1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam

74 1,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai đề tài: “Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian Việt Nam”, tác giả khóa luận đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong K

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

VŨ MINH CHÂU

KHẢO SÁT HÌNH TƯỢNG RÙA TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC

DÂN GIAN VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học TS.GVC NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai đề tài: “Khảo sát hình tượng rùa trong văn

hóa, văn học dân gian Việt Nam”, tác giả khóa luận đã nhận được sự giúp đỡ

của các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn, các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam và đặc biệt là TS.GVC Nguyễn Thị Ngọc Lan – người hướng dẫn trực tiếp

Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô

Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Tác giả khóa luận

Vũ Minh Châu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian

Việt Nam” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự tham khảo ý kiến của

những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS.GVC Nguyễn Thị Ngọc Lan

Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Tác giả khóa luận

Vũ Minh Châu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: HÌNH TƯỢNG RÙA TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN 7

1.1 Hình tượng rùa trong tín ngưỡng dân gian 7

1.2 Hình tượng rùa trong nghệ thuật tạo hình dân gian 15

1.2.1 Rùa trong hội họa, điêu khắc 16

1.2.2 Rùa trong kiến trúc 23

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG RÙA TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 28

2.1 Rùa trong thần thoại 28

2.2 Rùa trong truyền thuyết 30

2.3 Rùa trong truyện cổ tích 36

2.4 Rùa trong ca dao dân ca 46

2.5 Rùa trong truyện ngụ ngôn 49

2.6 Sự diễn hóa của hình tượng rùa từ cội nguồn văn hóa đến văn học dân gian 54

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa người Việt xuất phát từ một nền văn hóa gốc nông nghiệp, nên những hình tượng văn hóa xuất hiện từ sự gắn bó với các sự vật xung quanh cuộc sống sinh hoạt của con người như: hình tượng nước, rồng, chim, rắn, hoa sen… hay các hình tượng trong tín ngưỡng thờ cúng Cũng như vậy, hình tượng rùa được phản ánh trong thế giới ý niệm của người Việt vô cũng phong phú, là hình tượng cổ truyền có nguồn gốc từ xa xưa Rùa là một trong bốn linh vật cao quý (Long - Ly - Quy - Phượng) đã khắc sâu vào trong tâm thức mỗi người dân Việt Với mỗi người Việt Nam, rùa đã trở thành một biểu tượng văn hóa linh thiêng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tượng trưng cho Trời – Đất, Âm – Dương, cho sự trường tồn vĩnh cửu Hình tượng rùa từ văn hóa nông nghiệp của người Việt đã đi vào trong văn học dân gian mang những ý niệm sâu sắc Rùa được tác giả dân gian đưa vào trong các thể loại trong sáng tác văn học dân gian như trong truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, ca dao dân ca Trong mỗi thể loại, biểu tượng rùa xuất hiện trong những câu chuyện, với các bối cảnh và mang những ý nghĩa khác nhau Nhưng có thể khẳng định hình tượng rùa trong văn học dân gian là sự sáng tạo độc đáo của người Việt, nó cũng đã ít nhiều góp phần bộc lộ tính cách và làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người bình dân

Rùa đã trở thành hình tượng thiêng liêng trong nét đẹp văn hoá của

người Việt Đề tài nghiên cứu “Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn

học dân gian Việt Nam” sẽ nghiên cứu ý nghĩa hình tượng rùa trong văn hóa

người Việt và đi vào các thể loại của văn học dân gian Công trình nghiên cứu

sẽ giúp người đọc hiểu được ý nghĩa linh thiêng của rùa trong văn hóa người Việt và dễ dàng hơn khi tiếp xúc với các tác phẩm văn học dân gian có xuất hiện hình tượng rùa

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử vấn đề, chúng tôi đề cập trên hai phương diện cơ bản: lịch sử nghiên cứu hình tượng rùa trong văn hóa và lịch sử nghiên cứu hình tượng rùa trong văn học dân gian Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến nghiên cứu hình tượng rùa trong văn học dân gian Hình tượng rùa có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người bình dân xưa, nó là một yếu tố văn hóa của người Việt Đã có một số công trình nghiên cứu về hình tượng rùa như:

1 Trong cuốn Truyện ngụ ngôn Việt Nam (1998) - Hội văn nghệ dân gian

Việt Nam - Triều Nguyên – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, đã đi vào phân tích bài học quý báu được rút ra từ các câu chuyện ngụ ngôn trong đó có truyện ngụ ngôn về rùa Rùa đại diện cho cả tính xấu và đức tính tốt đẹp của con người: chịu khó, cần cù, tốt bụng và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp

khó khăn: Rùa quên lời dặn, Khỉ và rùa đi bắt cá, Hoẵng, rùa và gà rừng

Mỗi câu chuyện ngụ ngôn về rùa là những bài học bổ ích răn dạy người đời

2 Nguyễn Thị Ngọc Lan, trong Luận văn Thạc sĩ: Kiểu truyện người

mang lốt vật trong truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (1999), đã tìm

hiểu về hình tượng người mang lốt vật, trong đó có lốt rùa Theo đó, hình tượng rùa xuất hiện trong thần thoại của người Tày-Thái cổ và người Việt - Mường Tác giả đã khẳng định rùa cũng là một con vật thiêng trong tín ngưỡng sùng bái vật thiêng của người Việt Nam

3 Trần Minh Phương với công trình: Hình tượng rùa trong văn hóa dân

gian Tây Nam Bộ (09-12- 2010), đã nghiên cứu hình tượng rùa trong một

vùng văn hóa Tây Nam Bộ Trong công trình này tác giả đã xem xét hình tượng rùa ở rất nhiều khía cạnh trong một vùng văn hóa: rùa trong văn hóa ẩm thực; rùa trong lịch sử, địa danh, giai thoại và truyện dân gian; rùa trong nhận thức dân gian; rùa trong thơ ca dân gian Tây Nam Bộ

Trang 7

4 Nhà nghiên cứu Chinh Dương với bài “Biểu tượng con Rùa trong tâm linh người Thái Đen”, đăng tải ngày 09- 10- 2013 trên trang Web:http://chuyenlequydondb.edu.vn Ông nghiên cứu biểu tượng rùa trong văn hoá, tâm linh của người Thái Biểu tượng Rùa, một biểu tượng đẹp bậc nhất trong văn hoá của người Thái Đen nó vừa mang tầm rộng của nhận thức,

vừa mang chiều sâu của tư duy - tình cảm - thẩm mỹ dân tộc

5 Nguyễn Văn Hậu với công trình Biểu tượng văn hóa dân tộc qua góc

nhìn của Dịch lý (2014), tác giả đã giải mã hình tượng rùa theo cơ cấu Dịch

pháp : rùa có lưng tròn tượng trưng cho trời, với bốn chân vuông tượng trưng cho đất Vuốt rùa chính là tinh hoa của trời đất tương ứng với Đức Nhân Biểu tượng rùa mang đầy đủ yếu tố của cơ cấu tam

tài cùng 9 số thiêng của "Ma phương" (Hậu thiên Lạc Thư) mang ở trên lưng

rùa bao hàm ý nghĩa gồm thâu hết lịch sử tạo nên trời đất và con người

Huyền thoại về rùa có nhiều, như sự tích rùa đội "Lạc Thư" dâng vua Phục

Hy Cũng như trong huyền thoại nước ta kể rằng thần "Kim Quy" xuất hiện

giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cho nhà vua, vuốt rùa làm nỏ thần để giữ gìn giang sơn xã tắc Sau này có câu chuyện Rùa vàng trao gươm báu cho vua Lê Lợi để đánh đuổi giặc Minh Huyền thoại hay nhắc đến rùa, vì

rùa là một linh vật trong tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng Người ta còn cho rằng rùa là một con vật sống lâu đời, mà sống lâu thì trở nên linh thiêng "Quy

tuế cửu tắc linh" Không chỉ thế, biểu tượng Rùa còn đáp ứng những yếu tố

về Âm Dương, Cương Nhu, vì có thân mềm võ cứng Về sự biến Dịch thì rùa khi co khi duỗi, lúc tĩnh lúc động Con rùa chính là biểu tượng của vũ trụ

6 Trong tạp chí Nghiên cứu văn hóa trường Đại học Văn hóa Hà Nội tác

giả Nguyễn Văn Cương có bài: Ý nghĩa và biểu tượng của một số mô típ trang

trí tiêu biểu trong điêu khắc đình làng (2014), bên cạnh những biểu tượng tự

nhiên: mặt trăng, mặt trời, nước, mây hay lấy cây cỏ để trang trí như: tùng,

Trang 8

cúc, trúc, mai, sen và tác giả cũng đề cập đến họa tiết trang trí là động vật, nổi bật là hình tượng tứ linh trong đó có hình tượng con rùa Tác giả khẳng định, ở đình làng, hình tượng rùa có mặt trong các bố cục trang trí rùa - hạc (hạc đứng trên lưng rùa) - biểu tượng của sự trường tồn, vĩnh cửu, đồng thời còn thể hiện sự chịu đựng, nhẫn nhịn, bền bỉ Ngoài những bài nghiên cứu chuyên sâu này, vẫn còn rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa không chính thức về hình tượng rùa, nhưng cũng đề cập đến hình tượng văn hóa rùa Qua đó, ta thấy hình tượng rùa trong văn hóa dân gian của người Việt Nam giữa một vị trí quan trọng, nó đã làm phong phú cho giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc

Còn nghiên cứu hình tượng rùa trong các tác phẩm văn học dân gian chỉ là các bài phân tích nhỏ lẻ và sơ lược trong từng tác phẩm cụ thể như đi

vào phân tích bài học được rút ra trong truyện ngụ ngôn Rùa và thỏ hay

Truyền thuyết hồ gươm trong các sách giáo khoa bậc tiểu học hay trung học

cơ sở

Có thể khẳng định rằng: đã có rất nhiều công trình đã đề cập đến hình tượng rùa trong văn hóa của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, song chưa có

công trình nào nghiên cứu đề tài: Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn

học dân gian một cách chính thức, hay được xem xét một cách hệ thống Vì

thế, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này với mong muốn bước đầu tìm hiểu hình tượng rùa trong văn hóa đến văn học dân gian Việt Nam một cách tổng quát và hệ thống hơn Một trong những biểu tượng văn hóa và văn học dân gian có ý nghĩa quan trọng đối với người Việt cổ đó là hình tượng rùa Qua đó, sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về biểu tượng văn hóa rùa và đặc biệt dễ dàng hơn khi tiếp nhận tác phẩm văn học dân gian có hình tượng rùa

