Trước khi tìm hiểu về đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng”, chúng tôi nhận thấy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ trong các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NIÊN KHÓA 2013 – 2017
PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Nga Lớp: D13NV01
Khoá: 2013 - 2017 Hệ: chính quy
-o0o- Bình Dương, 5 /2017
Trang 2Khóa: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy
-o0o -
Bình Dương, than 5 năm 2017
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Niên khóa: 2013-2017
1 Tên đề tài: phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
2 Giảng viên hướng dẫn
Họ và tên: Hồ Văn Tuyên Học vị: Tiến sĩ
Đơn vị công tác: (khoa phòng): Khoa ngữ Văn
Di động: 0908671166
E-mail: hovantuyen@gmail.com
3 Sinh viên thực hiện khóa luận
Họ và tên : Lê Thị Nga
MSSV: 1321402170040
Số điện thoại: 01679849489
E-mail: lenga3295@gmail.com
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo khoa Ngữ văn và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ đã tạo mọi điều kiện cho chúng tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy - TS Hồ Văn Tuyên đã đồng ý
hướng dẫn và tận tình chỉ bảo để chúng tôi hoàn thành đề tài khóa luận: “Phương
ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng”
Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quý thầy cô góp ý và giúp đỡ để chúng tôi hoàn chỉnh khóa luận của mình
Xin cảm ơn quý thầy cô
Sinh viên
Lê Thị Nga
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác
Sinh viên
LÊ THỊ NGA
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
o họn đề t i
2 ị h sử vấn đề
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
3.2 Phạm vi
4 Mụ đ h, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
4.2 Nhiệm vụ
5 Phương ph p nghiên ứu
6 Đóng góp ủa đề t i
7 Bố ụ ủa khóa luận
Chương : CƠ SỞ LÍ LUẬN
Phương ngữ v phân vùng phương ngữ Việt
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
1.1.2 Phân vùng phương ngữ Việt
1.2 Phương ngữ Nam Bộ
1.2.1 Vùng phương ngữ Nam Bộ
1.2.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
1.2.2.1 Về ngữ âm
1.2.2.2 Về từ ngữ và phong cách
1.2.2.3 Về mặt ngữ pháp
1.3 Sơ lược về cuộ đời, sự nghiệp nh văn Nguyễn Quang Sáng
1.3.1 Vài nét về cuộc đời của Nguyễn Quang Sáng
1.3.2 Sự nghiệp văn chương của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
1.3.2.1 Văn Xuôi
Trang 71.3.2.2 Các tác phẩm được giải thưởng và huy chương
1.4 Giới thiệu các truyện ngắn khảo sát
1.5 Tiểu kết
Chương 2: TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
2.1 Từ xưng hô trong truyện
2.2 Từ ngữ chỉ sản vật địa phương
2.3 Từ ngữ chỉ công cụ lao động v phương tiện di chuyển
2.4 Các từ ngữ chỉ sông nước
2.5 Các ngữ khí từ
2.6 Các từ ngữ khác
2.7 Tiểu kết
Chương 3: NGỮ PHÁP VÀ PHONG CÁCH DIỄN ĐẠT NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
3.1 Ngữ pháp và phong cách diễn đạt Nam Bộ trong ngôn ngữ dẫn chuyện
3.1.1 Câu văn miêu tả cảnh vật phóng khoáng, đậm chất Nam Bộ
3.1.2 Lời văn giản dị, mộc mạc và lối kể tự nhiên
3.2 Phong cách diễn đạt Nam Bộ của các nhân vật trong truyện
3.2.1 Xưng hô gần gũi, thân mật
3.2.2 Lối diễn đạt hình tượng, cụ thể, hóm hỉnh
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
o họn đề t i
Phương ngữ là một trong những đề tài thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu từ trước đến nay Phương ngữ Nam Bộ phản ánh các đặc trưng về ngôn ngữ cũng như tính cách, con người, cuộc sống và cả văn hóa của vùng đất Nam Bộ
Nhiều nhà văn đã khéo léo sử dụng phương ngữ đưa vào tác phẩm của mình Thông qua đó, tác giả giúp cho nội dung tác phẩm của mình trở lên gần gũi, đậm chất địa phương Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một trong những nhà văn đã vận dụng phương ngữ Nam Bộ để đưa vào tác phẩm văn học một cách nhuần nhuyễn
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng được xem là “Cây đại thụ của Văn học Nam
Bộ” [8; tr.8] Ông đã có những đóng góp lớn cho nền Văn học nước nhà: “Suốt chặng đường 60 năm, bằng tài năng, tâm huyết, sáng tạo và lao động bền bỉ, Nguyễn Quang Sáng đã để lại cho đời những tác phẩm, những hình tượng nghệ thuật đặc sắc thấm đẫm tính nhân văn, tạo sức lay động sâu xa cho nhiều thế hệ độc giả Việt Nam” [8; tr.8] Số lượng tác phẩm của ông tuy không nhiều, nhưng nó
mang được những giá trị nhân văn sâu sắc Đây cũng là điều khiến cho chúng tôi muốn khám phá về ông cũng như những tác phẩm của ông
Trước khi tìm hiểu về đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của
Nguyễn Quang Sáng”, chúng tôi nhận thấy, đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu về phương ngữ Nam Bộ trong các tác phẩm của một số tác giả như: Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Biểu Chánh, Đoàn Giỏi…
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng được đánh giá là một trong những thể loại giúp ông có một chỗ đứng vững chắc trong sự nghiệp văn chương của mình
Vân Thanh trong bài “Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng” cho rằng: “Truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng tuy mang đậm tính kịch nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình Truyện ngắn của anh đi vào từng mảng nhỏ của đời sống, làm cho ta thấy sự kết hợp giữa chất anh hùng cao cả và chất thơ trong trẻo, đơn giản(…), Nguyễn Quang Sáng không tham gia bình phẩm nhưng xúc động của người viết thường không giấu
Trang 9được” [18] Những câu chuyện luôn xoay quanh chủ đề chiến tranh, ông đã khắc
họa rõ nét về sự đau thương mất mát mà người dân phải hứng chịu Những truyện ngắn của ông luôn làm cho bạn đọc phải suy ngẫm Chính vì lí do trên, chúng tôi
quyết định chọn đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang
Sáng” để làm khóa luận tốt nghiệp
2 ị h sử vấn đề
Phương ngữ hay phương ngữ Nam Bộ là đề tài không còn mới lạ đối với các nhà nghiên cứu Việt ngữ Chúng tôi sẽ điểm qua một số công trình nghiên cứu về phương ngữ cũng như phương ngữ Nam Bộ tiêu biểu như sau:
* Phương ngữ
- Trong quyển “Phương ngữ học tiếng Việt” [2] của Hoàng Thị Châu, tác giả
đưa ra khái niệm về phương ngữ, nêu lên những đặc trưng của phương ngữ, hay mối quan hệ của phương ngữ với quá trình hình thành và phát triển lịch sử ngôn ngữ Quan trọng hơn, tác giả đã phân chia thành ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc,
phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Ngoài ra tác giả còn làm rõ được mối quan
hệ giữa phương ngữ với các tác phẩm văn chương
