1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số việt nam

179 655 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói rộng ra về luận án khoa học là phải giới thuyết và giải thích đề tài thật rõ ràng, nhất là đối với đề tài : Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền của các dân tộc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG MINH LƯỜNG

QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS KH BÙI VĂN BA (PHƯƠNG LỰU)

HÀ NỘI - 2001

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG MINH LƯỜNG

QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS KH BÙI VĂN BA (PHƯƠNG LỰU)

HÀ NỘI - 2001

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Hoàng Minh Lường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 18

1.1 Những tiền đề có tính chất mỹ học của nghệ thuật 18

1.2 Về chủ thể nghệ thuật 32

1.3 Về tác dụng nghệ thuật 42

CHƯƠNG 2: SO SÁNH QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN CỔ TRUYỀN GIỮA DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI DÂN TỘC KINH 64

2.1 Những tương đồng 64

2.2 Những khác biệt 90

CHƯƠNG 3: ĐỐI SÁNH QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN CỔ TRUYỀN VỚI VĂN HỌC HIỆN ĐẠI CỦA CHÍNH CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 112

3.1 Đổi mới quan niệm về nghệ thuật ở các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại 115

3.2 Sự kế thừa quan niệm về nghệ thuật dân gian cổ truyền của các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại 125

KẾT LUẬN 153

NHỮNG CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 159

TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Giải thích và giới thuyết đề tài:

Hegel có nói rằng, nhiệm vụ đầu tiên của nghiên cứu khoa học là phải giới thuyết đối tượng nghiên cứu Nói rộng ra về luận án khoa học là phải giới thuyết và giải thích đề tài thật

rõ ràng, nhất là đối với đề tài : Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền

của các dân tộc thiểu số Việt Nam với tư cách là một đề tài thuộc chuyên ngành Lý thuyết

và lịch sử văn học ít nhiều còn có phần khác lạ, lại càng cần phải giải thích cận kẽ trước về

một số điểm cần thiết :

Nói Quan niệm về nghệ thuật chứ không phải chỉ riêng cho quan niệm về văn học,

bởi vì văn học và nghệ thuật vốn phần nào có những đặc điểm và những nguyên lý chung, hơn nữa trong văn học dân gian cổ truyền vốn tồn tại trong dạng phôn cờlo mang tính chất

tổng hợp quả thực có nói nhiều đến những hoạt động nghệ thuật cụ thể, cho dù ở đó chưa có khái niệm nghệ thuật chung

Nói đến Văn học dân gian , nhưng đây không phải là đề tài thuộc chuyên ngành

Văn học dân gian, cho nên chúng tôi xin được phép chưa vận dụng những phương pháp của

chuyên ngành này như : khảo dị văn bản, kiểm đính lời dịch, đặc biệt là phương pháp điền dã, sưu tầm thêm v.v Để khảo sát, thống kê và nghiên cứu khái quát các quan niệm về nghệ

thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số, chúng tôi chỉ dựa vào những văn

bản mà các Nhà xuất bản có trách nhiệm đã công bố mặc dù chưa hầu khắp nhưng cũng đã là những văn bản của tuyệt đại bộ phận các dân tộc thiểu số mà chúng tôi sẽ liệt kê ở các phần sau

Trang 6

Nói các dân tộc thiểu số là chỉ các dân tộc anh em ít người ở cả trong Nam và

ngoài Bắc trên Tổ quốc Việt Nam ta, mà do trình độ phát triển xã hội và hoàn cảnh môi sinh v.v giữa các dân tộc thiểu số vốn đã có những đặc điểm chung nhất định nào đó có thể tự

phân biệt với dân tộc đa số (Kinh) ở ngay trong những sinh hoạt văn hosa và xã hội khác về

mặt văn nghệ, trong đos có các quan niệm về nghệ thuật cũng vậy Tất nhiên ngay trong quan

niệm về nghệ thuật giữa các dân tộc thiểu số anh em chắc chắn chí ít cũng đã có những sắc

thái khác nhau, cho nên có thể đặt vấn đề nghiên cứu quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền của từng dân tộc, song đó chỉ có thể là công việc nghiên cứu ở một cấp độ khác, càng cụ thể hơn tiếp tục theo hướng nghiên cứu này trong tương lai

Điều quan trọng then chốt nhất là, thay vì cho việc bắt đầu giải thích, xin tạm hình

dung một dạng phụ đề bổ sung ngay sau tiêu đề chính thức của luận án : Quan niệm về nghệ

thuật trong văn học dân gian cổ truyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam (qua những hình tượng, những lời ca v.v có liên quan đến nghệ thuật trong sáng tác) Vì sao vậy ?

Cũng như dân tộc Kinh, văn học dân gian cổ truyền của các dân tộc thiểu số chưa thể

có lý luận phê bình để bộc lộ trực tiếp ý thức nghệ thuật của mình Song một khi đã có một thực tiễn sáng tác đa dạng, phong phú thì ắt phải tiềm ẩn những quan niệm nhất định nào đó

về nghệ thuật Có thể từ những phẩm chất của thực tiễn sáng tác đó, dùng con mắt của người

ngày nay để khái quát nên những quan niệm nghệ thuật của cổ nhân, như qua Truyện Kiều để

khái quát lên chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du Cách làm này cố nhiên cũng bổ ích và lý thú, song dù sao vẫn là gián tiếp ở đây chúng tôi căn cứ trực tiếp vào những hình tượng, những lời ca v.v với tư cách là những thành phần hữu cơ ngay trong sáng tác dân gian miễn

là chúng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nghệ thuật (giống như : Văn

Trang 7

hay chẳng luận dài dòng hoặc tiếng đàn Thạch Sanh trong văn học dân gian của dân tộc

Kinh) để khái quát lên những quan niệm nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc anh em chắc chắn sẽ có phần sát hợp hơn Tất nhiên từ những cứ liệu như vậy, việc khái quát lên những quan niệm nghệ thuật dân gian sẽ khó có thể tránh khỏi những sắc màu cảm quan tự phát, chưa có được hệ thống chặt chẽ của lý luận hoàn bi Cho nên chúng tôi xem đây chỉ là một mũi tiếp cận vào ý thức nghệ thuật của dân gian, nó hoàn toàn không thể thay thế cho những con đường tiếp cận khác đối với di sản phôncờlo vô cùng phong phú và đặc sắc của các dân tộc anh em Tuy nhiên đây cũng là một hướng tiếp cận có ý nghĩa và không phải là không có

đủ độ tin cậy Cũng như chỉ qua hai câu thơ "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm" và

"Nay ở trong thơ nên có thép" , chúng ta cũng có thể thấy được một phương diện quan trọng

trong tư tưởng văn nghệ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Chí Minh Cho nên cũng xin được tin rằng hướng tiếp cận của luận án này sẽ bước đầu mở được một cánh cửa thoáng rộng

để nhìn sâu vào các quan niệm về nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc thiểu số anh em Trong khoa học, quý hồ góp thêm được một tiếng nói tương đối mới mẻ, miễn là tiếng nói đó được xây dựng dựa trên những căn cứ xác đáng

Trở lên là một số điểm cần thiết phải giải thích một cách tập trung liền mạch từ trước,

mặc dù sẽ còn phải chứng giải cụ thể thêm trong những mục tương ứng như đối tượng,

phương pháp nghiên cứu, riêng lẻ ở sau

Trang 8

dân gian các dân tộc thiểu số về nhiêu khía cạnh khác nhau Song hướng nghiên cứu chuyên chú vào các quan niệm nghệ thuật của bộ phận văn học này trong, các mối quan hệ đồng đại

và lịch đại của nó thì chưa có công trình nào để cập đến một cách có hệ thống Cũng như dân tộc Kinh, văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số quả thực có tiềm chứa khá nhiều quan niệm nghệ thuật lý thú Nó được chắt lọc nên từ quá trình trải nghiệm nghệ thuật của các thế hệ nghệ nhân dân gian dân tộc ít người từ bao thế hệ nay Hiện thực chất các quan niệm nghệ thuật tiềm chứa trong các sáng tác dân gian bao giờ cũng cần thiết và bổ ích, bởi lẽ

đó là những nỗi niềm tình cảm, thị hiên sở nguyện về nghệ thuật của quần chúng nhân dân lao động qua quá trình lịch sử dài lâu Đi sâu tìm hiểu thấu đáo, toàn diện các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc anh em vừa giúp ta hiểu thêm phím nào đặc điểm và giá trị của mảng văn học này vừa góp phần thiết thực vào việc xây dựng nền lý luận văn nghệ Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc truyền thống, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Sức mạnh văn hoá Việt Nam là sự hợp lưu mạnh mẽ từ nhiều nguồn văn hóa nghệ thuật độc đáo của các dân tộc anh em khác nhau cùng cộng cư gắn bó toàn diện trên một lãnh thổ Vì vậy, chỉ có thể có được ý niệm toàn vẹn về nền lý luận văn nghệ Việt Nam

đa dân tộc chừng nào trong nền lý luận văn nghệ ấy có sự tổng hòa, dung nạp được những bản sắc quan niệm thẩm mỹ, nghệ thuật của các dân tộc anh em Lâu nay nói đến các giá trị

lý luận nghệ thuật "từ trong di sản" của cha ông, hiển nhiên người ta chỉ biết đến di sản lý luận văn nghệ của người Việt - dân tộc đa số đóng vai trò quyết định đối với quá trình phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam Hiện nay di sản quan niệm thẩm mỹ, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số anh em còn ít được biết đến thấu đáo Đề tài không có tham vọng lấp bằng những khoảng khuyết vắng cho bức tranh lý luận văn nghệ rời rạc của các dân tộc thiểu

số

Trang 9

nhưng chắc chắn sẽ là một gắng gỏi nhỏ nhoi nhằm từng bước góp phần đưa vị thế của bộ

phận lý luận văn nghệ đặc biệt này lên một tầm độ mới ngang tầm với vị trí quan trọng của

nó trong đời sống văn nghệ của cộng đồng dân tộc thống nhất Mục đích trước hết của đề tài,

vì vậy vẫn là nhằm thực hiện phương châm học xưa là vì nay, học cũ là để làm mới mà