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung khảo sát ý nghĩa của hình tượng rùa trong văn hóa dân gian và đi vào thơ ca, truyện cổ dân gian của người Việt Qua đó, khẳng định sự phong phú và nét đẹp trong tín ngưỡng, văn hóa dân gian của người Việt Nam Đồng thời, cho ta thấy sự diễn hóa hình tượng văn hóa rùa trong văn học dân gian một cách đặc sắc, thể hiện quan niệm thẩm mỹ và tư duy của người bình dân xưa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Ý nghĩa, biểu hiện của hình tượng rùa trong văn hóa dân gian: trong tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian (hội họa, kiến trúc, điêu khắc…)

- Hình tượng văn hóa rùa trong văn học dân gian Việt Nam: thơ ca dân gian, truyện cổ dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn…)

- Sự diễn hóa của hình tượng rùa từ cội nguồn văn hóa vào trong văn học dân gian Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình tượng rùa trong văn hóa dân gian và văn học dân gian

Phạm vi nghiên cứu:

- Tư liệu: Khảo sát trong văn hóa dân gian: tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc, điêu khắc, hội họa…) Khảo sát trong kho tàng văn học dân gian: thơ ca dân gian (ca dao dân ca, tục ngữ) và truyện kể dân gian (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn…) của người Việt Ngoài ra, để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng tư liệu trong kho tàng văn hóa, văn học dân gian của Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar

Trang 10

- Nội dung: Chúng tôi đi từ những vấn đề chung nhất để thấy được rằng: Hình tượng rùa trong văn hóa dân gian của người Việt giữ vị trí quan trọng và thiêng liêng Đồng thời trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đặc biệt quan tâm tới sự diễn hóa của hình tượng rùa trong các tác phẩm văn học dân gian

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng các nghiên cứu cơ bản như: Phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu liên ngành và kết hợp thêm nhiều phương pháp nghiên cứu khác

6 Đóng góp của khóa luận

Với đề tài này, chúng tôi hi vọng góp phần làm rõ những nét độc đáo

về hình tượng văn hóa rùa trong tín ngưỡng dân gian và nghệ thuật tạo hình dân gian của người Việt Qua đó, khẳng định những nét đẹp văn hóa truyền thống vẫn tồn tại trong ý thức của người Việt cho đến tận ngày nay

Khóa luận góp phần làm rõ sự diễn hóa của hình tượng rùa từ văn hóa

đi vào thơ ca dân gian, truyện cổ dân gian một cách độc đáo, phù hợp với quan niệm và sự sáng tạo của tác giả dân gian

Mặt khác, với đề tài này, chúng tôi hi vọng nhìn nhận một cách thấu đáo những nét nghĩa đặc trưng của một biểu tượng dân gian được thể hiện trong văn hóa và đi vào các sáng tác văn học

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo,Phụ lục, Nội dung

chính của khóa luận gồm hai chương sau:

- Chương 1: Hình tượng rùa trong văn hóa dân gian

- Chương 2: Hình tượng rùa trong văn học dân gian

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: HÌNH TƯỢNG RÙA TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN

Tứ linh là bốn con vật thiêng liêng gồm: Long – rồng, ly – lân, quy –

rùa và phụng – phượng hoàng Trong bốn con vật này thì long, ly và phụng là

ba con vật hư cấu, còn quy tức là rùa là con vật có thật So với hình tượng rồng, lân và phượng hoàng thì hình tượng rùa trong văn hóa dân gian của người Việt giữ một vị trí khá khiêm tốn Đôi lúc, ta có cảm tưởng rùa được đưa vào bộ tứ linh chỉ là để cho đủ bộ hoặc là làm nền cho các hình tượng khác! Thế nhưng nếu tìm hiểu sâu hơn về con vật này trên thực tế ta có thể thấy người bình dân xưa không phải không có lý do khi đã chọn hình tượng rùa để đưa vào bộ tứ linh Điều này sẽ được chứng minh rõ trong cội nguồn văn hóa dân gian của hình tượng rùa và được thể hiện đậm nét trong tín ngưỡng dân gian và nghệ thuật tạo hình dân gian (hội họa, kiến trúc, điêu khắc ) truyền thống của người Việt

1.1 Hình tượng rùa trong tín ngưỡng dân gian

Trong tâm thức của người Việt, bộ tứ linh Long – Ly – Quy – Phượng, trong đó con rồng là biểu hiện của quyền lực tối cao, dũng mãnh, đây là con vật huyền thoại tưởng tượng Lân là con vật biểu hiện uy trấn và cũng là con vật tưởng tượng Phượng hoàng là loài chim biểu tượng cho tri thức, hạnh phúc, cũng là sản phẩm của tưởng tượng Thì rùa là biểu hiện của sự vững bền

và là con vật có thật, còn tồn tại

Nghi thức thờ cúng tổ tiên theo nghĩa rộng là phụng thờ thuỷ tổ của cả

dân tộc dưới hình thức tôtem cũng ghi đậm dấu ấn của hình tượng rùa Cố

giáo sư Trần Quốc Vượng trong một công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng và

lễ hội dân gian nói chung và vùng Hà Nội nói riêng đã có một khái quát rất

Trang 12

đặc biệt về các biểu tượng vật tổ của người Việt dựa trên nền tảng của phương

pháp nghiên cứu địa - văn hoá : “Nếu Mê Linh là bộ lạc Chim, Long Biên là

bộ lạc Rồng thì có thể Tây Vu là bộ lạc Rùa Chim- Rồng- Rùa vừa là tổ tiên thần thoại, vừa là anh hùng khai hoá, vừa là biểu trưng biểu tượng của các

bộ lạc đó… Ban đầu bộ lạc Chim và Rồng là hai bộ lạc lớn, bình đẳng Về sau, ưu thế thuộc về bộ lạc Chim, với thủ lĩnh là các vua Hùng Có thể xem đó

là ưu thế của vùng chân núi, vùng giáp ranh đối với vùng hạ bàn, ưu thế của

bộ lạc làm nghề nông với bộ lạc còn gắn nhiều với sông nước buổi đầu thời đại đồng thau Về sau, khi ưu thế của bộ lạc Chim của các vua Hùng suy thoái thì nổi bật lên hàng đầu của lịch sử Việt Nam cổ đại là ưu thế của bộ lạc Rùa hay đúng hơn là bộ lạc Tây Âu vốn chiếm cứ cả một miền giàu khoáng sản ở Việt Bắc và lấn chiếm cả một miền đồng bằng cao ráo của xứ Bắc có lẽ xưa kia vốn là của bộ lạc Chim- Rồng” [12] Những vật tổ đại diện

cho vùng sông nước đã có xu thế ảnh hưởng mạnh hơn khi người Việt tiến sâu xuống đồng bằng Hình ảnh cha Rồng và con Rùa lưỡng tính có vẻ in dấu

ấn đậm trong tín ngưỡng thờ vật tổ đã chứng minh vai trò chi phối đời sống sinh hoạt cũng như tâm linh người Việt của nguồn nước

Quy (hay rùa) là một trong 4 linh vật (tứ linh) theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam Nó đã xuất hiện trong truyện cổ tích từ thời An Dương Vương, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là bóng dáng của thần Visnou, một tối thượng thần của đạo Bà la môn Dân tộc Thái có truyền thuyết Thần Rùa được Đấng tối cao cử xuống dạy cho dân biết cách làm nhà theo hình rùa đứng Bởi vậy, trên cột thiêng (tức là biểu tượng linh hồn của ngôi nhà, bản mường hay đất nước) bao giờ cũng có hình Thần Rùa - “Pua Tấu”) Dân tộc Bahnar Tây Nguyên có câu chuyện Thần rùa giúp cua, dâng nước đánh Thần diều gây nên nạn đại hồng thủy Người Khơ - me Nam Bộ, trong lễ cầu mưa bao giờ cũng đào hố cạnh cây bồ đề trong chùa, đặt biểu tượng cá và rùa

Trang 13

xuống hố rồi mời thầy cúng hoặc sư đến tụng kinh cầu mưa để cứu vớt chúng sinh thủy cư (rùa, cá…) cầu xin các thần linh ban mưa lành xuống Rùa cũng

là sự hóa thân của đức Ca Diếp (Kasyapa), vị tổ thứ nhất trong thần phả, vừa

là của đạo Phật, vừa của đạo Hinđu…

Trong tín ngưỡng của một số tộc người cư trú ở vùng núi nước ta thời viễn cổ có tục thờ thần rùa Sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường cho biết, nhân vật có tài thiết kế, xây dựng chính là thần rùa vàng Thần rùa vàng giúp con người dựng ngôi nhà theo kiểu cấu trúc giống cái mai của mình, nguyên vật liệu thì có gỗ để làm kèo cột, luồng, nứa làm sàn nhà, còn lá tranh làm mái Ở rùa, theo tư duy về vũ trụ của người Việt cổ, đã hợp đủ các yếu tố âm dương (vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, vừa cứng lại vừa mềm, vừa động lại vừa tĩnh) nên ẩn dụ về sự kết cấu vững bền, về sức sinh sôi, về trường tồn Vì thế, nhà nước Văn Lang chuyển thành nhà nước Âu Cơ ở trình

độ tổ chức cao hơn là do tộc người có tục thờ rùa (có thể là các tộc Tày - Thái) đã dung hợp với con cháu của bà Âu Cơ (chim) và ông Lạc Long Quân (rắn - rồng) Vua Thục Phán - An Dương Vương có nguồn gốc từ tộc người thờ thần rùa nên ông mới có được "sự kỳ diệu của mưu thần" trong việc xây loa thành và chế tạo nỏ thần (nói khác đi là trong việc xây dựng và bảo vệ nhà nước Âu Lạc) Nếu như chuyện họ Hồng Bàng giải thích nguồn gốc dân tộc, thì chuyện rùa vàng đề cập đến nhiều vấn đề trọng yếu trong nghiệp dựng nước và giữ nước trên tất cả các mặt văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao… của người đứng đầu đất nước đối với vận mệnh của quốc gia Nhà Lý mở ra

kỷ nguyên Đại Việt nhưng vẫn dựa vào văn học dân gian (văn hóa dân gian nói chung) làm nền tảng tinh thần để củng cố quốc gia độc lập, tự chủ của mình Phải chăng bài học rùa vàng lúc nào cũng có trong ý thức của các vua Lý: "sự kỳ diệu của mưu thần" mà văn bia Sùng Thiện Diên Linh nhắc tới chắc có sự liên tưởng đến câu chuyện rùa vàng? Và tài trí của Lý Nhân Tông

