Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người Việt Nam, là một trong những yếu tố góp phần h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐỨC LUẬN
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Trần A Hùng
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 5
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT 5
1.1.1 Khái quát về từ tiếng Việt 5
1.1.2 Khái quát về ngữ tiếng Việt 8
1.2 KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO 12
1.2.1 Lịch sử hình thành học thuyết Nho giáo 12
1.2.2 Những vấn đề cơ bản của tư tưởng Nho giáo 13
1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội và văn học Việt Nam 18
1.3 KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT 20
1.3.1 Khái quát về các thể loại văn học dân gian người Việt 20
1.3.2 Những vấn đề tư tưởng Nho giáo thể hiện trong văn học dân gian người Việt 21
1.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA 23
1.4.1 Văn hóa và đặc trưng văn hóa Việt Nam 23
1.4.2 Ngôn ngữ là thành tố của văn hóa 26
1.4.3 Ngôn ngữ chuyển tải văn hóa 29
1.4.4 Vấn đề ngôn ngữ văn hóa trong văn học dân gian 30
Trang 5CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 32
2.1 CHỨC NĂNG TỪ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 32
2.1.1 Các từ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt 33
2.1.2 Ý nghĩa biểu đạt của từ thể hiện tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt 34
2.2 CHỨC NĂNG NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 38
2.2.1 Các ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt 38
2.2.2 Ý nghĩa biểu đạt ngữ 40
2.3 CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP CỦA CÁC CẤU TRÚC TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 46
2.3.1 Chức năng từ trong ngữ 46
2.3.2 Chức năng của từ trong câu 49
2.3.3 Chức năng của ngữ trong câu 51
2.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 55
3.1 BIỂU THỊ QUAN NIỆM VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 55
3.1.1 Biểu thị quan niệm về các mối quan hệ gia đình 55
3.1.2 Biểu thị quan niệm về các mối quan hệ xã hội 64
3.2 BIỂU THỊ QUAN NIỆM VỀ QUY CHUẨN ĐẠO ĐỨC LÀM NGƯỜI
3.2.1 Biểu thị về đạo làm người 71
3.2.2 Biểu thị về Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín 72
Trang 63.3 BIỂU THỊ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI
PHONG KIẾN 75
3.3.1 Biểu thị thân phận người phụ nữ 75
3.3.2 Biểu thị vị thế trong gia đình nhà chồng 76
3.4 BIỂU THỊ QUAN NIỆM VỀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ NGƯỜI CON TRAI 3.4.1 Biểu thị chí làm trai 80
3.4.2 Vị trí và vai trò người con trai trưởng 84
3.5 SỰ KHÁC BIỆT VỀ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO CỦA NHÂN DÂN TRONG CA DAO 86
3.5.1 Sự phản đối nam quyền 86
3.5.2 Vai trò truyền nối thống trị của vua 88
3.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Hoa thì quả là rộng lớn Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho giáo có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Hoa nói riêng và các nước Đông Nam Á nói chung Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam cách đây hàng ngàn năm Từ khi hình thành chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đều sử dụng Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng và là công cụ để trị nước và quản lý xã hội Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
và con người Việt Nam, là một trong những yếu tố góp phần hình thành và tác động sâu sắc đến văn hóa truyền thống Việt Nam đặc biệt ảnh hưởng sâu rộng nhất là văn hóa dân gian Việt Nam
Với quan niệm về xã hội lý tưởng, con người, đạo đức… của Nho giáo
đã ảnh hưởng khá sâu vào tác phẩm văn học dân gian Việc nghiên cứu tư tưởng Nho giáo trong văn học dân gian chưa được nghiên cứu sâu và trình bày có hệ thống Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi cho rằng, cần phải tiếp
Trang 8tục nghiên cứu hệ thống từ ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong văn học dân
gian Vì vậy, với đề tài: “Từ ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong văn học
dân gian người Việt” sẽ phần nào làm sáng tỏ thêm ảnh hưởng của Nho giáo
đến văn học, qua đó có thể rút ra những giá trị tư tưởng văn hóa
2 Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu về Nho giáo: Trần Trọng Kim là người có công đầu
trong nghiên cứu Nho giáo Trong cuốn Nho giáo, ông đã trình bày khá hệ
thống tư tưởng Nho giáo và ảnh hưởng Nho giáo đối với Việt Nam Cuốn
sách được Nxb TP Hồ Chí Minh tái bản năm 1990…
Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa và văn học Việt Nam Lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng của Nho
giáo đối với đời sống và văn học phải kể đến: Trần Quốc Vượng (2000), Nho
giáo và văn hóa Việt Nam, Văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc; Nguyễn
Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hoá Việt Nam, Nxb Hà Nội; Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại Nxb VHTT; Nguyễn Ngọc Thơ (2011), Nho giáo và tính cách văn hóa Việt Nam, Tạp chí
Triết học…
Về văn học dân gian, các thể loại ca dao, tục ngữ đã có các công trình
biên khảo công phu của Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Văn học, tái bản năm 2003; Nguyễn Xuân Kính (chủ biên-1995), Kho
tàng ca dao người Việt, Nxb VHTT
Về các công trình nghiên cứu văn học dân gian, các chúng tôi Đinh Gia
Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam,
Nxb Giáo Dục Ngoài ra còn có có các công trình của các chúng tôi: Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trường Phát, Nguyễn Xuân Đức Riêng ca dao, tục ngữ, các công trình nghiên cứu chuyên sâu như: Thi pháp tục ngữ của Phan Thị Đào, Cấu trúc ca dao trữ tình của Lê Đức Luận…
Trang 9Về lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa, các công trình của
Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb Giáo Dục, Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối quan hệ ngôn ngữ - văn hoá, Nxb ĐHQG Hà Nội.; Phan Ngọc (2000), Thử xem xét văn hoá văn học bằng ngôn
ngữ, Nxb Thanh Niên; Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb KHXH.; Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn
hoá Việt Nam, Nxb Giáo Dục
Riêng đề tài Từ ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong văn học dân gian
người Việt vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Từ ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong văn học dân gian người Việt
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn khảo sát từ ngữ biểu thị
tư tưởng Nho giáo trong ca dao
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này của mình, chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu chung cho ngành ngữ văn:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp lựa chọn phân tích
