới, rồi từ đó lại mở rộng phạm vi liên kết mới nữa và chu trình đó có thể lặp đi lặp lại đến vô hạn
SĐTD khai thác toàn diện chức năng của vỏ não – từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc bằng một kĩ thuật độc đáo và sáng tạo Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh đa dạng, một khối lượng kiến thức rất lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng chỉ trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất kì thông tin quan trọng nào Đặc biệt, SĐTD cho phép làm nổi bật những ý tưởng trọng tâm, giúp tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ về những gì được học
1.2.2 Thiết kế SĐTD
1.2.2.1 Các bước thiết kế SĐTD
Bước 1: Chủ đề viết ở trung tâm, từ đó phát triển ra các ý khác Chủ đề cần được làm
nổi bật cho dễ nhớ như: thêm màu sắc, hình ảnh
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ, tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm,
được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, viết thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ Bất cứ lúc
nào có thể, hãy dùng biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm thời gian
Bước 4: Chúng ta có thể thêm nhiều hình ảnh, màu sắc làm nổi bật các ý trọng tâm
1.2.2.2 Các quy tắc trong SĐTD
- Nhấn mạnh: Đây là một quy tắc quan trọng vì có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng
tạo Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu, chúng ta cần :
+ Dùng một hình ảnh trung tâm hoặc từ ngữ có màu sắc, kích cỡ thật lôi cuốn Hình ảnh
tự khắc thu hút sự tập trung của mắt và não, đồng thời giúp nhớ hiệu quả Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn – lôi cuốn, gây sự thích thú và thu hút quan tâm, chúng ta có thể sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD
+ Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy: Thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần trong cùng một phân cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh và giúp ghi nhớ tốt hơn
+ Cách dòng có tổ chức, thích hợp: Cách dòng có tổ chức làm nổi rõ hình ảnh, giúp tổ chức phân cấp, phân hạng hiệu quả từ đó giúp SĐTD dễ dàng khai triển và trông đẹp mắt,
bố cục rõ ràng
Trang 21- Liên kết: Liên kết có vai trò tăng trí nhớ và sáng tạo nên cũng rất quan trọng Đối với trí
nhớ và sự hiểu biết, liên kết là then chốt
+ Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh hoặc khác nhánh: Nhờ dùng mũi tên, ta
sẽ nhanh chóng tìm thấy các mối liên hệ giữa các vùng trong SĐTD
+ Dùng màu sắc: Màu sắc là một trong những công cụ tăng cường trí nhớ và sáng tạo hiệu quả nhất Dùng màu sắc để làm kí hiệu hay phân biệt các vùng trong SĐTD sẽ làm tăng tốc
độ tiếp cận thông tin và khả năng nhớ thông tin
+ Dùng kí hiệu: Khi dùng kí hiệu, chúng ta có thể lập tức tìm mối liên kết giữa các bộ phận trên cùng một trang trong SĐTD Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian, chẳng hạn có thể dùng kí hiệu đơn giản để biểu thị người, dự án, các thành phần hay quy trình dùng đến trong những bản ghi chú
- Mạch lạc: Diễn đạt rõ ràng, hệ thống giúp chúng ta tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn
+ Chữ viết rõ ràng giúp não dễ chụp ảnh hơn: Chúng ta có thể kết hợp chữ in thường và in hoa để biểu thị mức quan trọng tương đối giữa các từ trong SĐTD