Trang 14

trong thiết chế các mô hình kiến trúc (xây dựng đất nước) được ví như sự kỳ diệu trong việc xây thành Cổ Loa và chế tạo nỏ thần của vua An Dương Vương xưa kia Qua phân tích ý nghĩa một số biểu tượng rùa trong tín ngưỡng dân gian còn lưu lại, có thể khẳng định rằng: thời Lý, tín ngưỡng dân gian thấm sâu vào mọi thiết chế xã hội, làm cho vua, dân, Phật gần nhau và Phật giáo được dân gian hóa, được biểu hiện ra thành ước vọng về cuộc sống hiện thực tốt đẹp Qua đây, chúng ta thấy Lý Nhân Tông thực sự tiêu biểu cho các ông vua phong kiến Việt Nam trong lịch sử biết tiếp thu có chọn lọc văn hóa -

tư tưởng nước ngoài để làm giàu cho văn hóa Việt Ở lĩnh vực tâm linh, người Việt coi Quy là vật hợp bởi cả âm lẫn dương: bụng phẳng tượng trưng cho đất (âm), mai khum tượng trưng cho trời (dương) Hình tượng rùa đội bia tượng trưng cho hạnh phúc, phát triển và sự chịu đựng Đó là quan niệm dân gian, đến đạo đức Nho giáo thì lại nhìn Quy theo nghĩa xấu, coi là âm vật của đàn

bà nên đời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị không còn thấy bóng dáng rùa trên các mảng chạm khắc Ở bia Văn miếu Huế thì Quy bị làm dày lên gấp đôi

để tránh hình tượng gán ghép này Trong quan niệm dân gian đất Bắc, Quy là cao quý , nhiều khi nó là chủ nguồn nước (rùa phun nước thiêng), là một linh vật của đất Phật

Theo phong thủy thì rùa được xem là con vật thiêng liêng mang lại nhiều điềm lành và tài lộc Rùa là 1 trong 4 tứ linh, 4 thần thú trấn giữ 4 phương Những con vật đó là: rồng xanh (Đông), chim chu tước (Nam), hổ trắng (Tây), rùa (Bắc) Rùa còn là biểu tượng của sự trường thọ Mọi người đều hưởng được lợi ích từ sự hiện hữu của rùa Trong tứ linh, rùa đứng hàng thứ ba, sau Rồng (Long), Kỳ Lân (Lân) và trước chim Phượng hoàng (Phụng) Rùa, hay Quy là biểu tượng của sự cao quý, là chủ nguồn nước (rùa phun nước thiêng), là một linh vật của đất Phật Theo tín ngưỡng dân gian quy là con vật sống rất lâu năm, chuyên ăn rau cỏ, nhiều khi không ăn, chỉ

Trang 15

hớp sương mà sống và lớn lên Quy sống trên 5000 năm thì gọi là Thần Quy Quy sống trên 10.000 năm được gọi là Linh Quy Rừng nào có Thần Quy ở thì rừng ấy không có cây cỏ độc hại, không có các loài thú độc như: rắn, rít,

hổ, beo, v.v…Trong văn hóa Việt Nam, rùa là một linh vật được tôn trọng từ ngàn xưa Còn riêng trong phong thủy, rùa là linh vật mang nhiều ý nghĩa nhất Nó là tạo vật duy nhất trong tứ linh thật sự tồn tại và có thể dễ dàng tìm thấy Vì vậy, rùa không đơn thuần là biểu tượng của tuổi thọ, mà còn của sự bảo vệ, che chở, hỗ trợ, sự sang trọng và triển vọng (Hình VI, phụ lục)

Trong phong thủy, con rùa giống như những ngọn đồi phương Bắc vững chãi, đảm bảo cho gia đình có sự liên kết chặt chẽ, lâu bền Con rùa còn được cho là người vận chuyển ma trận huyền ảo của chín con số cơ bản mang trên lưng và gây sự chú ý cho Phục Hy – vị hoàng đế đầu tiên trong truyền

thuyết của Trung Hoa, người được cho là tác giả của Kinh Dịch, cuốn sách là

cơ sở của tất cả lý thuyết trong Phong Thủy Con rùa giấu trong cơ thể và trong những hoa văn trên mai nó tất cả bí mật của trời và đất Tục truyền rằng khi Ban Cố tạo ra thế giới, ông đã dùng những chú rùa như những chiếc cột chống để giữ vạn vật Phần gù ở lưng con rùa được coi là trời và phần bụng của chúng là đất, khiến nó trở nên bền vững với thời gian Nếu nhìn kỹ con rùa, bạn sẽ nhận thấy nó có đầu và cổ rất dài Các phong thủy gia thường hay trưng trong nhà con rùa đầu rồng để có thật nhiều vận may Hình tượng con rùa đầu rồng này thường được cho ngồi trên rất nhiều đồng xu và những thỏi vàng, miệng có ngậm một đồng xu Tạo vật này vừa mang hiện thân cho sự can đảm của loài rồng và sự bảo vệ chắc chắn của loài rùa Các doanh nhân trưng hình ảnh này phía sau chỗ làm việc thì sẽ can đảm hơn trong việc ra quyết định đồng thời tránh được những rủi ro trong kinh doanh Nên nuôi rùa

ở hướng Bắc ngôi nhà vì chúng sẽ đem tới cho gia đình nhiều cát khí hơn

Biểu tượng con rùa trong tâm linh người Thái Đen: Rùa vốn là một loài rất gần gũi với nhân loại, lại mang nhiều đặc điểm độc đáo Từ hình dáng biểu

Trang 16

thị vũ trụ của nó, người ta suy ra chức năng chống đỡ, đảm bảo sự ổn định của thế gian; từ sự trường thọ nổi tiếng, nó được gắn với ý tưởng về sự bất tử Rùa dần trở thành một biểu tượng được nhân loại thừa nhận Nói đến văn hoá, tâm linh của người Thái thì không thể bỏ qua tính tiêu biểu của biểu tượng rùa Biểu tượng này trước hết là đặc trưng của tộc người Thái Đen (Táy Đăm), là biểu tượng duy nhất có ở ngành Thái này trong thời kỳ đầu Vì thế,

để hiểu về biểu tượng này, không thể không lật giở lại những pho thần thoại

Để lưu giữ biểu tượng đẹp đẽ rùa trong thần thoại của dân tộc mình, người Thái Đen có rất nhiều hình thức đa dạng Trong thực tế, đây là dân tộc không

thờ cúng vật tổ Yêu mến rùa, họ treo mai của nó lên sâu hẹ (hay Xau Hẹ, cột

thiêng), nơi đối điện với bàn thờ tổ tiên của gia đình, chứ không thờ cúng Việc treo mai rùa trên đỉnh cột có ý tôn thờ rùa Người Thái quan niệm, ngày xưa, rùa đã có công cứu người Vì vậy, khi làm nhà, người Thái treo mai rùa

để mỗi khi làm cỗ, khi nấu ăn ngày tết, rùa được "ăn" hơi cơm và thức ăn ngon nhất, quý nhất Cách thể hiện này bộc lộ một tình cảm thuần tuý chủ quan mà không chịu sự chi phối của bất cứ một thứ tôn giáo nào, là sự công nhận rùa như thành viên của gia đình, cộng đồng mình Bên cạnh đó, trong kiến trúc nhà ở, người Thái Đen làm nhà với hình dạng hai mái hồi cong như mai con rùa, gắn với thần thoại rùa dạy người Thái làm nhà ở thuở khai thiên lập địa, thần rùa “Pua Tấu” dạy cho người Thái biết cách làm nhà theo hình

rùa đứng Theo GS Võ Quang Nhơn thì "Rùa có thể tiêu biểu cho việc sản

xuất trên hai lĩnh vực: nông nghiệp và chài lưới Cái đó phải chăng phần nhiều thần thoại Việt Nam được đặt ra hay được tô điểm lại vào thời kì mà kinh tế nông nghiệp đã xuất hiện nhưng chưa át hẳn nghề chài lưới " Con

rùa, như vậy, gắn bó tự nhiên với mô hình sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen, với nghề chài lưới Nên rùa đã theo cách đó mà đi vào trong tâm linh của họ Tuy nhiên, để vươn lên thành một biểu tượng thì bản thân hình

Trang 17

tượng này phải đạt đến một giá trị mỹ cảm riêng Đó là ý nghĩa gắn bó mật thiết với lối tư duy, với tình cảm và quan niệm của người Thái Chọn rùa làm một loài vật gắn bó thiết thân với dân tộc mình, người Thái Đen không xuất phát từ góc độ thẩm mỹ Con rùa đối với họ là con vật có bề ngoài bình thường, không có gì nổi bật ấn tượng, lại vốn sinh ra chậm chạp Xuất phát của sự lựa chọn ấy là từ góc độ mỹ cảm (tức tình cảm thẩm mỹ) Họ đặc biệt yêu mến con vật này vì thấy đây là một loài vật đẹp từ trong bản chất Trong thực tế, rùa là con vật gần gũi với người Thái, lại rất đỗi hiền lành Có một bài tụng ca phương Tây, được gán cho Homere, ngợi ca thần Heme, trong đó, vị

thần này nói với rùa: 'Ta chào ngươi hỡi con vật bản tính dễ thương, đối với

ta ngươi là điềm thật lành " Cũng như một số dân tộc, người Thái Đen bị

chinh phục trước hết ở cái chất lành của nó Con vật này thuần tính từ trong

bản chất Nó dự báo và là tín hiệu của những điều tốt đẹp

Thêm nữa, tình cảm mến yêu loài rùa phải được khơi tìm từ bản chất con người Thái Người Thái Đen vốn rất gắn bó với môi sinh tự nhiên nên gần và hiểu loài vật Lời kể của thần thoại cũng đã cho thấy chính họ đã nhấc con rùa chậm chạp, mang nó theo mình đến cửa nhà Then Họ là những người

có tấm lòng nhân hậu, thương yêu loài vật Tình cảm của họ đối với rùa cũng

là sự ân tình Trong cuộc sống, khi lao động hay lúc nghỉ ngơi, nhìn thấy con rùa, họ ngẫm ngợi và nhận ra chính mình Ấy là đức cần cù, nhẫn nại, quen chịu đựng; dù nhỏ bé nhiều bất lợi nhưng bản tính hiền hành Yêu quý rùa cũng là yêu quý những gì cha mẹ, giống nòi truyền lại; yêu quý và trân trọng bản chất thật của mình Từ hình ảnh loài vật đáng yêu, họ nhắc nhở nhau trau dồi thêm những phẩm chất tốt đẹp để làm người