Ngoài ra, đề tài thuộc chuyên ngành ngôn ngữ nên tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học
5 Đóng góp của luận văn
Công trình này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công chúng tôing dạy, nghiên cứu và học tập về Nho giáo nói chung và từ ngữ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong văn học dân gian nói riêng
Trang 106 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn triển khai thành 3 chương
- Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG
- Chương 2 CẤU TRÚC TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
- Chương 3 GIÁ TRỊ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ
TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Trang 11CHƯƠNG 1
GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT
1.1.1 Khái quát về từ tiếng Việt
a Khái niệm từ
Mặc dù đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng vấn đề nhận diện và định nghĩa từ rất khó F de Saussure đã viết: “ vì từ mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” Cái khó khăn nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ); có từ biểu thị khái niệm,
có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ) có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng thực tại (các thực từ), có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ mà thôi (các hư từ ); có từ có kết cấu nội bộ, có từ không có kết cấu nội bộ; có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi Hiện tượng đồng âm và
đa nghĩa cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc tách biệt và đồng nhất các
từ Vì vậy, không thể có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ Hiện nay, có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ
Theo J.Dubois (1994) thì “từ” là một yếu tố ngôn ngữ có ý nghĩa gồm
một hay nhiều âm vị Còn tác giả Đỗ Hữu Châu bàn về từ trong quyển Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1985 quan
niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,
Trang 12tất cả ứng với một kiểu nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [15, tr.55]
Cũng bàn về từ, Nguyễn Kim Thản trong tác phẩm Nghiên cứu ngữ
pháp tiếng Việt, tập I, NXB Khoa học xã hội, 1963 nêu “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp [35, tr.64] Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng đưa
ra quan niệm về từ trong Ngữ pháp tiếng Việt, NXB GD, 1999 “Từ là một
đơn vị của ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [18, tr.18]
Còn quan điểm của GS Nguyễn Thiện Giáp trong quyển 777 Khái niệm
ngôn ngữ học cho rằng “Từ tiếng Việt là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có tính hoàn chỉnh và khả năng tách biệt khỏi các đơn vị khác; nó có hình thức một
âm tiết, một chữ viết liền, là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ
Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ” [1, tr.440]
Trên cơ sở những quan niệm của các nhà nghiên cứu về Từ tiếng Việt,
theo tác giả thì Từ chính là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có một âm tiết và có
nghĩa nhỏ nhất dùng để đặt câu
b Các loại từ
Căn cứ vào tiêu chuẩn ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp, từ trước đến nay người ta thường chia ra thực từ và hư từ Đối với thực từ là những từ mang ý nghĩa từ vựng, có khả năng làm thành phần câu và có khả năng làm trung tâm cụm từ bao gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ Còn hư từ là những từ không mang ý nghĩa tựng, không độc lập tạo thành câu và làm thành
tố trong cụm từ hoặc liên kết tạo cụm từ mới gồm phụ từ, kết từ, tình thái từ,
Trang 13trợ từ
c Cấu tạo từ
- Từ đơn: Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đa số từ đơn
tiếng Việt là từ đơn đơn âm Ví dụ: sông, núi, cha, mẹ, sách, vở, đi, đứng, ngủ,
nằm, thương, buồn, nhớ…
Từ đơn đa âm gồm những từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, chưa thuần hóa theo cấu trúc âm tiếng Việt mà vẫn giữ nguyên cách phát âm của tiếng nước đó Ví dụ: computer, castrol, photocopy… hoặc những từ gốc thuần Việt
nhưng mỗi âm tiết đều không mang nghĩa Ví dụ: bồ hóng, bồ hòn, thắc mắc,
bù nhìn, bồ nông, bồ cu, bồ kết…
- Từ phức: Bao gồm từ ghép, từ láy và từ ngẫu kết
+ Từ ghép: là từ chứa hai (hoặc hơn hai hình vị có sự hòa phối với
nhau về nghĩa (quan hệ chủ yếu giữa các hình vị trong từ là quan hệ ngữ nghĩa” Ví dụ: Tiếng Anh: break “bẻ gãy” + fast “đói” = breakfast “bữa ăn sáng” Class “lớp” + room “phòng” = classrom “phòng học” Có những từ
ghép có đến 3 hoặc 4 hình vị như: hợp tác xã, vận động viên, cổ sinh vật
học…
+ Từ láy: là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng
tạo nghĩa Để tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng có sự biến đổi âm thanh nhất dịnh, dù là ít, để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừa khác
nhau (“vừa điệp vừa đối”) Ví dụ: mấp mô, chập chờn, chon von, lóng lánh…
Căn cứ vào số lượng tiếng người ta thường chia từ láy ra làm 3 lớp: từ láy đôi,
từ láy ba, từ láy tư Trong đó, từ láy đôi chiếm vị trí quan trọng hàng đầu bởi
vì chúng chiếm số lượng lớn tuyệt đối và vì nó hội đủ các đặc trưng bản chất của hiện tượng láy xét ở mặt cấu tạo âm thanh cũng như mặt cấu tạo nghĩa + Từ ngẫu kết: Là những từ mà các thành tố trực tiếp của nó được kết
Trang 14hợp một cách ngẫu nhiên, không trên quan hệ ngữ nghĩa hay quan hệ ngữ âm nào cả (Nhưng kết hợp được tạo thành lại có nghĩa và hoàn toàn có tư cách của từ) Ví dụ: bồ hòn, bồ nông, mồ hôi, kỳ nhông, bù nhìn, cà nhắc, cà lăm…
1.1.2 Khái quát về ngữ tiếng Việt
a Khái niệm ngữ
Trong quá trình phát triển của dân tộc, một trong những thành tựu quan trọng nhất là sự mở rộng không ngừng những tư tưởng, những khái niệm mà con người có thể truyền đạt được Con người cần thông báo cho nhau không những cảm xúc, tri thức, mà cả một số lượng vô hạn các trạng thái, quan hệ, đối tượng và sự kiện bên trong cũng như bên ngoài con người Hệ thống các
từ trong tiếng Việt không đủ biểu thị một số lượng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau Nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ đã có Những đơn vị như thế được gọi là ngữ,
có giá trị tương đương với từ
Theo tác giả GS TS Nguyễn Thiện Giáp trong Vấn đề từ trong tiếng
Việt [1, tr.155] thì ngữ chính là cụm từ cố định sẵn có trong ngôn ngữ, có giá
trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ đó là: Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng có thể là cơ sở để cấu tạo các từ mới Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ Có nhiều kiểu ngữ khác nhau như đặc ngữ, thành ngữ, quán ngữ Ngữ khác với cụm từ tự do ở tính hoàn chỉnh về cấu tạo và khả năng tái hiện như một đơn vị có sẵn
b Các loại ngữ (cụm từ)
- Ngữ cố định một đơn vị ngôn ngữ có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ
thống các đơn vị tiếng Việt Nghiên cứu ngữ cố định, các tác giả đưa ra những
Trang 15kiến giải khác nhau nhưng về cơ bản vẫn có nhiều thống nhất Theo tác giả
Đỗ Hữu Châu được trình bày trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” thì
ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo
là cấu tạo của cụm từ) nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ Đối với tác giả Mai Ngọc Chừ;
Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt” thì Ngữ cố định là tổ hợp từ được cố định hoá, có cấu trúc chặt
chẽ, hoàn chỉnh khi sử dụng không thể thêm bớt hoặc thay thế các yếu tố sẵn
có của nó Ngữ cố định mang ý nghĩa chuyên biệt, không thể giải thích bằng
cách cộng ý nghĩa của các từ tạo nên nó Ví dụ “mẹ tròn con vuông”, “thân
trâu ngựa”, “nuôi ong tay áo”, “dốt đặc cán mai” Do sự cố định hóa, do
tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị
A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt S1, S2, S3… tạo nên, nếu như nghĩa S không giải thích bằng các ý nghĩa S1, S2, S3… thì tổ hợp A, B, C… có tính thành ngữ Đa số các ngữ cố định là các cụm từ được cố định hóa, nhưng bên cạnh đó cũng có những ngữ cố định có hình thức cấu tạo như một câu hoàn
chỉnh, ví dụ như chuột chạy cùng sào, chạch bỏ giỏ cua, đũa mốc mà chòi
mâm son… Bởi thế, điều quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương
đương với từ của chúng về chức năng cấu tạo câu
năng ngữ nghĩa như từ Với những đặc điểm nổi bật như tính biểu trưng, tính dân tộc, tính hình tượng và tính biểu thái Ngữ cố định có ý nghĩa lớn trong việc góp phần đưa tiếng Việt ngày một giàu đẹp và tinh tế hơn Ngữ cố định
có thể được chia làm 3 loại, đó là thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định định danh:
+ Thành ngữ: là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa
của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Nói cách khác,
Trang 16thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó
vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó Ví dụ: Chó ngáp
phải ruồi; Mẹ tròn con vuông; Nước đổ lá khoai…
+ Quán ngữ: là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại
văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó Mỗi phong cách thường có những quán ngữ riêng, chẳng hạn, các
quán ngữ: Của đáng tội; nói bỏ ngoài tai; Chẳng nước non gì;… thường được dùng trong phong cách hội thoại Các quán ngữ: Như trên đã nói; Thiết nghĩ;
Có thể nghĩ rằng… thường được dùng trong phong cách sách vở
+ Ngữ cố định định danh: là cụm từ cố định định danh, gọi tên sự vật
Ngữ cố định định danh là đơn vị có tính trung gian giữa thành ngữ và từ ghép Chúng ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất nhiều nhưng lại chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng như thành ngữ Ngữ cố định thường tập trung gọi tên các bộ phận cơ thể con người; một số khác gọi tên
các sự vật khác, các trạng thái, thuộc tính… Ví dụ: mắt bồ câu, chân vòng
kiềng, tóc rễ tre, thẳng ruột ngựa, mũi dọc dừa, cười cầu tài…
- Ngữ tự do bao gồm Ngữ động từ, ngữ tính từ, ngữ danh từ, cụm chủ
vị
+ Ngữ động từ: là một cụm từ tự do có quan hệ chính phụ, trong đó có
động từ là trung tâm, ngoài ra còn có các thành tố khác quây quần xung quanh
để sung ý nghĩa cho từ trung tâm đó Ví dụ:
(Chim) Đang hót líu lo/ vẫn đang líu lo trên cành
Ví dụ trên động từ “hót” làm vị ngữ của câu có thể được mở rộng về phía trước và phía sau thêm một thành tố phụ khác Mặc dù ta thêm một số thành tố phụ khác nhưng chức vụ của toàn cụm không thay đổi – vẫn làm vị ngữ của câu Cụm từ được xây dựng gồm một động từ “hót” làm trung tâm và
Trang 17xung quanh nó có những thành tố phụ khác được gọi là ngữ động từ hay động ngữ
+ Ngữ danh từ: hay còn gọi là danh ngữ là một nhóm từ, trong đó có
danh từ làm thành tố trung tâm và có một hoặc nhiều thành tố phụ quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm đó
Ví dụ:
Nhà ấy //
Cả ngôi nhà ấy //
Cả ngôi nhà mới xong ấy //
Với ví dụ trên từ nhà đang ở dạng đơn được phát triển thêm nhờ những
từ phụ quây quần xung quanh Chúng làm cho ý nghĩa từ trung tâm đầy đủ hơn nhưng chức năng ngữ pháp của chúng vẫn hoàn toàn không thay đổi, nghĩa là vẫn mang chức năng ngữ pháp như từ nhà đảm nhận Đơn vị phát triển đó được gọi là ngữ danh từ
+ Cụm từ chủ vị: là cụm từ mà giữa hai thành phần C - V có tác động
qua lại lẫn nhau, tồn tại nương tựa nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật
Trang 18Là đơn vị cấu tạo có cấu trúc cao hơn từ, gần giống cấu trúc câu bình thường nhưng chưa thành câu
Qua ví dụ trên có 3 kết cấu chủ - vị, kết cấu C1 - V1 và kết cấu C2 - V2 chưa làm thành câu mà chỉ mới là bộ phận cấu thành câu vì nó chưa mang nội dung thông báo chính Chỉ có kết cấu C - V mới làm thành câu Đứng ở góc
độ cấu tạo thì kết cấu C-V có cấu tạo nên câu giống với kết cấu C-V cấu tạo nên cụm
1.2 KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO
1.2.1 Lịch sử hình thành học thuyết Nho giáo
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, đó là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị
Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như
Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử truyền bá rộng về sau Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng
Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên,
Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ
đời Hán đến đó Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi
cử đời Đường Khi lịch sử Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ
V2C2
Trang 19trì nghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng hiếu để, vua còn đích thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học Lý học
trình Chu nhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học
thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, tiếp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc Do Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu mọi lĩnh vực trong mỗi giai tầng xã hội, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung
Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính
1.2.2 Những vấn đề cơ bản của tư tưởng Nho giáo
a Quan niệm về bản chất con người
Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh
ra vốn thiện Bản tính “thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người Xuất phát từ quan niệm này, Khổng Tử đã xây dựng phạm trù
“nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông Chữ nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó là tại ý trời”
Tuy nhiên, trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con người vốn có bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con
Trang 20người là ác Ông cho rằng có thể giáo dục, cải hóa con người từ ác thành thiện được Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng có thể đạt địa vị