- Trong “Lịch sử hình thành và các đặc trưng ngữ âm, từ vựng” (7-2009)
[16] của Lý Tùng Hiếu cũng khái quát sự hình thành của phương ngữ tiếng Việt, với các nguyên nhân như: lịch sử, địa lí, kinh tế và do tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau Ngoài ra, ông chia làm ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Ông thống kê các từ ngữ địa phương Nam
Bộ vào bảng khảo sát, đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân để thấy được sự khác nhau cũng như những biến thể ngôn ngữ theo vùng miền Ông còn làm rõ được sự khác biệt ngữ âm, từ vựng giữa các phương ngữ tiếng Việt
Chúng tôi nhận thấy, hầu hết các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc phân vùng phương ngữ là chính Một số các tác giả khác cũng nêu lên được những đặc điểm của phương ngữ như về mặt ngữ âm, ngữ pháp hay ngữ nghĩa
Trang 10*Phương ngữ Nam Bộ
Đối với phương ngữ Nam Bộ, một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu tìm
hiểu Có các công trình như sau:
- Trong công trình “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” (1994) [1] của Nguyễn
Văn Ái, tác giả chủ yếu phân vùng theo ranh giới địa lí, chỉ ra các đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ về mặt ngữ âm, về mặt từ ngữ và phong cách Trong đặc điểm
về từ ngữ và phong cách, tác giả đã làm rõ ở những khía cạnh sau: “Giàu hình
tượng, giàu tính so sánh và cụ thể” [1; tr.20], khía cạnh thứ hai là: Giàu tính cường điệu và khuếch đại [1; tr.24], khía cạnh thứ ba là “Giàu tính hài hước, dí dỏm, khỏe khoắn” [1; tr.26] và cuối cùng là “Giàu biểu cảm chú trọng mức độ tình cảm hơn tính logic” [1; tr.29] Tác giả đã đưa ra từng ví dụ cụ thể cho mỗi khía cạnh, qua đó
làm nổi bật lên được những giá trị mà phương ngữ Nam Bộ đem lại
- Công trình tiếp theo phải kể đến là “Phương ngữ Nam Bộ” (1995) [6] của
tác giả Trần Thị Ngọc Lang Tác giả đã nghiên cứu toàn diện về phương ngữ Nam
Bộ, sự khác biệt của từ vựng - ngữ nghĩa của phương ngữ Nam so với phương ngữ Bắc Ngoài ra, tác giả cũng đã đề cập đến những vấn đề khá cụ thể như: cách xưng
hô, các nhóm từ liên quan đến sông nước hay các yếu tố chỉ mức độ của tính từ trong phương ngữ Nam và ngữ khí từ trong phương ngữ
- Trong Từ điển từ ngữ Nam Bộ” (2007) [11] của mình, tác giả Huỳnh Công
Tín đã nêu lên sự hình thành về vùng đất và con người Nam Bộ Tác giả cho rằng lịch sử là nhân tố chính hình thành nên phương ngữ Nam Bộ và ông chia làm bốn vùng phương ngữ như sau: vùng phương ngữ Bắc Bộ, vùng phương ngữ Bắc Trung
Bộ, vùng phương ngữ Nam Trung Bộ và vùng phương ngữ Nam Bộ Cuối cùng ông
đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm phương ngữ Nam Bộ qua các bình diện: ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách diễn đạt Ông còn đưa ra được những hạn
chế của phương ngữ Nam Bộ như: “Văn bản thể hiện theo ngôn ngữ nói sẽ thiếu
chặt chẽ về mặt cú pháp” [3; tr.68] hay việc “sử dụng tình thái từ mang tính khẩu ngữ sẽ không phù hợp với văn phong viết” [3; tr.68], cần phải chú ý và xem xét kĩ
khi đưa phương ngữ vào văn bản hay tác phẩm
Trang 11- Trong cuốn sách “Đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua phương ngữ” [12] của
Huỳnh Công Tín, tác giả có đề cập đến sự hình thành phương ngữ Nam Bộ và đặc điểm phương ngữ Nam Bộ trên các bình diện ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa và ngữ pháp khá là chi tiết và đưa ra được những ví dụ rất cụ thể Ông vẫn giữ nguyên sự
phân vùng phương ngữ theo bốn vùng như trong cuốn “Từ điển từ ngữ Nam Bộ”
của ông nêu trên
- Hay trong cuốn “Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa”
(2007) [3] của Cao Xuân Hạo, ở phần I (Ngữ âm học) ông đã điểm qua các đặc
trưng của một số phương ngữ tiêu biểu Trong phần này nổi bật lên là “Hai vấn đề
âm vị của phương ngữ Nam Bộ” [3; tr.120] đã đề cập đến các phụ âm cuối và các
nguyên âm đôi, đối chiếu hệ thống âm vị của phương ngữ Nam Bộ với phương ngữ toàn dân
- Trong một phần nhỏ nghiên cứu về“Chính tả và phương ngữ” [7; tr.307] của giáo trình “Tiếng Việt đại cương-ngữ âm” (2008), Mai Thị Kiều Phượng đã đề cập đến vấn đề viết sai lỗi của hầu hết các học sinh là do “Đọc sao viết vậy”, “theo
kiểu phát âm chính của địa phương mình” [7; tr.307] Cô đưa ra những lỗi chính tả
do cách phát âm sai của từng địa phương Trong đó có phần: “Lỗi chính tả do cách
phát âm sai của phương ngữ Nam Bộ” [7; tr.309] và chỉ rõ những lỗi liên quan đến
phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, vần và phần thanh điệu của phương ngữ Nam Bộ
- Mới đây cuốn sách “Phương ngữ Nam Bộ - ghi chép và chú giải” (2015)
[4] của Nam Chi Bùi Thanh Kiên được xem như một cuốn từ điển về phương ngữ Nam Bộ Ông ghi chép một cách đầy đủ nhất về: phong tục tập quán, sản vật, ngành nghề của người dân Nam Bộ
- Trong tạp trí Khoa học Xã hội số (01-2009) với bài viết “Vai trò của một số
phương tiện tình thái cuối câu trong phương ngữ Nam Bộ” [10; tr.69-76], Nguyễn
Văn Thuận đã nói về vấn đề tình thái, tính biểu cảm của ngôn ngữ Nam Bộ, nét nghĩa nghiêng về biểu cảm hơn Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến vai trò ngữ nghĩa, ngữ dụng của một số phương tiện tình thái cuối phát ngôn trong phương ngữ Nam Bộ
Trang 12- Trong bài tham luận “Nét đặc sắc cần lưu giữ của phương ngữ Nam Bộ” (2010), nhà nghiên cứu Lê Xuân Bột đưa ra được những nét mới của phương ngữ
Nam Bộ như: phương ngữ Nam Bộ trong ca dao, dân ca, truyện ngắn, tiểu thuyết…của các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam… Ông nhấn mạnh giá trị mà phương ngữ đã đem lại cho tác phẩm Ngoài ra,
Lê Xuân Bột còn đưa ra một số lưu ý: “Không nên lạm dụng phương ngữ quá nhiều
sẽ khiến cho câu văn trở nên rối rắm đối với nhiều người ở những vùng miền khác nhau” [17]
Như vậy, phương ngữ Nam Bộ luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu hay các bạn sinh viên thuộc chuyên ngành ngôn ngữ Có rất nhiều các nghiên cứu xoay quanh đề tài phương ngữ Nam Bộ Chúng tôi chỉ có thể nêu lên được những công trình tiêu biểu như trên
*Phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm văn chương
Nhiều tác giả đã rất nhạy bén đưa phương ngữ vào trong các tác phẩm văn chương, mục đích là để tạo ra những nét riêng trong phong cách sáng tác Đối với phương ngữ Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy rằng có khá nhiều các công trình, các bài nghiên cứu đã được thực hiện:
- Trong bài nghiên cứu“Phương ngữ Nam Bộ trong ca dao về tình yêu” [21]