Sự suy tôn một loài vật bình thường lên thành biểu tượng và cái cách đối xử trước sau như một, thuỷ chung như nhất kia là nét đáng quý, đáng trân trọng của người Thái Bản tính ấy khẳng định rằng, dù là một tộc thiểu số

Trang 18

nhưng người Thái đã sớm vươn đến lối sống nhân văn của loài người Khi nhìn vào biểu tượng rùa, một biểu tượng đẹp bậc nhất trong văn hoá của người Thái Đen, ta hoàn toàn có thể tự hào vì tính văn hoá sâu xa bởi nó vừa

mang tầm rộng của nhận thức nhân loại, vừa mang chiều sâu của tư duy - tình

cảm - thẩm mỹ dân tộc

Người Trung Hoa cổ đại cũng coi rùa là một con vật linh thiêng Từ thời Tam hoàng Ngũ đế trong lịch sử cổ đại Trung Hoa, vua Phục Hy nhờ tìm thấy dấu vết trên mu rùa mà thiết lập ra quẻ Dịch gọi là Hà đồ, hay còn gọi là Tiên thiên Dịch, mở đầu cho khoa Dịch học, được xem như một môn học về

vũ trụ quan của người Trung hoa Người đời sau lại đem Dịch ứng dụng vào khoa bói toán cho nên các thầy bói toán vẫn dùng cái mu rùa như là một vật linh thiêng giúp cho mình chiêm nghiệm

Trong truyền thuyết về tổ của người Trung Quốc, Phục Hy là Tổ phụ,

Nữ Oa là Tổ mẫu, thì Phục Hy có hình rắn, Nữ Oa có hình rùa Sự kết hợp giữa rắn và rùa cho thấy một tô tem cổ đại từ xa xưa, tượng trưng cho sự trường tồn và sức mạnh Huyền Vũ (玄武) là một trong tứ tượng của thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết

âm dương, triết học "Chòm Huyền Vũ (rùa và rắn đen) gồm: Đẩu (cua), Ngưu (trâu), Nữ (dơi), Hư (chuột), Nguy (én), Thất (heo) và Bích (nhím)” Hình tượng Huyền Vũ có liên quan mật thiết đến một vị thần có vị trí rất cao trong Đạo giáo là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế, ông còn các danh xưng khác: Thượng đế tổ sư, Đãng ma thiên tôn, Hỗn nguyên giáo chủ, Bắc cực huyền linh đại đế Ông có 2 con vật thiêng là Linh Quy và Thần Xà, tượng trưng cho

sự trường tồn và trí tuệ Vì vậy chữ "Vũ" trong "Huyền Vũ" ở đây với nghĩa

là "sức mạnh" gồm cả rùa và rắn Vì vậy khi nhấn nộ, có khi ra hình huyền vũ

là tượng trưng cho sức mạnh đó Thật thú vị khi biết rằng sức mạnh tự nhiên của ngài là Nước và ngài tượng trưng cho Sao Thủy, một hành tinh có liên hệ

Trang 19

với nước, băng đá trong Anime Thủy Thủ Mặt Trăng Thần Rùa cũng tượng

trưng cho mùa đông Như trong truyện ngụ ngôn về rùa và thỏ, con rùa là biểu tượng cho sự thông thái và tài năng, sao Thủy cũng là hiện thân của sự thông thái Nó còn là sự ổn định và trường thọ (Hình VII, phụ lục)

Bên cạnh vẻ ngoài đặc biệt của mình, rùa còn là một con vật mang

nhiều đặc tính âm, theo quan niệm của người Trung Hoa, nên rất có thể người xưa đã chọn rùa đưa vào bộ tứ linh là để tạo ra sự cân bằng với hai

“linh vật tầng trên” có thuộc tính dương là rồng và phượng Đối với rồng và phượng (những linh vật bay được) thì rùa và lân là hai loài chỉ đi dưới mặt đất Phải chăng đó là quy luật đối ứng bền vững của muôn đời mà

các nghệ nhân xưa đã khéo léo lồng vào hình tượng tứ linh để hình

tượng này có một sức sống lâu bền như vậy

1.2 Hình tượng rùa trong nghệ thuật tạo hình dân gian

Theo góc độ văn học nghệ thuật, hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính

Trong nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam, tứ linh là một trong những

biểu tượng được sử dụng nhiều nhất Từ những điệu múa trong Nhã nhạc Cung đình cho đến các điệu múa dân gian như múa rồng, múa lân Từ các trang trí ở đền đài, cung điện của vua chúa đến tư thất của quan lại Từ những con rồng, con lân trên mái đình, mái chùa đến các trang trí tỉ mỉ trên những vật dụng thường ngày… Ở mọi lúc, mọi nơi, chúng ta luôn thấy các

biểu tượng trong bộ tứ linh xuất hiện với một vai trò đặc biệt và một vị trí trang trọng nhất Có lẽ, những yếu tố “linh” (thiêng) được gắn với các biểu tượng tứ linh đã hình thành nên vai trò và vị trí đặc biệt của nó trong nghệ thuật cũng như trong tín ngưỡng và văn hoá ở Việt Nam Tứ linh là tên gọi

có nguồn gốc Trung Hoa Trong sách Lễ Ký 禮記 (thiên Lễ Vận 禮運) chép:

Trang 20

“lân, phụng, quy, long, vị chi tư linh” 麟鳳龜龍謂之 ( lân , phượng, rùa, rồng

gọi là tứ linh Dưới góc độ biểu tượng,tứ linh là một tập hợp của những biểu

tượng đặc trưng nhất trong các nền văn hoá đồng văn Trung Hoa cũng như Việt Nam Đây là một hệ thống biểu tượng có cấu trúc chặt chẽ và tính liên

kết cao Tính liên kết của các biểu tượng trong bộ tứ linh không chỉ là ở tên

gọi hay thành phần “xuất thân” của chúng, mà xa hơn, đó là sự liên kết các yếu tố văn hoá truyền thống của người Việt nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung

Có thể nói rùa là một trong những “tác phẩm” hoàn mĩ của tạo hóa về

màu sắc hình khối và tỷ lệ Chính sự hoàn chỉnh này, đã khiến cho các dạng biểu hiện của hình tượng rùa trong nghệ thuật tạo hình dân gian gần như được giữ nguyên mẫu Với hình khối tựa như một cái bát úp, rùa là một trong không nhiều những loài vật có hình khối có thể gần giống với các khối hình học cơ bản Với hình dạng này rùa, có thể được dễ dàng được đưa vào các tác phẩm điêu khắc, hội họa mà không cần phải cách điệu Đặc biệt hơn, những vết vân lưng trên mai rùa thường tạo nên những hình trang trí tự nhiên, sống động và vô cùng phong phú Nói một cách không ngoa thì chỉ cần chép y nguyên “tác phẩm điêu khắc của tạo hóa” này vào giấy chúng ta đã có một tác phẩm trang trí hoàn hảo

1.2.1 Rùa trong hội họa, điêu khắc

Nghệ thuật hội họa Việt Nam bộc lộ rõ tính linh hoạt của văn hóa nông

nghiệp Nhờ thủ pháp biểu trưng ước lệ mà nghệ thuật hội họa Việt Nam có thể diễn tả bất cứ cái gì từ cái nhìn xuyên vật thể đến sự tổng hợp của các góc nhìn, của không gian và thời gian Rất phổ biến là các mô hình trang trí mang tính triết lý sâu sắc Bộ Tứ linh với long (rồng) biểu trưng cho uy lực, cho nam tính; ly (long mã) hoặc lân (kì lân, một con vật tưởng tượng đầu sư tử rất hiền lành, ăn cỏ, không hề làm hại một sinh vật nào) biểu trưng cho ước vọng

Trang 21

thái bình, quy (rùa) biểu tượng cho sự sống lâu và phượng (phụng) biểu tượng cho nữ tính [21]

Rùa, từ Hán Việt là quy (龜), là một trong tứ linh, biểu tượng cho sự

trường thọ vì nó sống trên ngàn tuổi Vì mai rùa ở trên tròn nên được coi là tượng của trời, ở dưới dẹt tượng của đất, nên rùa ví như sống lâu như trời đất

Ở Trung Hoa, người ta tin rằng rùa cái thường giao phối với con rắn, nên thường cho đó là biểu tượng của sự bất trinh Khi vẽ hình con rùa vào cột nhà

ai là có ý bảo người đó kém phẩm hạnh Vẽ hình ảnh đó, hay đơn giản viết

chữ quy thôi, ở nơi ngõ cụt hay góc phố có nghĩa là ngỏ lời mời khách qua

đường ghé lại làm chuyện trăng hoa Vì rùa có dáng nặng nề nên được cho là biểu tượng của sự vững trãi nên ở Trung Hoa, rùa được thờ làm thần hộ đê

Người An Nam hình như không quan tâm những biểu tượng đó, rùa được dùng làm đế bia với tín ngưỡng tin vào sự trường thọ, cũng như tin vào

sự vững bền như biểu hiện nặng nề nơi cơ thể nó Người ta cũng thấy rùa làm trang trí dấu nhấn ở gờ bên mái nhà, nhưng trường hợp này hiếm thấy (Hình

1, hình VIII, phụ lục) Khi nó mang trên lưng cổ đồ, tức bộ sách có buộc dải

lụa, thì nó là thần quy mang Lạc Thư, miệng nó sẽ phun ra cuộn sóng gọi

là thủy ba (Hình 3, hình VIII, phụ lục) Sen hóa rùa (liên hóa quy) là hình

tượng: lá sen có mép cong vằn lên thành mai con rùa thường trang trí giữa đám sen (Hình 4, hình VIII, phụ lục) Cũng theo ngẫu hứng một số nghệ sĩ, các loài quả lá khác cũng biến cách thành rùa Trong mỹ thuật Huế, con rùa được trang trí trên nhiều chất liệu khác nhau song lại rất ít xuất hiện ở mảng điêu khắc trên đồng [15]