“người quân tử” Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò con người Ông cho rằng trời không thể quyết định được vận mệnh con người Con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng vào tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật tự nhiên mà sáng tạo ra của cải, sản vật
để phục vụ đời sống
Như vậy, Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy nét đẹp của con người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào
khả năng giáo dục của con người
b Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo
Nho giáo đã đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức nhằm cải tạo và hoàn thiện nhân cách con người Đạo là quy luật chuyển biến, tiến hoá của trời đất, muôn vật Đối với con người đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp Đạo của người theo quan điểm của Nho gia
là phải phù hợp với tình người do con người lập nên Trong kinh dịch, sau hai câu “lập đạo của trời, nói âm và dương, lập đạo của đất, nói nhu và cương” là câu “lập đạo của người nói nhân và nghĩa” Khổng Tử chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức Theo ông làm người cần phải có đức
Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thuỷ chung, mọi đức khác đều từ nhân mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương nhu cương mà ra Nhân cao hơn các đức khác, có phần bao gồm cả các đức mục khác nhưng nhân cũng có những tiêu chí riêng Khổng Tử nói: “Ai làm được điều này trong thiên hạ người đó có nhân: cung, khoan, tín, mẫn, huệ” Cung là khiêm tốn, biết tôn trọng người và tôn trọng công việc không tỏ ra coi thường người khác thành
ra kiêu ngạo, thành ra không chu đáo Khoan là rộng rãi, thông biết rộng, thu
Trang 21nhận của người đến kiệt Tín là nói sao làm vậy Mẫn là nhanh nhẹn không lề
mề, ỷ lại Làm được năm điều đó dân sẽ tin tưởng, dễ sai khiến Đó là đức mục của người cầm quyền trong quan hệ với dân Nhân như vậy phải đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, từ sự tôn trọng của con người mà làm việc có hiệu quả Ngoài ra nhân còn bao gồm các đức là lễ, nghĩa, trí, và tín “lễ” vừa
là cách thức thờ cúng vừa là những quy định có tính luật pháp, vừa là những phong tục tập quán vừa là một kỉ luật tinh thần “tự khắc kỷ phục lễ” Suy cho cùng lễ chỉ là sự bổ sung cụ thể hoá cho chính danh nhằm thiết lập trật tự xã hội phong kiến Nghĩa là những việc nên làm nhằm duy trì đạo lí, như ta thường nói “hành hiệp trượng nghĩa” Trí là tri thức, phải có tri thức mới thành nhân được Vậy con người phải tu nhân để tề gia trị quốc và bình thiên
hạ Tín là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau Có tín thì mới có tin Như vậy đức nhân trong Nho giáo không chỉ là thương người mà thực chất là đạo làm người Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nên một người có một số tiêu chuẩn khác mà không có nhân thì không gọi là người có đạo đức được
Đức gắn chặt với đạo Từ đức trong kinh điển Nho gia thường được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn ý thức cũng như hình thức, dáng điệu… Theo Nho gia, mối quan hệ giữa đạo và đức trong cuộc sống con người: đường đi lối lại đúng đắn phải xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là đạo, noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm
Trong kinh điển của Nho gia, ta thấy năm quan hệ lớn Bao quát gọi là
“ ngũ luân” đã được khái quát bằng quan hệ: vua-tôi, cha-con, anh-em, chồng, bạn-bè Từ quan hệ ấy, kinh lễ đã nêu lên mười một đức lớn: vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, với bạn hữu phải có đức tín Những tiêu chuẩn
Trang 22vợ-đạo đức mà Nho giáo đưa ra để khuyên răn, dạy bảo mọi người có rất nhiều tác dụng đối với sự hình thành nhân cách của mỗi người trong xã hội, chính
vì những tư tưởng đó mà nho giáo còn có ảnh hưởng lớn đến xã hội ngày nay
c Quan điểm về giáo dục
Khổng Tử chủ trương thành lập các trường học hướng mọi người tới con đường học hành để mở mang dân trí, rèn luyện đạo đức con người, cải tạo nhân tính Chính tư tưởng giáo dục về thái độ và phương pháp học tập của Khổng Tử là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng Nho giáo Theo Khổng Tử giáo dục là cải tạo nhân tính Muốn dẫn nhân loại trở về tính gần nhau, tức là chỗ “thịên bản nhiên” thì phải để công vào giáo dục vì giáo dục
có thể hoá ác thành thiện “Tu sửa đạo làm người” và “ làm sáng tỏ đức sáng”
là mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính Ông coi giáo dục không chỉ mở mang nhân tính, tri thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng tới việc hình thành nhân cách con người, lấy giáo dục để mở mang cả trí, nhân, dũng, cốt dạy con người ta hoàn thành con người đạo lí Mục đích của giáo dục là học để ứng dụng cho có ích với đời, với xã hội, chứ không phải là
dễ làm quan bổng lộc Học để hoàn thiện nhân cách Học để tìm tòi đạo lí Phương pháp giáo dục: học một cách đúng lịch trình đúng với điều kiện tâm sinh lí, coi trọng mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục: trong việc học, cần tuân thủ học gắn liền với tư, với tập, với hành
Khổng Tử coi giáo dục cho dân đạo lí làm người, thể hiện tư tưởng giáo dục của nho giáo Tư tưởng “trăm năm trồng người” của Khổng Tử nhằm đào tạo lớp người lấy đức trị là chính Khổng Tử nói: “tiên học lễ, hậu học văn” vì học phải đi đôi với hành Trong giáo dục Khổng Tử coi trọng sự nêu gương của các tầng lớp vua quan và mở trường học cho dân “hữu giáo vô đạo’ dạy cho mọi người không phân biệt đẳng cấp là tư tưởng tiến bộ của
Khổng Tử và chính ông là người thực hiện tư tưởng tiến bộ này
Trang 23d Quan điểm về quản lý xã hội
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêu nguyên tắc quản lý xã hội như sau:
Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ Trong phạm vi
quốc gia, toàn bộ quyền lực tập trung vào một người là Hoàng đế
Nguyên tắc 2: Thực hiện chính danh trong quản lý xã hội “Chính
danh” nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương
vị, địa vị của mình Vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ… Nếu như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc, không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị vi phạm Khổng Tử đặc biệt
đề cao giữa danh và thực Thực do học, tài và phận quy định
Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị – Lễ trị – Nhân trị Đây là nguyên tắc
có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo Văn trị: đề cao trị bằng hiểu biết, tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người tự giác tuân theo Lễ trị: dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc; đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc Nhân trị: trị quốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn phương Tiếp tục thuyết “nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng “nhân chính” Theo Mạnh Tử việc chăm dân, trị nước vì nhân nghĩa chứ không phải vì lợi và Mạnh Tử chủ trương một chế độ “bảo dân”, trong đó người trị vì phải lo cái lo cho dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ, như thế dân không bao giờ bỏ vua Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền Ông nói “dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua Thậm chí ông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơn vua
Nguyên tắc 4: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội Khổng Tử đã nói:
Trang 24“ Không lo thiếu mà lo không đều/ Không lo nghèo mà lo dân không yên” Sự không công bằng là đầu mối của loạn Công bằng trên cơ sở danh của mình,
1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội và văn học Việt Nam
a Sự du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam
Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy
và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một sự thực khách quan của các thời đại, của các dân tộc Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất Phật giáo dần dần rút lui vào chùa chiền, lão giáo cũng dần biến thành một thứ mê tín dị đoan mà các thầy phù thuỷ dùng làm kế sinh nhai Tư tưởng trị vì trong lĩnh vực chính trị và học thuật suốt 2000 năm là tư tưởng Nho giáo Có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng là sức sống của dân tộc Trong hoàn cảnh thời trước, nhất là
từ khi giành được nền tự chủ dân tộc, Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan tâm đến con người, cuộc đời, đến xã hội, vận mệnh dân tộc Nho giáo có nhiều hạn chế nhưng trong ba ý thức tôn giáo thì phải nói Nho giáo có nhiều nhân tố tích cực nhất Ngay khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành được độc lập đã xây dựng thể chế quốc gia, đặt các nghi lễ phẩm phục, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, tức là tinh thần tôn
ti đẳng cấp Các triều đại đầu tiên khi niên hiệu, tôn hiệu cũng đã thể hiện sự tin tưởng lý thuyết mệnh trời như “ứng thiên”, “thuận thiên”, “Phụng thiên” Phần “Chiếu dời đô” của nhà Lí cũng đượm mùi Nho giáo Cái gương “nhà Thương, nhà Chu” cũng được nêu lên, cái gương “kính vâng mạng trời” cũng được nhấn mạnh Các triều đại sau, Trần, Lê, Nguyễn thờ đạo Nho như thế nào thì sử sách đã nêu rõ
Trang 25b Ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam
Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia
Nho giáo rất coi trọng tri thức, coi trọng học hành Khổng tử là người
“học nhi bất yếm, hối nhân bất nguyện” Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học, Nho giáo làm nền tảng lý luận để tổ chức Nhà nước, pháp luật và đặc biệt là giáo dục Nội dung giáo dục của Nho giáo là dạy đức
và dạy tài vẫn còn có ý nghĩa Nho giáo coi trọng đức là coi trọng cách làm người, coi trọng con người là yếu tố quyết định Giáo dục Nho giáo góp phần nâng cao văn hóa con người, đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học Với phương châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có thể tìm ra một nghề nghiệp mới
và nâng cao vị trí xã hội của bản thân là động lực hiếu học trong nhân dân Hiếu học là đặc điểm của Nho giáo Hiếu học đã trở thành truyền thống văn hóa Á Đông trong đó có Việt Nam
Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan
hệ giữa người với người Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng, trung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân
Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng đối với Nguyễn Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân nghĩa phải nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo
c Ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam
Nho giáo góp phần hướng văn học vào cuộc sống, theo Trần Đình
Trang 26Hượu trong tiểu luận "Nho giáo và văn học nghệ thuật" có ý kiến cho rằng:
Nho giáo, cụ thể là Khổng Tử, trong quan niệm văn chương của mình, chỉ nói
đến "thiện” và "mĩ" mà không nói đến "chân" Và theo ông "Nho giáo đã đưa
văn học nghệ thuật bỏ xa cuộc sống thực tế, xa xúc cảm chân thực… ngăn cản văn học nghệ thuật phát triển theo hướng chủ nghĩa hiện thực” Tính chất
nhập thế vốn là đặc trưng nổi trội của Nho giáo so với các học thuyết khác mặc dù Nho giáo có những hạn chế không nhỏ trong việc hướng văn học vào chủ nghĩa hiện thực
Nho giáo góp phần tạo nên giá trị đạo đức vốn là một nét nổi trội của văn học Việt Nam Nho giáo đã đưa những giá trị đạo đức cao đẹp, sâu đậm bao gồm cả tư đức và công đức trong đó có tư tưởng nhân văn, vốn đã không tồn tại dưới dạng nguyên lý khô cứng mà đã trở thành Tâm huyết không dễ gì thấy lại ở loại văn chương Việt Nam Với những tư tưởng tốt đẹp của Nho giáo, của chân nho đã được truyền tải vào trong văn học, vào con người chúng
ta với nguồn tư tưởng tình cảm nuôi dưỡng tinh thần, làm đẹp con người và
văn học Việt Nam
1.3 KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT
1.3.1 Khái quát về các thể loại văn học dân gian người Việt
a Khái niệm văn học dân gian
Kho tàng văn học dân gian của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, để giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc, để bảo tồn những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất của các thế hệ người Việt Nam dưới hình thức truyền miệng, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay Bốn thuật ngữ sau đây được xem là tương đương:
Trang 27Văn học dân gian, Sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, Văn học
cộng đồng, Folklore ngôn từ (folklore văn học)
b Các thể loại văn học dân gian
Văn học dân gian Việt Nam có một hệ thống thể loại phán ánh nội dung cuộc sống theo những cách thức riêng Hệ thống này gồm 15 thể loại: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, đồng dao, truyện thơ, chèo, tuồng Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ trình bày về phần cao dao thể hiện tư tưởng Nho giáo người Việt
Ca dao là khái niệm tương đương với dân ca, chỉ thể loại trữ tình dân
gian, diễn tả đời sống nội tâm con người Ca dao là một từ Hán-Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc Ca dao là một bộ phận lớn của nền Văn học dân gian
Trừ thể loại thần thoại, còn những thể loại khác của văn học dân gian Việt Nam đều ít nhiều có hưởng tư tưởng Nho giáo Trong đó, thể loại ca dao, tục ngữ là những thể loại ảnh hưởng khá rõ tư tưởng Nho giáo Với ca dao, tục ngữ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tư tưởng Nho giáo đã được đề cập đến dưới nhiều khía cạnh về tình cảm, đạo đức trong quan hệ xã hội và gia đình,
sự yêu thương giữa người với người, sự dạy dỗ và cách hành sự trong đối nhân xử thế cho mọi người về một trật tự xã hội, một gia đình có trên có dưới,
có sự tôn tri… Ngoài mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, quan hệ vợ chồng,
Trang 28anh em, người thân, tư tưởng Nho giáo còn thể hiện rõ việc ứng xử với nhau trong bạn bè, cộng đồng dân cư
Trong tư tưởng Nho giáo, có ba mối quan hệ lớn vua - tôi, cha – con, chồng - vợ và mối quan hệ gia đình (nhà) là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung sâu sắc Nho giáo cho rằng, gốc của Thiên hạ là nước, gốc của
nước là nhà – (Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia- Mạnh Tử, Ly
lâu chương cú thượng Bởi trị được nước phải yên nhà Bậc quân tử trước hết
phải làm cho nhà mình tề chỉnh thì dân chúng mới làm theo Một nhà nhân hậu thì cả nước dấy lên nhân hậu, một nhà lễ nhượng thì cả nước dấy lên lễ
nhượng –(nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân, nhất gia nhượng, nhất quốc
hưng nhượng) Trong quan hệ cha mẹ - con cái là mối quan hệ máu thịt gần
gũi nhất của bất kỳ một gia đình nào trong xã hội, nên việc ứng xử, giao tiếp của cha mẹ - con cái trong gia đình cũng có những nét đặc thù so với những ứng xử, giao tiếp khác, cho rằng “Cha ra cha, con ra con” Tức là bổn phận
và trách nhiệm của cả hai phía Đối với cha mẹ phải đối xử nhân từ với các con, yêu thương chúng, phải là tấm gương mẫu mực về mọi mặt để con cái noi theo và làm theo, để làng xóm nhìn vào:
Nuôi con buôn bán tảo tần Chỉ mong con lớn nên thân với đời Những khi trái nắng trở trời Con đau là mẹ đứng ngồi không yên
Đối với con cái, chữ “Hiếu” của đạo làm con được đặt lên hàng đầu, Hiếu là gốc của đạo làm người, là cơ sở để con người trở thành quân tử, thành
kẻ đại trượng phu, Hiếu là nguồn gốc của mọi đức hạnh Hiếu cũng có quan
hệ chặt chẽ với Trung Theo Nho giáo, xã hội là sự mở rộng mối quan hệ cha con ra cả nước, cả thiên hạ là quan hệ vua – tôi và mở rộng đạo làm con, đạo Hiếu ra phạm vi ấy là đạo làm tôi, đạo Trung Đạo Hiếu trong quan niệm của
Trang 29Nho giáo có nhiều nội dung sâu sắc và mang đậm tính nhân văn:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Tư tưởng Nho giáo còn đề cập đến đạo đức trong mối quan hệ chồng –
vợ, huynh – đệ, bạn bè, với những yêu cầu đạo đức rất cụ thể Về tình cảm, quan hệ vợ chồng thì:
Đã rằng là nghĩa vợ chồng, Dầu cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời -Chồng em áo rách em thương, Chồng người áo gấm sông hương mặc người
Đối với quan hệ anh em, bà con thì:
-Anh em như thể tay chân Rách làm đùm bọc khó khăn đỡ đần -Đắng cay cũng thể ruột rà Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng
Như vậy, với sơ lược trình bày về đạo đức, nhân, nghĩa, các mối quan
hệ trong gia đình và xã hội qua những câu ca dao, tục ngữ đại diện của văn học dân gian đã thể hiện sâu sắc tư tưởng Nho giáo về đạo lý làm người, làm con về quan hệ trên dưới, trước sau, về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… đã khái quát được quan hệ tam cương trong xã hội và gia đình, về đạo đức về giáo dục con người…
1.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
1.4.1 Văn hóa và đặc trưng văn hóa Việt Nam
Nếu hiểu văn hoá là những giá trị vật chất và tinh thần, có tính biểu trưng và tồn tại lâu đời do con người tạo ra, thì dân tộc nào cũng có văn hoá,
Trang 30cộng đồng nào cũng có văn hoá Có những giá trị văn hoá mang tính hằng thể chung cho cả nhân loại, lại có những giá trị văn hoá mang tính đặc thù, chỉ có
ở cộng đồng này mà không thấy rõ ở cộng đồng kia và ngược lại Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính là đặc trưng văn hoá
Văn hoá Việt Nam mang đặc trưng gốc nông nghiệp phương Đông là Đông Nam á, tạo thành không gian văn hoá vùng Đông Nam á Việt Nam là một đất nước có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều; có nhiều vùng đồng bằng và sông nước, với nghề trồng lúa nước là chủ yếu… Như thế, Việt Nam chính là nơi hội tụ ở mức đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hoá khu vực Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ Cho nên, từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam được định hình trên nền không gian văn hoá khu vực Đông Nam á tiền sử Đó là nhân tố đầu tiên và cũng là nhân tố làm nên đặc trưng gốc của
văn hoá Việt Nam
Do nhiều điều kiện khác nhau, Việt Nam chúng ta tiếp xúc với các nước khác- tức cũng là các nền văn hoá khác, như Trung Hoa, ấn Độ (từ rất sớm), sau đó là tiếp xúc với văn hoá phương Tây… Trong bối cảnh đó, dù sớm hay muộn, dù nhiều hay ít, văn hoá Việt Nam cũng đã có những ảnh hưởng nhất định và đã tiếp nhận các nền văn hoá này ở những mức độ khác
nhau, đặc biệt là với văn hoá Trung Hoa Đây là nhân tố thứ hai, góp phần
làm nên đặc trưng văn hoá Việt Nam
Đồng thời, với đặc trưng là nền văn hoá nông nghiệp lúa nước đã thể
hiện nên bản sắc văn hoá Việt Nam, về lịch sử dân tộc Việt Nam và có tác dụng chi phối các đặc trưng văn hoá khác
Cụ thể, thứ nhất đất nước ta ở trong một môi trường tự nhiên nước,
sông nước bao quanh con người; yếu tố này chiếm vị trí đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng đến nhiều mặt trong cuộc sống xã hội Đối với nghề trồng lúa
nước là chủ đạo với kỹ thuật canh tác: cấy, gieo, vãi, tỉa, trồng; cày, bừa, gặt,
Trang 31đập… và một hệ thống thống thuỷ lợi thể hiện công sức của con người trong
ứng biến với môi trường (nước) và nghề nghiệp (trồng lúa nước): đê, kênh, hồ,
đập, mương máng…Về ăn ở, sinh hoạt, phong tục tập quán, những đặc tính
văn hoá này cũng in đậm dấu ấn của môi trường sông nước ăn chủ yếu
là cơm (sản phẩm từ lúa nước), với các thức ăn là cá, tôm, cua, mực (các loài
sinh vật dưới nước) Về ở, con người sinh sống cố kết với nhau, định cư
thành làng xóm (cách sống điển hình của cư dân nông nghiệp); các vùng cư trú gần nước: làng chài, làng ven sông, bến chợ, bến sông, với các loại nhà: nhà đất, nhà gỗ, nhà sàn, nhà thuyền; các phương tiện vận chuyển, sinh hoạt cũng gắn liền với nước: thuyền, bè, nốc, ghe, mảng… Những phong tục sinh hoạt cộng đồng cũng liên quan đến nước: hội đua thuyền, bơi chải, kết
đèn hoa đăng; tục thờ cá, rắn, thuỷ thần; nghệ thuật dân gian cũng dựa nhiều
bối cảnh của nước: rối nước, chèo, tuồng, các điệu hò lý diễn ra trên sông hồ,
bến bãi…
Thứ hai, điều kiện thiên nhiên bao quanh xã hội luôn gắn liền với môi trường thực vật, làm thành đặc trưng văn hoá thuần Việt Lúa là cây lương
thực chủ yếu, nhưng ngoài ra còn có nhiều cây khác được chăm sóc, thuần
dưỡng nuôi sống con người, như: ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng… Trên mặt
đất, bao quanh nơi ở con người là “xanh muôn ngàn cây lá khác nhau”, đặc
biệt là tre, hóp, mây, nứa, cam chanh, bưởi, hồng, khế, bầu bí… “Dưới bóng
tre xanh, người dân cày Việt Nam trồng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang” (Thép Mới) Và cũng dưới bóng tre xanh, nhân dân ta “gìn giữ một nền văn
hoá lâu đời”, đó là: tục thờ cây, thờ cúng người chết bằng bát cơm, đôi đũa,
quả trứng; trầu cau là vật phẩm không thể thiếu trong cưới hỏi, giao đãi; các
lễ hội: đánh đu, cầu kiều, thả diều…đều có hình bóng của thế giới thực vật
Cho nên, có người gọi nền văn minh Việt Nam là “nền văn minh thực vật” (ý của học giả người Pháp P Gourou, dẫn theo Trần Quốc Vượng, 14; tr.35)
Trang 32Điều kiện tự nhiên ấy có nhiều thuận lợi cho con người sinh tồn và phát triển từ những buổi ban đầu sinh cơ lập nghiệp, khai mở thiên nhiên: dễ
kiếm cái ăn, cái ở, cái mặc Nhưng kèm theo đó, nó cũng gây cho cuộc sống con người biết bao tai ương: lụt lội, hạn hán, bão tố, ẩm thấp, dịch
bệnh… Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, vì thế, môi trường tự nhiên ấy
cũng góp phần hình thành tâm lý, tình cảm, nhận thức (lý trí) của con người Việt Nam, với tư cách là chủ thể văn hoá
Con người Việt Nam có tinh thần yêu nhà, yêu làng, yêu nước (bởi lối sống định cư, quần tụ); sống trọng tình nghĩa (vì phải dựa vào nhau, tương trợ, chia sẻ nhau trong cuộc sống và trong lao động theo lối tự cung tự cấp); mềm
dẻo trong ứng xử với cộng đồng (là nét đặc thù của cư dân nông nghiệp: lấy
dung hợp, hiếu hoà làm trọng), dễ thích nghi với môi trường tự nhiên (chấp nhận mọi sự biến đổi, tuỳ thuộc, thích ứng mọi chi phối của tự nhiên); cần cù
trong lao động (lấy cần cù để bù lại những khó khăn, cản trở của điều kiện tự
nhiên, của phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền); giỏi chịu đựng gian
khổ (vì điều kiện tự nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi; hạn hán, lụt lội
đễ xảy ra, con người dễ gặp bất trắc, hiện nay ta tâm lý “sống chung với lũ”)
Những đánh giá trên đây có thể xem như là những khái quát một phần cơ bản bản sắc con người - văn hoá dân tộc
1.4.2 Ngôn ngữ là thành tố của văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người
Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ấn của thiên nhiên, chiếm
lĩnh quyền lực siêu nhiên Theo bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa
Trang 33Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này Một cách hiểu thông thường
khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử
và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận Vì thế chúng ta nói một người nào đó
là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa
Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất
Ngôn ngữ là có chức năng là phương tiện để giao tiếp và là công cụ để
tư duy, do vậy các thể hiện văn hóa của một dân tộc sẽ được biểu hiện, ghi lại
và phản ảnh bằng chất liệu của ngôn ngữ Năm 2002, UNESCO đã đưa ra
định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập
hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”
Giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc và ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu
tố thứ nhất của văn học” Như vậy ngôn ngữ là “chất liệu của các tác phẩm văn chương” bao gồm cả văn học dân gian Trong các tác phẩm văn chương
và văn học dân gian lại phản ảnh văn hóa Trong giao tiếp, phương tiện chủ đạo là ngôn ngữ Giao tiếp thể hiện tinh thần văn hóa của người giao tiếp nói riêng và của dân tộc nói chung
Có thể nói mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là mối quan hệ mật
Trang 34thiết, gắn bó khó tách rời nhau : “Ngôn ngữ là một công cụ được sử dụng nhiều nhất để biểu hiện văn hóa, văn hóa biểu hiện nhiều nhất thông qua ngôn ngữ” Như vậy ngôn ngữ là thành tố quan trọng của văn hóa Ví dụ: Thơ là nghệ thuật “lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ Đó là thứ ngôn ngữ được trưng cất công phu vì
“bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ” Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì “thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ” Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa) vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc) Các đặc điểm trên hòa quện với nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh, sắc màu Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết tinh của việc sử dụng ngôn ngữ Vì thế hình ảnh thơ luôn
có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện
hữu của thơ Vì ‘thơ là biểu tượng, là hình ảnh Thơ tạo dựng một vũ trụ qua
trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ, lý do tồn tại của thơ, biểu tượng chính của thơ” (Huỳnh Phan Anh) Như vậy, dù là tiếng vọng từ
tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không có ngôn ngữ và hình ảnh, những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước vào khám phá
thế giới mộng mị và hư ảo của thơ “Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị
một sự mê hoặc, một thứ ma thuật Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh” Nhưng “Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng Nó là một ước muốn hơn thế nữa là một đam mê
Trang 35mù quáng cũng nên” (Huỳnh Phan Anh) Rõ ràng, hình ảnh thơ không phải là
tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Nhà thơ không nói bằng phạm trù của tư duy logic như trong các môn khoa học tự nhiên mà
thông qua hình ảnh cụ thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng
1.4.3 Ngôn ngữ chuyển tải văn hóa
Khi nghiên cứu nền văn hóa, người ta thường chia thành ba phạm vi khác nhau: Phạm vi tinh thần, phạm vi kỹ thuật, phạm vi của các tác phẩm Trong đó, phạm vi của các tác phẩm có một vị trí đặc biệt dành cho nghệ thuật và các tác phẩm nghệ thuật, nhất là ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu tượng của nền văn hóa, nó có mối liên hệ mật thiết với văn hóa Đối với con người, biết một thứ ngôn ngữ không chỉ đơn giản là có thêm được một công
cụ giao tiếp cần thiết trong đời sống hàng ngày, mà còn là một bước để bước vào một nền văn hóa và bắt đầu hiểu biết nền văn hóa đó
Như vậy ngôn ngữ đã chuyển tải văn hóa Chúng ta thử xem xét các
chức năng văn hóa Thứ nhất, chức năng tổ chức xã hội Văn hoá thường
xuyên làm tăng độ ổn định xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần
thiết để ứng phó với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên Thứ hai, chức
năng điều chỉnh xã hội Thường xuyên xem xét các giá trị, văn hoá giúp cho
xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn
tai và phát triển Thứ ba, chức năng giao tiếp Do mang tính nhân sinh, văn
hoá trở thành sợi dây nối con người với con người Văn hoá trở thành một công cụ trong việc giao tiếp Nếu ngôn ngữ là một công cụ để giao tiếp thì
văn hoá là nội dung của nó Thứ tư, chức năng giáo dục văn hoá thực hiện
chức năng giáo dục bằng những giá trị ổn định và cả những giá trị đang hình
Trang 36thành Để thực hiện các chức năng văn hóa trên, ngôn ngữ là công cụ chuyển tải quan trọng nhất, gần như có thể sử dụng ngôn ngữ thực hiện các chức năng
văn hóa
1.4.4 Vấn đề ngôn ngữ văn hóa trong văn học dân gian
Văn học dân gian chứa đựng những tâm tư tình cảm, những suy nghĩ và quan điểm của nhân dân được chắc lọc qua thời gian và đúc kết thành những giá trị đạo đức khá bền vững của dân tộc Do vậy ngôn ngữ diễn đạt cũng mang tính văn hóa sâu sắc
Trong văn học dân gian, cụ thể là ca dao thì ngôn ngữ văn hóa được thể hiện rất sâu đậm, thể hiện được sự đặc trưng của dân gian nhưng tinh tế mà
gần gũi Chẳng hạn: Ai đem con sáo sang sông/ Để cho con sáo sổ lồng nó
bay Ai đem con sáo qua sông/ Để cho con sáo sổ lồng bay xa hay Bao giờ bánh đúc có xương/ Tơ hồng có rễ thì nường lấy ta Bao giờ gạo gánh đến nhà/ Lợn kêu ý oét mới là vợ anh…
Ngôn ngữ thơ ca dân gian mộc mạc, giản dị nhưng trong sáng, thuần Việt; mang bản chất là lời ăn tiếng nói của người lao động nông dân, lấy
nguyên liệu lấy từ đời sống, gần gũi với đời sống, ở trong đời sống Thương
anh bụng sát tận da/ Anh thì không biết tưởng là đói cơm… Ăn cơm cũng nghẹn/ Uống nước cũng nghẹn/ Nghe lời bạn hẹn/ Ra bãi đứng trông/ Bãi thời thấy bãi, người không thấy người (Ca dao Nghệ Tĩnh)
Văn học dân gian cũng chính là văn hóa dân gian, nói cách khác, văn học dân gian lưu giữ những yếu tố của văn hóa dân gian Ngôn ngữ là chất liệu của văn học nên ngôn ngữ văn học dân gian thể hiện rất rõ văn hóa dân tộc Ngôn ngữ trong tác phẩm dân gian chủ yếu là ngôn ngữ biểu tượng Ngôn ngữ biểu tượng chính là loại ngôn ngữ chứa đựng những yếu tố văn hóa sâu sắc nhất
Trang 371.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Với nội dung được đề cập trong chương 1 là cơ sở lý luận mang tính nền tảng, trình bày khái quát các vấn đề lý luận từ ngữ tiếng Việt, cụ thể đối với từ trong tiếng Việt bao gồm danh từ, tính từ, động từ… và từ có cấu tạo gồm 3 loại đó là từ đơn, từ ghép, từ láy Bên cạnh đó, ngữ hay còn gọi là cụm
từ bao gồm ngữ cố định và ngữ tự do, trong đó ngữ tự do có ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ và cụm từ chủ vị Bên cạnh đó, chương 1 cũng nêu lên được tư tưởng của Nho giáo đó chính là vấn đề đạo đức con người Đó là việc đối nhân sử thế, là việc sử xự đối với bản thân mình và người khác trong gia đình và ngoài xã hội Với vấn đề lấy đạo đức làm trọng, con người phải tu thân tích đức, phải rèn luyện 5 đức tính cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Đây chính là tư tưởng xuyên suốt đạo làm người của Nho giáo nói riêng và hệ thống tư tưởng Nho giáo nói chung Và tư tưởng Nho giáo đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Việt Nam và đặc biệt là văn học dân gian người Việt mà cụ thể chính là ca dao
Trang 38CHƯƠNG 2
CẤU TRÚC TỪ NGỮ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 CHỨC NĂNG TỪ BIỂU THỊ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Ca dao là tiếng nói trung thực, phản ảnh rõ nét nhất tư tưởng, tình cảm đạo lý của con người như sự hiếu thuận, nhân nghĩa, tôn sư trọng đạo… đều thông qua ca dao đã nhân hóa được hình ảnh con người trở nên cao đẹp hơn với những phẩm chất tốt đẹp Đó cũng là những vấn đề cơ bản của tư tưởng Nho giáo thể hiện đạo làm người: “Nhân, Lễ, Nghĩa Trí, Tín” trong Ngũ thường; tinh thần “tôn sư trọng đạo” trong tư tưởng Tam cương: “Quân – Sư – Phụ” Nho giáo cũng nêu lên các mối quan hệ gia đình và xã hội: tư tưởng
“Tam tòng” của người phụ nữ trong gia đình: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, các mối quan hệ gia đình: “cha - con; vợ - chồng; anh -
em và quan hệ xã hội: “vua - tôi; bạn bè ”
Để làm rõ những tư tưởng tốt đẹp của Nho giáo được thể hiện trong văn học dân gian, trong phạm vi của đề tài chúng tôi thực hiện khảo sát những từ ngữ thể hiện tư tưởng Nho giáo qua những câu cao dao trong tuyển tập “Kho tàng ca dao người Việt” Việc khảo sát được tiến hành qua 1.201 câu ca dao trong tổng số 11.765 câu, chiếm tỷ lệ 10,21% Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.1 Từ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao
Từ
Trang 39Với kết quả bảng khảo sát trên cho thấy từ ghép biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao được sử dụng với tần suất khá cao so với các từ đơn và từ láy Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy việc sử dụng từ trong ca dao khá phong phú và đa dạng giúp cho hình ảnh sự vật, sự việc thêm sinh động hơn
Lớp từ thể hiện tư tưởng Nho giáo là cơ sở tạo nên lớp ngữ hay còn gọi
là cụm từ thể hiện tư tưởng Nho giáo Kết quả khảo sát được thể hiện như sau:
Bảng 2.2 Ngữ biểu thị tưởng Nho giáo trong ca dao
Ngữ tự do Ngữ
Ngữ tính từ
Cụm từ chủ vị
Tổng cộng
2.1.1 Các từ biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt
a Từ đơn
Từ đơn là những từ do một hình vị cấu tạo nên Những từ thể hiện tư tưởng Nho giáo là từ đơn như: Hiếu, nghĩa, nhân, thuận, tình, lễ, đạo, đức, …
Qua khảo sát, tìm hiểu hơn 1.201 câu, có đến 2.510 lượt từ có cấu tạo là
từ đơn biểu thị tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt Trong đó một số
từ đơn được chúng tôi dân gian sử dùng nhiều và tần suất lặp đi lặp lại khá thường xuyên nhằm nhấn mạnh đến tinh thần hiếu nghĩa, trọng đạo, làm người… như hiếu, thuận, tình, nghĩa, nhân, ngãi, đạo, đức… Kết quả khảo sát
Trang 40được thể hiện ở Phụ lục 1
b Từ ghép
Lượng từ ghép mà chúng tôi thực hiện khảo sát qua 1.201 câu ca dao là
63 từ biểu hiện tư tưởng Nho giáo trong ca dao với 2.195 lượt từ được sử dụng Kết quả khảo sát số lượng từ ghép được trình bày ở Phụ lục 2
Như vậy, lượng từ ghép được sử dụng đến chiếm 42,1% trong tổng số 5.627 lượt từ thể hiện tư tưởng Nho giáo trong số 1.201 câu ca dao được khảo sát Việc dùng từ đơn thường mang ý nghĩa khái quát thì từ ghép lại thường
mang nghĩa cụ thể hơn
c Từ láy và láy từ
Ngoài các từ đơn, từ ghép biểu thị tư tưởng Nho giáo thì từ láy cũng góp phần làm tăng ý nghĩa của vấn đề, tăng giá biểu đạt của cách dùng từ đối với chúng tôi dân gian Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 54 từ láy chỉ tư tưởng biểu thị Nho giáo với 922 lượt sử dụng Trong bảng này có 2 từ có dạng láy từ hoặc lặp từ là: chiều chiều, người người Kết quả khảo sát từ láy
và láy từ trình bày tại Phụ lục 3
Từ láy có giá trị biểu cảm rất cao cũng vì thế mà nó được sử dụng khá phổ biến trong thơ ca, ca dao Việt Nam
2.1.2 Ý nghĩa biểu đạt của từ thể hiện tư tưởng Nho giáo trong ca dao người Việt
a Từ đơn
Phần lớn từ đơn dùng để thể hiện tư tưởng Nho giáo trong ca dao thường mang tính đặc trưng, tính chất chung là dùng để chỉ các sự vật hiện tượng được nói đến theo ý nghĩa khái quát Tư tưởng người Việt luôn nhắc nhở nhau sống phải có “nhân”, có “ngãi” là phải có nghĩa có tình Lấy đạo lý
“Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” trong Nho giáo để thể hiện đạo làm người Con
người phải lấy Nhân và Nghĩa là hai đức đứng đầu trong Ngũ thường của Nho