+ Các vạch liên kết luôn nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với hình ảnh trung tâm Nối liền các vạch liên kết trong SĐTD là một cách giúp ta liên kết ý tưởng Vạch nối có thể
là mũi tên, đường cung, vòng xoắn, vòng tròn, hình bầu dục, tam giác, đa giác hay bất kể hình thù nào mà bạn có thể nghĩ tới
+ Ảnh vẽ thật rõ ràng trông đẹp mắt và hấp dẫn hơn đồng thời giúp tư duy mạch lạc
1.2.2.3 Hình thức thiết kế
a Vẽ bằng tay
- Chuẩn bị: Một tờ giấy trắng (tờ giấy A4 hoặc tờ giấy đôi quyển vở); bút chì, bút mực
và hộp bút chì màu, tẩy (nếu vẽ lên giấy, bìa), phấn các màu, khăn lau bảng (nếu vẽ lên bảng)
- Thực hành: Thực hành theo các bước đã nêu trong mục 1.2.2
b Vẽ bằng phần mềm trên máy vi tính
Để thiết lập SĐTD, chúng ta chỉ cần bắt đầu với cây bút chì và tờ giấy trắng, thế nhưng
để có thể trình bày ý tưởng, sản phẩm của mình cho mọi người cùng tham khảo thì với cây bút chì và tờ giấy trắng e rằng khó có thể thực hiện được, nó sẽ làm cho chúng ta lúng túng, thiếu tự tin khi trình bày vì kích thước tờ giấy, vì chữ viết không rõ,… làm cho người xem không thoải mái và Hiện có khá nhiều phần mềm vẽ SĐTD, mỗi phần mềm có thế mạnh và
ưu nhược điểm riêng, trong đó có phần mềm có bản quyền (người sử dụng phải mua), bản
Trang 22miễn phí (FreeMind), hoặc bản Demo (dùng thử), Chúng tôi giới thiệu cách vẽ SĐTD bằng phần mềm Mindjet Mindmanager Pro7 Phần mềm SĐTD Mindjet MindManager Pro7 là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức tư duy HS trong quá trình dạy – học GV sử dụng phần mềm này sẽ đạt được những hiệu quả cao trong việc phát huy tính tích cực của
HS, đặc biệt là rèn luyện các kĩ năng học tập cho người học Với nhiều tính năng vượt trội, với giao diện đẹp mắt, bóng bẩy, Mindjet Mindmanager Pro7 cho phép chúng ta trình bày
ý tưởng có đính kèm các chú thích, đó có thể là hình ảnh, đoạn video, sơ đồ, bảng tính dễ dàng sử dụng các mẫu sơ đồ, chế độ xem nhiều sơ đồ, với nhiều công cụ biểu mẫu phong phú, truy cập nhanh chóng bằng các phím chức năng MindManager Pro7 giúp cho người dùng giải quyết các vấn đề phức tạp và cải thiện hơn năng suất Đồng thời MindManager Pro7 được sử dụng miễn phí.tại địa chỉ Download:
ftp://ftp.mindjet.com/download,MM70-E-429_Pro.exe
Sau khi cài đặt phần mềm vào máy, hãy nhấp vào biểu tượng trên màn hình destop
Gi ới thiệu cách sử dụng Mindjet MindManager Pro 7
● Các thao tác cơ bản
Cài đặt chương trình: Tương tự như các phần mềm khác
● Cách tạo sơ đồ
Bước 1: Mở ứng dụng
Giao diện màn hình sau khi đã cài đặt Mindjet: Khi mở chương trình, nhấn vào New để tạo
sơ đồ mới
Trang 23Bước 2: Tạo những nhánh con
- Insert/subtopic để tạo nhánh con, triển khai kế hoạch chi tiết hơn Hoặc R-click chọn Insert/subtopic
- Phím enter (Insert/topic) để tạo nhánh con cùng cấp với con trỏ chuột đang đứng
ý tưởng, trọng tâm… nhánh nối cấp 1
2 Tạo liên kết giữa các nhánh…
3 Liệt kê các biểu tượng…
4 Liên kết với các file khác…
5 Định dạng văn bản…
Trang 24- Chèn
1 2 3 4
1 Tạo bookmark, lập bảng, chú thích các thuộc tính và giá trị…
2 Nhắc nhở…
3 Liên kết với Excel…
4 Liên kết với Microsoft Outlook…
Trang 264 Chọn sơ đồ kiểu dành cho học tập và giảng dạy…
Do có nhiều tính năng nổi bật nên phần mềm này rất hữu ích và tiện lợi khi thiết kế bài dạy học của GV và lập kế hoạch tự học của HS
1.2.2.4 Một số ví dụ về SĐTD
Trang 27Hình 1.2: SĐTD dạy “Truyện Kiều” của thầy Hoàng Đức Huy
Trang 28Hình 1.4: SĐTD học « Truyện dân gian » lớp 9 (HS thiết kế - nguồn Internet)
Trang 29Hình 1.6: SĐTD môn Toán của TS Trần Đình Châu
Trang 30Hình 1.8 : SĐTD môn Hóa học (Cô Nguyễn Thị Khoa trường Quang Trung
– Bình Phước)
Trang 311.2.3 Tác dụng của SĐTD trong việc ghi chú
1.2 3.1 Tầm quan trọng của việc ghi chú
"Ghi chú là tiếp nhận ý tưởng của người khác từ bài nói, sách và các phương tiện truyền thông, rồi sắp xếp chúng thành một kết cấu phản ánh được ý ban đầu hoặc giúp bạn
có thể sắp xếp lại cho phù hợp với yêu cầu của mình Nên bổ sung vào ghi chú những ý riêng của người ghi chú" [40, tr.171] Ghi chú có nhiều vai trò quan trọng, quan trọng nhất
là giúp hỗ trợ trí nhớ; tiếp theo là giúp phân tích, cụ thể là khi ghi chú từ bài giảng hoặc tài liệu, trước hết ta cần nhận biết kết cấu tiềm ẩn của thông tin đang được trình bày; ghi chú tốt nhất không chỉ giúp ta nhớ và phân tích thông tin mà còn trở thành nguồn kích thích tư tưởng sáng tạo
1.2.3.2 Học tập theo phương pháp ghi chú truyền thống
Có ba hình thức ghi chú truyền thống thường được sử dụng, cụ thể là: hình thức dùng câu tường thuật, đơn giản là ghi chú nội dung cần giao tiếp ở dạng tường thuật ; thứ hai là lối liệt kê, ghi lại các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện; thứ ba là lối dàn ý đánh thứ tự bằng số hay alphabet, tức là ghi chú theo kiểu xâu chuỗi, phân cấp nhóm chính và nhóm con
“Trên khắp thế giới, các phương pháp ghi chú theo kiểu thông thường phổ biến hiện nay đều như nhau, đó là lối trình bày theo tuần tự Ở mọi trường học và công ty mà chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu đều cho thấy rằng có trên 95% đối tượng thử nghiệm sử dụng ba lối ghi chú đã khái quát trên” [ 40, tr.60]
Tuy được dùng phổ biến nhưng những hình thức ghi chú truyền thống còn nhiều hạn chế Trong ghi chú truyền thống từ khóa dễ bị chìm khuất vì nhữngtừ khóa thường rải ra trên
nhiều trang giấy và bị chìm trong một rừng chữ không quan trọng bằng Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm Mặt khác ghi chú truyền thống khiến người đọc khó nhớ nội dung vì chỉ dùng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khước từ và bỏ quên chúng đi Hơn nữa, lối ghi chú thông thường
là hàng dãy liệt kê, bất tận và không có gì khác biệt Sự buồn tẻ ấy đưa não vào trạng thái thôi miên, nửa mê nửa tỉnh nên hầu như chẳng nhớ nội dung gì Một hạn chế nữa của ghi chú truyền thống là lãng phí thời gian vì nó buộc ta đọc những ghi chú không cần thiết và phải truy tìm từ khóa Đồng thời ghi chú truyền thống cũng không kích thích não sáng tạo biểu hiện ở chỗ khi đối diện với những bản ghi chú theo lối liệt kê, não liên tục có cảm giác
Trang 32nó “nó đã tới phần kết” hay “hoàn tất” Cảm giác đã hoàn thành nhưng không có thật này làm trì trệ và kiềm hãm quá trình tư duy
Nhìn chung, phương pháp ghi chú theo lối truyền thống có hiệu quả tỉ lệ nghịch với công sức Vì vậy cần có phương pháp ghi chú mới giúp đạt hiệu quả cao hơn
1.2 3.3 Ưu thế của học tập theo phương pháp ghi chú theo SĐTD