Điêu khắc là một nghệ thuật trang trí, một loại hình của nghệ thuật tạo hình, có khả năng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của cả một cộng đồng, dân tộc Bằng nghệ thuật cách điệu, tượng trưng hóa các đối tượng như

tự nhiên, cây cỏ, động vật… đã tạo thành các mô típ (motif ) trang trí Trong

Trang 22

điêu khắc đình làng có nhiều chạm khắc trang trí Người nghệ nhân xưa đã sáng tạo, tiếp thu và sử dụng nhiều mô típ trang trí Các mô típ trang trí có ý

nghĩa và biểu tượng với rất nhiều lớp nghĩa phong phú Việc tìm hiểu và giải

mã chúng cho phép chúng ta tìm hiểu về tư duy, quan niệm và thẩm mỹ của người xưa

Rùa trong quan niệm dân gian của người Việt cổ thì nó được xem là một biểu tượng trong văn hoá nghệ thuật dân gian Biểu tượng (symbol) trong

tiếng Hán bao gồm hai thành tố: biểu = là dấu hiệu, là sự bộc lộ, phô bày; tượng = là hình (tượng) Ở đình làng, hình tượng rùa có mặt trong các bố

cục trang trí rùa - hạc (hạc đứng trên lưng rùa) - biểu tượng của sự trường tồn, vĩnh cửu, đồng thời còn thể hiện sự chịu đựng, nhẫn nhịn bền bỉ Dân gian có

câu ca thật hồn nhiên và hóm hỉnh:“Thương thay thân phận con rùa/Lên đình

hạc cưỡi, xuống chùa đội bia”

Trong các hình tượng trang trí truyền thống ở Việt Nam, tứ linh là một trong những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu nhất và được sử dụng nhiều nhất

Từ đền đài cung điện của các nhà vua đến tư thất của quan lại Từ những con Rồng đá trên thềm điện hay mái đình làng đến các trang trí tỉ mỉ trên các vật dụng thường ngày Những yếu tố thiêng liêng được gắn với hình tượng trang trí này đã tạo nên một hệ thống các biểu tượng trang trí có giá trị nghệ thuật cao và tính nhân văn sâu sắc

Ở các tác phẩm nghệ thuật hiện tồn, hình tượng rùa thường được tạo tác dưới dạng những chiếc đế đặt bia, đế hạc thờ hoặc phối hợp với rồng, lân và phượng hoặc tạo nên các bức trang trí mang hình tượng tứ linh Một trong những hình tượng rùa tiêu biểu nhất là những đế bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) Thông qua hình tượng rùa ở đây, người xưa như muốn nhắc nhở cho lớp con cháu hãy giữ lấy nề nếp gia phong, kỷ cương phép nước và đạo học của Khổng Tử Hình tượng rùa chính là chiếc thuyền

Trang 23

chở đạo học đến với muôn người dân Đây cũng là một trong những chi tiết quan trọng nhất được các nghệ nhân xưa đan lồng vào trong các tác phẩm trang trí có hình tượng rùa Đặc biệt là hình tượng rùa cõng trên lưng hòm sách đã đi vào nghệ thuật tạo hình dân gian như một biểu tượng của sự khổ luyện thành tài Đây cũng là một đức tính quý báu của các nho sĩ ngày xưa trên con đường học hành khoa cử Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư

có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc Nó có thể nhịn ǎn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai Tên các tiến sĩ đỗ đạt được ghi lại trên các tấm bia và được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam Bia tiến sĩ Văn Miếu gồm 82 tấm bia đá khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình thời nhà Hậu Lê và nhà Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) Bia được đặt trên lưng rùa đá để biểu thị sự trường tồn của tinh hoa dân tộc, phản ánh được giá trị văn hóa, lịch sử của đất nước trong suốt 300 năm Tất cả 82 bia tiến sĩ đều được chế tác theo cùng một phong cách: bia dẹt, trán cong, hình vòm Các tấm bia được đặt trên lưng rùa, rùa được tạo dáng theo một phong cách chung: to, đậm và chắc khỏe Cách thức dựng bia cũng

Trang 24

rất độc đáo: đá dựng bia được lựa chọn kỹ càng, sau đó được thiết kế, trang trí, chạm khắc các hoa văn và bài ký Vì được làm hoàn toàn bằng tay nên công việc này đòi hỏi sự nhẫn nại và khéo léo rất lớn của những người thợ

Vậy tại sao tất cả những bia tiến sĩ này đều được đặt trên lưng rùa? Rùa

là một trong tứ linh của Việt Nam cùng với long (rồng), lân, phụng (phượng hoàng) và đặc biệt nó còn là con vật tượng trưng cho sức sống trường thọ Vì thế đặt bia đá trên lưng rùa còn có ý nghĩa mong cho tên tuổi các vị tiến sĩ được khắc trên đó sẽ mãi mãi vang danh như biểu trưng của loài vật này Đến nay, bia tiến sĩ Văn Miếu vẫn là những bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi dựng Phần lớn các hoa văn và văn tự còn rõ, có khả năng đọc được Tính hiếm có và không thể thay thế ở nội dung và cách thức dựng bia, giá trị lịch sử - mỹ thuật và ảnh hưởng xã hội của tấm bia khiến cho 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) trở nên vô cùng đặc sắc, không đâu có được (Hình I, phụ lục)

Quy (rùa) là con vật linh duy nhất mà con người có thể nhìn thấy được trong nhóm tứ linh Rùa mang chiếc mai trên lưng, phần vòm trên là biểu

tượng của bầu trời, phần phẳng dưới mai tượng trưng cho đất, do đó rùa được xem là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ Là con vật sống lâu nên rùa được dùng biểu trưng cho sự trường thọ, trường tồn Rùa được thể hiện chủ yếu ở kiểu

thức quy hạc (rùa đội hạc), là hình tượng biểu trưng cho tổng hợp thể không

gian - thời gian vũ trụ, cho sự trường tồn bền vững và vĩnh cửu Rùa sống lâu, hạc cũng là loài chim sống rất lâu nên cả rùa và hạc đều biểu trưng cho sự

trường thọ Kiểu thức rùa hạc thể hiện chủ yếu dưới dạng chân đèn, được chế

tác thành từng cặp đặt đối xứng nhau trên các bàn thờ, hương án để dùng trong tế lễ Trong kiểu thức trang trí này rùa hạc được đúc đặc tả chi tiết: mai rùa chạm chìm các hình lục giác, hình vuông ken nhau, chim hạc miệng ngậm bông hoa sen với đài hoa tạo thành nơi cắm nến Sự kết hợp rùa hạc với bố

Trang 25

cục bề thế, vững chắc chính là sự hoàn chỉnh của trục vũ trụ trong không gian cũng như mang ý nghĩa bất tử về thời gian Rùa cũng còn xuất hiện dưới dạng kết hợp với một số động, thực vật khác (ốc, ếch, hoa lá sen) trên thân chiếc lư hình lá sen độc đáo với động tác khá sinh động như đang sống thực giữa một

hồ sen Dưới dạng đơn lẻ, rùa xuất hiện rất ít, chỉ có thể tìm thấy ở phần đế của một vài chiếc lư xông trầm Và chúng ta khó mà tìm thấy con rùa trong

kiểu thức trang trí kết hợp với các linh vật khác của tứ linh trên các đồ đồng

như đã từng được thể hiện khá nhiều trong kiến trúc hay điêu khắc trên đá, gỗ,

gốm sứ Có thể nói trong nhóm tứ linh được tạo hình trên đồ đồng thời

Nguyễn, con rùa mang thân phận kém cỏi nhất với rất ít đề tài trang trí

Ý nghĩa hình tuợng Rùa đội Hạc trong tâm thức Việt, theo một câu

chuyện đời xưa kể lại sự tích lá phướn ở chùa là hình ảnh con rắn bị trừng phạt "Nguyên trước kia, người nông phu có nuôi con rắn Ngày nào anh cũng

lo mồi cho rắn ăn no đủ Rắn mỗi ngày mỗi lớn, nên thức ăn mỗi ngày mỗi nhiều Một hôm người nông phu nói với rắn bữa nay ta không lo thức ăn cho mầy nổi nữa vì mầy ăn quá mạng, thôi ráng chờ sáng mai vậy Rắn nghe nói thế bèn nổi giận và trở mặt, phùng mang, trợn mắt đòi cắn chết anh nông phu Anh nông phu buồn rầu và nghe nói "cứu vật, vật trả ơn" nhưng sao rắn mình nuôi nó, nó lại đòi ăn thịt mình Và rồi anh nông phu nói với rắn, vậy mầy cùng đi với ta đến gặp một loài vật khác hỏi xem nếu nó đồng ý mầy ăn thịt

ta, ta sẽ bằng lòng ngay Rắn đồng ý và cả hai gặp con hạc Anh nông phu kể lại tự sự, hạc nghe xong bèn nổi giận cho rắn là phường vong ân bội nghĩa, tội đáng chết Nhưng rắn chưa chịu và đòi đi gặp con vật thứ hai Và rồi cả hai lại gặp con rùa đang nằm bên lề đường Rùa nghe rắn phân bua, bèn phán, vậy mầy cắn người nông phu chết cho rồi Tại sao hắn nuôi mầy mà để cho mầy đói Anh nông phu đề nghị nên gặp thêm con vật thứ ba mới phân thắng bại vì vừa qua đã gặp hai con vật mà mỗi con lại có ý trái nhau Rắn đồng ý và rồi

Trang 26

trên đường lại gặp con quạ Nghe xong cớ sự, quạ bèn nổi giận từ trên cành cao nhào xuống mổ con rắn chết ngay tại trận Nhưng hồn con rắn không vừa, bèn bay lơ lửng, vẩn vơ tìm Đức Như Lai để nhờ phân xử Đức Phật nghe rõ