Đảng ta đã từng chủ trương quán triệt

Đến với các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số, ngoài mục đích hiểu sâu hơn những vấn đề của sáng tác truyền thống, từ đó cũng có tác dụng gợi ý mang tính định hướng tích cực đối với các sáng tác hiện đại về mảng đề tài dân tộc và miền núi Phải thừa nhận rằng, trên thực tiễn sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại, bên cạnh số đông các nhà văn chẳng mấy khi ly thoát hoàn toàn khỏi những phẩm chất dân tộc truyền thống bền vững tựa như đã hằn sâu tự nhiên vào máu thịt của họ thì vẫn còn đây đó nhà văn đổi mới thái quá đến nỗi làm mờ nhạt bản sắc dân tộc truyền thống Vì thế, việc thấu hiểu sâu sắc hơn các quan niệm nghệ thuật truyền thống rõ ràng sẽ có tác dụng mách bảo cho các nhà văn hiện đại những phương thức sáng tạo mang đậm bản sắc dân tộc truyền thống của cha ông mình để từ đó quán triệt một cách tự giác hơn vào thực tiễn sáng tạo tác phẩm Quả vậy, việc thấu hiểu bản chất đích thực của các quan niệm nghệ thuật dân gian cổ truyền các dân tộc trong các mối quan hệ đồng đại và lịch đại của nó là một yêu cầu quan trọng đối với việc học tập và chiếm lĩnh nguồn tri thức về nghệ thuật của dân tộc để từ đó có ý thức và thái độ đúng đắn đối với quá trình kế thừa và đổi mới trong thực tiễn sáng tạo của các nhà văn hiện đại theo tinh thần tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Việc lý giải thấu đáo các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số còn tạo ra những cơ sở và điều kiện

Trang 10

thuận lợi cho việc giáng dạy và học tập các tác phẩm văn học dân gian các dân tộc ít người trong các nhà trường thuộc mọi cấp học của chúng ta hôm nay Và ngay trong việc học tập và

giảng dạy Lý luận văn học các kiểu giải về nghệ thuật của dân gian các dân tộc anh em cũng

sẽ góp phần hiện thực hóa những tri thức lý thuyết khái quát bởi các cứ liệu sinh động và độc

đáo Nhà đó những nguyên lý phổ quát về các vấn đề thẩm mỹ và nghệ thuật sẽ không chỉ

đóng khung khép kín trong giới hạn chủ yếu của văn học việt mà còn tỏa rộng sức thuyết phục của nó tới mọi chiều kích sâu xa của lịch sử văn hóa nghệ thuật cha ông trong đó có các

di sản quan niệm nghệ thuật của các dân tộc anh em Như thế mục đích nghiên cứu đề tài

Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam ngoài ý

nghĩa về lý luận văn học là chủ yếu, thì còn có tác dụng ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp đối với việc sáng tác, nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học nữa

3 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu, nghiên cứu các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian Việt Nam nói chung, văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số nói riêng là một hướng nghiên cứu còn rất mới mẻ Chưa có những công trình nghiên cứu đầy đặn, có hệ thống về quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số, song đây đó cũng đã có những nhận xét khái quát bước đầu về phạm vi nghiên cứu này

Cuối năm 1986, luận văn tốt nghiệp sau đại học, chuyên ngành lý luận văn học của

học viên Nguyễn Thị Tây Phương: Quan niệm về cái đẹp và về nghệ thuật trong văn học

dân gian Việt Nam đã trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu các quan niệm về cái đẹp và nghệ

thuật trong văn học dân gian Việt Nam nói chung Tuy luận văn chưa có điểu kiện khảo sát toàn diện vấn đề trên nguồn phạm vi tư liệu rộng rãi, đặc biệt còn để khuyết vắng nhiều tư

Trang 11

liệu văn học dân gian đặc sắc của các dân tộc anh em, song bước đầu cũng đã có những liên

hệ thoảng qua mà bổ ích về các quan niệm nghệ thuật của các dân tộc anh em Tất nhiên những khái quát, liên hệ này hoàn toàn được kết nhập chung vào khung luận điểm về quan niệm cái đẹp và nghệ thuật của dân tộc Kinh Ý thức về cái riêng đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật của các dân tộc anh em vì vậy vẫn chưa được khắc họa trọn vẹn

Năm 1990, với bài viết Quan niệm về cái đẹp và về nghệ thuật trong văn học dân

gian (Nghiên cứu Nghệ thuật số 4/1990), tác giả Phương Lựu, bên cạnh việc chủ yếu nhằm

vào phân tích, khai quát các quan niệm về nghệ thuật, về cái đẹp trong văn học dân gian dân tộc Kinh cũng đã dành cho văn học dân gian các dân tộc anh em những phân tích cụ thể dựa trên các cứ liệu sinh động, đặc biệt là những cứ liệu nhằm làm nổi rõ quan niệm "nghệ thuật giữ vai trò to lớn trong việc chinh phục thiên nhiên, tố cáo áp bức, bất công, góp phần chống giặc ngoại xâm cứu nước" [94, 143].Những nhận xét, khái quát bước đầu này có liên qnan

đến quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã có tác dụng gợi ý

cho chúng tôi không những về phương hướng nội dung mà còn cả về cách thức khai thác của

đề tài

Ngoài ra cũng cần kể đến một số công trình khác có liên quan gián tiếp tới đề tài như

Về đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ ở Việt Nam (Văn học số 5/1972) và bài Về quan niệm thẩm mỹ dân gian Việt Nam (Văn học số 1/1984) của tác giả Hà Châu Tác giả

Nguyễn Xuân Kính có bài "Qua những tư liệu văn nghệ dân gian, tìm hiểu quan niệm của

ông cha ta về người nghệ sĩ" (Văn hóa dân gian số 3/1987) Tác giả Nguyễn Thị Huế có

một số công trình lý thú xoay quanh vấn đề Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích

các dân tộc Việt Nam (Văn học số 4/1985) hoặc Mô típ tiếng hát trong truyện kể dân gian Việt Nam (Văn học số 5/1991) Điều đáng nói, những công trình trên chỉ chủ yếu phân tích,

đánh giá sáng tác nghệ thuật dân gian song vẫn gián tiếp gợi ý cho chúng tôi trong việc khái

Trang 12

quát quan niệm về nghệ thuật dân gian, cụ thể là dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam

Về phần mình, hơn 10 năm qua chúng tôi đã có ý thức chủ động đến với đối tượng

quan tâm của mình qua những tìm tòi, gạn lọc các cứ liệu có liên quan đến quan niệm về

nghệ thuật (và cái đẹp) trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số Từ những số liệu khảo sát được, bước đầu chúng tôi cũng đã có được một số kết quả nghiên cứu đã từng được công bố

Chẳng hạn các bài viết: Bước đầu tìm hiểu quan niệm về vẻ đẹp lý tưởng của con người

trong văn học dân gian một số dân tộc ít người ở Việt Bắc (Thông báo khoa học của Trường

Đại học Sư phạm Việt Bắc số [11/1980); Những nét tương đồng trên bình diện quan niệm

về cái đẹp trong văn học dân gian các dân tộc Việt Nam (Thông báo khoa học của Trường

Đại học Sư phạm Việt Bắc số 11/l990); Quan niệm về cái đẹp trong văn học dân gian các

dân tộc thiểu số Việt Nam (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường -Trường Đại học Sư

phạm Việt Bắc năm 1992) v.v

Tóm lại, từ trước tới nay, vấn đề quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số việt Nam ít nhiều đã được đề cập tới Nhưng kể cả bản thân chúng tôi cũng mới chỉ chú ý đến những khía cạnh lẻ tẻ của vấn đề Nhìn chung là chưa có công trình nào triển khai, đi sâu vào vấn đề một cách chuyên biệt và có hệ thống

4 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Như đề tài đã xác định, nhiệm vụ căn bản của luận án là khai thác, nghiên cứu khái quát các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam khổng những về nội dung mà cả về đặc điểm, sức sống lâu bền cùng những hạn chế lịch

sử của nó Những đặc điểm và hạn chế này cố nhiên có thể được nhận xét sơ bộ sau khi rút

ra

Trang 13

được những nội dung cơ bản, song bản được nhìn nhận một cách khái quát hơn quạ sự so sánh với quan niệm về nghệ thuật của các nền văn học hữu quan Trước hết là so sánh với quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ huyền của dân tộc Kinh để thấy rõ hơn những đặc điểm từ riêng đến chung của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền của các dân tộc thiểu số Tiếp theo là phải đối sánh với quan niệm về nghệ thuật trong văn học hiện đại của các dân tộc thiểu số sau Cách mạng Tháng Tám để thấy rõ hơn sức sống lâu bền cũng như những hạn chế lịch sử của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian

cổ truyền của các dân tộc anh em

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án thật ra phải được cụ thể hóa thành những mặt gắn

bó với nhau như vậy

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài như đã giới thuyết ở trên là các khái quát dưới dạng trực tiếp hoặc gián tiếp có ẩn chứa các quan niệm về nghệ thuật dưới dạng văn bản đã được in

ấn, phát hành trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số anh em Tính đến thời điểm hiện nay đã có khoảng 30 dân tộc thiểu số có tác phẩm văn học dân gian được sưu tầm

và công bố dưới dạng văn bản in ấn như các tập truyện cổ, truyện thơ, sử thi hoặc ca dao dân

ca, tục ngữ v.v

Những cảm nhận, khái quát về nghệ thuật dưới dạng phát biểu trực tiếp thường gặp

trong các thể loại văn vần dân gian như ca dao dân ca tục ngữ, thành ngữ Ở đây các phát biểu, cảm nhận của dân gian về nghệ thuật hiện lên trực tiếp như những lời lẽ tự nghiệm, tuyên ngôn bộc trực về nghệ thuật (như: "Thiếu tiếng đàn, tiếng hát như ăn cơm không canh

ăn rau không muối" (dân ca Thái); "Hát lên cảnh mới đẹp, hát lên nhà mới vui" (dân ca Lô

Lố) v.v ) Những cảm nhận trực tiếp về nghệ thuật như vậy chủ

Trang 14

yếu được khai thác từ các nguồn tư liệu đan ca, tục ngữ dân gian của các dân tộc đã được ấn

hành dưới dạng văn bản như: Dân ca đám cưới Tày Nùng (1973); Dân ca Lò Lô (1975);