Phương pháp ghi chú theo SĐTD có nhiều ưu thế sẽ khắc phục được hạn chế của lối ghi chú truyền thống Ghi chú theo SĐTD giúp tiết kiệm thời gian vì không ghi dài dòng, SĐTD chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50 – 95 % thời gian Đồng thời tránh lãng phí thời gian dò tìm các từ khóa trong một rừng chữ dài, tiết kiệm trên 90% thời gian SĐTD sẽ tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng đó là: sự hình dung; liên tưởng; làm nổi bật
sự việc Mặt khác SĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng lúc giúp khai thác toàn diện kĩ năng tư duy của vỏ não - từ ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc, tăng khả năng tư duy vô hạn của não
1.2.3.4 So sánh SĐTD với một số sơ đồ, bản đồ khác
Grap nội dung dạy học là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chốt cơ bản (cần và đủ) của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong nó Grap có nhiều tính năng, tính khái quát là một trong những tính năng nổi bật của Grap, khi nhìn vào Grap ta sẽ thấy được tổng thể kiến thức, logic phát triển của vấn đề và các mối liên hệ giữa chúng
Tính trực quan của Grap thể hiện ở việc sắp xếp các đường liên hệ rõ, đẹp, bố trí hình khối cân đối, có thể dùng kí hiệu, màu sắc, đường nét đậm nhạt để nhấn mạnh những nội dung quan trọng Grap còn có tính hệ thống, dùng Grap sẽ thể hiện được trình tự kiến thức của chương, logic phát triển của kiến thức thông qua các trục chính hoặc các nhánh chi tiết và tổng kết được các kiến thức chốt và những kiến thức có liên quan Bên cạnh đó Grap có tính súc tích, Grap cho phép dùng các kí hiệu, quy ước viết tắt ở các đỉnh nên đã nêu lên được những dấu hiệu bản chất nhất của các kiến thức, loại bỏ những dấu hiệu thứ yếu của khái niệm Sử dụng Grap, HS dễ dàng hiểu được các kiến thức chủ yếu, quan trọng ở các đỉnh của Grap và cả logic phát triển của cả một hệ thống kiến thức
Trang 33Hình 1.9: Ví dụ về Grap dạy học (nguồn Internet)
• Bản đồ khái niệm
Bản đồ khái niệm dựa trên tiền đề là các khái niệm không tồn tại riêng biệt mà có liên quan với nhau và được sử dụng với ý định trình bày những mối quan hệ giữa các khái niệm dưới dạng bản đồ
Bản đồ khái niệm gồm những khái niệm được vẽ trong đường tròn hay hộp, giữa những khái niệm này được kết nối bằng từ hay cụm từ ghi trên đường thẳng để làm mối liên hệ giữa các khái niệm Bản đồ khái niệm có nhiều ưu điểm: cô đọng kiến thức; HS có khả năng sắp đặt kiến thức của mình một cách có ý nghĩa; thuận lợi cho việc kết nối các chủ đề; nối kiến thức mới với kiến thức cũ; dễ nhận thấy những nhận thức khái niệm sai của HS
Cấp độ khái quát nghĩa từ ngữ
có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó được bao hàm trong phạm
vi từ ngữ đó
vd: động vật
thú
voi, hươu
Đồng thời có thể có nghĩa hẹp với những từ ngữ khác
Thực vật rau rau cải Một từ ngữ có nghĩa rộng với
những từ ngữ này
Trang 34Hình 1.10: Một ví dụ về bản đồ khái niệm (nguồn Internet)
• Sơ đồ tư duy
SĐTD cũng có những nét tương đồng với Grap dạy học và Bản đồ khái niệm ở tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống, tính súc tích, tâm lí của sự lĩnh hội…Nhưng bên cạnh đó còn có rất nhiều ưu điểm vượt trội là sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, có hình ảnh để hình dung đến kiến thức, sử dụng nhiều màu sắc để làm nổi bật thông tin, sử dụng nhiều từ khóa để cô đọng kiến thức Đa số các GV khi áp dụng phương pháp Grap chưa phát huy tối đa sức mạnh của màu sắc, chưa tận dụng tối đa các từ khóa, thường Grap được đóng khung theo mỗi đỉnh, và trong khung đó có thể là tổng thể nhiều kiến thức được sắp xếp theo kiểu liệt kê, làm giảm khả năng kết nối thông tin Bản đồ khái niệm là sự trình bày theo thứ bậc, và liệt kê tất cả kiến thức nên có thể gây lãng phí thời gian ở những nơi HS cần giải thích rõ ràng và chi tiết, ngoài ra HS có thể lúng túng nếu kiến thức quá nhiều, bản đồ sẽ phức tạp vì Bản đồ khái niệm chưa thật sự vận dụng hết sức mạnh
Trang 35của từ khóa Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong SĐTD đã đem lại một công dụng trong việc tăng cường kết hợp giữa trí tuệ và tính sáng tạo Việc nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánh cấp 2, cấp 3 với nhánh cấp 1, cấp 2
khi đó, HS sẽ hiểu và ghi nhớ dễ dàng hơn rất nhiều
1.3 Văn học dân gian trong trường phổ thông
1.3 1 Những nét khái quát về VHDG
1.3.1.1 Khái niệm VHDG
VHDG là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công
xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại đến ngày nay
VHDG ở Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân (hoặc văn học bình dân, , văn chương hoặc văn học truyền miệng, sáng tác dân gian,…) Những khái niệm này xuất hiện sớm nhất là từ đầu thế kỉ XX Trước đó trong các thư tịch về VHDG, mới chỉ thấy lưu hành những thuật ngữ dùng để nói về từng thể loại VHDG Riêng khái niệm VHDG thì chỉ mới xuất hiện vào khoảng những năm 50 của thế kỉ XX, và hiện nay đã được dùng rộng rãi trong giới nghiên cứu văn học
1.3 1.2 Đặc trưng VHDG:
VHDG có nhiều đặc trưng, đó là những đặc trưng sau đây: tính truyền miệng; tính tập thể; tính nguyên hợp; tính diễn xướng; tính đa chức năng; tính dị bản;
Tính truyền miệng: Phương thức sáng tác bằng truyền miệng là phương thức chủ yếu,
thậm chí là phương thức duy nhất của VHGD Trong điều kiện một thị tộc, bộ tộc, một dân tộc chưa có chữ viết thì VHDG của thị tộc, bộ tộc, dân tộc đó không thể có phương thức sáng tác và tồn tại nào khác ngoài phương thức truyền miệng Tính truyền miệng đã trở thành một đặc trưng cơ bản của VHDG Đặc trưng này cho thấy VHDG ra đời là kết quả của quá trình ứng khẩu, ứng tác Trong các dịp cộng đồng quây quần, lao động, vui chơi, hoặc trong các buổi sinh hoạt văn hóa mang tính lễ nghi của bộ tộc, tác giả dân gian có thể sáng tạo một tác phẩm VHDG bằng cửa miệng để bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm của mình hay
để đối đáp trao gửi tình cảm Sau đó tác phẩm ấy được các cá nhân khác lưu truyền bằng trí nhớ Quá trình truyền miệng có thể diễn ra theo không gian và thời gian, tức truyền từ vùng này sang vùng khác, thế hệ này sang thế hệ khác Khi chữ viết chưa xuất hiện, có thể gọi đó
là thời kì lịch sử xã hội còn hạn chế, tính truyền miệng góp phần lưu giữ kho tàng văn học
Trang 36đồ sộ của dân tộc Đến thời kì có chữ viết mặc dù đã có phương thức sáng tác và lưu truyền bằng chữ viết nhưng không vì thế phương thức truyền miệng của VHDG mất đi mà nó vẫn tồn tại giúp VHDG phát triển song song cùng văn học viết