của Trần Phỏng Diều, ông chỉ xét trong phạm vi là ca dao của Nam Bộ và hầu như chất liệu chủ yếu là ngôn ngữ Nam Bộ Sau đó ông cho rằng: ca dao Nam Bộ giàu tính so sánh và cụ thể; giàu tính cường điệu, khuếch đại; giàu tính dí dỏm, hài hước; cách nói rất giản dị, chân tình Ông cũng đưa ra những ví dụ cụ thể về việc sử dụng phương ngữ trong ca dao và chỉ rõ giá trị của phương ngữ Nam Bộ trong ca dao
- Bài viết: “Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ Nam Bộ qua trường hợp văn xuôi
Nguyễn Ngọc Tư” (7-2012) [22], Tiền Văn Triệu đã đưa ra một nhận xét: “Văn phong của chị rất gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt của người dân Nam Bộ” [22]
Ông tìm hiểu giá trị ngôn ngữ Nam Bộ trong văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư qua các khía cạnh như: từ chỉ địa danh, lớp từ xưng hô, lớp từ mang tính chất tình thái nhằm diễn tả cảm xúc, tâm trạng của nhân vật cũng như của người trần thuật, lớp từ là
Trang 13những biến âm của phương ngữ Nam Bộ Mỗi khía cạnh ông đều đưa ra dẫn chứng
cụ thể để thấy được giá trị của phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
- Trong Tạp chí Văn với bài viết về “Phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác
của Nguyễn Thi” (9-2015) [19], Phạm Anh Tuấn làm rõ được giá trị của phương
ngữ Nam Bộ qua hai khía cạnh: ngôn ngữ dẫn truyện mang màu sắc dân gian Nam
Bộ và Ngôn ngữ nhân vật đậm nét đời thường Bài viết nêu lên được những ví dụ cụ thể cho từng khía cạnh và phân tích được giá trị mà các phương ngữ Nam Bộ đem lại cho tác phẩm của Nguyễn Thi
- Trong một luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong tiểu
thuyết “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi” (2012) [20] của Nguyễn Thị Yến
Ly, tác giả cũng đã thực hiện các nhiệm vụ như thống kê và phân loại phương ngữ
Nam Bộ trong tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” qua các mặt từ vựng: “Từ
phương ngữ trong việc thể hiện những đặc điểm của thiên nhiên Nam Bộ, từ phương ngữ trong việc thể hiện sinh hoạt của con người Nam Bộ, từ phương ngữ trong việc xây dựng con người Nam Bộ, từ phương ngữ thể hiện tính cách, hành động và tâm lí nhân vật” [20] Qua đó, tác giả phân tích giá trị mà phương ngữ
mang lại cho tác phẩm
Chúng tôi nhận thấy phương ngữ Nam Bộ có rất nhiều trong các tác phẩm cuả các nhà văn như: Nguyễn Ngọc Tư, Sơn Nam, Nguyễn Thi… và đã được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thế nhưng, đề tài phương ngữ Nam Bộ trong sáng
tác của Nguyễn Quang Sáng thì mới dừng lại ở các thể loại như tiểu thuyết, các vấn
đề trần thuật trong truyện ngắn hay những bài luận văn về từ láy
Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn
của Nguyễn Quang Sáng” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp lần này
Trang 143 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
3.2 Phạm vi
- Với đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang
Sáng”, chúng tôi chỉ có điều kiện khảo sát, tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ về mặt từ
vựng và ngữ pháp trong một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng mà thôi
- Chúng tôi sẽ tập trung khảo sát phương ngữ Nam Bộ trong các tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng như sau:
+ Tập truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nhà xuất bản Trẻ (2004) với 7 truyện ngắn
+ Buồn buồn vui vui (Ghi chép cuối đời chưa từng công bố) (2014), Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát ở phần 1 “Buồn
buồn vui vui” với 14 truyện ngắn
+ Chiếc lược ngà (Tuyển tập truyện ngắn) (2016), Nhà xuất bản Văn
hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, với 9 truyện ngắn
4 Mụ đ h, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Chúng tôi thực hiện khóa luận với đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong truyện
ngắn của Nguyễn Quang Sáng” nhằm đạt mục đích:
Tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ trong các truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng Từ đó, phát hiện ra giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm do việc sử dụng phương ngữ của tác giả mang lại Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu sẽ giúp chúng tôi có thêm hiểu biết về văn hóa, tính cách và nếp sống sinh hoạt của con người Nam Bộ
Trang 154.2 Nhiệm vụ
Để hoàn thành được khóa luận này, chúng tôi phải thực các nhiệm vụ sau:
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến tác giả Nguyễn Quang Sáng, các tập truyện ngắn của ông để làm nền tảng cho việc tìm phương ngữ Nam Bộ
- Tìm hiểu và sưu tầm các tài liệu, tư liệu liên quan đến phương ngữ Việt và phương ngữ Nam Bộ qua ba bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, qua đó chúng tôi sẽ thống kê và phân loại các từ ngữ Nam Bộ theo những khía cạnh riêng như: từ ngữ xưng hô, từ ngữ chỉ định danh sông nước, từ ngữ chỉ sản vật Nam Bộ…
- Làm rõ giá trị nội dung, nghệ thuật của phương ngữ trong tác phẩm
5 Phương ph p nghiên ứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: chúng tôi khảo sát thống kê những kiến thức, nội dung cơ bản về phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ làm cơ sở nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi tiến hành thống kê và phân loại phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng về mặt từ vựng
- Phương pháp miêu tả: chúng tôi tiến hành phân tích và miêu tả ngữ âm, ngữ nghĩa của từ ngữ Nam Bộ, miêu tả lối diễn đạt của nhân vật Nam Bộ được thể hiện trong tác phẩm Đồng thời, chúng tôi tiến hành phân tích giá trị về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm do việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ mang lại
- Phương pháp so sánh: trong đề tài này, chúng tôi tiến hành so sánh phương ngữ Nam Bộ với từ ngữ toàn dân
6 Đóng góp ủa đề t i
- Nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang
Sáng là một vấn đề mới Chúng tôi hi vọng khóa luận sẽ có những đóng góp nhỏ về việc tìm hiểu phương ngữ được các nhà văn sử dụng trong tác phẩm văn chương như thế nào
- Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên khi học phương ngữ học, Văn học Nam Bộ…
Trang 167 Bố ụ ủa khóa luận
- Ngoài các phần như mở đầu, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có ba
chương và thứ tự các chương như sau:
Trang 17Chương
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Phương ngữ v phân vùng phương ngữ Việt
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành ngôn ngữ, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có một quan điểm khác nhau về phương ngữ Chúng tôi sẽ điểm qua một số khái niệm về phương ngữ như sau:
- Trong cuốn “Phương ngữ Nam Bộ” (Những khác biệt về từ vựng – ngữ
nghĩa so với phương ngữ Bắc Bộ) của mình, tác giả Trần Thị Ngọc Lang đưa ra
khái niệm về phương ngữ như sau: “Phương ngữ là phương tiện diễn đạt và giao
tiếp của một địa bàn” [6; tr.10]
- Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn thì
cho rằng: “Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và
ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp với các nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [14; tr.232]
- Theo Hoàng Thị Châu thì tác giả đưa ra khái niệm về phương ngữ khá ngắn
gọn: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ
toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một ngôn ngữ khác” [2; tr.29]
- Huỳnh Công Tín lại đưa ra khái niệm phương ngữ: “Phương ngữ là biến
thể địa phương hoặc bến thể xã hội của ngôn ngữ” [11; tr.9]
- Trong cuốn “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” của Nguyễn Văn Ái, ông có đưa ra khái niệm về phương ngữ một cách đơn giản như sau: “Có thể nói một cách
nôm na phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa phương của một ngôn ngữ chung toàn dân” [1; tr.9]
Trang 18- Hay trong quyển: “Ngôn ngữ học xã hội- Những vấn đề cơ bản” của Nguyễn Văn Khang cho rằng: “Kết hợp với cách nhìn của ngôn ngữ học truyền
thống về phương ngữ, có thể thấy phương ngữ được xem xét ở hai mặt cấu trúc, gọi
là phương ngữ của một phương ngữ một khi các phương ngữ này tuy có hệ thống cấu trúc riêng nhưng vẫn chứng minh được mối quan hệ cội nguồn giữa các phương ngữ đó với các ngôn ngữ Hay nói cách khác giữa ngôn ngữ và các phương ngữ có mối quan hệ cội nguồn với nhau” [5; tr.109] Từ đó theo ông thì: “Phương ngữ là một loại biến thể ngôn ngữ mà chức năng giao tiếp chịu sự hạn chế mang tính địa phương và sự phát triển của nó chưa đạt đến mức tiêu chuẩn hóa” [5;
tr.109]
Sau khi tìm hiểu các khái niệm về phương ngữ, chúng tôi có đồng quan điểm với Nguyễn Văn Ái và cho rằng: phương ngữ là một chuỗi các nét biến dạng địa phương của một ngôn ngữ chung toàn dân
1.1.2 Phân vùng phương ngữ Việt
Về việc phân vùng phương ngữ Việt, có rất nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm thì cho rằng không phân vùng phương ngữ thì chỉ có một ngôn ngữ tiếng Việt là ngôn ngữ chung của toàn dân Thế nhưng, có những quan điểm thì phân vùng phương ngữ làm hai, ba, bốn hay năm vùng Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những cách phân vùng phương ngữ khác nhau, sau đây chúng tôi sẽ điểm qua một vài cách phân vùng phương ngữ:
- Trong giáo trình “Phương ngữ học tiếng Việt” Hoàng Thị Châu có đưa ra một vài ý kiến về việc phân vùng phương ngữ như sau:
- H.Maspéro (1912) “Một học giả Pháp trong công trình nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt, có ý kiến phân chia tiếng Việt ra làm hai vùng: phương ngữ Bắc
và phương ngữ Trung Theo ông thì người Việt ở miền Nam là gốc ở miền Bắc mới vào sinh sống không lâu, do đó tiếng miền Nam về cơ bản là giống phương ngữ Bắc cho nên có thể xếp chung một nhóm với phương ngữ Bắc Còn phương ngữ Trung thì đối lập với phương ngữ Bắc ở điểm còn giữ lại những nét cổ xưa” [2; tr.87]
Trang 19- Hai nhà Việt ngữ học Liên Xô M.V Grodina và I.S Bystrốv
(1970.203-211) “Chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ (nhưng khác với hai vùng
H.Maspéro đã chia), có ranh giới chạy qua phía Nam tỉnh Quảng Trị Trong cuốn sách Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt (1984, 192-195), hai tác giả trên có điều chỉnh chút
ít, về cơ bản vẫn là hai vùng trên nhưng thêm một vùng thứ ba là phương ngữ Huế
Quan điểm chia thành ba vùng phương ngữ:
+ Phương ngữ Bắc: Thanh Hóa và Bắc Bộ,
+ Phương ngữ Trung: từ Nghệ An đến Đà Nẵng
+ Phương ngữ Nam: từ Đà Nẵng trở vào [2; tr.88]
Đây cũng là ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu và cũng là ý kiến của tác giả Hoàng Thị Châu
- Nguyễn Kim Thản (1982, 51-69) chia tiếng Việt thành bốn vùng
phương ngữ:
+ Phương ngữ Bắc: Bắc Bộ và một phần Thanh Hóa,
+Phương ngữ Trung Bắc: phía Nam Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình
Trị Thiên,
+ Phương ngữ Trung Nam: từ Quảng Nam tới Phú Khánh
+ Phương ngữ Nam: từ Hải Thuận trở vào [2; tr.89]
- Ông Nguyễn Bạt Tụy (1950), “lúc đầu chia tiếng Việt thành ba phương ngữ,
nhưng về sau lại chia thành năm vùng phương ngữ cụ thể như sau:
+ Phương ngữ miền Bắc: Bắc Bộ và Thanh Hóa
Trang 20+ Phương ngữ Trung Trên: từ Nghệ An đến Quang Trị,
+ Phương ngữ Trung Dưới: từ Bình Định đến Bình Tuy
+ Phương ngữ Nam: từ Bình Tuy trở vào” [2; tr.89]
- L.C, Thompson, 1965: là người đưa ra quan điểm không chia vùng phương
ngữ tiếng Việt [2; tr.90]
- Trong cuốn “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” [1] của Nguyễn Văn Ái thì ông
chia làm bốn vùng phương ngữ:
+ Phương ngữ Bắc Bộ: các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa
+ Phương ngữ Bắc Trung Bộ: từ Nghệ Tĩnh đến Bình Trị Thiên
+ Phương ngữ Nam Trung Bộ: từ Quãng Nam-Đà Nẵng đến Thuận Hải
+ Phương ngữ Nam Bộ: từ Đồng Nai-Sông Bé đến Mũi Cà Mau [1; tr10]
Như vậy, mỗi nhà nghiên sẽ cứu đưa ra sự phân vùng khác nhau Có người
chia làm hai vùng phương ngữ, có người chia làm ba, bốn hay là năm vùng phương
ngữ Tuy nhiên, có một số nhà nghiên cứu thì không chia theo vùng phương ngữ
nào mà chỉ có một ngôn ngữ tiếng Việt là chung Chúng tôi đồng quan điểm với
việc phân chia bốn vùng phương ngữ của Nguyễn Văn Ái
1.2 Phương ngữ Nam Bộ
1.2.1 Vùng phương ngữ Nam Bộ
Vùng phương ngữ Nam Bộ theo một vài ý kiến của các nhà nghiên cứu thì
có nhiều cách chia khác nhau, nhưng hầu hết là dựa vào các ranh giới địa lí để
phân chia:
- Theo Nguyễn Văn Ái [1; tr.10], Trần Thị Ngọc Lang [6; tr.7], Bùi Khánh
Thế [13; tr.77], có đồng quan điểm với nhau, chia vùng phương ngữ Nam Bộ theo
vùng địa lí từ Đồng Nai, Sông Bé đến Mũi Cà Mau
- Theo Hoàng Thị Châu thì: “Phương ngữ Nam trải dài từ đèo Hải Vân đến
miền cực Nam của đất nước, là một phương ngữ mới, được hình thành dần trong
vòng năm thế kỷ gần đây” [2; tr.91]
Trang 21- Theo Huỳnh Công Tín thì vùng phương ngữ Nam Bộ bao gồm 3 khu vực:
“Miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn và Tây Nam Bộ, tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến Mũi Cà Mau” [11; tr.11]
Như vậy, chúng tôi nhận thấy việc phân chia vùng phương ngữ Nam Bộ thường dựa vào ranh giới địa lí tự nhiên và chúng tôi sẽ theo quan điểm của Nguyễn Văn Ái, vùng phương ngữ Nam sẽ trải dài từ Đồng Nai, Sông Bé đến Mũi Cà Mau
1.2.2 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Bất kể phương ngữ nào cũng có đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Chúng tôi dựa theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Ái để nêu lên các đặc điểm của phương ngữ
1.2.2.1 Về ngữ âm
Về mặt ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ sẽ có những đặc điểm khác so với ngữ âm của ngôn ngữ tiếng Việt toàn dân Sự khác biệt này diễn ra trên: phụ âm đầu, thanh điệu, phần vần
- Thanh điệu: phương ngữ Nam Bộ có 5 thanh: “ngang, huyền, hỏi, sắc,
nặng Phương ngữ Bắc có 6 dấu, thêm dấu ngã, ngoài ra con có sự khác nhau về chất giọng, đặc biệt với 3 thanh: Ngã, hỏi, nặng của phương ngữ Bắc được phát âm gằn nặng, nghẹn và rung mạnh thanh đới” [1; tr.15]
“Phương ngữ Nam Bộ với 5 thanh điệu này sẽ tạo ra được từ mới hoặc tạo
ra láy từ Ví dụ: Tắn mắn, tằn mằn, tẳn mẳn, tặn mặn, đều mang ý nghĩa riêng, gần nghĩa” [1; tr.15]
- Phụ âm đầu: “có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như phương ngữ
Trung là s, r, tr Ở Nam Bộ r có thể phát âm rung lưỡi [r]”
“Phát âm phân biệt các âm đầu TR - CH - GI, R - D, NH - L, S - X và cặp vần ăm - âm, ắp - ấp” [1; tr.15] Những phụ âm này khi phát âm rất khó phân biệt,
ví dụ như s - x (sinh sản, xấu xa, ) hay cặp tr - ch (chân, trên, tre ) “ Âm đầu V, ở
phương ngữ Nam, chỉ tồn tại trong chữ viết, không tồn tại trong phát âm, V - D - GI đều phát âm thành D: vì - gì – dì” [1; tr.15] Ở Nam Bộ, phát âm đúng V đã tương
đối phổ biến từ thành thị đến nông thôn
Trang 22+ Hai là: “âm đôi IÊ, ƯƠ, UÔ và các âm đơn O, Ô, Ơ khi đứng trước M
và P thì ở các âm đôi mất các yếu tố sau, ví dụ: tiêm - tim, tiếp - típ, lượm - lựm, cướp -cứp, luộm thuộm - lụm thụm; còn ở các âm đơn đều phát âm thành ôm, ốp, ví dụ: nom - nơm = nôm, họp - hợp = hộp”
+ Ba là: “phát âm không phân biệt ba cặp âm cuối: n - ng, t - c, y - i, ví dụ: tan - tang, tát - tác, tay - tai” [1; tr.16]
“Cách phát âm ba cặp âm cuối nói trên và ba thanh điệu: ngã, hỏi, nặng tạo thành một nét tiêu biểu giữa giọng Bắc và giọng Nam” [1; tr.16]
Có thể thấy, người Nam Bộ có cách phát âm khác biệt so với cách phát âm của ngôn ngữ toàn dân Do ảnh hưởng bởi nếp sống sinh hoạt, hình thức đơn giản trong cách nói chuyện thường ngày, nghĩ sao nói vậy, tính cách phóng khoáng, gần gũi Điều đó cũng ảnh hưởng đến đặc điểm của phương ngữ Nam về mặt ngữ âm và rất khó phân biệt được là người thuộc tỉnh nào hay vùng nào mà chỉ có thể biết là tiếng nói Nam Bộ
1.2.2.2 Về từ ngữ và phong cách
Điều đặc biệt ở một phương ngữ hay một ngôn ngữ không phải là lạ ở cách phát âm, hay do cách phát âm không giống với các vùng miền khác mà điều đặc biệt vốn là ở từ ngữ của nó Ngôn ngữ phát triển chủ yếu ở mặt từ ngữ, việc tăng thêm
và bổ sung từ mới sẽ làm cho vốn từ thêm phong phú hơn
Từ ngữ và phong cách của phương ngữ Nam Bộ mang những đặc điểm cơ bản sau đây:
*Giàu hình tượng, giàu tính so sánh và cụ thể
Những hình tượng cụ thể luôn được nhân dân Nam Bộ sử dụng rộng rãi,
ngay cả trong những câu nói hằng ngày như: “uống mật gấu, dai như trâu đái, tức
Trang 23hơn bò đá, nhát như thỏ đế, ăn như xáng múc làm như lục bình trôi,…” hay đến
những việc hệ trọng của đời người như: kết tóc se tơ, nhưng người ta lại bình dân hơn gọi là lấy nhau, đến mức ngạc nhiên như là“đụng”:
Chồng chèo thì vợ cũng chèo Hai đứa cùng chèo lại đụng với nhau
(Ca dao)
Ngôn ngữ không dung tục mà giàu hình tượng và gần gũi, nó như chính con người nơi đây, đối với người dân địa phương, lời nói thiếu hình tượng và so sánh thì
lời nói sẽ thiếu sắc thái và nghèo nàn “Phương ngữ làm nhiệm vụ này một cách
tích cực và có hiệu quả hơn với ngôn ngữ phổ thông toàn dân hay ngôn ngữ văn
học chuẩn mực” [1; tr.21]
Bên cạnh đó, vùng Nam Bộ có hệ thống mạng lưới sông ngòi dày đặc đã gắn
bó với sinh hoạt của con người bao đời nay Từ đó đã sáng tạo ra vô số từ ngữ có liên quan đến sông nước
- Nhóm từ chỉ địa hình:
Ngoài những tên gọi chung như: sông ngòi, mương, máng, hồ…còn có
thêm: “Rạch, xẻo, xép, ngọn, rọc, dớn, láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng,
trũng, gành, ” [1; tr.21]
- Nhóm từ chỉ sự vận động của dòng nước: ngoài sự phân biệt nước lớn (thủy
triều dâng ) và nước ròng (thủy triều hạ) mà còn thêm nhiều từ ngữ khác như:
“Nước ròng, nước kém, nước trồi, nước dềnh, nước sụt, nước giựt, nước bò, nước nhảy, nước đứng, nước nằm, nước chừng, nước những, nước ương, nước chết, nước sát, nước rặt, nước quay,…” [1; tr.22]
- Nhóm từ chỉ phương tiện đi lại trên sông nước:
Những khái niệm đa dạng về phương tiện trên sông như thuyền hay tàu
thủy…thì ngoài ra phương ngữ Nam Bộ còn có những từ khác như: “Ghe bầu, ghe
Trang 24bầu nóc, ghe be, ghe cà vàm, ghe chài, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe hầu, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, vỏ lải, tắc rán, ba lá,…” [1; tr.22]
- Nhóm từ chỉ động vật sống dưới nước: tuy cùng một loại nhưng cũng có
cách phân biệt cụ thể, tỉ mỉ, chẳng hạn con tôm thì có: “Tôm bạc, tôm càng, tôm
châm, tôm chấu, tôm chì, tôm chông, tôm chục, tôm cỏ, tôm đất, tôm gậy, tôm gọng, tôm hùm, tôm kẹt, tôm lóng, tôm lứa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rồng, tôm sắc, tôm
sú, tôm thẻ, tôm tích, tôm tu, tôm vang …” [1; tr.22]
Như vậy, từ ngữ của Nam Bộ được sử dụng khá phong phú Tuy cùng chỉ một sự vật hiện tượng nhưng lại có rất nhiều cách gọi khác nhau, chính những tên
gọi đó đã tạo ra được những hình tượng cụ thể “Tính cụ thể của phương ngữ là
nguồn phát triển của kho từ vựng ngày thêm phong phú, giúp cho tư duy con người thêm chính xác Phương ngữ Nam Bộ đa phần hướng đến sử dụng tối đa các hình thức cấu trúc của ngôn ngữ để biểu thị những khái niệm gì hay những sắc thái ý nghĩa gì được con người nhận thức được” [1; tr.23-24]
*Giàu tính dí dỏm, hài hước, khỏe khoắn Con người Nam Bộ luôn phóng khoáng, bên cạnh đó họ còn khá hài hước, dí dỏm, trong mỗi câu chuyện họ kể thường đan xen tính vui tươi và làm cho người nghe phải bật cười
Tính dí dỏm, hài hước và khỏe khoắn là một trong những tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ Bên cạnh đó thì họ cũng sống rất tình cảm, rất sâu sắc với những nỗi buồn da diết mà thầm kín:
“Ru con con ngủ cho rồi
Mẹ ra chỗ vắng mẹ ngồi mẹ than thân”
(Ca dao)
Người dân Nam Bộ còn được biết đến với tinh thần lạc quan, sôi nổi, cởi mở
và thích trẻ trung, dí dỏm Nụ cười tạo ra từ sự hài hước, khỏe khoắn một phần nào giúp họ vượt qua những sự khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên
Không chỉ có những câu ca dao than thân đượm buồn, sâu lắng mà còn có những lúc con người trở lên lạc quan, vui tươi và không kém phần hóm hỉnh
Trang 25Tính dí dỏm, hài hước là một trong những tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ, họ thường bông đùa với nhau để làm giảm bớt sự căng thẳng, áp lực trong cuộc sống Nụ cười luôn hiển diện trên môi khi giao tiếp là điều ta thường bắt gặp ở
họ Sự vui tươi, hài hước luôn là sức mạnh tinh thần giúp họ vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống và luôn lạc quan
*Giàu tính bình dân giản dị mộc mạc Theo nguyễn Văn Ái thì Phương ngữ Nam Bộ ít dùng hình ảnh bóng bẩy trau chuốt Họ thường thể hiện tâm tư tình cảm một cách giản dị mộc mạc có sao nói vậy, mộc mạc từ trong cuộc sống, tình cảm đến ngôn ngữ Đặc biệt, phương ngữ Nam Bộ không phân chia đẳng cấp sang hèn, luôn lấy lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân lao động làm gốc
Sự chân thành, bình dị ấy thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ hằng ngày và văn chương trên giấy không khác nhau mấy Lời nói của người lao động có sức diễn đạt mạnh mẽ, nó đơn giản về cấu trúc, đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung, không gò bó, khuôn sáo, mà được tự do bộc lộ, phát triển đến tận cùng
Như vậy, tính giản dị mộc mạc không chỉ thể hiện qua lối sống, sinh hoạt mà còn thể hiện rất rõ qua ngôn ngữ của con người Nam Bộ, họ thường dùng ngôn ngữ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, có sao nói vậy, có khi cảm thấy dân dã và có chút thô Nhưng chính điều đó đã thể hiện được phần nào đặc điểm cũng như tính cách của con người Nam Bộ luôn phóng khoáng và dễ gần
1.2.2.3 Về mặt ngữ pháp
Ngoài sự khác biệt về mặt ngữ âm hay từ vựng, chúng tôi nhận thấy còn có
sự khác biệt về mặt ngữ pháp giữa các vùng phương ngữ, nổi bật là ở phương ngữ Nam Bộ và chúng tôi theo quan điểm của Hoàng Thị Châu để làm rõ vấn đề này
- Được thể hiện qua nét khu biệt trong hệ thống đại từ:
*Hệ thống đại từ xưng hô
Trang 26Phương ngữ Bắc
Tôi Tao Chúng tôi Mày Chúng mày Chúng nó Ông ấy
Cô ấy Chị ấy Anh ấy
Phương ngữ Nam
Tui Tao, qua (wa) Tụi tui Mầy Tụi mầy Tụi nó Ổng
Cổ Chỉ Ảnh
Ở Nam Bộ, người dân thường dùng đại từ “tui” để xưng hô với bạn bè, thậm
chí cả với những người trong gia đình không kể vai vế hay ngang hàng như nói với
bố mẹ, với anh em… điều đó tạo nên sự gần gũi giữa con người với nhau, không còn đề cao đến tôn ti hay thứ tự lớn nhỏ trong gia đình để tránh gâp áp lực nặng nề, luôn tạo được một sự gắn kết mạnh mẽ giữa các thành viên trong gia đình
* Đại từ hóa danh từ
Thêm thanh hỏi để biến danh từ thành đại từ là một phương thức ngữ pháp thường gặp trong phương ngữ Nam Bộ
Ngoài một số đại từ nhân xưng như: ổng, bả, chỉ, ảnh, cổ… thì còn có những đại rừ chỉ không gian như: trỏng (trong ấy), ngoải (ngoài ấy), trển (trên ấy)
Chúng tôi nhận thấy, việc dùng đại từ hóa danh từ làm cho từ ngữ được rút gọn lại và còn thể hiện được đặc trưng chỉ có ở phương ngữ Nam Bộ
*Dùng ngữ khí từ
- Việc dùng ngữ khí từ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
phương ngữ
Trang 27- Ngữ khí từ, phụ họa với ngữ điệu tạo nên một sắc thái đặc trưng cho phương ngữ Nam Bộ, nó có tính chất biểu cảm, vì thế nên câu nói của người Nam
Bộ thường rất nhẹ nhàng và dễ chiếm được cảm tình của người nghe
- Một số cách nói khác biệt khi sử dụng ngữ khí từ giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam:
Nó không muốn đi
Con chưa đi chợ
Phương ngữ Nam
Nó hổng có muốn đi Con chưa có đi chợ
Ngữ khí từ luôn mang màu sắc địa phương và mỗi từ lại mang một sắc thái tình cảm riêng Có khi nó được đặt ở đầu câu như: chèn ơi - chèn đét ơi, mèm ơi -mèm đét ơi,
1.3 Sơ lược về cuộ đời, sự nghiệp nh văn Nguyễn Quang Sáng
1.3.1 Vài nét về cuộc đời của Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Quang Sáng sinh ngày 12-1-1932 Bút danh: Nguyễn Sáng Quê ở:
xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Ông được sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, cha làm nghề thợ bạc
* Những mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời ông:
- Năm 1946, ông xung phong đi bộ đội
- Năm 1950, ông về công tác tại phòng chính trị tư lệnh
- Năm 1955, ông tập kết ra Bắc và trở thành Hội viên Hội nhà Văn
Trang 28Nguyễn Quang Sáng được xem là cây bút tiêu biểu của Nam Bộ, vì thế nên
trong con người ông luôn mang một “Tính cách rặt Nam Bộ” [8; tr.38] Có khoảng
thời gian, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc, lối sống nơi đây đã làm cho ông có chút thay đổi nhưng vẫn không làm mất đi tính cách rặt ròi của con người Nam Bộ:
“Những năm tháng sống ở miền Bắc có lẽ đã mang lại cho ông đôi nét cẩn trọng, kín đáo, tinh tường nhưng về cơ bản ông vẫn mang tính cách một người Nam Bộ bộc trực và huỵch toẹt, lăn xả và phóng khoáng, thông minh và dí dỏm, một tính cách vừa tiêu biểu vừa đặc biệt của đất phương Nam” [8; tr.39] Có lẽ, tính cách
Nam Bộ đã ăn sâu vào con người ông Chính vì vậy, nó cũng theo ông đi vào các sáng tác của mình, bằng những ngôn ngữ mộc mạc, chân phương
Thế nhưng, ông chưa từng nghĩ mình sẽ trở thành một nhà văn: “Tôi không
bao giờ mơ tưởng mình trở thành nhà văn!” [23]
Sau khi ra trường, ông làm công tác nghiên cứu về tôn giáo Năm 1951, ông
về An Giang hoạt động ở những vùng có các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và gặp một
nữ tín đồ gọi là cô Tư, nguyên nhân trực tiếp để ông viết văn Từ đó về sau, ông gắn liền với sự nghiệp văn chương và cho ra đời rất nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau
1.3.2 Sự nghiệp văn chương của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ tiêu biểu mà cuộc đời và sự nghiệp gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Năm 1966, ông vượt Trường Sơn trở về miền Nam, dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu, chống giặc ngoại xâm
và cỗ vũ tinh thần cho nhân dân Đây là khoảng thời gian khẳng định tài năng và sự
nghiệp sáng tác của ông
Trang 29Năm 200, ông vinh dự được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, đây được xem là giải thưởng danh giá nhất
Trong sự nghiệp sáng tác, ông cho ra đời bốn tiểu thuyết, hơn mười tập truyện ngắn, hàng chục kịch bản phim
Dường như, các tác phẩm của ông đều mang một giá trị nhân văn sâu sắc và
“góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa-văn nghệ Việt Nam tiến lên, đậm đà bản sắc dân tộc” [9; tr.5]
Tập truyện ngắn “Chiếc lược ngà” đã đem lại cho Nguyễn Quang Sáng một
vị trí lớn trong nền Văn học Nam Bộ Ông viết khi trở về miền Nam chiến đấu vào năm 1966 Đây là tập truyện tiêu biểu nhất của ông, nó tập trung các câu truyện xoay quanh chủ đề chiến tranh và con người Nam Bộ
Truyện ngắn của ông luôn mang một phong vị Nam Bộ dân dã, vì ông luôn
sử dụng các từ ngữ địa phương Nam Bộ trong tác phẩm, cốt truyện ngắn và dễ nhớ, các tình tiết đầy bất ngờ, luôn tạo được hứng thú cho người đọc
Ngoài ra, một số truyện còn lấy đi không ít nước mắt của độc giả, bởi những tình tiết đầy xúc động Bởi vì ông luôn nhìn vào sự thật cuộc sống mà viết, viết
bằng chính cảm xúc của mình:“Tôi viết là vì cảm xúc của tôi với cuộc sống, với
từng số phận của mỗi con người mà tôi đã từng chia sẻ” [24]
Nguyễn Quang Sáng bắt đầu cầm bút từ năm 1952, hơn 60 năm cầm bút, ông
đã để lại cho đời số lượng tác phẩm không phải là ít, với nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim
1.3.2.1 Văn Xuôi *Tiểu thuyết
Nhật kí người ở lại (1961), Đất lửa (1963), Mùa gió chướng (1975), Dòng sông thơ ấu (1988)
Tiểu thuyết của Nguyễn Quang Sáng đã vẽ nên được những nét vẽ dung dị
về con người, thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt chân thật Nó như một bức tranh thu nhỏ của miền quê Nam Bộ Ông khắc họa được tính cách nhân vật một cách
Trang 30khéo léo qua việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ đã làm cho tác phẩm trở lên lôi cuốn hơn
*Truyện ngắn
Ông năm Hạng (1959), Chiếc lược ngà (1966), Câu chuyện bên trận địa pháo (1966), Chị xã đội trưởng, Một chuyện vui, Người đàn bà Tháp Mười (1966), Quán rựu người câm (1967), Chị Nhung (1968), Người quê hương (1968), Bông cẩm thạch (1969), Con gà trống (1970), Cái áo thằng hình rơm (1975), Linh Đa, Bạn Hàng Xóm, Đồng chí già trở về, Sự mất tích của một bài ca, Hạnh (1976), Dấu chân, Người con đi xa (1977), Chuyện đất Củ Chi, Con Chim Vàng (1975), Cô gái thích soi gương (1982), Bàn thờ tổ của một cô đào (1984), Người bạn gái, Tên của đứa con (1985), Thế võ, Cây gậy ba số, Thua trận (1987), Con khứu sổ lồng, Tôi thích làm vua (1988), Bài học tuổi thơ (1990), Con mèo của Foujita, Người đàn bà đức hạnh (1991), Tím bằng lăng (1992), Vểnh râu (1993), Nhớ anh trên bước đường
về (1993), Bé hai (1994), Người dì tên Đợi (1995), Cái gáo mù u (1996), Nhà văn
về làng (2003)
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng luôn đậm chất Nam Bộ Hầu hết, các câu truyện đều xoay quanh chủ đề chiến tranh hay chuyện vụn vặt hằng ngày nhưng được ông viết một cách tỉ mỉ Qua mỗi tác phẩm, bạn đọc sẽ hiểu rõ hơn về nếp sống và tính cách của người dân Nam Bộ Đồng thời, thấy được những nỗi đau, những mất mát mà nhân dân phải gánh chịu bởi các cuộc chiến tranh, ông luôn dùng cảm xúc của mình để viết Truyện ngắn của ông giàu tình người, tình yêu quê hương đất nước
*Kịch bản phim
Mùa gió chướng (1977), Cánh Đồng hoang (1978), Pho tượng (1981), Cho đến bao giờ (1982), Mùa nước nổi (1986), Dòng sông hát (1988), Câu nói dối đầu tiên (1988), Thời thơ ấu (1995), Gilza dòng (1995), Như một huyền thoại (1995)
Nguyễn Quang Sáng một con người tài hoa, không những thành công ở thể loại truyện ngắn mà kịch bản phim cũng đã đem lại cho ông rất nhiều thành công
Tiêu biểu là kịch bản phim “Cánh đồng hoang”, nó đã đem lại giải thưởng liên
Trang 31hoan phim Quốc tế Kịch bản phim của ông cũng gần giống với các thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết, tất cả đều mang một phong vị Nam Bộ dân dã
1.3.2.2 Các tác phẩm được giải thưởng và huy chương
- Ông năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo
- Cánh đồng hoang (kịch bản phim) bộ phim được tặng Huy chương vàng
liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim ở Moskava
- Mùa gió chướng (kịch bản phim), Huy chương bạc liên hoan phim toàn
quốc (Hà Nội 1980)
Các kịch bản phim và thể loại truyện ngắn đã đem lại cho ông những giải thưởng danh giá nhất Tên tuổi ông một lần nữa được khẳng định không chỉ về diện Văn học mà còn về diện nghệ thuật
1.4 Giới thiệu các truyện ngắn khảo sát
Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát ba tập truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
Đầu tiên là “Tập truyện ngắn Chiếc lược ngà” (2004) của Nhà xuất bản Trẻ, trong
tập truyện này có 7 truyện ngắn Nội dung các truyện chủ yếu xoay quanh đề tài chiến tranh, sự hy sinh của các chiến sĩ và lòng dũng cảm kiên cường của nhân dân Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Mỹ Ngoài ra, nội dung truyện ngắn còn miêu tả rất sinh động về địa hình, thiên nhiên sông nước, đây được xem là một trong những đặc trưng tiêu biểu ở Nam Bộ
Tiếp đến là “Truyện ngắn buồn buồn vui vui” (Ghi chép cuối đời chưa từng
công bố) (2014) của Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, khảo
sát ở phần 1 “Buồn buồn vui vui” với 14 truyện ngắn Nội dung của các truyện này
Trang 32xoay quanh những câu chuyện vụn vặt của con người Nam Bộ trong đời sống hằng ngày, những nét sống, nếp sinh hoạt, văn hóa, phong tục… Qua đó thấy được tính cách của con người Nam Bộ được thể hiện rõ qua cách xưng hô, cách dùng ngữ khí
từ hay với cách nói dân dã, giàu hình ảnh cụ thể nhưng không kém phần hài hước
Cuối cùng là “Chiếc lược ngà” (Tuyển tập truyện ngắn) (2016) của Nhà xuất
bản Văn hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, với 9 truyện ngắn Nội dung của các truyện ngắn này là sự kết hợp giữa đề tài chiến tranh và đề tài tình cảm gia đình Một số truyện viết về con người, cuộc sống, đời thường, nhưng lại diễn ra trong bối cảnh nước nhà đang kháng chiến…Các nhân vật thường là những con người dũng cảm, kiên cường, ngoài việc tham gia vào đội du kích, họ con hăng say sản xuất lao động để phục vụ cách mạng Những người mẹ tay bồng con, tay cầm súng xung phong ra chiến trường hay những cô giao liên trẻ không ngại khó khăn, gian khổ tình nguyện cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc
Như vậy, chúng tôi sẽ khảo sát phương ngữ Nam Bộ trong ba tập truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng, với số lượng là 30 truyện ngắn và nội dung xoay quanh các chủ đề như: chiến tranh, tình cảm đồng đội, đời sống con người Nam Bộ hay tình cảm gia đình, thiên nhiên sông nước
1.5 Tiểu kết
Như vậy, chúng tôi nhận thấy phương ngữ nói chung và phương ngữ Nam
Bộ nói riêng đều có những đặc trưng khác biệt
Mỗi vùng phương ngữ sẽ có những cách phát âm khác nhau hay chẳng hạn cùng một loại sự vật hiện tượng nhưng lại có những tên gọi khác nhau và để thấy được điều đó thì phương ngữ hay cũng chính là ngôn ngữ sẽ là cơ sở để làm rõ sự khác biệt này
Chúng tôi dựa theo quan điểm của Nguyễn Văn Ái, phân chia vùng phương ngữ Nam Bộ theo địa lí trải dài từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau
Trang 33Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu về đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ gồm
có các đặc điểm như sau: đặc điểm về mặt ngữ âm, đặc điểm về mặt từ ngữ và phong cách, đặc điểm về mặt ngữ pháp
- Về mặt ngữ âm thì có phụ âm đầu, thanh điệu và phần vần
- Về từ ngữ và phong cách thì có những điều đáng chú ý sau:
Nguyễn Quang Sáng là con người gắn bó với quê hương, tác phẩm nào cũng thấy hình ảnh con sông Tiền, làng Mỹ Luông nơi sinh ra ông Ông vốn là người con của Nam Bộ nên ông rất am hiểu các phong tục, tập quán hay nét sinh hoạt hằng ngày Mọi thứ đều được ông đưa vào sáng tác của mình một cách chân thật nhất
Ông là một người đa tài, không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn mà còn nhận được rất nhiều giải thưởng từ kịch bản phim Nhà văn đã gây nhiều ấn tượng với mọi người bởi những giải thưởng mà ông đã nổ lực dành được Nó như khẳng
Trang 34định được tài năng của Nguyễn Quang Sáng Những tác phẩm của ông sống mãi với biết bao thế hệ bạn đọc bởi sự gần gũi mà đậm chất Nam Bộ trong từng trang viết
Như vậy, chúng tôi xin gói gọn lại cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Quang
Sáng qua nhận định của Hữu Thỉnh: “Một dải cù lao thượng nguồn Chín Rồng mà
sản sinh ra biết bao chính khách, văn nhân Nguyễn Quang Sáng sống trọn tuổi thơ
ở đó cho đến năm mười bốn tuổi thì đi bộ đội Cả một thời vị thành niên ngụp lặn, khoả sóng sông Tiền, anh đội phù sa mà lớn lên Rồi cùng với phù sa của bao dòng sông khác để bồi đắp nên một nền văn học mới(…) Cả một vùng cây trái, sông nước, con người, tập tục sau này đều đi vào tác phẩm Nguyễn Quang Sáng, đem cái mặn mòi chân chất của mạch tự truyện bổ sung cho cái bay bổng của thăng hoa tưởng tượng Công việc sáng tạo có thể cấp giấy thông hành cho mọi dữ kiện của đời sống đi vào tác phẩm của nhà văn Nhưng sẽ chỉ thực sự trở nên có hình hài, máu thịt những gì nhà văn đã trải nghiệm và trả giá” [25]
Trang 35
Chương 2
TỪ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
Từ địa phương Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng chiếm một số lượng lớn Hầu hết, truyện ngắn nào cũng được ông sử dụng từ địa phương Nam Bộ Cụ thể sau khi khảo sát, chúng tôi có được số lượng các từ địa phương trong 30 truyện ngắn như sau:
Tổng số từ địa phương Nam Bộ trong 30 truyện ngắn là: 520 từ
Tổng số lần xuất hiện của các từ địa phương Nam Bộ trong 30 truyện ngắn là: 2229 lần xuất hiện
Chúng tôi đã thống kê và phân loại các từ ngữ địa phương Nam Bộ như bảng sau:
2.1 Từ xưng hô trong truyện
lượng
Từ chỉ ngôi II, dùng không được trang trọng, lịch sự Có tính chất thân mật, gần gũi
5 Ông già Bố Trong mối quan hệ với con 10
6 Dì Chỉ người nữ là chị hoặc em của mẹ
Trang 367 Ba Bố Từ để chỉ, xưng gọi người đàn ông có
con trong quan hệ với con 124
8 Má Mẹ Từ để chỉ, xưng gọi người đàn bà có
con trong quan hệ với con 129
Trang 37Chúng tôi nhận thấy từ ngữ xƣng hô Nam Bộ có 42 từ trên tổng 520 từ và
chiếm 8,1% Số lần xuất hiện là 542 lần trên tổng số lần xuất hiện 2229 và
Từ có số lần xuất hiện cao nhất, tức là đƣợc sử dụng nhiều nhất là từ:
Trang 38“má-mẹ” (từ để chỉ, xưng gọi người đàn bà có con trong quan hệ với con) với số lần
xuất hiện là 129 và chiếm 23,8%
Từ có mật độ cao thứ hai là từ: “ba-bố” (từ để chỉ, xưng gọi người đàn ông
có con trong quan hệ với con) với số lần xuất hiện là 124 và chiếm 22,9%
Các tác phẩm chúng tôi khảo sát xoay quanh nội dung gia đình, giữa cha mẹ
với con cái, nên “ba, má” là một trong những từ xưng hô chiếm mật độ cao so với
các từ xưng hô còn lại
Từ có mật độ cao thứ ba là từ: “mầy-mày” (từ chỉ ngôi II, dùng không được
trang trọng, lịch sự Có tính chất thân mật, gần gũi) với số lần xuất hiện là 110 và
và còn thấy được cái phong vị chỉ có ở Nam Bộ
Một trong những cách xưng hô ở Nam Bộ không thể thiếu là dùng tên riêng
kèm theo ngôi thứ trong gia đình như: chị Hai Trâm, anh Ba Hoành, chú Tám Sơn,
bà Tư Trầu… hay trong quan hệ hàng xóm láng giềng, người dân họ thường gọi
nhau theo thứ trong gia đình như: anh Hai, chú Bảy, ông Năm…cách gọi này luôn
tạo ra sự gần gũi giữa hàng xóm với nhau Nhóm từ xưng hô tên riêng kèm theo ngôi thứ, có số lần xuất hiện thấp, thường dao động từ 1 đến 32 lần xuất hiện, nhưng chúng tôi thấy lớp từ xưng hô này khá phổ biến và đa dạng vì nó có nhiều kiểu gọi tên khác nhau
Bên cạnh đó thì còn có cách xưng hô mang chút suồng sã, nhưng không kém
phần tạo nên sự thân thiết, gần gũi như: thằng cha, mấy chả, đồ quỷ…mật độ xuất
hiện tuy không đáng kể, nhưng nó cũng góp phần tạo nên được tính phong phú cho
Trang 39tác phẩm và nó cũng phần nào làm nổi bật lên đặc điểm về cách xưng hô của con người Nam Bộ
Nhìn chung, có một số từ có mật độ khá cao như từ: “má-mẹ” hay “ba-bố” hoặc “mầy-mày”, một số từ thì ở mức độ trung bình, còn lại thì ở mức thấp và dao
động với số lượng hai đến năm lần
Sau khi thống kê, chúng tôi thấy so với cách xưng hô của phương ngữ Bắc
Bộ thì cách xưng hô của phương ngữ Nam Bộ đa dạng hơn về mặt từ ngữ cũng như sắc thái biểu cảm, nó thể hiện được từng mức độ thân thiết, gần gũi khác nhau
lượng
Từ ngữ gọi tên các loại động vật ở Nam Bộ
1 Cá linh Loại cá có vẩy bạc, con lớn từ 1 đến
2 Cá chốt
Loại cá sông thân nhỏ, không vẩy, đầu dẹp, trên và dưới có 4 râu, có ngạnh nhọn 2 bên, đâm chích vào người rất đau nhức
2
3 Cá lia thia Cá đá
Cá nước ngọt, thân nhỏ, có màu xanh đậm, có vây ngũ sắc dùng để chọi nhau
4
4 Cá Xiêm
Giống cá Lia thia (loại cá đẹp, rất linh hoạt, thường dùng để làm cảnh hay đá với các con cá khác)
2
5 Cá lóc Cá quả Cá có thân tròn dài, có vẩy lớn và
dày, phía lưng màu đen hoặc màu 3
Trang 406
13 Con đuông
Con bọ có màu trắng, thường sống trong gốc dừa hay các loại gỗ mềm, dùng để ăn rất béo và nhiều chất dinh dưỡng
4
15 Nhái cơm Loại nhái nhỏ ăn được 6
Các loại thực vật
16 Xoài tượng Xoài quả lớn, hạt lép, ít chua 2
17 Chuối cau Loại chuối trái nhỏ ngon và ngọt
18 Trứng cá Loại cây dễ trồng, có quả đỏ và ngọt 7
19 Chùm ruột Cây ăn quả, có quả nhỏ, hình múi và
20 Dừa Cây thân cao, chủ yếu có ở miền Tây 3