Dân ca Tây nguyên (1976); Tục ngữ Thái (1978); Dân ca Cao Lan (1981); Dân ca

H'mông (1984); Ca dao Tày Nùng(1994) v.v

Cũng là để bày tỏ các quan niệm về nghệ thuật, nhiều khi những cảm nhận của dân

gian lại được triển khai gián tiếp thông qua hệ thống các hình tương tự sự sinh động có liên

quan trực tiếp đến nghệ thuật thường gặp trong các truyện cổ, truyện thơ, sử thi ở đây, các quan niệm về nghệ thuật được hiện hữu ra thông qua sự biên hóa của các hình tượng, ý nghĩa

quan niệm thâm ngấm vào giữn các chi tiết, tình tiết của câu truyện (như tiếng đàn, lời ca vô

hiệu hóa hành động tàn bạo của lũ giặc cướp qua truyện cổ Tiếng hát của người đá của dân

tộc Raglai hoặc tiếng đàn lời ca đánh tan ý chí xâm lăng của quân chư hầu 18 nước trong

truyện cổ Chàng Sính của dân lộc H'mông v.v ) Các cảm nhận gián tiếp về nghệ thuật

thường được gạn lọc từ các tuyển tập truyện cổ các dân tộc hoặc các tập truyện thơ, trường

ca, truyện cổ riêng biệt của từng dân tộc như: Truyện thơ Tày Nùng (1964 - 1965); Truyện

cổ các dân tộc thiểu số Miền Nam - 2 tập (1975, 1976); Truyện cổ Việt Bắc (1976); Truyện

cổ Ề đê (1978); Truyện cổ Cơtu (1982); Truyện cổ CơHo (1984); Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn Tây Nguyên (1985) Truyện cổ Mảng (1985); Trường ca Tây Nguyên (1985);

Truyện cổ các dân tộc ít người ở Việt Nam - 4 tập (1987 - 1994); v.v

Có thể nhận thấy đối tượng nghiên cứu của đề tài - các quan niệm về nghệ thuật, căn bản đều khá xác định cả về sắc thái nội dung những suy nghĩ, chiêm nghiệm về nghệ thuật)

và diện mạo hình thức (ngắn gọn, bộc trực trong thơ ca, tục ngữ hoặc diễn biến sinh động qua các chi tiết, tình tiết

Trang 15

của câu chuyện có liên quan trực tiếp đến nghệ thuật trong tác phẩm tự sự )

Cũng cần lưu ý thêm rằng, việc phân tích, lý giải giá trị các quan niệm nghệ thuật cũng chỉ nhằm chú mục vào các câu thơ đoạn văn hoặc các chi tiết, tình tiết tự sự có tiềm chứa các quan niệm cụ thể về nghệ thuật, chứ không phân tích nghiên cứu toàn bộ nội dung tác phẩm nói chung Chẳng hạn khi nói đến quan niệm của dân gian về nghệ thuật góp phần

đánh giặc cứu nước qua Truyện Thạch Sanh, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích, bình giá ý nghĩa

của hình tượng ở các trang đoạn có liên quan đến ý tưởng dùng nghệ thuật làm vũ khí đánh giặc cứu nước mà thôi, chứ không phân tích toàn diện các vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm như về tình bạn, tình yêu, kết cấu sự kiện, đối chiếu dị bản v.v

Cuối cùng xin được lưu ý thêm rằng, do thực hiện nhiệm vụ so sánh, đối chiếu như đã

nói rõ trong phần nhiệm vụ nghiên cứu, cho nên luận án còn mở rộng phạm vi khảo sát sang

cả phần văn học dân gian dân tộc Kinh và văn học hiện đại các dân tộc thiểu số sau Cách mạng Tháng Tám

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của Triết học mác-xít cũng như những phương pháp nghiên cứu thông dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung (như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, qui nạp ) đề tài này chủ yếu vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản dưới đây:

Đề tài hướng tới khai thác các quan niệm có giá trị lý luận về nghệ thuật trong văn

học dân gian cổ truyền dưới dạng văn bản đã ấn hành cho nên phương pháp thống kê, phân

loại tư liệu có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ các thao tác nghiên cứu

của đề tài Thống kê tư liệu chính là thao tác kiếm tìm, lượm lặt các khía cạnh quan niệm tiềm chứa

Trang 16

rải rác trong các tác phẩm thuộc mọi thể loại khác nhau của văn học dân gian Nguyên tắc tối

đa khi thống kê, phân loại là phải dựa vào các cứ liệu quan niệm tổn tại thực trên văn bản tác phẩm đã được in ấn để trên cơ sở đó mà tổng hợp, khái quát thành các vấn đề lý luận văn nghệ chứ không phải là ngược lại Điều này vô hình trung cũng dự báo trước rằng: Phải dựa vào những cứ liệu tử những "văn bản" đích thực như đã nói ở trên để khái quát lên một số quan niệm nghệ thuật nhất định, tất yếu sẽ không thể và cũng không cần thiết minh chứng cho toàn bộ những vấn đề, những khái niệm đã có trong hệ thống lý luận văn nghệ hiện nay Mặc dù phải hết sức tránh bỏ sót trong khi lượm lặt, thống kê khát quát nhưng nếu cuối cùng vẫn thiếu vắng vấn đề này, khái niệm kia thì đó là do hạn chế lịch sử tất yếu chính các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc tộc thiểu số anh em

Với tính chất, nhiêm vụ của luận án, khó có thể qui hoạch phạm vi khảo sát, thống kê vào một số thể loại cụ thể hay tác phẩm văn học dân gian của một hay một số dân tộc xác định nào như đã từng nói ở trên Bởi lẽ, không phải ở đâu, lúc nào các khía cạnh quan niệm

về nghệ thuật cũng hiện diện như một điều kiện tất yếu, thường xuyên trong các tác phẩm Quả thực có chuyện có những dân tộc có tác phẩm văn học dân gian đã ấn hành) song không

hề có một phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp nào về nghệ thuật cả Ngay trong phim vi văn học viết cũng vậy, có những tác gia nổi tiếng xứng tầm đại thụ cua làng văn chương dân tộc song chắc gì họ đã có ý thức bày tỏ những quan niệm của mình về văn chương nghệ thuật? Vì thế cho nên hiện trạng xuất hiện các quan niệm nghệ thuật một cách rải rác, lẻ tẻ và thất thường trong phạm vi các thể loại văn học dân gian âu cũng là chuyện thường tình Mặt khác, tỷ lệ xuất hiện quan niệm nghệ thuật giữa các dân tộc cũng không giống nhau Có dân tộc thì bày

tỏ quan niệm nghệ thuật khá

Trang 17

thường xuyên, lại cũng có dân tộc tuyệt nhiên không đề xuất quan niệm nghệ thuật nào cả

Do vây để có thể thu trữ, tập hợp được một số lượng đáng kể các quan niệm nghệ thuật khả dĩ tạo điều kiện thuận lợi cho việc khái quát, tất yếu phải "đãi cát tìm vàng" trên diện rộng Chỉ

có lọc tìm, thống kê các quan niệm trên diện rộng các dân tộc và các thể loại khác nhau mới

hy vọng tổng hợp được những cứ liệu quan niệm nghệ thuật phong phú để nhờ đó mà chúng

sẽ bổ sung và làm đầy cho nhau tạo thành một mảng tư liệu dồi dào, giúp cho việc khái quát

có cơ sở tin chắc hơn Điều này quả thực đã góp phần giải thích thêm tại sao không thể tiến

hành nghiên cứu các quan niệm nghệ thuật trong phạm vi văn học dân gian cổ truyền của từng dân tộc một cách độc lập như đã từng nói ở trên

Điều đặc biệt quan trọng là việc sử dụng phương pháp so sánh trên cả hai chiều

đồng đại và lịch đại giữa các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số với quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền của dân tộc Kinh và quan niệm nghệ thuật trong văn học hiện đại của các dân tộc thiểu số sau Cách mạng Tháng Tám Từ chỗ khác nhau với quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian của dân tộc Kinh sẽ làm nổi rõ đặc điểm riêng biệt của quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số Ngược lại, từ chỗ giống nhau giữa hai phía cũng sẽ góp phần xác lập tính chất chung của quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Mặt khác về mặt lịch đại, từ sự giống nhau với quan niệm nghệ thuật, trong văn học

hiện đại các dân tộc thiểu số (ở bình diện kế thừa truyền thống quan niệm) sẽ nói lên sức sống

bền lâu của quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số Ngược lại, từ

chỗ khác nhau (ở bình diện cách tân quan niệm) cũng gián tiếp nói lên hạn chế lịch sử của

các quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam

Trang 18

Tóm tại qua việc so sánh, đối chiếu các bình diện nói trên, gương mặt của quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số càng có dịp hiện lên sắc nét trên các phương diện đặc điểm riêng cũng như tính chất chung, hạn chế lịch sử tất yếu cũng như sức sống trường kỳ của nó quá trình phát triển dài lâu của văn học nghệ thuật các dân tộc anh

em So sánh như thế là so sánh lịch sử, cho nên những vấn đề hữu quan từ phương pháp lịch

sử như lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và cách tân vốn đã được vận dụng kết hợp ở đây

Trong quá trình phân tích, lý giải quan niệm nghệ thuật dân gian, khi có điêu kiện

chúng tôi cũng đặc biệt coi trọng yêu cầu liên hệ với thực tiễn đời sống văn hóa vật chất và

văn hóa tinh thần đa diện của các dân tộc Văn học dân gian mà trong đó có tiềm ẩn các quan niệm nghệ thuật là bức tranh văn hóa tổng thể về mọi mặt tri thức da dạng của con người được hun đúc và tích lũy qua quá trình lịch sử dài lâu Vì vậy việc đặt nội dung các quan niệm nghệ thuật dân gian trong ý thức liên hệ với thực tiễn sinh hoạt vật chất và tinh thần phần nào mang tính chất tôn giáo và dân tộc học của các dân tộc thiểu số anh em sẽ giúp chúng ta lý giải giá trị và ý nghĩa của các quan niệm được rõ ràng và sinh động hơn Chẳng

hạn, những thông tin lý thú về lễ hội Lồng tồng của người Tày - Nùng; lễ hội Bỏ mả của một

số dân tộc Tây Nguyên do các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cung cấp đã được đề tài khai thác có lựa chọn để làm tư liệu liên hệ mở rộng trong quá trình phân tích, bình giá các quan niệm nghệ thuật của dân gian Các cứ liệu để liên hệ mở rộng ở đây, ngoài việc khai thác từ các nguồn tài liệu hữu quan còn bao gồm cả những kiến văn cần thiết mà chúng tôi với tư cách là đứa con của dân tộc và miền núi đã có dịp tiếp xúc và trải nghiệm thấm thía từ thủa ấu thơ giữa cuộc sống muôn mặt của cộng đồng các dân tộc thiểu số anh em

Trang 19

6 Những kết luận mới và cấu trúc luận án

Nghiên cứu một cách toàn diện các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian

cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự đối sánh theo các chiều đồng đại và lịch đại

của nó, bước đầu chúng tôi đã có được những kết quả nghiên cứu tương đối mới mẻ như sau:

Trải qua một quá trình lịch sử dài lâu, qua văn học dân gian cổ truyền, các dân tộc thiểu số anh em đã có ý thức cảm nhận, suy ngâm khá phong phú và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của nghệ thuật như: về chủ thể nghệ thuật, về vai trò tác dụng của nghệ thuật đối với cuộc sống đa diện của con người Về chủ thể nghệ thuật, những khía cạnh quan niệm có liên quan đến vấn đề nguồn gốc của tài năng nghệ thuật, mối quan hệ giữa sáng tác đời sau với di sản nghệ thuật truyền thống, giữa ý thức trách nhiệm và tấm lòng giao cảm của chủ thể nghệ thuật đối với hoạt động văn nghệ của chính họ v.v đã được dân gian cảm nhận khá thấm thía Mặt khác, nghệ thuật là sợi đây thắt chặt tình hữu ái đồng loại, là phương tiện phụng sự hữu hiệu đối với công cuộc lao động dựng xây và đánh giặc cứu nước, khích lệ niềm tin và khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên vì cuộc sống lao động hữu ích của con người Những quan niệm nghệ thuật này đều đã có những tiền đề có tính chất mỹ học là những quan niệm

về cái đẹp của con người qua quá trình lịch sử dài lâu của các dân tộc anh em làm nền tảng cho nó

Các quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số

có những điểm tương đồng và khác biệt với quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ

truyền của dân tộc Kinh Trên bình diện cộng đồng dân tộc, các dân tộc thiểu số và dân tộc

Kinh gặp gỡ nhau ở ý thức đề cao cái đẹp của con người bao gồm cả cái đẹp bên ngoài lẫn phẩm chất cao đẹp bên trong Các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều rất

Trang 20

trân trọng và yêu quí nghệ thuật, coi nghệ thuật (và cái đẹp) là phương tiện góp phần phụng

sự công cuộc lao động dựng xây, đánh giặc cứu nước, khích lệ niềm tin và khát vọng sống của con người, đặc biệt là con người lao động mặt khác do giữa các dân tộc thiểu số và dân

tộc Kinh vốn có những điều kiện môi sinh, văn hoá, xã hội, thói quen tư duy khác biệt nhau cho nên quan niệm về nghệ thuật của họ cũng khác nhau ở ngay trong ý thức về loại hình nghệ thuật được cảm nhận, về thể loại trong việc bộc lộ quan niệm về nghệ thuật, đặc biệt về

sắc thái nội dung và cách thức biểu đạt quan niệm nghệ thuật Về loại hình nghệ thuật được

cảm nhận, các dân tộc thiểu số chủ yếu bộc lộ các quan niệm nghệ thuật về ca múa nhạc

Loại trừ một số ít dân tộc thiểu số, còn đại bộ phận là không bày tỏ quan niệm nghệ thuật về thơ văn Trong khi đó dân tộc Kinh, bên cạnh các quan niệm về ca múa nhạc, đã phần nào

có nói đến thơ văn khá lý thú Về thể loại trong việc bộc lộ quan niệm về nghệ thuật, các

dân tộc thiểu số căn bản bày tỏ các quan niệm về nghệ thuật qua các thể loại tự sự, rất ít triển khai quan niệm trên các thể thơ ca, tục ngữ, thành ngữ Còn dân tộc Kinh, bên cạnh các thể

loại tự sự dân gian, lại chủ yếu bày tỏ quan niệm nghệ thuật qua các loại thể thơ ca, tục ngữ,

thành ngữ Về sắc thái nội dung và cách thức biểu đạt quan niệm nghệ thuật, các dân tộc

thiểu số thiên về lối biểu đạt dung dị, mộc mạc, bộc trực thẳng thắn, giàu hình ảnh sinh động, khác với dân tộc Kinh đã có thiên hướng bày tỏ quan niệm một cách khái quát, hàm súc

Đối sánh với quan niệm nghệ thuật trong văn học các dân lộc thiểu số hiện đại, bên cạnh những cách tân đổi mới toàn diện và tất yếu trên các bình diện dân tộc thống nhất, cách mạng và khoa học, các quan niệm nghệ thuật dân gian truyền thống vẫn tỏ rõ sức sống trường tồn của nó đối với nền văn học hiện đại Các nhà văn dân tộc thiểu số hiện đại vẫn kế thừa

rộng rãi các quan niệm nghệ thuật truyền thống như về chủ thể nghệ thuật và vai trò tác

Trang 21

dụng của nghệ thuật vốn có từ trong văn học dân gian Không chỉ biểu đạt quan niệm nghệ

thuật dưới "dạng sáng tác", mà ở phạm vi nghị luận hiện đại của các nhà văn dân tộc anh em vẫn thấm đượm cách cảm, cách nghĩ của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ

truyền

Để thể hiện những kết quả nghiên cứu nói trên, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh

mục Tài liệu tham khảo luận án được cấu trúc thành 3 chương chính như sau:

Chương 1: Những nội dung cơ bản của quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ Truyền các dân tộc thiểu số

Chương 2: So sánh về quan niệm nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh

Chương 3: Đối sánh về quan niệm nghệ thuật giữa văn học dân gian cổ truyền với văn học hiện đại của chính các dân tộc thiểu số

Trang 22

CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC

THIỂU SỐ

1.1 Những tiền đề có tính chất mỹ học của nghệ thuật

Quan niệm mỹ học mà then chốt là quan niệm về cái đẹp bao giờ cũng là cơ sở cho quan niệm nghệ thuật, bởi lẽ cái đẹp tồn tại trong thiên nhiên, xã hội nhưng tập trung biểu hiện sâu sắc ở nghệ thuật Cho nên muôn tìm hiểu quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian các dân tộc ít người Việt Nam trên một cơ sở vững chắc, trước hết phải tìm hiểu quan niệm về cái đẹp tiềm ẩn trong mảng văn học này Cũng như nhiều nền văn học dân gian khác, trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, các quan niệm về cái đẹp nói chung cơ bản đều được truyền đạt qua việc mô tả về vẻ đẹp của con người Từ những lý giải về vẻ đẹp của con người, có thể hiểu được ý thức của dân gian về cái đẹp nói chung, bởi lẽ như nhà lý luận văn học Nga nổi tiếng Gulaiep đã nói: "Bản chất của cái đẹp bao giờ cũng bao hàm một nội dung Người nhất định Đối tượng nào cũng chỉ có ý nghĩa thẩm mỹ khi nó có giá trị đối với con người Không thể hiểu cái đẹp tách rời tính chất Người" [50 ,115] Đặc biệt, F w Nitzsche - nhà mỹ học nổi tiếng cuối thế kỷ XIX ở Đức cũng đã nói: "Không có cái đẹp nào khác cả, chỉ có con người mới đẹp Phải xây dựng toàn bộ mỹ học trên cái nền chân lý giản

đơn này, đó là chân lý đầu tiên của Mỹ học" (Sự ra đời của bi kịch) Một ý kiến hiển nhiên

là phiến diện vì đã bỏ qua những cái đẹp trong thiên nhiên và xã hội nhưng lại nhấn mạnh đúng đắn vai trò then chốt của quan niệm về con người cao đẹp đối với mỹ học nói chung Tất nhiên trong văn học dân gian không có những khái niệm lý luận trừu tượng về cái đẹp và nghệ thuật mà chỉ có sự mô tả, cảm nhận về cái đẹp của con người

Trang 23

nhưng qua đó cũng có thể thấy những quan niệm của họ về cái đẹp nói chung Có thể khái quát quan niệm về cái đẹp trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số trên các bình diện sau:

1.1.1 Về bản chất của cái đẹp qua cách miêu tả con người

1.1.1.1 Vẻ đẹp bên ngoài phải gắn bó với phẩm chất cao đẹp bên trong

Trong các biểu hiện đa dạng của vẻ dẹp con người, dân gian các dân tộc ít người rất

có ý thức quan tâm, đề cao cái đẹp bên ngoài của đối tượng Trong kho tàng tục ngữ một số dân tộc thiểu số, ý thức về cái đẹp hình thức của con người đã được đúc kết sắc gọn thành những tuyên ngôn bất hủ:

- Tiền bạc như đất cỏ Mặt mũi đáng ngàn vàng

(Tục ngữ Tày) [21 ,48]

- Chim đẹp nhờ bộ lông Người đẹp nhờ bộ cánh v.v

(Tục ngữ Thái) [21, 60]

Trong các tác phẩm tự sự dân gian, khi nói về vẻ đẹp bình thể của con người, dân gian các dân tộc anh em thường ưu tiên nói nhiều về - phụ nữ phái đẹp Các nhân vật nữ xuất hiện trong tư cách là nhân vật chính diện - trung tâm ở các sử thi, truyện thơ, truyện cổ dù ở Tây Bắc, Việt Bắc hay Tây Nguyên đều là hiện thân của cái đẹp bên ngoài đầy quyến rũ Nàng

Mứn trong truyện thơ Khăm Panh của dân tộc Thái có một vẻ đẹp hình thể thật hoàn hảo:

Nàng đẹp như nai lượn Nàng nói vui hơn suối reo Tóc nàng dài, bước mỗi bước tóc leo lên gót Tóc nhảy theo chân váy phập phồng

Trang 24

Lá trầu không còn thua mềm mỏng [153,18]

Vẻ đẹp ấy có thể khuynh đảo, làm sững sờ thế giới muôn loài xung quanh:

Nàng đến bên,suối, suối bỏ đường đi Nàng ở bên lửa, lửa quên reo cháy Nàng vào rừng, nai quên chạy tìm đàn Hoẳng thôi chạy lang thang [153 18]

Nét đẹp lộng lẫy, kiều diễm của nàng Hơ lung trong trường ca Đăm Đơ Roăn tựa bổ

như làm xao xuyến cả cỏ cây, ánh sáng: "Tâm thần của nàng mềm dẻo như tàn lá đung đưa trước gió Mắt nàng làm chớp buổi ban mai Bước chân nàng bước đi như ru trên cỏ " [111, 186]