Tính truyền miệng chi phối nội dung và hình thức của một tác phẩm VHDG Do được sáng tác qua con đường ứng khẩu, ứng tác nên ngôn từ trong tác phẩm VHDG thường giản
dị và mang tính hình tượng cao, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người lao động Bởi vậy ta thường thấy trong các sáng trữ tình dân gian, các biểu tượng như trầu – cau, hoa – bướm, gốc đa – sân đình, thuyền – bến, cái khăn - chiếc áo…trở nên quen thuộc Hay trong các thể loại tự sự dân gian, nội dung câu chuyện thường được xây dựng theo kết cấu thời gian tuyến tính, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, không gian thường gói gọn trong quy mô làng xã
Vì thế tác phẩm VHDG thường dễ nhớ, dễ thuộc và gần gũi với công chúng
Tính truyền miệng không phải đơn thuần chỉ thuộc phạm trù hình thức, chỉ nói lên hình thức tồn tại của VHDG Nó còn là một phạm trù thẩm mĩ, có vai trò to lớn đối với vẻ đẹp thuần khiết của VHDG, phân biệt sự khác nhau rõ rệt giữa VHDG và văn học thành văn
Tính tập thể: Tính tập thể là một biểu hiện cho mối quan hệ phụ thuộc của VHDG vào
môi trường sinh hoạt của nó, xét cho cùng thì nó có cơ sở từ điều kiện sống, điều kiện lao động và sinh hoạt tập thể của quần chúng nhân dân
Nói tới tính tập thể là nói đến tính vô danh của những tác phẩm VHDG, những tác phẩm kết tinh sự sáng tạo của tập thể và do đó không mang dấu ấn cá nhân, không có cá tính rõ rệt Mặc dù lúc đầu tác phẩm VHDG hình thành là kết quả của một cá nhân khởi xướng nhưng sau đó được tập thể tiếp nhận tiếp tục lưu truyền và sáng tác làm cho tác phẩm biến đổi dần, thường là tác phẩm phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật
Tính tập thể tạo nên một đặc trưng độc đáo của VHDG, trái ngược với dấu ấn cá nhân trong văn học viết Một tác phẩm VHDG có giá trị sẽ nhanh chóng được tập thể đón nhận như một sản phẩm tinh thần chung Họ có quyền thêm bớt, sửa chữa cho phù hợp với sở thích, phong tục, thói quen từng địa phương Vì vậy trong quá trình lưu truyền tác phẩm VHDG không cố định và luôn được hoàn thiện Nếu như tác phẩm được qua tay một người
có tài năng, nó có thể đạt đến trình độ hoàn thiện cao nhất và ngược lại.Tính truyền miệng
và tính tập thể trong VHDG có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Bên cạnh hai đặc trưng cơ bản nhất của VHDG kể trên chúng ta có thể điểm thêm vài
nét về những đặc trưng khác của VHDG, cụ thể: Tính nguyên hợp trong VHDG là một
Trang 37biểu hiện của sự nhận thức nguyên hợp của người nguyên thủy, điều đó thể hiện ra ở chỗ trong nội bộ nghệ thuật nguyên thủy còn chưa có sự phân hóa rõ rệt và sự phát triển độc lập của các loại hình nghệ thuật khác nhau, trong VHDG thời kì nguyên thủy, thành phần ngôn ngữ còn có sự kết hợp chặt chẽ với nhiều thành phần nghệ thuật khác như: âm nhạc, nhảy múa, điệu bộ,… Nói đến tính truyền miệng người ta lại nói đến quá trình diễn xướng dân gian hay gọi là tính diễn xướng, đây cũng là một trong những đặc trưng quan trọng của
VHDG, người ta có thể nói, kể, hát, diễn tác phẩm dân gian Ở đây, lời (tức phần ngôn từ truyền miệng) ở một số thể loại có thể kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác (lời thơ trong ca dao thường được hát theo làn điệu: một vở chèo khi trình diễn bao gồm cả lời, nhạc, múa và diễn xuất của nghệ nhân) Nói như Hoàng Tiến Tựu “Tác phẩm VHDG sinh ra trong biểu diễn, lớn lên bằng biểu diễn và tồn tại ở dạng sinh động nhất cũng là dạng biểu
diễn” [ 29, tr.53] Một đặc trưng khá quan trọng của VHDG là tính đa chức năng, trong
VHDG chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ và chức năng sinh hoạt hợp thành một thể thống nhất Mặt khác, VHDG không chỉ thực hiện những chức năng của một loại nghệ thuật đã chuyên môn hóa như văn học viết mà kết hợp nhiều chức năng
khác nhau: chức năng của nghệ thuật, chức năng của khoa học, chức năng sinh hoạt hay
chức năng thực hành,…) Quá trình lưu truyền bằng trí nhớ và sự thêm bớt của tập thể dẫn đến sự ra đời dị bản tạo nên đặc trưng của VHDG là tính dị bản, biểu hiện ở tính chất động,
không cố định trong VHDG Dị bản có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc sâu dấu ấn riêng
biệt về địa hình, phong tục, lối sống, quan niệm ứng xử của từng địa phương Tác phẩm còn
sống là còn khả năng được sáng tác lại, bổ sung thêm hoặc bớt, tức là thường xuyên phát sinh dị bản mới Trong việc giảng dạy tác phẩm VHDG ở nhà trường, việc đối chiếu, so sánh và phẩm bình các dị bản khác nhau của một tác phẩm có hiệu quả rất lớn đối với dạy học tác phẩm
1.3.2 VGDG trong trường phổ thông
1.3.2 1 Vị trí VHDG trong trường phổ thông
“VHDG là một trong hai bộ phận quan trọng cấu thành nền văn học của một dân tộc Chính vì vậy không riêng gì ở nước ta mà ở hầu hết các nước trên thế giới VHDG đều được đưa vào giảng dạy trong nhà trường các cấp VHDG có tác dụng giáo dưỡng và giáo dục tốt đối với thế hệ trẻ trong nhà trường, nhưng không phải ngay từ đầu nó đã có vị trí xứng đáng trong chương trình văn học ở trường phổ thông” [28,tr.49]
Trang 38Do cách nhìn chưa đúng đắn của một thời, chương trình cũ trước Cải cách Giáo dục đã đưa văn học hiện đại sau Cách mạng tháng Tám vào quá nhiều khiến cho tỉ lệ VHDG và văn học cổ điển bị co lại Đến Cải cách Giáo dục (những năm 80 của thế kỉ XX) thì mới có sự điều chỉnh hợp lí Sự điều chỉnh đó bắt đầu từ nhận xét về chương trình cũ (trước Cải cách
Giáo dục) của Ủy ban Văn hóa Giáo dục Quốc hội:
“Tỉ lệ các bài văn học cổ điển, VHDG trong SGK quá thấp so với văn học hiện đại…Chất liệu hồn nhiên, tươi mát trong sáng, truyền thống vui vẻ, hài hước, lòng nhân ái, tình yêu đối với thiên nhiên, con người trong văn học VHDG và văn học cổ điển chưa được chú ý đúng mức…
Từ nhận định trên, Ủy ban đưa ra một số kiến nghị, trong đó có kiến nghị về phân bố chương trình:
Trong việc phân bố chương trình, ngoài việc chú trọng tới văn học đương đại, cần nghiên cứu để dành một tỷ lệ thích đáng cho VHDG, văn học cổ điển, văn học trước Cách mạng tháng Tám và tinh hoa văn học thế giới
….Chúng tôi cho rằng phân bố lại, có thể là:
- VHDG trong nước và thế giới: 30%
- Văn học cổ điển, cận đại: 50%
- Văn học hiện đại: 20%” [28,tr.25]
Nhận xét và kiến nghị trên đây đã mở ra một thời kì mới cho môn văn học trong nhà trường, trước hết là ở khâu soạn thảo chương trình và biên soạn SGK, trong đó VHDG đã được đưa lên đúng vị trí quan trọng của nó
VHDG đã được đưa vào học ngay từ cấp 1 và chiếm thời lượng khá nhiều trong chương trình phổ thông (THCS và THPT) Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi chỉ thống kê cấu tạo và nội dung phần VHDG ở lớp 10 THPT
Học kì I của chương trình Ngữ văn 10 kéo dài 18 tuần, VHDG được phân bố từ tuần thứ 2 tới tuần thứ 11 Số tiết và nội dung bài học cụ thể ở sách cơ bản và nâng cao như sau
Trang 39Bảng 1.1: Thống kê đơn vị bài học VHDG trong SGK Ngữ văn 10
Sử thi - Chiến thắng Mtao Mxây
(Trích sử thi “ Đăm Săn”)
2 - Chiến thắng Mtao Mxây
(Trích sử thi “ Đăm Săn”)
- Đọc thêm: Đẻ đất đẻ nước (trích)
2 - Truyền thuyết An
Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
- Ca dao than thân
- Ca dao yêu thương, tình nghĩa
- Ca dao hài hước, châm biếm
- Đọc thêm: Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn…
- Tam đại con gà
1 - Nhưng nó phải bằng hai
mày, Tam đại con gà
- Lời tiễn dặn (Trích Tiễn dặn người yêu)
Trang 40- Ôn tập VHDG Việt Nam 2
Tổng số tiết VHDG trong sách 10 ban cơ bản là 15 tiết, sách nâng cao là 21 tiết Tuy nhiên trong chương trình giảm tải SGK năm học 2011 – 2012 của Bộ Giáo dục, phần “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” chỉ dạy 3 bài (bài 1,4,6) dù tiết PPCT vẫn là 2 tiết So sánh chương trình VHDG ở hai sách cơ bản và nâng cao chúng ta nhận thấy nội dung ở sách nâng cao trình bày sâu hơn, thể loại phong phú hơn Việc chọn tác phẩm VHDG trong SGK
10 đã thể hiện khá nhất quán sự có mặt của các thể loại phong phú và cấu trúc bài học theo dạng tích hợp Chương trình VHDG trong SGK 10 hiện nay ngoài những thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca dao có đưa thể loại sử thi và truyện thơ của các dân tộc thiểu số đề tạo sự cân đối, toàn diện nền VHDG cùa 54 cộng đồng dân tộc anh em trên đất nước ta
1.3 2.2 Tình hình dạy VHDG trong nhà trường phổ thông
a Phương hướng đổi mới cơ bản :
Dạy VHDG theo thi pháp VHDG: Dạy văn học là dạy một loại hình nghệ thuật, vì
vậy phải khám phá cả thế giới nghệ thuật đó bằng những quy luật của chính nó Do đó, cách dạy khoa học nhất là cách dạy theo quan điểm thi pháp học VHDG khác văn học viết, nên thi pháp VHDG cũng không giống thi pháp văn học viết Bởi vậy, không thể dạy VHDG bằng thi pháp của văn học viết mà phải dạy VHDG bằng thi pháp VHDG Ta thấy, cùng là thể loại thơ, nhưng ca dao không phải là thơ, và các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật…của ca dao khác thơ Trong thể loại truyện cũng vậy, kết cấu truyện dân gian khác với kết cấu truyện hiện đại, nhân vật trong truyện đời xưa không giống nhân vật trong truyện ngày nay (một bên là điển hình tính cách, một bên là điển hình nhân vật) Chính vì vậy dạy văn học viết dường như chỉ khai thác trên văn bản ngôn từ của tác phẩm (những yếu tố ngoài văn bản cũng có nhưng không đáng kể), nhưng dạy VHDG thì bên cạnh văn bản ngôn từ là cơ sở chủ yếu, chúng ta còn cần khai
thác thêm những yếu tố ngoài văn bản và cả những mặt giao thoa nữa
Dạy VHDG theo quan điển hệ thống, bằng phương pháp hệ thống: Đây cũng là
quan điểm dạy VHDG theo thi pháp VHDG Có nghĩa là phải đặt tác phẩm VHDG trong những hệ thống sau đây để tiếp cận và giảng dạy: hệ thống dị bản, hệ thống môtíp và hệ thống văn hóa dân gian Thi pháp VHDG cũng nhắc chúng ta một điều quan trọng trong