đầu đuôi câu chuyện rồi phán rằng:" Hạc là loài có nghĩa, từ nay được đứng

trên cao Rùa ăn nói vô lý, từ nay cho nó bò dưới thấp Rắn là loài vô ân nên

bị quạ giết là đáng lắm Nên quạ tha xác rắn lên ngọn cây cho muôn loài soi gương mà ăn ở cho có nhân đức, đừng vô ân phản phúc" [8] Từ đó hạc đứng

chầu trên cao Rùa đội chân con hạc Quạ đậu trên cột phướn và lá phướn treo trước chùa là hiện thân xác rắn đang phơi mình cho bá tánh trông vào đó mà

tự răn lấy mình vậy Hay Theo một câu chuyện truyền thuyết khác của người Việt cổ thì hạc và rùa là đôi bạn thân của nhau Rùa là loài sống ở dưới nước, biết bò Hạc là loài sống trên cạn, biết bay Khi trời làm mưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng nước ngập úng để đến nơi khô ráo Ngược lại, khi trời hạn hán rùa được hạc giúp đưa đến vùng có nước Câu chuyện này nói lên lòng chung thuỷ, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn giữa những người bạn tốt Chính vì ý nghĩa đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được người Việt đề cao, biểu thị cho khát vọng tốt đẹp may mắn và chúng

có một vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc, được sử dụng hình ảnh trang trí trong nhiều đền chùa, miếu mạo ở Việt Nam và còn thể hiện cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương Dù hình ảnh rùa đội hạc được giải thích theo cách nào thì nó cũng là mang một nét văn hóa của người bình dân xưa Và qua hình tượng rùa đội hạc thường thấy trong các đình chùa, đền miếu ở Việt Nam, cha ông ta gửi gắm những quan niệm, ý nghĩa và ước vọng sâu sắc, cao cả Chính vì tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt mà hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia ghi lại những câu chuyện, lịch sử, danh nhân

thể hiện sự “tín nhiệm” của ông cha ta khi giao cho rùa việc lưu giữ văn hoá,

sử sách được trường tồn với thời gian và dân tộc Với người Việt, hạc là loài

Trang 27

chim qúy được dùng để tượng trưng cho đạo giáo thần tiên, ở đâu có hạc là ở

đó có tiên nên các hoa văn, họa tiết trang trí thường có cảnh tiên cưỡi hạc Do

đó, hạc là biểu hiện cho sự tinh túy, thanh cao (Hình IX, phụ lục)

Ngoài biểu tượng văn hóa rùa đội hạc trong các đình chùa, rùa còn là

con vật xuất hiện cùng với long và lân trong các mô típ trang trí “long – ly –

quy - phụng” Qua đó, càng chứng tỏ sự phong phú và đa dạng trong nghệ

thuật điêu khắc và giá trị của các biểu tượng văn hóa của người Việt Nam Đặc biệt là giá trị của biểu tượng rùa: rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt

1.2.2 Rùa trong kiến trúc

Rùa được người Việt coi như loài vật linh thiêng giống như vị thần hộ mệnh cho dân tộc mình Truyền thuyết dựng nước của nhà nước cổ đại thứ hai

ở Việt Nam là nhà nước Âu Lạc cũng có liên quan đến loài rùa Và như thế, việc xây dựng Tháp Rùa ở giữa lòng hồ Hoàn Kiếm, trái tim của Thủ đô Hà Nội cũng có thể hiểu với cùng ý nghĩa như vậy Thêm vào đó, ta có thể thấy rằng truyền thuyết Hồ Hoàn Kiếm cũng có nhắc tới việc tướng quân Lê Lợi

đã đánh đuổi hoàn toàn quân Minh xâm lược nhờ vào sự bảo hộ của thần rùa Kim Quy Không chỉ nhằm mục đích bảo vệ đất nước mà còn cảm thấy rằng,

có lẽ do sùng bái con rùa như một loài vật thần thánh ngay từ khi ra đời lập thân mà con người Việt Nam cũng có nhiều nét ưu việt giống thuộc tính của loài rùa đến lạ Và hơn tất cả là mỗi khi có kẻ thù mạnh hơn mình đến tấn công, người Việt Nam sẽ không trực tiếp đối đầu trực diện mà thường ẩn mình giống loài rùa, nhằm làm vô hiệu hóa sự công kích của kẻ thù Ngoài ra, dân tộc Việt lấy yếu đánh mạnh, không thể kết thúc chiến tranh một cách chóng vánh nên đã kéo dài thành cuộc kháng chiến trường kỳ, điều đó cũng tựa như bản tính chắc chắn của loài rùa vậy Không chỉ có thế, đặc điểm của loài rùa - động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể tăng lên và giảm đi theo nhiệt độ

Trang 28

môi trường bên ngoài cũng giống như con người Việt Nam hòa đồng và năng động, thích ứng nhanh với biến đổi của hoàn cảnh môi trường sống

Trong số những địa danh liên quan đến con vật này, ở thủ đô nghìn năm văn hiến còn có Tháp Rùa Tháp xây trên gò Rùa nơi xưa từ thời vua Lê

Thánh Tông đã dựng Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá Tháp Rùa ngày nay

xây trên gò Rùa, tính từ nền đất gò Rùa lên tới đỉnh tháp là 8,8 mét, xét về lịch sử thì không có gì vẻ vang, không có giá trị kiến trúc nhưng đã trở thành một biểu trưng của Hồ Gươm và hơn thế của cả Hà Nội (Hình X, phụ lục)

Trong bản Mo đồ sộ Te tấc te đác (Đẻ đất đẻ nước) có đoạn nói về sự

ra đời của nhà sàn người Mường Mo nói rằng: “Khi người Mường sinh ra

nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con “Rùa” đen trong rừng đang định đem ra làm thịt Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà

để ở, làm kho để lúa để thịt:

Bốn chân tôi làm nên cột cái

Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm ru

Nhìn qua đuôi làm trái

Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ

Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài

Muốn làm mái thì trông vào mai

Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách

Lấy chạc vớt mà buộc kèo.”

Câu chuyện này được coi như một điển tích về sự ra đời nhà sàn của người Mường Nó gắn liền với những phong tục tập quán, sinh hoạt thường ngày của người dân bản Và cho tới ngày nay, những nếp nhà sàn đó vẫn còn vẹn nguyên với người dân nơi đây Hình ảnh con rùa cho đến nay không chỉ

Trang 29

là con vật linh thiêng được người Mường tôn thờ mà còn sáng tạo ra một cách

tính ngày tốt, giờ tốt gọi là phương pháp “trừ đá Rò” (Rò ở đây được hiểu là

Rùa) Phương pháp này dùng để tiến hành dựng nhà hay cưới hỏi và làm những việc quan trọng khác của làng và dân bản

Trong tín ngưỡng dân gian, người Mường coi con rùa là con vật linh thiêng, biểu tượng của sống lâu, của trường cửu Do vậy, nhà ở của người Mường, về hình dáng mô phỏng theo hình con “rùa”: nhà có 4 chân, 4 cột mái, mái sườn là mái nhà, xương sống là đòn nóc, đầu là cửa chạn Dáng vẻ

bề ngoài, nhà có 4 mái, 2 mái trước có hình thang cân, hai mái đầu hồi có hình tam giác cân.Về kết cấu, nhà sàn truyền thống có 2 vì kèo, 4 cột cái, 8 cột con, giữa 2 đầu cột nối với nhau gọi là quết (xà ngang) Có noon tay nối các vì kèo với nhau, trên các đòn tay có các hàng rui nối từ nóc nhà xuống tận mái hiên, trên rui có các hàng mè nằm vuông góc với rui Trên cùng gác trên đầu các vì kèo (nóc nhà) là đòn nóc hay còn gọi là đòn dông Nhà lợp bằng cỏ tranh đan lại thành từng phên dài từ 1,2-1,5m, có nơi lợp bằng lá cọ hoặc rạ đan thành từng phên giống cỏ tranh Nhà sàn của người Mường được phân ra làm 3 mặt bằng Tầng trên cùng chứa lương thực, đồ dùng gia đình Sàn tầng

2 là nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi, tiếp khách, bếp lửa đặt ở đây, ở giữa nhà Gầm sàn, tức tầng 1 để dụng cụ sản xuất và nhốt gia súc Nhà bố trí 2 cầu thang, cầu thang chính ở đầu hồi bên phải nhà, nơi đây để nước rửa chân trước khi lên nhà, cầu thang phụ đặt ở đầu hồi bên trái nhà, chỉ dùng cho những người trong gia đình lên nhà khi đi làm về (Hình III, phụ lục)

Từ khi người Mường dựng lên ngôi nhà sàn đầu tiên, đến nay ngôi nhà sàn Mường đã trải qua một bước phát triển dài Người Mường đã tiếp thu những yếu tố ngoại lai, làm cho ngôi nhà của mình thêm đẹp, hợp với điều kiện ăn ở của mình hơn Nhưng không vì thế mà mất đi bản sắc của người Mường

Trang 30

Nhà ở của mỗi tộc có những đặc điểm riêng về kiểu dáng, kiến trúc và mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà của mình Nếu như nhà người Mường có truyền thuyết về ngôi nhà của dân tộc mình thì nhà của người Thái cũng có câu chuyện tương tự và cũng có kết cấu dạng mai rùa Đây là kiểu kiến trúc truyền thống gắn với truyền thuyết của người Thái liên quan đến con rùa Câu chuyện kể rằng: xưa kia, người Thái không biết làm nhà Một đêm họ mơ thấy

có một con rùa về báo mộng và bảo rằng "nhìn vào hình dáng của tôi mà làm,

4 chân là 4 trụ cột chính đỡ nhà, vẩy rùa là ngói lợp" Từ đó ngôi nhà sàn của

người Thái có hình dáng chiếc mai rùa Câu chuyện này có dị bản gần với sự tích làm nhà của người Mường cư trú ở vùng thung lũng Tây Bắc Điều đó chứng tỏ sự ứng xử của cư dân thung lũng trong việc làm nhà sàn 4 mái, có khung cột làm trụ để tránh gió, bão lũ và thú dữ

Ngoài các loại hình nghệ thuật: hội họa, kiến trúc, điêu khắc thì hình tượng rùa đi vào nghệ thuật múa dân gian của một số dân tộc trên địa bàn sinh sống của người Việt cũng mang những nét đẹp, có bản sắc văn hóa riêng.Ví

dụ như điệu "Múa rùa" của đồng bào người Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì (Hà Tây cũ) "Múa rùa" là điệu múa trong lễ hội dân gian của người Dao dưới chân núi Ba Vì Điệu múa này bắt nguồn từ truyền thuyết về một con rùa đã thành tinh đến phá phách làng bản, mùa màng, gieo rắc bệnh tật, bị những chàng trai Dao khỏe mạnh đánh đuổi Điệu múa rùa diễn ra trong không khí vui tươi của lễ "Tết nhảy", là cách người Dao xua đuổi cái ác, diệt trừ cái xấu, đón những điều tốt đẹp về với bản làng trong năm mới Hay nghệ thuật múa rối nước rùa vàng xuất hiện từ thời Lý, mà văn bia Sùng Thiện Diên Linh đã

miêu tả, ta dường như thấy "… Lòng sóng rung rinh Rùa vàng nổi lên đội ba

quả núi Nước chảy nhịp nhàng, rùa nở phô vảy đẹp, chuyển động bốn chân

và nhe răng, trợn mắt phun nước biểu diễn, điệu sáng sủa trên mặt nước tràn đầy Động này, cửa nọ tranh nhau mở, xuất hiện nhiều thiên thần nhuần nhị,