Trong trường ca Đam San, vẻ đẹp của Hơ Nhí được đặc tả sinh động tới mức tưởng

như vẻ đẹp ấy được chắt lọc ra từ cỏ cây hon lá của núi rừng Tây Nguyên "Nàng đi đủng đỉnh, thân hình uyển chuyển như cành cây blo sai quả mềm dẻo như những cành trên đỉnh cây gió đưa đi đưa lại Nàng đi như: chim phương bay, như chim điều lượn trên không, như nước chảy dưới suối Lúc nàng đứng lại hay ngồi xuống thì chẳng có ai duyên dáng được đến thế " [99, 55] Song hành với vẻ đẹp hình thức của các nhân vật trên là nét đẹp kỳ diệu cun các nhân vật trong các sử thi, truyện thơ, truyện kể của các dân tộc anh em như: nàng Út Lót, nàng Thơm, nàng Tiên, Ả Sao, Ả Sáng trong các truyện thơ Mường, nàng Bơ ra E tang

trong trường ca Đăm Di của dân tộc Êđê, nàng Ka Mách, Ka Mài trong truyện cổ cùng lên

của dân tộc CơHo, nàng Nóng Bua trong truyện cổ cùng tên của dân tộc Thái v.v Hình thể của nhân vật nào cũng dược dân gian đam mê ca ngợi nhằm đẩy cái đẹp bên ngoài của đối tượng lên tới mức tột cùng Song có điều đó không phải là cái đẹp bên ngoài thuần tuý, tự thân Khi lý giải về cái đẹp của đối tượng, dân gian thường xuyên có ý thức đòi hỏi cái đẹp bên ngoài

Trang 25

cần phải song hành với cái đẹp bên trong Với dân gian, có thêm nét đẹp bên trong tương khớp, cái đẹp bên ngoài của đối tượng mới có giá trị đích thực Nếu không có sự hài hòa này,mọi cái đẹp bên ngoài chẳng qua chỉ là sự ngụy trá giả tạo vì vậy sẽ bị người đời dè bỉu

ra mặt:

- Vẻ thanh tao mà lòng lại hẹp Mặt xinh xắn mà lòng lại gian hoặc :

- Đẹp người mà xấu tính Lành ngoài mà mục trong v.v

(Tục ngữ Thái) [102 ,120]

Dân tộc Dao có khá nhiều những câu ca khuyên dạy con cái về chuyện chọn vợ kén chồng mà ở đó ý thức về vẻ đẹp bên ngoài của đối tượng bao giờ cũng, được đặt trong sự đòi hỏi kèm theo cái đẹp bên trong tương xứng:

- Xưa nay hoa đẹp thường đáng ngại Đẹp sắc sợ gặp lòng không đẹp

Cố ý lấy không yên nhà yên cửa [21 , 372]

- Làm gái nết na biết nghĩ suy, Chỉ biết điểm trang cho đẹp đẽ Việc làm lười biếng hay chi mà v.v [21 , 372]

Tóm lại, với dân gian, vẻ đẹp bên ngoài là rất đáng quý trọng song nó phải được gắn liền với giá trị bên trong tương xứng thì mới có giá trị đích thực

1.1.1.2.Phẩm chất cao đẹp bên trong đòi hỏi phải có vẻ đẹp bên ngoài tương xứng Các dân tộc thiểu số có cả một kho tàng truyện cổ theo môtíp "Người mang lốt xấu xí

Trang 26

KaLong, Dân tộc Phù lá có truyện Rùa giúp bạn Dân tộc Ê đê có truyện Chàng Cóc,

Chàng rể khỉ, Y Đăm tai to Dân tộc Gia rai có truyện Chàng rắn, Chàng Cóc, Chàng Lợn, Chàng Chồn và nàng H'Lúi Dân tộc Tày có truyện Nàng Kháy, Lệnh Trừ Dân tộc

Nùng có truyện Hoàng tử và cô vợ xấu xí, Dân tộc H'mông có truyện Chàng Rùa v.v

Các nhân vật chính diện trung tâm trong các truyện kể trên đều trải qua hai giai đoạn

phát triển Giai đoạn đầu họ đểu phải kiên tâm mang trên mình một hình hài xấu xí, thô nhám, hoàn toàn đối lập với những phẩm chất tài ba lỗi lạc, nhân đức cao đẹp của mình Đến

giai đoạn sau, khi đã trút đi Cái lốt xấu xí của mình, họ đều là những chàng trai, cô gái rất

mực hoàn hảo về hình hài thể chất Cái hình thức dị dạng, méo mó đã được thay thế bời" chính những đường nét hình thể trang trọng rất phù hợp với nhân tính trác tuyệt của mỗi con người Bằng cách để cho các nhân vật tài ba lỗi lạc phải tạm khoác trên mình cái vỏ ngoài xấu xí, dân gian dường như vừa muốn mang lại cho người tiếp nhận trạng thái nhận thức về cái đẹp một cách bất ngờ, thú vị, vừa muốn khẳng định chắc chắn ý thức hoàn bồi cái đẹp bên ngoài tương xứng cho những con người vốn dĩ đã cổ những giá trị nhân tính cao thượng bên Mong Cái đẹp bên trong đích thực trong ý thức của dân gian nhất định phải được "hình thức hóa" tương xứng; cái đẹp bên trong không thể bị cương tỏa, cầm tù trong một vẻ ngoài dị nghịch, trái khoáy Quả vậy, Nàng Khay trong truyện cổ cùng tên của dân tộc Tày [185,200], sau khi đã thoát mình ra khỏi cái vỏ trứng từ túng tội nghiệp, liền hiện nguyên hình là một cô gái xinh đẹp tuyệt trần, tài năng mưu trí sắc sảo biết vẽ ra những bức tranh mê hoặc lòng người Chàng Rùa khi không còn là con rùa xấu xí nữa liền trở thành một chàng trai "mạnh khỏe, đẹp trai, giỏi khèn, hát hay múa dẻo" [189,40] Cũng như vậy các chàng

trai, cô gái trong các truyện Chàng Cóc, Chàng rể khỉ, Y Đăm tai to của dân tộc Êdê,

Chàng

Trang 27

Rắn, Chàng Cóc, Chàng Lợn, Chàng Chồn của dân tộc Gia rai, Chàng Rùa của dân tộc

H'mông, Người lấy vợ đá của dân tộc Tà ôi, Lệnh Trừ của dân tộc Tày v.v sau khi đã trút

đi những lốt cóc, khỉ, rắn, lợn, chồn, hòn đá v.v đều có một hình thể viên mãn rất tương xứng với tài năng, nhân phẩm của mình Ở đây cũng cần nói thêm về Lệnh Trừ - một trường hợp có phần đặc biệt Lệnh Trừ là chàng trai vốn là "người trời" được thác sinh xuống trần nhưng chưa được mang hình người ngay mà phải mang lốt cóc xấu xí Tài năng và mưu trí tuyệt vời của chàng đã chiếm được cảm tình của công chúa ba con gái nhà vua Khi đã biết người thân yêu của mình chẳng qua chỉ tạm mang trên mình lốt cóc, công chúa ướm hỏi tại sao chàng không bỏ hẳn cái lốt cóc đi, Lệnh Trừ đã thành thật trả lời : "Ta trở thành người để người khác lại hoá cóc thay ta thực lòng ta không muốn " Chi tiết này càng tô đậm thêm phẩm chất cao đẹp bên trong của nhân vật Lệnh Trừ Và điều đáng nói là cuối cùng Lệnh Trừ vẫn trở về với hình thể của một chàng trai tuyệt hảo Như thế là không có trường hợp ngoại lệ

ở đây Điều này chứng tỏ việc phân cốt truyện ra làm hai giai đoạn (giai đoạn đầu là người tốt nhưng xấu xí, giai đoạn hai là người tốt nhất định phải được mang một hình hài toàn vẹn) là một phương diện thi pháp về nhân vật của truyện cổ dân gian, nó bộc lộ quan niệm của các dân tộc thiểu số rằng : phẩm chất cao đẹp bên trong là quan trọng nhất nhưng còn phải được hình thức hóa bằng một vẻ đẹp bên ngoài tương xứng

1.1.1.3 Lý tưởng "đẹp người, đẹp nết"

Trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số, các tác phẩm tự sự trực tiếp nói đến những con người mang vẻ đẹp hoàn hảo theo tinh thân "đẹp người, đẹp nết" chiếm một tỷ lệ

khá dồi dào Dân tộc Cơ Ho có các truyện cổ đặc sắc như: K'Chơi và Malênh, Cô gái trong

rừng và chàng trai K'Khà, Chàng KDùng và nàng Kalàng, Con quạ gian ác Dân tộc Ê đê

có các

Trang 28

truyện: Nói khoác gặp thời, Chàng Bun lô và nàng Tác Ty Dân tộc Gia rai có huyện Đăm

Ktía Truol; Dân tộc Thái có huyện Nàng Ăm Ca và chàng Tòng Đón , đặc biệt cổ truyện

thơ Khăm Panh với hình tượng nàng Mứn tài sắc vẹn toàn đã từng được nhà nghiên cứu văn

học dân gian Vũ Ngọc Khánh mệnh danh là "một cô gái Việt Nam toàn diện: có hình độ lãnh dạo có tài tổ chức kinh tê, có khả năng quân sự và có lòng thủy chung" [153,8] Trong các tác phẩm trên, các nhân vật chính diệu bảo giờ cũng hiện lên với tất cả sự vẹn toàn, hoàn hảo

cả về nhân hình lẫn nhân tính Trong ý thức dân gian Cơ Ho, nàng Malênh "là một cô gái xinh đẹp nhất vùng, cổ tay trăng như ngà voi và có tiếng hát vang xa như có làn gió thổi [163,72] Nàng Ka giờng trong truyện cổ cùng tên thì "đẹp như một bông" hoa rừng mới nở Lưng Ka giờng thắt như co lưng con kiến vàng mái tóc mềm mại và đen như màn đêm" Đặc biệt nàng cũng là người thực sự khéo hay làm: "nấu cơm biết chụm củi đượm, biết múc những vò nước trong ở đầu nguồn, biết rót đầy những ché rượu cần cho làng uống say ngây ngất " [163,107] v.v Trong các truyện kể của dân gian Ê đê cũng có biết bao những con

người đẹp người, tốt nết như vậy Nàng Tác Ty trong truyện cổ Chàng Bun lô và nàng Tac

Ty là "một cô gái xinh đẹp và khéo tay nhất vùng không những tài sắc, nàng còn là một

người con rất mực hiếu thảo với cha mẹ" [193,64] Nàng Hơ Bia trong truyện Nói khoác gặp thời chẳng những đẹp tới mức "không có cô gái nào đẹp bằng" mà còn có đôi bàn tay khéo léo "biết dệt chăn, thêu khố lộng lẫy như sắc cầu vồng Nàng chăm heo gà, heo gà mau lớn và nhiều con." [193, 103] v.v

Mảng truyện cổ mang môtíp kén chọn dâu rể cũng trực tiếp liên quan đến ý thức khẳng định cái đẹp lý tưởng "đẹp người, đẹp nết" trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số

anh em Xung quanh mô típ này, dân tộc Tày có các truyện cổ So đũa chọn rể, Sự tích cánh

đồng Tổng Chúp, dân tộc

Trang 29

Cơ Ho có các truyện Hai chị em Đrun và Đroi, truyện Nàng Ra giờng ở đây ý thức của

dân gian về cái đẹp lý tưởng gắn liền vói ý niệm về cái cân xứng Trên thực tế, con người đẹp

không mấy khi tồn tại tự thân mà thường đặt trong nhu cầu giao tiếp quan hệ Cái đẹp sẽ thực

sự thăng hoa trọn vẹn nếu có được đối tượng quan hệ cân xứng với nó Kén rể là kén người xứng đáng về tài sắc, trí tuệ, đạo đức sao cho cân xứng với chủ thể kén chọn, cho nên qua đây có thể phần nào thấy được ý thức về giá trị con người cao đẹp của dân gian

Ở Việt Bắc, đồng bào Tày Nùng còn lưu truyền rộng rãi truyện cổ dân gian So đũa

chọn rể đặc sắc Trong truyện, cô gái tài sắc hoàn hảo đã có một phương pháp kén chọn

chồng thật độc đáo qua mội bữa ăn Chàng trai thứ hai, người vượt lên trên hai mươi chàng trai trẻ đẹp khác cùng tham gia vào vòng kén chọn, người lọt vào đôi "mắt xanh" của nàng quả là một con người xứng đáng Ngoài cái đẹp hình thể chàng còn là người "vừa từ tốn, tao nhã thận trọng trong mọi công việc, kể cả những công việc nhỏ nhặt nhất lại vừa là người

thức giả, giỏi giang chữ nghĩa và thấu hiểu đạo lý" Còn cô gái xinh đẹp trong truyện cổ Sự

tích cánh đồng Tổng Chúp mới thật khe khắt làm sao trong việc chọn chồng của mình Biết

bao chàng trai trẻ đẹp có tài nghệ cao cường đều không lọt vào "vòng ngắm" của nàng, bởi vì theo nàng họ chỉ là những kẻ "võ biền" thuần túy "Người thì có tài mà ứng xử thô lỗ Kẻ thì tài nghệ cao siêu mà thiếu bền bỉ trong công việc" [159 , 164] Rốt cuộc chẳng có chàng trai

nào là người xứng đáng được chọn làm phò mã cá Như vậy, có nghĩa là chẳng có đối tượng kén chọn nào có giá trị cân xứng với tài sắc vẹn toàn của cô gái Trong huyện cổ Hai chi em

Đrun và Đroi của dân tộc Cơ Ho, hai cô gái Đrun và Đroi hoàn toàn xứng đáng được Thần

Núi kén chọn làm con dâu cho hai con trai tài nghệ của mình bời lẽ họ đều là những cô gái

"không những xinh đẹp tuyệt trần mà còn tài hoa rất

Trang 30

mực các cô có tài nội trợ thật đáng khâm phục, không những thế mà lại có tài hát hay múa dẻo" [163, 83] Vẻ đẹp hoàn hảo của các cô gái thật cân xứng với tài sắc hai con trai Thân Núi Ý thức về cái đẹp là cái cân xứng còn tiếp tục được thể hiện sinh động qua mảng thơ ca

và huyện kể mang nội dung thân thân trách phận của những con người đẹp không may gặp phải những cảnh huống bất hạnh mà chúng tôi sẽ có dịp phân tích ở những phần sau

Khát vọng hướng tới cái đẹp hoàn hảo còn tiềm chứa khá phong phú trong các bài hát giao duyên hoặc dân ca đám cưới của một số dân tộc thiển số Chẳng hạn trong hát giao duyên dân tộc H'mông, trai gái thường, hẹn hò, giao ước với nhau về một tương lai đầy kỳ vọng:

Sau này mình đẻ con gái đặt tên là Xinh

Ta sinh con trai đặt tên là Tài [ 157,120]

Còn trong dân ca đám cưới Tày - Nùng, lời ca cầu nguyện cho cô dâu chú rể:

Cầu cho: Sinh con đẹp như hoa, mạnh khỏe Khôn giỏi cả binh mã, văn chương [17,40]

đã trở thành lời điệp khúc khắc khoải, tha thiết trong thiện tâm của cả cộng đồng khi đến dự đám cưới Sức nặng thẩm mỹ chính yếu của những câu ca lời hát trên chính là khát vọng hướng tới cái đẹp lý tưởng toàn vẹn: đã "Xinh" lại phải "Tài" , đã "đẹp" lại phải "khôn giỏi cả binh mã, văn chương " Vì vậy quan niệm về cái đẹp lý tưởng chính là quan niệm hướng tới cái đẹp hài hòa giữa vẻ dẹp bên ngoài và phẩm chất cao đẹp bên trong -một khía cạnh quan niệm thẩm mỹ đặc sắc, từng được triển khai một cách khá phổ biến trên nhiều loại hình, loại thể khác nhau trong kho tàng văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số anh em

Trang 31

1.1.2 Về Ý nghĩa của cái đẹp qua việc triển khai vai trò của con người cao đẹp 1.1.2.1 Cái đẹp khích lệ mềm tin và khát vọng sống của con người

Với các dân tộc anh em, cái đẹp giúp cho con người cảm thấy tự tin hơn vào chính

mình trong các mối quan hệ giao tiếp Nàng Hơ bia Sun trong trường ca Đăm Di là một cô

gái rất đẹp đầy vẻ kiêu sa Lần đầu thấy Xinh Mơ Nga (một chàng trai trẻ đẹp, tài ba) đường đột dám đến cầu thân với mình, Hơ bia Sun ướm hỏi đầy thách thức: "Ơ! làm sao anh dám to gan lớn mật đạp lên chiếu chăn của em lúc này sao?" Chàng trai Xing Mơ Nga đã thản nhiên trả lời một cách đầy tự tiu: "Vì bắp vế anh to, anh mới dám đạp lên cây xà dọc, vì bắp đùi anh lớn anh mới dám đạp lên chiếc xà ngang, vì bụng anh vững anh mới dám đặt chân lên chăn, lên chiếu của em !" Vậy là chàng trai dám đường đột, bất ngờ đến với cô gái là do chàng hoàn toàn có niềm tin vào uy lực của cái đẹp ở chính mình Chàng tin rằng cái đẹp của mình (bao gồm cả cái đẹp bên ngoài : "bắp vế, bắp đùi to" và cái đẹp tinh thần bên trong : "bụng dạ

vững") sẽ chinh phục được cô gái Hơ bia Sun kiều diễm Quả vậy, chỉ sau vài lời đối thoại,

đôi trai tài gái sắc ấy đã nhanh chóng hòa nhập và chia sẻ với nhau Họ bước đi bên nhau

"như cặp cá Kơ doa (một loài cá đẹp) bơi trong vực nước Họ ngồi bên nhau như đôi chim Kơ

buôn (một loài chim đẹp) ăn quả đa trên ngọn cây'' [192,95]

Dân tộc Ê đê qua truyện cổ Truyện Krông Búc - con sông tóc đã dụng công khắc họa

vẻ đẹp tuyệt diệu của hai chị em H'Ring và H'Rao "Thân thể của H'Rinh như khuôn đúc

vàng, thân thể của H'Rao như khuôn đúc bạc Nhìn đằng trước khổng ai nhắm được mắt, nhìn

đằng sau ai nhìn mãi cũng không chán Gặp năm này, năm sau chưa quên Thấy năm trước năm sau vẫn chưa hết nhớ Từ buôn làng phía tây, ai ai cũng muốn được nhìn ngắm hai nàng, muốn được H'Rinh, H'Rao ở chung nhà Ai ai cũng

Trang 32

thích được H'Rinh, H'Rao ăn chung nồi, lên chung rẫy " [183,19] Những khi có hai nàng ở bên, trai gái dân làng "ai cũng vui vẻ" hân hoan Cái đẹp ở đây tựa như chất men say đặc biệt giữ cho tình buôn làng luôn luôn đầm ấm Mọi người muốn người đẹp luôn ở bên mình, cùng, "ăn chung nồi lên chung rẫy", là muốn cái đẹp mãi mãi thường trực trong cuộc sống hàng mày của chính mình Cái đẹp ở đây chẳng khác nào những giá trị tinh thần vô giá có thể thoa mãn cho con người những nhu cầu cần được cộng cảm, giao lưu trong tình thân ái đồng loại đích thực

Trong trường ca Đam San, vẻ đẹp của Đam San - người tù trưởng oai phong lẫm liệt

"đầu đội khăn xếp, vai mang túi da, miệng đỏ như dưa hấu, môi mỏng như lá tỏi cổ trơn tru như quả cà chua chín đã khiến cho cả cộng đồng, nhìn trộm anh không chán" [99, 31] Đó cũng là một phần căn nguyên giải thích tại sao Đam San đi đến đâu, liền có "trăm người đi

trước, nghìn người đi theo sau" Sức mạnh thu phục và cảm hóa của người thủ lĩnh đối với

cộng đồng mình quả thực có nhờ một phần vào vẻ đẹp đầy uy linh của chàng

Dân tộc Tà ôi trong truyện cổ Người lấy vợ đá đặc biệt đề cao vẻ đẹp của một cô gái

con trời Một lần đi dạo chơi không may sảy chân rơi xuống trần gian, nàng hóa thành đá Cô gái mang lốt đá không chỉ "đẹp hơn tất cả các loài hoa trong rừng, đẹp hơn tất cả các cô gái trong bản" [57 , 49] mà còn tài hoa, mưu trí kỳ lạ Nhờ tài sắc, mưu trí của nàng mà chồng nàng (chàng Paltiri) đã lần lượt đánh bại mọi âm mưu chiếm đoạt nàng của tên Conpranha

giàu có, độc ác Đối với Paltưi người vợ xinh đẹp, tài hoa của mình thực sự là nguồn cổ vũ,

tạo niềm tin cho chàng vào hạnh phúc của chính mình

Văn học dân gian là tiếng nói tâm hồn của nhân dân lao động Nó gắn liền với mọi nỗi niềm buồn vui, đau khổ của con người lao động Nó thể

Trang 33

hiện khát vọng hân hoan hướng tới cái đẹp đồng thời cũng bày tỏ cà nỗi đau trước cái đẹp bị xâm hại Mảng dân ca và truyện kể than thân trách phận của các cô gái đẹp chẳng may lỡ gặp phải số phận hẩm hiu (lấy phải chồng già, chồng xấu, chồng ngốc.) vừa giúp ta thấu hiểu sâu

hơn ý tưởng về cái đẹp cân xứng như đã nói ở trên vừa gợi nỗi niềm thấm thía về khát vọng

sống vì cái đẹp của dân gian Các cô gái Ê đê than thở:

- Bạn bè duyên đã xứng duyên Riêng em lấy phải người chồng nhỏ Khác chi sao đọ cùng trăng [21 142]

- Thân em còn trẻ bao nhiêu

Cớ sao em lại đi yêu chồng già ? v.v [119, 50]

Còn đây là nỗi xót xa của các cô gái Giáy:

- Cha em tài kén chọn

Cớ sao chọn vợt, khung Vợt xinh khung chẳng đẹp Nên đời em đang dở? [ 21 , 325]

Dân tộc Giáy còn lưu truyền truyện cổ Chàng ngốc học khôn bày tỏ niềm cảm thông

cho số phận của một cô gái xinh đẹp, khéo léo trong mọi đường ăn nết ở mà phải chung sống với một người chồng ngu ngốc, đần độn Có gái lúc nào cũng cảm thấy "ngao ngán, buồn phiền như ngủ phải giường có tệp" [185,311] Tương tự với truyện này, còn có truyện cổ

Chàng ngốc Cây nhi arơ của dân tộc Tà ôi [57 , 81] Ở đó, các cô gái bất hạnh càng ý thức

về cái đẹp càng cảm thấy buồn tủi da diết Tiếc nuối cho cái đẹp đang bị phôi phai (vì đặt không đúng chỗ) cũng chính là tha thiết với khát vọng về cái đẹp nồng nàn

1.1 2.2 Cái đẹp góp phần giúp dân, cứu nước

Trang 34

phẩm đặc sắc trực tiếp bày tỏ quan niệm cái đẹp góp phần giúp dân cứu nước Với các dân tộc anh em, cái đẹp không phải chỉ để thưởng ngoạn chiêm ngưỡng mà tán thưởng trầm trồ sao cho thỏa nguyện nhu cầu tinh thần cái đẹp đích thực phải góp phần đem lại những giá trị hữu ích vì quyền lợi sống, còn của cộng đồng dân tộc, quốc gia, làng bản

Cô gái Trần Châu trong truyện thơ cùng tên của dân tộc Tày, Nàng Mứn trong truyện

thơ Khăm Panh và nàng Han trong truyện cổ cùng tên của dân tộc Thái, chàng trai trong truyện cổ Rùa giúp bạn của dân tộc Phù lá A Hờ trong huyện cổ A Hờ giết quỷ xanh của dân tộc Hà nhì, Út lót trong truyện thơ Cun Đủ Lang Dà của dân tộc Mường, cô bé chân vịt

trong, truyện thơ cùng tên của dân tộc Nùng v.v đều là những nhân vật tài sắc hoàn hảo và điều quan trọng là họ đã biết sử dụng tài sắc, mưu lược của mình vào công cuộc giúp dân, cứu nước khi thời cơ đến Trần Châu là một cô gái xinh đẹp, trọng nghĩa khinh tiền tài, giầu mưu trí quả cảm đã biết dùng tài sắc của mình cùng quan quân triều đình đánh đuổi quân Tần xâm lăng, cứu kinh thành và nhà vua thoát khỏi bàn tay tàn sát của lũ giặc cướp nước [16 , 157] Nàng Mứn, cô gái Thái tài sắc vẹn toàn, là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Hán xâm lăng do tên bán nước Khun Hạ cầu viện Cùng với quan quân của mình, cô gái tuyệt đẹp đã tả xung hữu đột giữa trận tiền khiến cho quân thù khiếp đảm Ngay trong lúc "bị

thương mà tay vẫn giơ gươm chém giặc tơi bời" [153, 45] Nàng Han - cô gái Thái trong

truyện cổ cùng tên là một cô gái "rất đẹp, linh thông võ nghệ, có giọng hát tuyệt bay" Khi quân giặc đến xâm lăng, nàng đã tập hợp quân sĩ và bằng mưu trí sắc sảo của mình đã "đánh tan lũ giặc cướp nước, giữ vững biên thùy, đem lại niềm vui hạnh phúc cho muôn dân khắp

các bản mường " [185 , 301] Chàng trai vô danh trong truyện cổ Rùa giúp bạn của dân tộc

Phù lá là một chàng trai khỏe mạnh, cao lớn, đẹp trai nhưng

Trang 35

phải náu mình trong cái lốt rùa xấu xí trước sự dè bỉu của mọi người ''Năm ấy nước láng giềng kéo quân sang đánh Nhà vua ra lệnh cho trai tráng khắp nước đi đẹp giặc Rùa cũng ra trận Đúng lúc quân giặc đang vây chặt quân nhà vua, Rùa bỏ lốt hiện nguyên hình là một chàng trai đẹp đẽ khỏe mạnh mang kiếm xông vào giết hết lũ giặc cướp nước Chàng được phong làm tướng giúp Vua trông coi việc nước, giặc ngoại xâm không dám bén mảng đến

xâm phạm bờ cõi nữa" [156, 34]

Triệt để sử dụng tài sắc vào công cuộc đánh giặc cứu nước khi Tổ quốc bị xâm lăng - đây là một khía cạnh quan niệm rất đáng trân trọng trong toàn bộ quan niệm về cái đẹp của các dân tộc anh em qua văn học dân gian Ngay cả khi không có nạn xâm lăng, các dân tộc thiểu số anh em vẫn thường trực với ý thức lấy cái đẹp phụng sự cho cuộc sống bình yên của

bản làng Nàng Út Lót trong truyện thơ Cun Đủ Lang Dà của dân tộc Mường là một cô gái

đẹp người tốt nết, thông minh sắc sảo đã can đảm giả trai đi chầu vua Bằng trí tuệ và mưu

lược sáng suốt, nàng đã vượt qua bao cuộc thử thách nghiệt ngã của nhà vua, hoàn thành cuộc chầu trở về suôn sẻ [3 38] Cô bé chăn vịt xinh dẹp, hiền thảo trong truyện cổ cùng tên của

dân tộc Nùng Sau khi thành vợ Hoàng tử Ba đã biết dùng tài trí của mình tiêu diệt lũ Giả

Chan (một loại yêu ma) cứu muôn dân và cả triều đình, giữ vững cuộc sống bình yên [185,

274] Chàng trai Kpút trong truyện cổ Kpút con thần mặt trời của dân tộc Cơ Ho (vốn được

đầu thai từ thần Mặt Trời) là một chàng trai trẻ đẹp, có sức khoẻ phi thường Có một lần,

"bọn cướp từ miền biển kéo đến cướp phá Mọi người đều hoảng sợ, Kpút tài giỏi một mình

đối đầu với lũ cướp Chàng đã đánh tan bọn cướp, giành lại sự bình yên cho dân làng" [163 ,

154]

Tóm lại, quan niệm về con người cao đẹp trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam bao gồm nhiều khía cạnh đặc sắc, được triển khai

Trang 36

trên hầu hết các thể loại cơ bản của văn học dân gian các dân tộc thiểu số anh em Những quan niệm đặc sắc này vừa là bức tranh phản ánh sinh động đời sống tâm hồn và hiện thực đa diện của các dân tộc anh em vào những thời điểm lịch sử xa xưa, vừa có ý nghĩn là nền tảng cho những lý giải về nghệ thuật của dân gian các dân tộc Hãy lấy thí dụ về một quan niệm cụ thể là "phẩm chất cao đẹp bên trong đòi hỏi phải có một vẻ đẹp bên ngoài tương xứng" Nếu trừu tượng hóa lên một cấp độ cao hơn thì sẽ bắt gặp chân lý "cái đẹp nội dung phải được hình thức hóa trọn vẹn" vốn đã trở thành một nguyên lý trong sáng tạo nghệ thuật và được minh chứng ngay trong văn học dân gian cổ truyền của các dân tộc anh em Truyện cổ dân

gian Hai đời nổi tiếng của dân tộc Tà Ôi đã kể về nghị lực sáng tạo của một bà già (nghệ

nhân) lạc nặn hình người để "cải tử hoàn sinh" cho một chàng trai tài sắc tuyệt vời bị chết bởi Thần Gió Để có một chàng trai có những vẻ đẹp hoàn hảo như trước, bà lão đã kỳ công tạc nặn, tu sửa, hoàn chỉnh từng bộ phận cơ thể chàng trai Khi đã có một chàng trai khá hoàn hảo theo ý của mọi người) bà lão vẫn chưa thấy ưng vì "Cái mũi của chàng còn hơi méo, cái bụng còn hơi to" Khát vọng tạo ra cái đẹp đã khiến bà không ngại khó, tiếp tục gọt rũa cho đến khi chàng trai có được "một cái mũi thật đẹp và vòng bụng thật thon thả" bà lão mới dừng tay sáng tạo của mình [57 , 35] Xoay quanh nội dung của câu truyện có liên quan đến nghệ thuật điêu khắc này, ý nghĩa gắn kết bền chắc giữa cái đẹp và nghề thuật có dịp được dân gian triển khai sâu sắc Và qua những vấn đề cụ thể về quan niệm nghệ thuật (như về chủ thể nghệ thuật, và nhất là về vai trò tác dụng của nghệ thuật) sẽ được trình bày tiếp theo, ta càng có dịp thấy rõ hơn mối quan hệ gắn bó giữa quan niệm nghẹ thuật với các quan niệm về con người cao đẹp đã nói ở trên

1.2 Về chủ thể nghệ thuật

Sáng tác dân gian có tính chất tập thể nhưng không phải là một tập

Trang 37

thể trừu tượng mà bao gồm những con người cụ thể, và ở đây theo một quy ước nhất định thường được gọi chung là những chủ thể của nghệ thuật

1.2.1 Về nguồn gốc tài năng nghệ thuật

Trong kho tàng văn học dân gian của mình, các dân tộc thiểu số anh em đã sớm có ý thức lý giải về nguồn gốc của tài năng nghệ thuật Có không ít các tác phẩm truyện kể dân gian mang ý thức truy nguyên về nguồn gốc của tài năng nghệ thuật đã được lưu truyền khá rộng rãi trong một số dân tộc như : Tày, Cao Lan, Nùng Do đâu con người biết ca hát và có được giọng hát thật say mê? Dường như câu hỏi này đã sớm bật phát lên từ trong ý thức tìm

tòi của các thế hệ nghệ nhân dân gian Trong truyện cổ Những loài vật bị sửa chữa [59, 88],

các nghệ nhân dân gian Tày cho rằng: tiếng hát mê ly của con người là do Pựt (có nơi phiên

âm là Bụt, Pụt ) cử cô con gái út của mình - một nàng tiên có giọng hát tuyệt hay, xuống trần gian dạy cho loài người biết hát để cuộc sống ở cõi trần thêm vui tươi nhộn nhịp Dân

tộc Cao Lan, trong truyện cổ Tiếng hát nàng Slam [84 , 26] lại hướng tới lý giải nguồn gốc

tài năng ca hát tuyệt diệu của cô gái Làu Slam - người nghệ sĩ huyền thoại bất tử, từ xưa tới

nay đã được người Cao Lan mệnh danh là Chúa thơ ca hoặc; "Thánh thơ ca, được tôn thờ

ngang với các vị thần linh khác trong tín ngưỡng của dân tộc" [135 , 19] Họ cho rằng "Sở dĩ

cô gái biết hát và có giọng hát tuyệt hay là do cô đã học và bắt chước được những lời ca hay, những giọng hát ngọt cua các loài chim đang vui thú giữa chốn rừng xanh khi đi kiếm cui, hái rau" [184, 261] Những truyện kể trên của dân tộc tày và dân tộc Cao Lan (có nhiều dị bản khác nhau) đều tìm đến nguồn gốc nghệ thuật nói chung, tài năng nghệ thuật nói riêng bằng một cảm quan nhuốm đậm sắc thái ly kỳ huyền ảo Nghệ thuật bao giờ cũng ra đời do đòi hỏi của nhu cầu đời sống con người Con người luôn có nhu cầu

Trang 38

hướng tới nghệ thuật - lãnh địa biểu hiện tập trung các giá trị của phạm trù cái đẹp Con người cổ xưa có thể thụ cảm được cái hay, cái đẹp qua nghệ thuật song họ khó có thể lý giải được thực chất của nghệ thuật và tài năng nghệ thuật trong các mối quan hệ phức tạp của nó

Vì thế, dưới con mắt của người xưa, tài năng nghệ thuật nói riêng, nghệ thuật nói chung đều

là những hiện tượng thẩm mỹ kỳ bí, có liên quan với những đấng bậc siêu nhân nằm ngoài giới hạn khả năng của con người Dân gian đã ký thác vào trong các lý giải của mình về chủ thể nghệ thuật bằng tất cả thái độ trân trọng rất đỗi trang nghiêm, huyền diệu mà vẫn ấm áp

dư vị đời thường của người lao động Với dân gian, nghệ thuật và tài năng nghệ thuật là sản phẩm tinh thần linh diệu, vừa do đấng tối cao (Tiên, Bụt ) ban tặng cho loài người, vừa do chính loài người tự chung đúc, chắt lọc nên từ thế giới môi sinh đầy thơ mộng trong quá trình hoạt động sinh nhai của mình

Bên cạnh những quan niệm nhuốm vẻ ly kỳ nhằm bày tỏ tinh thần trân trọng và linh thiêng hóa nguồn gốc tài năng nghệ thuật, rải rác đó đây từ trong ý thức dân gian ở buổi hồng hoang ấy cũng đã thai nghén và hình thành một số khía cạnh quan niệm nghệ thuật mang màu sắc duy vật sơ khai rất đáng chú ý về chủ thể nghệ thuật Chẳng hạn, dân tộc Nùng, qua

truyện cổ Ngày hội Sính Mình [18 40] đã trực tiếp đề cập đến nguồn gốc tài năng nghệ thuật

đầy thuyết phục Với họ, tài năng nghệ thuật vừa dựa trên cơ sở năng khiếu bẩm sinh, vừa là kết quả của quá trình tu luyện miệt mài, say mê Truyện kể về đôi trẻ Sính, Mình cùng sống với nhau rất thân ái ở một bản xưa của người Nùng Cả hai đều rất yêu ca hát và đều có giọng hát tuyệt hay Người con trai lên là Mình đến lúc 12 tuổi thì được các nàng tiên trên Mường Trời xuống đón lên để học hát Vốn đã có giọng hát hay, lại say mê học hát nên chẳng bao lâu chàng đã học thuộc tất cả mọi khúc ca của các nàng tiên trên Mường Trời Thành tài, chàng trở về trần gian để hát cho

Trang 39

dân bản nghe Cho Mình vế trần, các nàng tiên lại xuống đón Sính (cô gái lúc ấy vừa tròn 12 tuổi) lên Mường Trời học hát Vốn có giọng hát tuyệt mỹ, lại cần mẫn, chăm chỉ nên chỉ sau một tháng, nàng đã thuộc làu mọi bài hát của các nàng tiên Thành tài, Sính lại trở về trần cùng Mình hát cho dân bản nghe Từ đó Sính, Mình trở thành trụ cột trong các cuộc vui chơi

ca hát: "Tiếng hát của chàng thánh thót trầm bổng như nước suối róc rách chảy, giọng hát của nàng êm ái dịu dàng như gió ngàn nhẹ thổi vi vu qua bãi cỏ non xanh " Qua những lần vui chung ca hát, đôi trai gái trẻ yêu nhau và kết thành đôi lứa vợ chồng Ganh tị với tài sắc của Sính Mình, bọn chúa làng nham hiểm đã tìm cách chia rẽ, hãm hại Mình đề chiếm đoạt Sính Nhưng nhờ sự che chở, bảo vệ của dân làng, mọi âm mưu đen tối của lũ chúa làng độc

ác đều bị thất bại Tiếng hát Sính, Mình vẫn cất cao mê say giữa bản mường Câu chuyện về Sính, Mình chứa đựng những ý nghĩn sâu sắc về chủ thể nghệ thuật Dân gian đã cảm nhận khá thấu đáo các mối quan hệ chủ quan và khách quan dẫn đến việc hình thành tài năng nghệ

sĩ Cả Sính, Mình đều có những điều kiện chủ quan thuận lợi: họ đều vốn đã có giọng hát rất hay (bẩm sinh), lại yêu say mê và miệt mài học hát (cảm hứng và tinh thần rèn luyện) Đã vậy

họ cũng có những điều kiện khách quan rất phù hợp và thuận lợi cho tài năng của họ có cơ hội phát sáng Cả hai đều nhận được sự chỉ bảo ân cần của các nàng tiên trên Mường Trời và

sự che chở khích lệ của dân làng Rõ làng, ở đây tài năng nghệ thuật là do sự tác thành biện chứng giữa các yếu tố chủ quan và khách quan Trong tác phẩm còn tiềm chứa một khía cạnh quan niệm khác đầy tinh thần nhân văn của dân gian xung quanh mối quan hệ giữa nghệ sĩ với cuộc sống của nhân dân lao động Để cho Sính, Mình trở về trần hát cho dân bản nghe sâu khi đã tu luyện thành tài, dân gian muốn nhắn gửi mội ý tưởng nhân đạo: nghệ thuật nói chung tài năng nghệ thuật nói riêng chỉ có thể phát huy giá trị của nó khi nó gắn bó

Trang 40

với sinh mệnh của quần chúng nhân dân Sự chống phá điên cuồng của bọn chúa làng gian ác

là hành vi tất yếu của giai cấp thống trị vô nhân và tàn bạo đối với các giá trị nghệ thuật đầy tinh thần nhân văn dân chủ của nhân dân Nhưng một khi nghệ sĩ đã thuộc về nhân dân, vì nhân dân thì tất yêu sẽ được nhân dân chia sẻ, cộng cảm và bảo vệ Sức mạnh của nhân dân

sẽ vô hiệu hóa mọi hành vi chống phá thù địch của các thế lực đen tối trong xã hội đối với các giá trị văn nghệ chân chính Đặt những chi tiết huyền bí, thần kỳ (chuyện Sính Mình lên Mường Trời học hát) sang một bên, từ tác phẩm chúng ta có cả một bài học nghệ thuật vô giá, mãi mãi có giá trị thời sự về bản chất, vai trò, vị thế người nghệ sĩ trong cuộc sống xã hội

1.2.2 Về mối quan hệ giữa chủ thể nghệ thuật với vốn văn nghệ cổ truyền của dân tộc

Trong các sinh hoạt văn nghệ dân gian, không thể phủ định vai trò rất quan trọng của truyền thống văn nghệ đối với thực tiễn ứng tác của các cá nhân Tác giả Chu Xuân Diên đã từng nói: "Truyền thống giúp cho ứng tác của cá nhân được dễ dàng hơn, đồng thời quy định

cả khuôn khổ cho sự ứng tác đó nữa" [75, 39] Với các dân tộc anh em, vốn hiểu biết về văn hóa nghệ thuật cổ truyền có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động nghệ thuật của các nghệ nhân Hãy xem cuộc đối đáp giữa đôi trai gái H'mông về một cuộc hát không thành công của họ:

-Chàng trai hỏi:

Bạn bè, mọi người đều mở bài ca vui vẻ khắp nơi Bài ca rộn ràng thấm tận từng thớ gan

Nàng hỡi, ta bảo nàng hát sao nàng không hát [21, 216]

-Cô gái trả lời:

Bài gì, câu gì chàng cũng học được đủ Bài gì, can gì chàng cũng học được đều Còn em đây như con gà sống của cha, của mẹ mới tập gáy

Ngày đăng: 03/12/2015, 07:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh (1996) Lá đắng, tập thơ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà nội 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lá đắng, tập thơ
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
2. Đinh Văn Ân sưu tầm, dịch, giới thiệu (1973), Đang vần va, Truyện thơ Mường Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đang vần va, Truyện thơ Mường
Tác giả: Đinh Văn Ân sưu tầm, dịch, giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1973
3. Triều Ân (1974), Bốn mùa hoa , tập thơ, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mùa hoa
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1974
4. Triều Ân sưu tầm, giới thiệu (1973), Ca dao Tày Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Tày Nùng
Tác giả: Triều Ân sưu tầm, giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1973
8. Diệp Thanh Bình sưu tầm, biên soạn (1987), Dân ca sán Dìu, NxbVăn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca sán Dìu
Tác giả: Diệp Thanh Bình sưu tầm, biên soạn
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 1987
9. Ngô Vĩnh Bình sưu tầm, biên soạn (1981), Truyện cổ Xê Đăng, Nxb Văn hóa, Hà Nội . 10. Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Chí Bền, Đào Huy Quyền, Nguyễn Minh San, Rơmandel (1996),Văn học dân gian Gia Lai, Sở VHTT Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Xê Đăng", Nxb Văn hóa, Hà Nội . 10. Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Chí Bền, Đào Huy Quyền, Nguyễn Minh San, Rơmandel (1996), "Văn học dân gian Gia Lai
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình sưu tầm, biên soạn (1981), Truyện cổ Xê Đăng, Nxb Văn hóa, Hà Nội . 10. Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Chí Bền, Đào Huy Quyền, Nguyễn Minh San, Rơmandel
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1996
13. Hà Châu (1972) "Về đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam", Văn học 5/1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w