Trang 31

nét mặt thanh tân, há đâu phải vẻ đẹp người dương thế Tay nhỏ nhắn mềm mại múa điệu hồi phong, mắt nhìn mây biếc và ca khúc vân hội " Rối nước

là sản phẩm văn hóa dân gian của người Việt canh tác lúa nước, là sinh hoạt văn hóa phổ biến trong hội hè ở các làng quê sau những vụ mùa bội thu Nghệ thuật này được Lý Nhân Tông phát triển, ông cho chế tạo mô hình rối nước rùa vàng làm trò diễn trong cung đình, nơi thiêng liêng Phật Lý Nhân Tông tuy đi theo đạo Phật nhưng không phải để hướng về cõi niết bàn cực lạc hư vô

mà tìm về thú vui đời thực Đó là biểu hiện ý nguyện của cư dân nông nghiệp nước ta đã có từ xa xưa, luôn cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân cường vật thịnh

Tiểu kết: Với ý nghĩa là biểu hiện của sự bền vững, trường tồn vĩnh cửu, hình tượng rùa in dậm trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Nó xuất hiện từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dưới hình thức tô tem từ thời xa xưa

và còn lưu giữ cho đến ngày nay Còn trong phong thủy rùa được xem là con vật linh thiêng mang lại nhiều điềm lành và tài lộc Ngoài ra, rùa còn xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình dân gian từ hội họa, điêu khắc cho đến kiến trúc (nhà sàn của người Thái, người Mường ), được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng Hình tượng rùa được sử dụng trang trí trong đền đài, cung điện của vua chúa đến tư thất của quan lại, trên mái đình mái chùa đến những vật dụng thường ngày tiêu biểu là dạng thức rùa đội bia đá và rùa đội hạc

Trang 32

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG RÙA TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

Nếu như trong văn hóa dân gian thì hình tượng rùa là biểu tượng cho sự linh thiêng tượng trưng cho sự trường tồn, vĩnh cửu, cho sự thanh cao thoát tục và trở thành tín ngưỡng dân gian tồn tại từ lâu đời trong tâm thức của người Việt Nam Hình tượng rùa xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình dân gian như: hội họa, kiến trúc, điêu khắc và mang những ý niệm nhất định Với ý nghĩa đó khi đi vào sáng tác văn học dân gian (ca dao dân ca, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn ), hình tượng rùa được biểu hiện đa dạng, bao gồm từ quá trình linh hóa đến sự giản hóa hình tượng

2.1 Rùa trong thần thoại

Từ con vật có thật và được nâng lên với vai trò vật thiêng trong tâm thức dân gian, rùa trở thành “nhân vật” trong truyện cổ dân gian của nhiều dân tộc Khi đi vào khảo sát hình tượng rùa trong kho tàng truyện cổ dân gian của người Việt, chúng tôi thấy rằng hình tượng rùa chỉ xuất hiện trong thần thoại của một số dân tộc miền núi Cụ thể, nó xuất hiện trong thần thoại của người Thái, Mường, Tày Sự xuất hiện này với số lượng không nhiều nhưng cũng đã làm phong phú thêm giá trị văn hóa cho hình tượng rùa của người Việt Nam

Ngay từ buổi sơ khai, hình tượng rùa cũng đã xuất hiện trong thần thoại của một số dân tộc thiểu số Điều đó chứng tỏ hình tượng rùa từ xa xưa đã có

sự ảnh hưởng và vai trò nhất định trong đời sống tinh thần con người Thần thoại thể hiện những nhận thức hoang đường nhất về thế giới thuở ban đầu, nhưng cũng tiềm chứa trong đó những mẫu cổ văn hoá nguyên sơ nhất, chân phác nhất Nếu như trong văn hóa dân gian của người Việt cổ hình tượng rùa tượng trưng cho sự trường tồn bất diệt và trường cửu thì người bình dân xưa

đã lấy hình tượng rùa để lý giải các hiện tượng tự nhiên, hiện tượng văn hóa

Trang 33

Đã từ lâu, trong tư duy của người Kinh, rồng và rùa là hai con vật ở cả dưới nước và trên cạn Nếu rồng là con vật được thần thánh hoá, không tồn tại trên thực tế thì rùa lại là loài có thật, tuy chậm chạp nhưng sống lâu, được con người coi là loài vật thiêng, có khả năng tiên tri Tính chất huyền bí của con vật này rất thích hợp với tính hoang đường của thần thoại, cổ tích giống như

ca dao có nguồn cảm hứng là con cò, cái bống Nó được nhắc đến nhiều trong thần thoại, cổ tích Việt Nam

Thần thoại Thái ca ngợi công lao của rùa trong việc dạy người cách khóc Then Then (trời) dùng mưu để đánh lừa muôn loài hòng thử lòng thật lòng giả, song thua loài người về trí Trí này lại nhờ con rùa tuy chậm chạp nhưng giỏi phán đoán và tiên tri Người Thái đề cao sự thông minh của loài này, họ cũng không thần hoá, không tô điểm thêm cho nó thành Rùa Vàng như thần thoại của người Kinh mà thể hiện những nét chân thực nhất Đề cao phẩm chất bên trong mà không phải hình dạng bề ngoài chứng tỏ người Thái rất nâng niu những giá trị tinh thần Trong dân gian Thái Mường Thanh (Điện Biên), cũng như người Thái Đen ở một số vùng, vẫn còn lưu truyền câu

chuyện thần thoại giải thích căn nguyên cấu trúc nhà ở của họ: Khi nhà đã

làm gần xong, còn tại hai mái hồi, không ai nhớ làm thế nào nữa Họ định lên hỏi Then Lúc ấy có một con Rùa ngoi từ sông lên mách: " Các ông cứ làm mái hồi như cái mai của tôi, làm như vậy sẽ lâu hỏng và không bị dột" Mọi người làm theo, vì vậy nhà người Thái Đen sau này hai mái hồi cong như ngày nay Hình tượng con rùa trong thần thoại người Thái Đen không được

thần hoá Nó xuất hiện rất đời thường và đúng lúc, hoá giải những vướng mắc cho con người

Trong thần thoại Mường, cũng xuất hiện chi tiết rùa liên quan đến việc nhà cửa Truyện kể Lang Cun Cần muốn làm nhà, tìm được thợ khéo nhưng nhà dựng lên mấy lần đều đổ, phải tìm thầy để cúng ma Về sau nhà dựng

Trang 34

xong, tòa ngang dãy dọc nhưng không có ánh sáng Khi đó, có một con gái đẹp tên là Sông Đón, đem lòng yêu thương chàng Khán Đồng Lang Cun Cần muốn cướp lấy nàng Sông Đón, bèn lập mưu bắt Khán Đồng đi tìm rùa vàng Vượt qua nhiều khó khăn, Khán Đồng được bụt giúp bắt được rùa vàng Lang Cun Cần liền sai thợ nấu nước rùa vàng đem tưới khắp nhà chu Từ đó, nhà

chu mới trở nên: “Sáng mái, sáng nhà Sáng kho sáng trại Sáng ngai sáng

kiệu Sáng chiếu sáng giường Sáng Đông sáng Tây Sáng Nam sáng Bắc”

(Đẻ đất đẻ nước – làm nhà chu) [dẫn theo 12]

Công lao của con rùa đối với con người còn được kể lại trong thần thoại của người Tày – Thái cổ và người Việt - Mường Đó là lần trời giả vờ chết để thử lòng muôn hạ giới Trong khi các loài vật mải mê tranh nhau ăn

cỗ và hí hửng từ nay thoải mái hoành hành, không còn sợ ai cai quản, thì con người do được một chú rùa mách bảo, đã khóc lóc thảm thiết, tỏ lòng thương tiếc trời vô hạn Vì thế, con người đã được trời ban cho bao ân sủng đặc biệt, trong đó có việc con người được cai trị muôn loài Câu chuyện kể, ngoài việc giải thích nguồn gốc sự việc, một lần nữa lại khẳng định vai trò nhà thông thái hiểu biết, biết hết mọi chuyện trời đất của rùa trong quan niêm dân gian

2.2 Rùa trong truyền thuyết

Nếu như trong thần thoại hình tượng rùa xuất hiện với số lượng ít trong các sáng tác cổ xưa của các dân tộc miền núi và sự lưu truyền của nó còn hẹp, thì đến với truyền thuyết sự lan tỏa và giá trị văn hóa linh thiêng của hình tượng rùa được thể hiện rõ nét hơn và có sức lan tỏa lớn hơn Trong quá trình khảo sát hình tượng rùa trong truyền thuyết Việt Nam, chúng tôi thấy rằng: tuy sự xuất hiện của nó là không nhiều, nhưng những câu chuyện truyền thuyết về rùa con được lưu truyền trong sử sách và còn mãi với thời gian Đó

là hình tượng rùa xuất hiện trong hai truyền thuyết: Hệ thống truyền thuyết

An Dương Vương và truyền thuyết “Hồ Hoàn Kiếm”

Trang 35

Trong truyền thuyết, hình tượng rùa đã được xứng danh là “Rùa vàng”

và có công lớn trong việc dẹp yên bờ cõi Theo Lĩnh Nam chích quái, Thần

Kim Quy xuất hiện giúp An Dương Vương xây dựng Loa Thành, sau đó Rùa Vàng còn tặng cho vua chiếc móng để làm lẫy nỏ thần Khi An Dương Vương mất cảnh giác phải chịu cảnh vong gia thất quốc, chính Rùa Vàng đã hiện lên đưa nhà vua xuống biển sâu! Câu chuyện này được người đời sau biết đến qua

Truyền thuyết thần Kim Quy Và một câu chuyện Sự tích hồ Hoàn Kiếm ở thế

kỷ XV, trong không khí khải hoàn mừng đất nước sạch bóng xâm lăng, một hôm vua Lê Thái Tổ ngự thuyền rồng dạo hồ Lục Thuỷ, vua gặp Thần Quy

hiện lên “đòi” lại gươm thần, chiếc gươm đã được Long Quân cho vua

“mượn” dẹp giặc Minh trước đó Nhà vua rút gươm ra, Thần Quy đón lấy rồi

lặn mất Từ đó, vua truyền đặt tên hồ là Hoàn Kiếm (Hồ Gươm) Cho tới nay những con rùa sống trong Hồ Hoàn Kiếm vẫn được người Việt tôn thờ như những hậu duệ của rùa thần xa xưa

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những

truyền thuyết tiêu biểu hấp dẫn và có ý nghĩa nhất trong chuỗi truyền thuyết

về Âu Lạc và An Dương Vương, trong kho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc ta Trong tác phẩm, bằng chí tưởng tượng phong phú, kết hợp giữa những yếu tố hư cấu với các yếu tố lịch sử, ông cha ta đã đưa ra cách lí giải của riêng mình về nguyên nhân mất nước Âu Lạc; bày tỏ tình cảm, thái

độ và cách đánh giá về An Dương Vương, Trọng Thuỷ, Mị Châu, những nhân vật của một thời kì lịch sử Đồng thời, thông qua tác phẩm, ông cha ta cũng để lại những bài học lịch sử cho con cháu muôn đời trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước:

Rùa thần Kim Quy (金龜) hay Rùa vàng, còn gọi là Thanh Giang sứ giả (清江使者), theo truyền thuyết đây là sinh vật thần thánh đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cải tiến nỏ thần [11] Khi đã chiếm được

Trang 36

đất Văn Lang, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê Nhưng thành cứ xây lên đều đổ sập xuống như đất bằng Nhờ sự giúp

đỡ của Thần rùa An Dương Vương đã tiêu diệt được những u hồn, con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua và thành Cổ Loa đã được xây dựng vững chãi [6] Câu chuyện còn được tiếp tục trong thuyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy, khi được rùa vàng cho móng thần làm vũ khí đánh giặc giữ nước Đất nước không một bóng giặc và phát triển phồn thịnh, nhưng vì mối tương giao giữa hai nước nên An Dương Vương đã gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thủy con trai của Triệu Đà và mối nguy an cũng bắt nguồn từ đó Móng thần của rùa vàng đã rơi vào tay giặc, đất nước bị giặc xâm chiếm.Trong đoạn cuối của câu chuyện, một lần nữa rùa vàng lại giúp An Dương Vương thoát khỏi cái chết dưới lưỡi đao kiếm của giặc

Không phải ngẫu nhiên mà Rùa vàng – sứ giả Thanh Giang lại xuất hiện và giúp An Dương Vương tiêu diệt yêu quái, xây thành và cho móng làm lẫy nỏ thần “Nhân vật” này xuất hiện theo quan điểm của nhân dân và là đại diện của nhân dân Rùa vàng là lực lượng siêu nhiên thần thánh mà người bình dân xưa tưởng tượng hư cấu lên giúp dân trừ gian diệt ác và giải thích lịch sử của thành Cổ Loa theo niệm nguyên sơ và chất phác nhất của người bình dân Mặt khác câu chuyện Rùa vàng giúp vua diệt giặc giữ nước đó là sức mạnh của nhân dân Là truyền thống và sức mạnh đánh giặc giữ nước của nhân dân Âu Lạc xưa Và việc một lần nữa rùa vàng giúp An Dương Vương tránh cái chết dưới đao kiếm của kẻ thù mà rẽ nước đưa An Dương Vương về với biển cả đó cũng nằm trong ý đồ và quan niệm của nhân dân An Dương Vương là người anh hùng dân tộc là vị vua anh minh, sẽ không chết tầm thường được mà sẽ trở về với biển cả nơi có Rùa vàng và Long Vương An Dương Vương sẽ sống mãi trong lòng nhân dân theo đúng như câu chuyện về anh hùng dân tộc trong truyền thuyết của người bình dân Nếu khi đi xem xét

Trang 37

câu chuyện này thì điều đáng ca ngợi nhân vật An Dương Vương là ở chỗ ông dứt khoát đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên tình cha con, gia đình,

là tấm lòng khoan dung (cũng tức là sự khoan dung của nhân dân) đối với Mị Châu Trách nhiệm để xảy ra bi kịch nước mất nhà tan thuộc về ông, không phải Mị Châu Sứ Thanh Giang (cũng là đại diện của nhân dân) cũng đã trách ông, không phải Mị Châu, cho thấy việc mất nước thuộc trách nhiệm của An Dương Vương Nhưng Mị Châu cũng chấp nhận tội chết, chứng tỏ nàng thấy một phần trách nhiệm của mình, chỉ xin: "nếu trung hiếu một lòng, vì nghe chồng lừa dối, chết đi xin được hoá thành ngọc đẹp" Điều Mị Châu mong mỏi tha thiết trước khi chết không phải để kiếp sau gặp lại Trọng Thủy mà chỉ muốn "hóa thành ngọc đẹp" để chứng minh cho tấm lòng trong trắng của mình Tác giả dân gian để cho cô hóa thành ngọc đẹp phản ánh sự đánh giá sáng suốt của nhân dân đối với Mị Châu Tình tiết "An Dương Vương khấn trước khi chém con" cũng thể hiện tấm lòng khoan dung của người cha đối với con Ông không nỡ chém ngay con gái vì ông đã tin con gái mình có tấm lòng "trung hiếu" và mong muốn con gái "chết đi thì hóa thành trân châu" Trong truyện này, tác giả dân gian (đại diện cho người dân) đã xét xử rất công minh, thấu tình, đạt lý Mị Châu, Trọng Thủy có tội phải đền, có oan được rửa Cái oan của họ là do chiến tranh xâm lược gây ra Họ không được sống với nhau trọn đời trên thế gian này nhưng khi chết họ được biến thành "ngọc trai giếng nước" để mãi mãi gắn bó bên nhau An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác nên thất bại Nhưng An Dương Vương không chết, ông đã được rùa vàng cứu thoát đưa xuống biển Trong quan niệm của người dân, An Dương Vương là người anh hùng dân tộc, ông vĩnh viễn sống trong lòng nhân dân Người anh hùng cũng có khi lầm lỡ, đó là cách nhìn rất rộng lượng và khoan dung của nhân dân đối với An Dương Vương

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2000
(2) Lê Phương Anh (1961), “Góp ý kiến nhận định về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy”, Tạp chí NCVH, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý kiến nhận định về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy”, Tạp chí "NCVH
Tác giả: Lê Phương Anh
Năm: 1961
(3) Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2002), Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, Nxb VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2002
(4) Song Bân (1961), “Nên hiểu truyện Mỵ Châu thế nào cho đúng”, Nghiên cứu Văn học (NCVH), số 1/1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nên hiểu truyện Mỵ Châu thế nào cho đúng
Tác giả: Song Bân
Năm: 1961
(5) Trần Lâm Bền (1993), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống, Nxb Mỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống
Tác giả: Trần Lâm Bền
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật
Năm: 1993
(7) Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, In lần thứ tám. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
(8) Nguyễn Bích Hà (1991), “Hình tƣợng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích”, Tạp chí VHDG số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tƣợng rắn từ thần thoại đến truyện cổ tích
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Năm: 1991
(9) Nguyễn Bích Hà(1998), “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á” , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á”
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
(10) Jan Knappert- Nguyễn Ngọc Thơ (dịch) (1999), Thần thoại và truyền thuyết dân gian Đông Nam Á, Nxb ĐH Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại và truyền thuyết dân gian Đông Nam Á
Tác giả: Jan Knappert- Nguyễn Ngọc Thơ (dịch)
Nhà XB: Nxb ĐH Oxford
Năm: 1999
(11) Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hoá dân gian người Việt, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian người Việt
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2007
(12) Nguyễn Thị Ngọc Lan (1999), Kiểu truyện người mang lốt vật trong truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu truyện người mang lốt vật trong truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Năm: 1999
(13) Nguyễn Thị Ngọc Lan (2009), “Hình tƣợng chim từ cội nguồn văn hóa đến truyện cổ dân gian”,Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội 2, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tƣợng chim từ cội nguồn văn hóa đến truyện cổ dân gian
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Năm: 2009
(14) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991) Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, tập 1
Nhà XB: Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
(15) Đặng Văn Lung (1997), Từ hoa văn trống đồng nghĩ về văn nghệ dân gian. Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hoa văn trống đồng nghĩ về văn nghệ dân gian
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
(16) Nguyễn Đăng Na (1997), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
(17) Nguyễn Đăng Na (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, Tập 3, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
(18) Nguyễn Văn Ngọc (1990), Truyện cổ nước Nam, Vĩnh Hƣng Long thƣ quán. H.1932 - 1934, KHXH. H. 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ruyện cổ nước Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Năm: 1990
(19) Nguyễn Thị Oanh (2000), “Về quá trình lưu truyền các loại văn bản Lĩnh Nam chích quái”, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (48) - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quá trình lưu truyền các loại văn bản Lĩnh Nam chích quái
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2000
(20) Nguyễn Quân (2005), Con Mắt Nhìn Cái Đẹp, Nxb Mỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con Mắt Nhìn Cái Đẹp
Tác giả: Nguyễn Quân
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật
Năm: 2005
(21) Nguyễn Quân-Phan Cẩm Thƣợng (1991), Mỹ thuật ở làng, Nxb Mỹ Thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật ở làng
Tác giả: Nguyễn Quân-Phan Cẩm Thƣợng
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật Hà Nội
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê tần số xuất hiện của con rùa - truyện ngụ ngôn về loài vật - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
Bảng th ống kê tần số xuất hiện của con rùa - truyện ngụ ngôn về loài vật (Trang 54)
Hình II - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
nh II (Trang 69)
Hình IV - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
nh IV (Trang 71)
Hình VI - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
nh VI (Trang 72)
Hình VII - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
nh VII (Trang 73)
Hình dạng khởi thủy của Huyền Vũ Vị, Trung Quốc - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
Hình d ạng khởi thủy của Huyền Vũ Vị, Trung Quốc (Trang 73)
Hình IX - Khảo sát hình tượng rùa trong văn hóa, văn học dân gian việt nam
nh IX (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm