1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy đạo đức cho học sinh lớp 4

89 2,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình chung về việc sử dụng Ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo đức của giáo viên tại trường Tiểu học Ngô Quyền .... 3 về việc giúp HS yêu thích việc học và GV say mê

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths TRỊNH THỊ HƯƠNG CAO THỊ NGỌC DIỄM

Lớp: Sư phạm Tiểu học – K37 MSSV: 1110287

Cần Thơ, tháng 04 năm 2015

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Được sự tận tình giảng dạy của quý thầy cô Khoa Sư phạm trường Đại học

Cần Thơ trong 4 năm học vừa qua và sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng

các bạn trong lớp em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp “Sử dụng ngữ liệu văn học

dân gian vào dạy Đạo đức cho học sinh lớp 4”

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn Ths Trịnh Thị

Hương, người đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình học

tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên của trường Tiểu

học Ngô Quyền đặc biệt là cô: Lâm Thị Thúy Lan giáo viên chủ nhiệm lớp 4.2 và

cô Trần Ngọc Thu giáo viên chủ nhiệm lớp 4.5 cùng với tập thể học sinh của 2 lớp

4.2 và 4.5 đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm thực

nghiệm và khảo sát để hoàn thành luận văn

Em xin cảm ơn gia đình và tất cả các bạn sinh viên lớp Sư phạm Tiểu học

K37 đã ủng hộ em và khuyến khích em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tuy đã cố gắng rất nhiều để hoàn thành đề tài này, nhưng do kiến thức còn

hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên luận văn có thể còn nhiều thiếu sót, em rất

mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ quý thầy cô để em hoàn thành

tốt luận văn và nâng cao sự hiểu biết, kinh nghiệm cho bản thân trong công tác sư

phạm sau này

Cuối lời, em xin gửi lời chúc sức khỏe, thành công và hạnh phúc đến quý

thầy cô, các bạn sinh viên và tất mọi người đã giúp đỡ em trong thời gian qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 12 tháng 04 năm 2015 Người viết

Cao Thị Ngọc Diễm

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Văn học dân gian

Ngữ liệu văn học dân gian

Phó Giáo sư Tiến sĩ

Ban Chấp hành Trung ương

Nghị quyết Trung ương

VHDG NLVHDG PGS.TS

GV

HS GSh MSSV GVHD

BT SGK BCH TW NQTƯ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ NGỮ LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN VIÊT NAM 8

1.1 Định nghĩa văn học dân gian 8

1.2 Đặc trưng của văn học dân gian 10

1.2.1 Văn học dân gian là sáng tác ngôn từ mang tính tập thể - truyền miệng 10

1.2.2 Văn học dân gian là một loại hình nghệ thuật nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình thức 13

1.2.3 Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật mang tính thực hành 14

1.3 Các thể loại của văn học dân gian 15

1.4 Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam 17

1.4.1 Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống của dân tộc 18

1.4.2 Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người 18

1.4.3 Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc 19

1.5 Tìm hiểu về ngữ liệu văn học dân gian 20

1.5.1 Ngữ liệu văn học dân gian là gì? 21

1.5.2 Ngữ liệu văn học dân gian với đặc điểm tâm lý của học sinh trong quá trình nhận thức 21

1.5.3 Những yêu cầu chung của việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian 29

1.5.4 Cơ sở của việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian trong dạy môn Đạo đức 34

Trang 5

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO ĐỨC VÀ HỆ THỐNG NGỮ LIÊU VĂN HỌC DÂN GIAN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY

HỌC ĐẠO ĐỨC 40

2.1 Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách của trẻ em 40

2.2 Môn Đạo đức ở Tiểu học 43

2.2.1 Vị trí, vai trò của môn Đạo đức ở trường Tiểu học 43

2.2.2 Mục tiêu môn Đạo đức ở trường Tiểu học 44

2.2.3 Đặc điểm môn Đạo đức 45

2.2.4 Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 4 49

2.3 Thực trạng việc dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học 50

2.4 Thống kê những ngữ liệu văn học dân gian sử dụng vào dạy môn Đạo đức lớp 4 51

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64

3.1 Khảo sát tình hình chung về việc sử dụng Ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo đức của giáo viên tại trường Tiểu học Ngô Quyền 64

3.1.1 Đối tượng khảo sát 64

3.1.2 Mục đích và nội dung khảo sát 64

3.1.3 Thống kê và phân tích kết quả khảo sát 64

3.2 Thực nghiệm 68

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 68

3.2.2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm 68

3.2.2.1 Tổ chức thực nghiệm 68

3.2.2.2 Nội dung thực nghiệm 69

3.2.3 Tiến hành thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm 69

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 84

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cổ nhân có câu: “Rèn luyện đạo đức là cái thứ nhất, học văn hóa là cái thứ

hai Không làm được cái thứ nhất thì rất khó làm được cái thứ hai” Đã bao đời

nay, ông cha ta luôn nêu cao truyền thống đạo đức của dân tộc, vì thế mà có câu:

“Tiên học lễ, hậu học văn” Bài học lễ nghĩa bao giờ cũng là bài học đầu tiên và là

bài học mà ai cũng học trong suốt cuộc đời Đạo đức là cái đáng quý nhất, đáng trân trọng nhất thể hiện phẩm giá của mỗi người Có lẽ trong chúng ta, ai cũng đều ghi

nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có

đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Thật vậy, một con người có tài giỏi

đến mấy mà không có đạo đức thì cũng như không Trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi yếu tố con người được đặc biệt coi trọng, thì tiềm năng trí tuệ cũng như sức mạnh tinh thần và đạo đức của con người càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh là yêu cầu thường xuyên của công tác giáo dục Bởi vì giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh cũng đang là niềm trăn trở khôn nguôi của các bậc phụ huynh, của quý thầy cô giáo và tất cả mọi người có lương tâm và trách nhiệm trong

xã hội Vì vậy, ngành giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt và đầu tư cho giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu của nước ta

Nhà trường Tiểu học là nơi hình thành nhân cách đầu tiên cho trẻ, là nơi không những dạy chữ mà còn dạy về nhân cách, lẽ sống ở đời.Vì thế, công tác giáo dục trước tiên là phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh nhằm hình thành những con người có đầy đủ các phẩm chất, hoàn thành mục tiêu của giáo dục tiểu

học: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và

lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (Điều 27, Luật Giáo dục 2005)

Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên của giáo dục phổ thông Bất kỳ người công dân công tác, lao động ở bất cứ lĩnh vực nào trong xã hội đều phải trải qua bậc học Tiểu học Lý luận và thực tiễn đều chứng minh rằng, những dấu ấn của trường Tiểu học có một ảnh hưởng sâu sắc đến cả cuộc đời của HS, việc giáo dục đạo đức phải

Trang 7

2

được coi trọng và tiến hành ngay từ bậc tiểu học Và môn Đạo đức là một trong những môn học bắt buộc, nó là môn học cơ bản trang bị cho HS các chuẩn mực đạo đức, lối sống lành mạnh và cách sống có lí tưởng Từ đó các em biết cách vận dụng hành vi, chuẩn mực đạo đức đó vào cuộc sống

Tuy nhiên, việc giảng dạy môn Đạo đức cho HS trong nhà trường hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Một số GV còn coi nhẹ công việc này nên chất lượng các giờ dạy Đạo đức chính khóa chưa cao Khi dạy học, người GV mới chỉ chú trọng tới việc truyền thụ kiến thức cho HS mà chưa nhận thức đúng đắn về việc giáo dục đạo đức cho HS Tiểu học Các hình thức tổ chức dạy học của GV chưa phong phú, các trò chơi còn tẻ nhạt chưa mang tính giáo dục cao và chưa thu hút

HS Hơn nữa, nước ta đang bước vào thời kì hội nhập kinh tế, bên cạnh những mặt tích cực thì cũng làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, sự xâm nhập của các văn hóa phẩm đồi trụy làm xóa mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mĩ tục của dân tộc

Vấn đề đặt ra là làm cách nào để việc dạy học môn Đạo đức ở nhà trường Tiểu học được chú trọng hơn vì Tiểu học là bậc học nền tảng, là nơi mà các phẩm chất và nhân cách tốt đẹp được hình thành Bởi thế, GV phải có những tiết dạy thu hút HS và HS nắm bắt được kiến thức của môn Đạo đức một cách chủ động, tích cực mà không áp đặt, gò bó Song cũng cần giúp cho HS thấy được những nét đẹp, những phẩm chất cao quý, những giá trị đạo đức và những truyền thống quý báu của dân tộc Mà những truyên thống quý báu đó được HS tiếp nhận nhiều nhất qua

hệ thống ngữ liệu văn học dân gian khi các em học ở trường Bởi văn học dân gian

có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ, là một kho kinh nghiệm sống đầy quý báu, từ đó giúp HS hình thành và phát triển nhân cách

Văn học dân gian như một nguồn nước mát, văn học dân gian là yếu tố góp phần bồi đắp tâm hồn cho các em ngay từ thuở đầu đời Thực tế cũng đã chứng minh, các em lớn lên trong môi trưòng giáo dục với lời ru của bà, của mẹ sẽ giúp các em yêu thương và thân thiện hơn Ở một góc độ nào đó, việc bồi dưỡng văn hóa dân tộc được tác động trực tiếp và thường xuyên nhất, chính là những ngày tháng các em ngồi trên ghế nhà trường Xuất phát từ những vấn đề trên và những trăn trở

Trang 8

3

về việc giúp HS yêu thích việc học và GV say mê hơn trong việc dạy môn Đạo đức

và từ những yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm “phát

huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Điều 4 – Luật Giáo dục), tôi đã tìm

hiểu về hệ thống ngữ liệu văn học dân gian để đưa vào việc giảng dạy môn Đạo đức

cho học sinh lớp 4 với đề tài là: “Sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn

Đạo đức cho học sinh lớp 4” Vì văn học dân gian là một bộ phận của nền văn học

dân tộc đã được đúc kết từ ngàn xưa, nó thể hiện được sự nhận thức, trình độ phát triển và đúc kết kinh nghiệm sống của ông cha ta truyền lại cho các thế hệ sau Hi vọng với đề tài này, tôi sẽ có những đóng góp mới và tích cực hơn trong công tác giảng dạy môn Đạo đức ở trường Tiểu học

2 Lịch sử vấn đề

Văn học dân gian Việt Nam là một bộ phận của nền văn học dân tộc Văn học dân gian đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu văn học, các GV trong

cả nước Với đề tài “Sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo đức cho

học sinh lớp 4”, tôi xin điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho việc

dạy học tác phẩm văn học dân gian nói riêng và sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy Đạo đức nói chung

Hoàng Tiến Tựu, năm 1997 trong quyển “Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian”, NXB Giáo dục, đã tập trung đưa ra những vấn

đề có liên quan đến việc giảng dạy văn học dân gian Công trình này gồm bảy chương, trong đó ba chương đầu bàn về những lí luận chung, chương tiếp theo dành cho việc nghiên cứu và giảng dạy ca dao, một chương bàn về tục ngữ, một chương viết về truyện dân gian Đây là một tài liệu rất hữu ích cho GV và sinh viên trong công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian

Đinh Gia Khánh (chủ biên), năm 1996 với quyển Văn học dân gian Việt

Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Đây là một công trình nghiên cứu rất nhiều về kiến

thức văn hóa dân gian và văn học dân gian Tài liệu này có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu về các thể loại văn học dân gian Việt Nam

Trang 9

Nhị còn có quyển Phân tích tác phẩm văn học dân gian cũng bàn đến thể loại và tác

phẩm của văn học dân gian cũng như phương pháp tiếp cận và phân tích văn học dân gian để giúp GV và HS khai thác đúng giá trị của VHDG mang lại

Nguyễn Bích Hà, năm 2008 với quyển Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, là một công trình nghiên cứu tìm hiểu

về văn học dân gian Việt Nam Cuốn sách mang đến những tri thức về đất nước về con người, về phong tục tập quán cũng như đời sống tinh thần của cha ông ta từ ngàn đời xưa Sách bao gồm hai phần chính: phần một là những nét khái quát về văn học dân gian, phần hai nghiên cứu về các thể loại văn học dân gian Cuốn sách này sẽ giúp ích rất nhiều cho GV cũng như sinh viên khi tìm hiểu về văn học dân gian Việt Nam

Nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội biên soạn cuốn sách Văn học

– Tài liệu đào tạo giáo viên thuộc môđun Tiếng Việt – Văn học và phương pháp

dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Qua cuốn sách này, sinh viên có những kiến thức

và kĩ năng cơ bản về Văn học mà đặc biệt là nghiên cứu về văn học dân gian Việt Nam để hỗ trợ cho việc tìm hiểu ngữ liệu văn học dân gian phục vụ cho việc giảng dạy mang lại hiệu quả

PGS.TS Nguyễn Hữu Hợp, năm 2008 với quyển Giáo trình Đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà

Nội Quyển sách tổng hợp một số vấn đề cơ bản về đạo đức, đạo đức học và những phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học đã giúp GV và sinh viên nắm rõ được vị trí, mục tiêu, đặc điểm, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học môn Đạo đức cũng như hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học Đây là một công trình nghiên cứu rất bổ ích cho GV và sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học

Trang 10

5

Quyển Đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức ở Tiểu học do Trường

Cao đẳng Sư phạm Hà Nam biên soạn theo Chương trình Đào tạo giáo viên tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp người viết nắm được mục tiêu, nội dung của môn Đạo đức ở tiểu học

Bên cạnh, quyển Đạo đức và Phương pháp giáo dục đạo đức (Tài liệu đào

tạo giáo viên) do nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục biên soạn giúp sinh viên có những hiểu biết cần thiết

và những kĩ năng cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

Qua các công trình nghiên cứu trên, người viết nhận thấy rằng các tác giả đã nghiên cứu về văn học dân gian một cách cụ thể với một công trình nghiên cứu rất

đồ sộ và cả những nghiên cứu về việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường phổ thông Riêng vấn đề nghiên cứu về việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học chưa được đề cập nhiều Do vậy, chúng tôi mong rằng với đề tài này có thể góp phần vào việc nghiên cứu văn học dân gian trong công tác giảng dạy tại nhà trường Tiểu học và giúp mang lại những lợi ích thiết thực cho GV trong những giờ lên lớp

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo đức

cho học sinh lớp 4”, người viết nhằm giới thiệu đến người đọc về hệ thống ngữ liệu

văn học dân gian được sử dụng vào dạy học môn Đạo đức lớp 4, nhằm cải thiện chất lượng các giờ dạy Đạo đức, gây hứng thú học tập và khơi gợi tinh thần ham học hỏi của học sinh

Qua đó, người viết muốn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của môn học Đạo đức trong việc hình thành nhân cách cho học sinh Tiểu học Bên cạnh đó, người viết góp thêm tiếng nói để khẳng định giá trị to lớn của văn học dân gian trong giáo dục đạo đức, từ đó gìn giữ và lưu truyền những giá trị văn hóa, những truyền thống và kinh nghiệm quí báu của ông cha ta

Trang 11

6

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ thống kê những ngữ liệu văn học dân gian phù hợp với các bài học trong chương trình Đạo đức lớp 4 và đề ra một số hình thức sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài “Sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo

đức cho học sinh lớp 4”, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Người viết đã thu thập các tài liệu có liên quan đến luận văn, chọn lọc và ghi nhận những nội dung cần thiết để làm cơ sở dữ liệu cho luận văn

Phương pháp quan sát sư phạm: phương pháp quan sát sư phạm được sử dụng khi chúng tôi dự giờ nhằm mục đích đánh giá tinh thần, thái độ của học sinh trong khi học; quan sát cách thức của GV tổ chức các hoạt động dạy học cho HS Ngoài ra, trong những tiết thử nghiệm, chúng tôi quan sát và ghi nhận những thông tin về tiết dạy để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng ngữ liệu VHDG vào dạy môn Đạo đức

Phương pháp phân tích, chọn lọc: phương pháp này được thực hiện thông qua việc phân tích tiết dạy, phân tích và chọn lọc những nội dung cần nghiên cứu Phương pháp thống kê: Thống kê các ngữ liệu VHDG Trên cơ sở đó, người viết đề tài có một số nhận xét về vai trò hay lợi ích của việc sử dụng ngữ liệu VHDG

Phương pháp điều tra: phương pháp này được thực hiện qua bảng câu hỏi (phiếu thăm dò) tìm hiểu vấn đề sử dụng ngữ liệu VHDG của GV

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: được thực hiện thông qua việc phân tích quá trình dạy học của GV và HS, tổng kết những kinh nghiệm học được

Phương pháp thực nghiệm: tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và tác dụng của việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài: “Sử dụng ngữ liệu văn học dân gian vào dạy môn Đạo đức cho học

sinh lớp 4” với hệ thống ngữ liệu văn học dân gian phong phú, đa dạng, được xây

Trang 12

7

dựng phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, kết hợp với các phương pháp dạy học linh hoạt của giáo viên giúp giờ học Đạo đức trở nên thu hút, lôi cuốn học sinh Từ đó, học sinh có thể rèn luyện và trau dồi các phẩm chất đạo đức, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Đạo đức lớp 4 nói riêng và môn Đạo đức ở trường Tiểu học nói chung

Ngoài ra, luận văn góp phần khẳng định vai trò quan trọng của việc vận dụng văn học dân gian vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông Bên cạnh, luận văn góp phần gìn giữ và lưu truyền những truyền thống, kinh nghiệm quí báu từ bao đời nay

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Khái quát chung về văn học dân gian và ngữ liệu văn học dân gian Việt Nam

Chương 2 Khái quát chương trình Đạo đức và hệ thống ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng trong dạy học Đạo đức lớp 4

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ

NGỮ LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN VIÊT NAM

Ở Việt Nam, VHDG thường được ví như “bầu sữa ngọt” nuôi dưỡng những phẩm chất ưu tú nhất của con người như lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dũng cảm và chủ nghĩa lạc quan, đức chính trực, tình thương nhân đạo, tình đồng bào và tình hữu ái giai cấp,… như “dòng sữa đầy chất dinh dưỡng của một người mẹ có sức sống dồi dào” nuôi dưỡng tài “ nhả ngọc phun châu” của ngay cả những nhà thơ chuyên nghiệp”

1.1 Định nghĩa văn học dân gian

Văn học dân tộc gồm hai bộ phận: văn học dân gian (VHDG) và văn học thành văn VHDG là một bộ phận quan trọng của mỗi nền văn hóa dân tộc VHDG

ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy và đã trải qua những thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp Trong quá trình sáng tạo lâu dài ấy, đã dần dần hình thành những tác phẩm truyền thống, những thể loại truyền thống, những phương thức sáng tác và lưu truyền truyền thống Vì vậy, VHDG ra đời từ sớm, khi chữ viết chưa hình thành Do đặc điểm lịch sử khá đặc biệt của Việt Nam, chữ viết

ra đời muộn, sớm bị xâm lược và bị âm mưu đồng hóa nên thời gian dài người Việt Nam sử dụng văn tự Hán để sáng tác…Vì vậy, ngay cả khi đã có chữ viết và văn học viết thì trước thế kỉ XX, đa số dân chúng Việt Nam vẫn chỉ sử dụng một bộ phận văn học dân tộc là VHDG

Đứng ở vị trí của người nghiên cứu văn học, tác phẩm VHDG được xem là

những tác phẩm nghệ thuật Tính nghệ thuật là một thuộc tính khách quan của

VHDG, cho dù thuộc tính đó có được nhân dân nhận thức rõ hay không trong khi sáng tác, diễn xướng và tiếp thu các tác phẩm VHDG Chẳng hạn, trong truyện cổ tích, nhân dân có thể tin rằng những con người hoạt động và những sự việc diễn ra trong truyện cổ tích là có thực, thậm chí những sự kiện biến hóa kì ảo trong đa số truyện cổ tích nhiều khi cũng được nhân dân xem như những điều có thể xảy ra trong thực tế, nhưng những hình tượng của truyện cổ tích chỉ là những hình tượng nghệ thuật do trí tưởng tượng nghệ thuật của quần chúng xây dựng nên, việc tin hay

Trang 14

9

không tin vào tính chất xác thực của cốt truyện cổ tích chỉ phụ thuộc vào thế giới quan của nhân dân trong khi tiếp thu những truyện đó, chứ không hề làm thay đổi bản chất nghệ thuật của loại truyện cổ tích…

VHDG không chỉ là bộ phận của văn học dân tộc mà còn là một bộ phận trong lĩnh vực rộng hơn là văn hóa dân gian Văn hóa dân gian, thuật ngữ quốc tế là

“folklore” Đây là một từ ghép, “folk” là nhân dân, “lore” là trí khôn, trí tuệ

“Folklore” có nghĩa là trí khôn của nhân dân hay còn gọi là văn hóa dân gian Tuy nhiên cho đến nay vẫn có một số quan niệm khác nhau về mức độ rộng hẹp của khái niệm “folklore”

Quan niệm rộng nhất xem “folklore” là sáng tạo tinh thần và sáng tạo vật chất mang tính nghệ thuật của nhân dân lao động, trong đó có VHDG, hội họa dân gian, nghi lễ dân gian, tạo hình dân gian, kiến trúc dân gian, y học dân gian,…Khái niệm này tương đương với văn hóa dân gian

Quan niệm hẹp hơn xem folklore là những sáng tạo văn hóa - nghệ thuật tinh thần của nhân dân, gồm VHDG, lễ hội dân gian (hội hè đình đám), hội họa dân gian, âm nhạc dân gian…Khái niệm này tương đương với văn nghệ dân gian

Quan niệm hẹp nhất đồng nhất folklore với VHDG, xem nó chỉ là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ, văn hóa ngôn từ

Nhóm tác giả Nguyễn Bích Hà thiên về quan niệm xem folklore là khái niệm tương đương với thuật ngữ văn hóa dân gian, bao gồm những sáng tác tinh thần và một số loại của sáng tạo vật chất mang tính nghệ thuật, của tập thể nhân dân, những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và sáng tạo văn hóa nghệ thuật như một hoạt động không chuyên Trong văn hóa dân gian, VHDG là bộ phận văn hóa ngôn từ

Như vậy: VHDG vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là bộ phận

nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của văn hóa dân gian, phản ánh sinh hoạt xã hội, công việc làm ăn, đời sống tâm lí, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động các thế hệ

Ví dụ: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

Trang 15

10

Hay là:

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

Đường đi cách bến cách sông

Muốn qua dòng nước, nhờ ông lái đò!”

Tóm lại, Folklore là một thuật ngữ mang nội hàm rộng chỉ những sáng tác

dân gian thuộc nhiều loại hình khác nhau Còn VHDG là thuật ngữ mang nội hàm hẹp hơn chỉ một trong những loại hình sáng tác dân gian mà thôi – loại hình này sử dụng chất liệu cơ bản là ngôn từ

Ngoài ra, PGS – Nhà giáo ưu tú Chu Xuân Diên trình bày về nội dung khái

niệm “Văn học dân gian”: Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của

nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay

VHDG ở Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân (hoặc văn học truyền khẩu, văn chương hoặc văn học đại chúng), văn chương truyền khẩu (hoặc

văn học truyền khẩu, văn học truyền miệng), văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian,…Khái niệm VHDG hiện nay đã được dùng một cách rộng rãi trong giới nghiên cứu văn học song song với khái niệm văn nghệ dân gian

1.2 Đặc trưng của văn học dân gian

VHDG được phân biệt với Văn học viết bởi phương thức tồn tại: nếu VHDG

là sáng tác ngôn từ truyền khẩu, thì Văn học viết là sáng tác ngôn từ được lưu truyền

văn tự (chữ viết trên văn bản) Như vậy, chỉ khi nào có chữ viết thì văn học viết mới hình thành và phát triển Hai bộ phận văn học này vừa cùng tồn tại, biến đổi và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Những đặc trưng của VHDG:

1.2.1 Văn học dân gian là sáng tác ngôn từ mang tính tập thể - truyền miệng

Văn học viết là sáng tác của cá nhân, còn VHDG lại là kết quả của quá trình sáng tác tập thể Đây là đặc trưng xã hội của VHDG, là đặc điểm nổi bật của VHDG với tư cách là văn học truyền miệng, là tính chất đặc thù trong sáng tạo và lưu truyền VHDG

Trang 16

11

Quá trình hình thành một tác phẩm VHDG khá dài, diễn ra theo hai chiều không gian và thời gian Có thể hình dung sự ra đời và tồn tại của một tác phẩm VHDG như sau: lúc đầu, một người nào đó, trong giây phút ngẫu hứng nghĩ ra một mẫu chuyện hoặc một vài câu phát ngôn trước tập thể, người nghe tiếp nhận với một tinh thần hào hứng, để rồi tái bản bằng lời cho nhiều người khác, vòng tuần hoàn ấy dường như không kết thúc và cũng khó đoán định được thời điểm khởi đầu Quá trình tuần hoàn của VHDG chính là quá trình chỉnh sửa, bổ sung làm cho nó ngày càng hoàn thiện Một tác phẩm chỉ có thể trở thành một sáng tác dân gian khi sáng tác đó do một cá nhân khởi xướng, sau đó nhập vào đời sống dân gian, sống cuộc đời nổi trôi trong lòng và trên cửa miệng của tập thể nhân dân thuộc mọi thời đại, ở các địa phương khác nhau Vì vậy, không gian lưu truyền VHDG rất rộng, từ địa phương này đến địa phương khác, từ đất nước này đến đất nước khác; thời gian lưu truyền cũng rất dài, từ ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác, thời đại này sang thời đại khác.Về chất lượng nội dung, một tác phẩm VHDG phải phản ánh được nhiều nét sinh hoạt, tình cảm, nguyện vọng và mơ ước, cách nhìn nhận về cuộc đời và con người của đông đảo quần chúng nhân dân lao động Về chất lượng hình thức, tác phẩm ấy phải kết tinh được thị hiếu thẩm mĩ, tài năng sáng tạo của quần chúng nhân dân thuộc về một dân tộc nhất định với tư cách như một chỉnh thể

có chung điều kiện sinh hoạt, lao động, tranh đấu và sáng tạo nghệ thuật

VHDG tồn tại và lưu hành theo phương thức truyền miệng Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa VHDG và Văn học viết Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục kể

cả khi tác phẩm VHDG đã được ghi chép lại Bởi, truyền miệng là thuộc tính tạo nên vẻ đẹp, cái duyên riêng của VHDG

Khi truyền miệng, nội dung tác phẩm không chỉ được thể hiện bằng ngôn từ

mà còn được hỗ trợ bởi những yếu tố khác khiến nội dung và ý nghĩa của nó được nhận thức rõ hơn Một câu ca dao Nam Bộ:

“Đi đâu cho thiếp đi cùng,

Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

Ví dầu tình có dở dang Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về”

Trang 17

Tính tập thể - truyền miệng đã tạo nên đặc trưng thẩm mĩ của sáng tác dân

gian, trong đó nổi lên hai yếu tố cách tân và kế thừa Sự cách tân, không ngừng đổi

mới cho phù hợp với cuộc sống vốn đa dạng và biến đổi không ngừng khiến tác phẩm VHDG không bao giờ già cỗi, tụt hậu so với cuộc đời Ngược lại sự kế thừa luôn đóng vai trò định hướng cho mọi cách tân, đồng thời là một chỉ số quan trọng xác định tính dân tộc cũng như đặc trưng thể loại của tác phẩm Chính vì vậy, VHDG khác về bản chất so với văn học viết Ví dụ như chỉ có VHDG mới dùng

chung các môtíp cốt truyện (môtíp người bỏ lốt vật, nộp mạng định kì cho một con

vật đã thành tinh, vật thần kì mang lại hạnh phúc… trong truyện cổ tích) hoặc các

kiểu kết cấu (kết cấu đối lập trong truyện cổ, kết cấu đối đáp trong ca dao…), các cụm từ mở đầu các câu ca (Thân em như…, Hôm qua…, Thân anh như…) Hoặc chỉ

có VHDG mới có nhiều dị bản: cùng một đơn vị tác phẩm có thể có cả một hệ thống nhiều hoặc ít những đơn vị văn bản vừa có những yếu tố giống nhau, vừa có

những yếu tố khác nhau Chẳng hạn, những bản kể tương tự truyện Tấm Cám có mặt ở hầu khắp các châu lục Hoặc một câu ca dao: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò,

cây đa bến cũ con đò khác đưa” với câu ca: “Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò, cây đa bến

cũ con đò vẫn đưa” chỉ khác nhau hai từ, chúng rõ ràng là dị bản của nhau, nhưng ý

nghĩa của chúng khác nhau và chắc chắn được sử dụng trong những hoàn cảnh không đồng nhất Không riêng gì ở Việt Nam mà khắp trên thế giới đều có những câu chuyện cổ tích sử dụng môtíp “Vật thần kì mang lại hạnh phúc” như kiểu truyện Tấm Cám Tuy các chi tiết truyện có thể khác nhau do đặc trưng văn hóa mỗi vùng, nhưng không truyện nào là không có các chi tiết sau: nhân vật chính, một cô gái nghèo khổ được Tiên, Bụt ban cho quần áo đẹp đi dự hội, vì vội vã, cô đã đánh rơi một chiếc giày dọc đường Vua, Hoàng tử hay một thanh niên quý tộc nào đó nhặt được, thấy chiếc giày xinh quá, họ liền mở hội ướm giày, nhờ có phép màu của đôi

Trang 18

13

giày mà chủ nhân của nó được thay đổi số phận, trở nên hạnh phúc Vô số các câu chuyện cổ tích đều coi các nhân vật Tiên, Bụt là các nhân vật có chức năng thử thách lòng người để rồi ban thưởng nếu họ là người tốt, hay trừng phạt nếu họ là những người độc ác, ích kỉ

Cũng chính vì tính tập thể - truyền miệng này mà văn bản VHDG luôn có sự thay đổi theo thời gian tùy theo xu thế tình cảm, tư tưởng của quần chúng nhân dân

Có thể xem văn bản truyện Tấm Cám là một ví dụ điển hình cho điều này Ban đầu,

truyện được kết bằng chi tiết mẹ con Cám tuy được Tấm tha bổng nhưng dọc đường

bị Thiên Lôi đánh chết Bằng cách đó người xưa muốn nói rằng lưới Trời lồng

lộng, tuy thưa nhưng khó lọt Thế nhưng càng về sau, khi mà mâu thuẫn giai cấp

trong xã hội càng trở nên sâu sắc và khó bề hóa giải, với một tâm trạng luôn bị ức chế, người ta càng không thõa mãn với kết thúc này Đó là lí do vì sao truyện lại được kết theo một kiểu khác: cô Tấm không thõa hiệp, đã trực tiếp thực thi công lí với một hình phạt vô cùng tàn khốc Người thời nay vẫn luôn bị ám ảnh bởi điều này, rằng như vậy cô Tấm có còn là một cô gái nhu mì, nhân hậu nữa không ? Ở đây, chúng ta thấy rằng mọi chuyện không phải do cô Tấm – nhân vật – quyết định,

mà do tác giả dân gian quyết định

1.2.2 Văn học dân gian là một loại hình nghệ thuật nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình thức

Trước hết, đó là sự nguyên hợp về mặt nội dung VHDG không chỉ là một bộ phận của văn học dân tộc mà còn là ngọn nguồn của cả triết học, khoa học, lịch sử, nông học,…Một truyện thần thoại là khoa học tự nhiên bởi nó giải thích các hiện tượng gió, mưa, ngày, đêm bằng tất cả vốn tri thức của người nguyên thủy Nó là lịch sử bởi nhờ có nó mà lịch sử thời cổ đại được gìn giữ và truyền lại đến nay Nó cũng là triết học thô sơ vì nó bao gồm hệ thống tư tưởng và quan niệm về tự nhiên

và xã hội thời cổ, nó giải thích thế giới qua thế giới quan của người xưa Sự nguyên hợp về mặt nội dung này cũng được tổng hợp trong tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện

cổ tích…

Về hình thức, khác với tác phẩm văn học viết chỉ được diễn đạt bằng phương tiện ngôn ngữ, tác phẩm VHDG, ngoài việc sử dụng phương tiện chính là ngôn ngữ,

Trang 19

14

còn sử dụng thêm vài phương tiện khác nữa như âm nhạc, vũ điệu, động tác VHDG

là sự tổng hợp tự nhiên về mặt nghệ thuật VHDG sử dụng phương tiện ngôn ngữ như yếu tố quan trọng để xây dựng hình tượng nghệ thuật Vì vậy, VHDG là để hát,

kể, nói, diễn chứ không phải đọc Khi hát, kể hay nói, diễn yếu tố ngôn ngữ kết hợp với yếu tố âm nhạc, điệu bộ, động tác, thậm chí cả môi trường diễn xướng cũng tham gia, khiến cho tác phẩm VHDG sinh động và độc đáo hơn Chẳng hạn như khi

kể chuyện cổ tích có thể kết hợp với các yếu tố ngữ điệu của giọng kể, yếu tố kịch của vẻ mặt, động tác…Một câu lục bát có thể được dùng trong cả hát ru, hát dân ca, hát chèo với những làn điệu âm nhạc khác nhau cùng các động tác vũ điệu khác nhau, với những mục đích khác nhau Hát ru được dùng trong khuôn khổ sinh hoạt gia đình với mục đích trước hết là để đưa trẻ vào giấc ngủ êm đềm…

1.2.3 Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật mang tính thực hành

Là những sáng tác dân gian phục vụ trực tiếp cho từng ngành, nghề Người ta sáng tác VHDG do sự thúc đẩy của chính hoạt động thực tiễn hoặc do nhu cầu không thể không bộc lộ Hò lao động để làm cho lao động nhịp nhàng, vui vẻ Đồng dao gắn liền với hoạt động vui chơi như một bộ phận của trò chơi, khi chơi bọn trẻ không thể không hát Tục ngữ trước hết nhằm tổng kết các loại kinh nghiệm phong phú trong đời sống một cách dễ nhớ, dễ thuộc

VHDG gợi cảm hứng cho người trong cuộc dù ở đâu, làm gì Hãy nghe người nông dân tâm sự:

“Ra đi anh có dặn dò, Ruộng sâu cấy trước, ruộng gò cấy sau

Hễ mà hoa quả được mùa, Chắc là nước bể, nước mưa đầy trời

Ai ơi nên nhớ lấy lời, Trông cơ trời đất, liệu thời làm ăn”

Hay chàng trai nông thôn duyên dáng và tế nhị mượn hình ảnh lá xoan đào

để biểu thị lòng mình:

“Lá này là lá xoan đào Tương tư thì gọi thế nào hỡi em ?”

Trang 20

15

Hoạt động thực hành cũng chính là cội nguồn của các sáng tác VHDG Nếu không có những quan tâm tha thiết khơi nguồn, không có hoạt động hay sinh hoạt tập thể đầy hứng khởi sẽ không thể có những tác phẩm VHDG tuyệt vời đó Việc sáng tác, trình diễn, nhận thức tác phẩm VHDG, ngoài mục đích thẩm mĩ, còn nhằm một mục đích khác hơn là đáp ứng một yêu cầu, nhu cầu nào đó trong đời sống sinh hoạt của con người Ví dụ, ca dao được dùng trong hát ru còn trở thành phương tiện bộc lộ tâm tình của người ru; hát dân ca vừa là phương tiện trao đổi tình cảm vừa gắn với các hình thức lễ hội văn hóa…

1.3 Các thể loại của văn học dân gian

Tuy chưa thể giải quyết vấn đề phân loại VHDG một cách triệt để, nhưng dựa vào những tiêu chí cơ bản (về phương thức biễu diễn, phương thức phản ánh, chức năng chủ yếu, đề tài, thể văn…) có thể chia VHDG thành nhiều loại chính Xét về phương thức biễu diễn (hay hình thức diễn xướng), có thể chia VHDG thành bốn loại hình:

a) Loại hình nói (luận lí): tục ngữ, câu đố

b) Loại hình kể (tự sự): các loại truyện kể dân gian như thần thoại, truyền

thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười

c) Loại hình hát: ca dao, đồng dao, hát ru

d) Loại hình diễn: tuồng, chèo, cải lương, múa rối

Xét về phương diện thể loại, có thể chia VHDG thành ba thể loại:

a) Truyện cổ dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,

truyện cười

b) Thơ ca dân gian: ca dao, tục ngữ, câu đố, hát ru, đồng dao

c) Sân khấu dân gian: chèo, tuồng, cải lương, múa rối

Tìm hiểu khái quát về hệ thống thể loại của VHDG Việt Nam:

Thần thoại: tác phẩm tự sự dân gian thường kể về các vị thần, nhằm giải

thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của con người

Truyền thuyết: tác phẩm VHDG kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có

liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lý tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ

Trang 21

16

và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, hoặc với dân chúng ở một cộng đồng hoặc một vùng nào đó

Sử thi: Tác phẩm dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn từ có vần, nhịp, xây

dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lịch sử lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng

Truyện cổ tích: Tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được

kết cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động

Truyện ngụ ngôn: Tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, thông

qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm về cuộc sống hoặc triết lý nhân sinh

Truyện cười: Tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất

ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán

Tục ngữ: Câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp, đúc

kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong giao tiếp hằng ngày của nhân dân

Câu đố: Bài văn vần hoặc câu nói, thường có vần, mô tả vật đố bằng những

hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về đời sống

Ca dao: Lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn

xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người

Vè: Tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, có lối kể mộc mạc, phần lớn nói

về các sự việc, sự kiện thời sự của làng nước

Truyện thơ: Tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình, phản ánh

số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng bị tước đoạt

Chèo: Tác phẩm sân khấu dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng

để vừa ca ngợi những tấm gương đạo đức, vừa phê phán đả kích cái xấu trong xã

Trang 22

cổ tích, tục ngữ, ca dao vào dạy học môn Đạo đức cho học sinh

1.4 Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam

Trong văn học dân tộc, văn học dân gian là bộ phận ra đời sớm Nó không chỉ là một bộ phận của văn chương mà còn chính là đời sống, là quan niệm, là kinh nghiệm, là tiếng lòng muôn điệu của dân gian Vì vậy, vai trò và giá trị của VHDG thật lớn lao và toàn diện

VHDG chính là bộ Bách khoa toàn thư vĩ đại của mỗi dân tộc và của cả nhân loại, là nơi kết tinh những tri thức khoa học, tài năng nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm của nhân dân VHDG là nguồn cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng vào quá trình lao động, chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, thiết lập quan hệ giữa con người với con người Đồng thời VHDG còn đúc kết các quan điểm thẩm mĩ, đạo đức, các quan niệm ứng xử, những khát vọng cùng lí tưởng sống của nhân dân lao động…Cụ thể như: thần thoại luôn thể hiện quan niệm của người xưa về thế giới, trong mỗi câu chuyện đều chứa đựng những hạt nhân triết học hoặc một cách giải thích nào đó về sự hình thành vũ trụ, các ngành nghề thủ công, những miền địa lí…; truyền thuyết là những trang sử sống động, thấm đẫm niềm tự hào của nhân dân về những người anh hùng dân tộc; cổ tích là những bài học về tình yêu thương,

là nơi người xưa bộc lộ những ước mơ, khát vọng về cuộc sống hạnh phúc trần gian; ngụ ngôn, truyện cười là những tiếng cười chứa sẵn những liều thuốc khi đắng cay, khi ngọt lành không ngoài mục đích chữa các căn bệnh nhận thức, ứng xử cho nhân loại muôn đời; ca dao là gì nếu không phải là điệu hồn của những người yêu nhau, là lời tâm tình về nhân tình thế thái, là tiếng hát ca ngợi quê hương, đất nước, con người…; tục ngữ là vốn kinh nghiệm quý báu về nhiều vấn đề của cuộc sống, đặc biệt là kinh nghiệm lao động sản xuất của người nông dân…Không những thế, đối với mỗi dân tộc, VHDG giúp cho người đời sau nhận thức được bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa, cốt cách và vẻ đẹp tinh thần của dân tộc mình, từ đó biết phát

Trang 23

18

huy thế mạnh quá khứ, lí giải hiện tại và dự đoán tương lai Đối với nền văn học nghệ thuật của mỗi dân tộc, VHDG đều được coi là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nó Những giá trị cơ bản của VHDG cụ thể là:

1.4.1 Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống của dân tộc

Tri thức của dân gian là nhận thức của nhân dân đối với đời sống quanh mình Đó là những kinh nghiệm mà nhân dân đã đúc kết từ đời sống

Tri thức trong VHDG thuộc đủ các lĩnh vực đời sống: tự nhiên, xã hội, con người,…Nói đến tri thức của các dân tộc trên đất nước ta là nói đến kho tàng quí báu, vô giá, vô tận về trí tuệ của con người đối với thiên nhiên và xã hội

Tri thức VHDG phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn Tri thức dân gian thường được trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật

vì thế hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu và có sức sống lâu bền với thời gian

Việt Nam có 54 dân tộc Mỗi dân tộc có một kho tàng VHDG riêng vì thế vốn tri thức của dân tộc ta là vô cùng sâu sắc và phong phú

Chẳng hạn, những kinh nghiệm nhân dân đúc kết từ tự nhiên được thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ như:

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

“Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to”

Hoặc, những kinh nghiệm nhân dân đúc kết từ đời sống xã hội được thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ như:

“Bán anh em xa, mua láng giềng gần”

“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”

1.4.2 Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người

VHDG trước hết giáo dục con người tinh thần nhân đạo, lạc quan, đó là tình yêu thương đối với đồng loại, giáo dục tinh thần nhân đạo, tôn vinh giá trị con người, tình yêu thương con người, đấu tranh giải phóng con người, niềm tin bất diệt

Trang 24

19

về chiến thắng của chính nghĩa và cái thiện Chẳng hạn, truyện Tấm Cám giúp con

người đồng cảm, chia sẻ với nỗi bất hạnh của Tấm; khẳng định phẩm chất của Tấm; lên án kẻ xấu, kẻ ác

VHDG hình thành những phẩm chất truyền thống tốt đẹp: tình yêu quê hương đất nước, lòng vị tha, tính cần kiệm,…

Ví dụ bài học về đạo lí làm con:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Hay, ca dao tục ngữ về tình yêu quê hương đất nước:

“Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về”

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”

1.4.3 Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

VHDG được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian đã trở thành những viên ngọc sáng, những mẫu mực về nghệ thuật để chúng ta học tập

Nhờ có giá trị to lớn như vậy nên trong nhiều thế kỉ, khi văn học viết chưa hình thành VHDG đóng vai trò chủ đạo Khi văn học viết đã phát triển VHDG là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết Trong tiến trình lịch sử, VHDG đã phát triển song song cùng văn học viết, làm cho nền văn học Việt Nam trở nên phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

Tâm hồn trẻ em và tâm hồn của người xưa có những điểm tương đồng với nhau Trẻ em vốn ưa tưởng tượng, thích mơ ước, sống với nhiều xúc cảm mãnh liệt

mà VHDG lại là thế giới của tưởng tượng và mơ ước, là sản phẩm của tâm hồn và trí tuệ ngây thơ của nhân loại Vì vậy, một số thể loại VHDG đã trở thành món quà tặng đầy yêu thương của người xưa dành cho các em VHDG, với tính chất nguyên hợp của mình, đã cung cấp cho trẻ em những hiểu biết về đời sống tự nhiên, xã hội,

Trang 25

20

trả lời một cách thú vị vô vàn thắc mắc của các em về thế giới xung quanh Con đường nhận thức của trẻ em thường bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng VHDG đã đáp ứng được điều này khi khái quát các bài học nhận thức, giáo dục từ những hình ảnh, tình huống thuộc đời sống thực tiễn Các bài học giáo dục đạo đức, nhân cách đã được đúc kết trong VHDG chưa bao giờ cũ so với mọi thời đại, bởi vì chúng luôn được khái quát từ triết lí của tình thương Cha ông ta muốn rằng, mặc dù cuộc sống luôn thay đổi thì cái đọng lại cuối cùng vẫn là lòng nhân ái,

sự yêu thương giữa con người với con người

1.5 Tìm hiểu về ngữ liệu văn học dân gian

Ngữ liệu không chỉ là tư liệu nhằm phục vụ việc chuyển tải nội dung tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn có quan hệ mật thiết tới việc sử dụng phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức và tình cảm của học sinh, đến hoạt động dạy học của giáo viên Vì vậy, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu VHDG đang là vấn đề được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của đội ngũ giáo viên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, thực hiện được những mục tiêu dạy học nói chung và trong dạy học môn Đạo đức nói riêng

Trong số các loại ngữ liệu được sử dụng để dạy học, có một bộ phận được khai thác, lựa chọn từ VHDG như: ca dao, tục ngữ, câu đố, thành ngữ,…Đó là

những ngữ liệu văn học dân gian (NLVHDG)

Hội nghị BCH TW Đảng lần 6 (khóa IX) ngày 26/7/2003 đã khẳng định

nhiệm vụ “đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự

tu dưỡng, tự tạo việc làm” Chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001 - 2010

trình bày tại Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ giáo dục và đào tạo cần: “đổi mới

phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vệt, học chay”

Tìm hiểu việc sử dụng NLVHDG trong dạy học môn Đạo đức có tác dụng giúp HS nâng cao kiến thức và vốn hiểu biết về VHDG, bồi dưỡng cách sống, nâng cao trình độ thẩm mỹ cho HS, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và tâm hồn dân tộc

Trang 26

1.5.1 Ngữ liệu văn học dân gian là gì ?

Ngữ liệu (còn gọi là: ví dụ, dẫn chứng, minh họa, tư liệu, dẫn liệu, cứ liệu,…) có thể được trích dẫn, khai thác, lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vào mục đích, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể của quá trình dạy học Những ngữ liệu được khai thác, lựa chọn, trích dẫn, mô phỏng từ các tác phẩm

VHDG được gọi là ngữ liệu văn học dân gian Đó là những sáng tác dân gian (hoặc

được dân gian hóa) có dung lượng ngắn gọn, được sử dụng để góp phần cung cấp tri thức, có tác dụng gây hứng thú học tập và giáo dục nhân cách Như vậy, NLVHDG

là một loại ngữ liệu được xác định chủ yếu căn cứ vào đặc trưng, tính chất thuộc về nội dung, hình thức hơn là căn cứ vào chủ thể sáng tạo Các NLVHDG được sử dụng trong dạy học môn Đạo đức được sưu tầm, biên soạn nhằm phục vụ những mục đích, yêu cầu của hoạt động dạy học

1.5.2 Ngữ liệu văn học dân gian với đặc điểm tâm lý của học sinh trong quá trình nhận thức

1.5.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

Học sinh Tiểu học là lứa tuổi từ 7 – 12 tuổi, đây là tuổi đầu tuổi học hay còn gọi là tuổi Nhi Đồng Đến trường học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này Học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các em tích lũy kiến thức Ngoài ra sự phát triển về tiềm năng trí tuệ cũng như nhân cách đang dần hình thành, nhà trường như mở ra trước mắt các em một thế giới mới lạ, đồng thời cũng tạo ra ở trẻ một thế giới nội tâm phong phú

Trang 27

22

Sự phát triển của trẻ em trước hết ta phải đề cập đến sự phát triển về thể chất của trẻ Sự phát triển cơ thể đặc biệt là sự biến đổi của hệ thần kinh và của hoạt động thần kinh cấp cao là một yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển tâm lí của trẻ

Thể lực của trẻ ở thời kì này phát triển tương đối đồng đều và cân đối Trọng lượng não trẻ gần bằng trọng lượng não người lớn, các nhà Khoa học đã xác định rằng trẻ 7 tuổi có trọng lượng đạt khoảng 90% trọng lượng não người lớn và đến 12 tuổi thì bằng trọng lượng não người lớn, thùy trán phát triển mạnh Tế bào não phát triển về thành phần cấu tạo, độ lớn và phân hóa rõ rệt

Ở học sinh Tiểu học có thể thành lập hệ thống liên hệ thần kinh phức tạp nhưng chưa thật vững chắc Võ não chưa hoàn toàn điều khiển được những phần dưới vỏ nên ở tuổi này trẻ dễ nhớ nhưng cũng chóng quên và thường khó kìm hãm cảm xúc của mình Quá trình hưng phấn mạnh, nên học sinh Tiểu học rất hiếu động nên chưa có khả năng kìm chế mình Ức chế đang phát triển và tiến tới cân bằng với hưng phấn Do đó trong quá trình dạy học, giáo viên nên giúp học sinh hình thành khả năng tự chủ, lòng kiên nhẫn, khả năng kìm hãm trước kích thích của hoàn cảnh xung quanh

* Đặc điểm về mặt nhận thức:

Ở các lớp đầu bậc Tiểu học thì tri giác của các em thường gắn với những hành động và hoạt động thực tiễn Vì vậy, tất cả các hình thức tri giác trực quan bằng sự vật, bằng hình ảnh và bằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc Tiểu học

 Tri giác của học sinh Tiểu học còn mang tính trực quan và mang tính cảm

xúc nhiều nên trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn phải biết xem xét sự vật, biết phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng, thêm vào đó không chỉ dạy trẻ nghe mà còn dạy trẻ biết cách lắng nghe

 Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định Những

kích thích có cường độ mạnh vẫn là một trong những mục tiêu thu hút sức chú ý của trẻ Khả năng chú ý của học sinh còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập, nếu nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững của chú ý

Trang 28

23

 Trí nhớ còn mang tính trực quan – hình tượng và được phát triển hơn trí nhớ

từ ngữ logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng Ở cuối bậc Tiểu học trí nhớ chủ định dần dần được phát triển, năng lực ghi nhớ cũng tăng dần, tuy nhiên các em vẫn có khuynh hướng học vẹt hay học thuộc lòng một cách máy móc Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như mức độ tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí, tình cảm hay hứng thú của các em,…Vì thế, giáo viên phải giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung,

ý nghĩa của những ngữ liệu văn học dân gian phải đơn giản, dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lí hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

 Về tư duy của các em mới đến trường thường mang tính trực quan cụ thể,

mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật, hiện tượng cụ thể Đến những năm cuối của bậc Tiểu học tư duy của các em phát triển hơn, khả năng phân tích – tổng hợp đã phát triển, các em có thể dùng trí

óc để phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn với đối tượng đó Mặt khác, ở giai đoạn này các em biết dựa vào các dấu hiệu, bản chất để phân loại sự vật hiện tượng, so sánh sự giống nhau và khác nhau của sự vật hiện tượng đó

 Tư duy trừu tượng của học sinh Tiểu học cũng phát triển hơn Các em đã biết

sử dụng khái niệm, các kết cấu logic đã có từ trước để tìm ra tri thức mới Cũng nhờ vậy, khi giáo viên sử dụng những ngữ liệu văn học dân gian vào dạy Đạo đức, học sinh có thể liên kết với những ngữ liệu văn học dân gian đã được học khi học tiếng Việt Chính vì vậy trong dạy học, GV phải nhận biết được điều này để tổ chức các hoạt động phù hợp nhằm phát triển tư duy cho các em và hạn chế lạm dụng quá mức tính trực quan trong dạy học nhất là các lớp cuối bậc Tiểu học

 Tưởng tượng của học sinh Tiểu học so với mẫu giáo phát triển hơn và rất

phong phú vì bộ não đã phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Ở cuối tuổi Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ

Trang 29

mở, thu hút các em vào các hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện Trong dạy học môn Đạo đức, giáo viên tổ chức các hoạt động kể chuyện hay bài tập, trò chơi về ca dao, tục ngữ nhằm giúp học sinh có những liên tưởng, tưởng tượng phong phú và nắm rõ nội dung của bài học

 Về ngôn ngữ, hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ

vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Ngôn ngữ có vai trò quan trọng như vậy nên trong dạy học Đạo đức giáo viên phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho các em thông qua các hoạt động bài tập bày tỏ ý kiến, bày tỏ thái độ trước một hành vi đạo đức Bên cạnh, giáo viên còn trau dồi vốn ngôn ngữ cho các em qua việc sử dụng những ngữ liệu văn học dân gian, các em có thể kể sơ lược những câu chuyện hay diễn đạt nội dung cũng như ý nghĩa của các câu ca dao, tục ngữ hoặc thông qua những mẫu chuyện GV cung cấp cho HS đã phần nào giúp các em trau dồi và rèn luyện vốn ngôn ngữ cho bản thân

* Đặc điểm về nhân cách:

 Tính cách: Tính cách của trẻ em được hình thành rất sớm ở thời kì trước tuổi

học Khi quan sát chúng ta thấy có em thì trầm lặng, có em thì sôi nổi, em thì mạnh

Trang 30

25

dạn, em thì nhút nhát Song những nét tính cách mới hình thành ở các em chưa ổn định, có thể thay đổi do những tác động khác Tính cách của học sinh Tiểu học được hình thành trong hoạt động học tập, lao động, hoạt động xã hội và trong hoạt động vui chơi Học sinh Tiểu học có những nét tính cách tốt như lòng vị tha, tính ham hiểu biết, tính hồn nhiên, chân thật, hồn nhiên trong quan hệ với người lớn, với thầy cô giáo, với bạn bè Chính vì vậy, các em tin vào sách vở, tin vào người lớn và tin vào khả năng của bản thân nhưng niềm tin đó còn mang tính chất cảm tính chưa

có lí trí soi sáng Chính vì lí do đó, GV nên tận dụng niềm tin này để giáo dục HS

 Hứng thú: Hứng thú của học sinh Tiểu học cũng là những nét tâm lí mà

chúng ta cần quan tâm tới Ở lứa tuổi này, hứng thú học tập dần dần chiếm ưu thế hơn so với hứng thú vui chơi, vì ở tuổi này học tập là hoạt động chủ đạo Lúc đầu, các em có hứng thú như nhau đối với tất cả các môn học Nội dung môn học, cách thức học tập từng môn chưa có ý nghĩa quan trọng đối với sự nảy sinh hứng thú Vấn đề chính yếu là kết quả học tập và lời nhận xét của giáo viên có tác dụng củng

cố hứng thú học tập của trẻ Đến cuối cấp, các em có sự phân biệt thái độ, có hứng thú khác nhau đối với từng loại bài khác nhau Tuy nhiên, hứng thú đó vẫn chưa bền vững, sự phân biệt chưa rõ Vì vậy, giáo viên phải gây được hứng thú ở học sinh trong quá trình học tập các môn học nói chung cũng như môn Đạo đức nói riêng

 Tình cảm: Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm đóng vai trò đặc biệt Nó là

khâu gắn liền với nhận thức và hoạt động của các em Đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học thể hiện rõ sự ngây thơ, trong sáng Các em rất dễ xúc cảm trước hiện thực, rất dễ tiếp thu những tình cảm tốt đẹp Hiểu được đặc điểm tình cảm và giáo dục tình cảm cho học sinh Tiểu học có vai trò quan trọng đặc biệt Đặc trưng chung cho tình cảm của học sinh Tiểu học là tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Tình cảm của các em không những chỉ biểu hiện ở trong quan hệ đời sống mà còn biểu

hiện ngay cả trong hoạt động trí tuệ Cũng như K.D.Usinxki đã nói: “Trẻ em tư duy

bằng hình thù, màu sắc, âm thanh và bằng cảm xúc nói chung” Các em tiếp thu

kiến thức không đơn thuần bằng lí trí mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu cảm xúc, các quá trình nhận thức của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc Vì vậy, trong quá trình

Trang 31

26

dạy học, GV phải bồi dưỡng cho HS những xúc cảm, tình cảm tốt đẹp Đặc biệt trong dạy học Đạo đức, GV giúp HS có những xúc cảm, thái độ phù hợp liên quan đến những chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó, có tình cảm đạo đức bền vững Chẳng hạn như khi dạy Đạo đức, GV sử dụng NLVHDG là một câu truyện kể hấp

dẫn, sinh động dễ làm cho HS có thái độ đồng tình với những hành động tốt, yêu

mến nhân vật tích cực, không đồng tình với những hành động không tốt, trái với đạo

lí…

1.5.2.2 Ngữ liệu văn học dân gian với hứng thú nhận thức

Khoa học đã chứng minh rằng, quá trình dạy học là một quá trình nhận thức

Đó là sự phản ánh các hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy, nhưng

là một sự phản ánh tích cực và có chọn lọc Trong quá trình nhận thức chỉ có những

gì liên quan đến nhu cầu, đến hứng thú, đến hoạt động thực tại và sự phát triển tương lai của cá nhân mới được chọn lọc và phản ánh Vì vậy, trong quá trình nhận thức, con người luôn luôn định hướng, chú ý đến đối tượng và nhờ đó mà tập trung được suy nghĩ, gạt bỏ những tác động bên ngoài có ảnh hưởng đến kết quả nhận thức Cho nên việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học không chỉ đáp ứng những yêu cầu của xã hội đặt ra mà còn phải quan tâm tới khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học

Theo tâm lý học sư phạm, chất lượng nhận thức, học tập tùy thuộc vào những điều kiện bên ngoài (nội dung tri thức, phong cách giảng dạy của GV, phương pháp và phương tiện dạy học…) và những điều kiện bên trong (nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập, kinh nghiệm, tri thức và trình độ phát triển về kỹ năng…) đặc biệt là thái độ nhận thức, hứng thú học tập Chính vì vậy, trong quá trình nhận thúc và học tập, thái độ nhận thức, hứng thú học tập của học sinh có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả tiếp nhận tri thức và rèn luyện kỹ năng Muốn nhận thức có hiệu quả, bản thân người học phải phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, phải có hứng thú học tập, vì hứng thú là một nhân tố quan trọng kích thích quá trình nhận thức từ việc tri giác, hiểu, ghi nhớ đến vận dụng kiến thức bài học Phát triển hứng thú nhận thức là một yêu cầu quan trọng và người

GV có thể điều khiển trực tiếp bằng các biện pháp khác nhau Hứng thú học tập tác

Trang 32

27

động đối với học sinh bất kỳ lứa tuổi nào, trong bất kỳ bài học nào Người GV phải nắm được bản chất của hứng thú để có thể vận dụng, tác động một cách có hiệu quả trong quá trình dạy học

Do đó đối với người dạy trong quá trình dạy học cần nắm vững trình độ nhận thức của người học Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng Muốn tiến hành dạy học hiệu quả thì người dạy cần phải hiểu được trình độ nhận thức của người học nhằm phân loại đối tượng, lựa chọn nội dung và phương pháp truyền đạt phù hợp Đối tượng người học cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi lứa tuổi có sự phát triển tâm sinh lý khác nhau, hoạt động chủ đạo đặc trưng… Chẳng hạn, lứa tuổi học sinh tiểu học thì hoạt động học tập chiếm vai trò chủ đạo, học sinh trung học cơ sở thì hoạt động giao tiếp là chủ đạo, đòi hỏi người dạy phải biết tổ chức cuộc sống sư phạm cũng như các tác động giáo dục phù hợp mới mang lại hiệu quả thiết thực Bên cạnh, người dạy cần phải quan tâm đến thái độ của người học Đời sống cảm xúc, tình cảm của học sinh khá phong phú và đa dạng, diễn biến tình cảm phát triển theo những thang bậc, độ tuổi của học sinh Nếu cảm xúc, tình cảm phát triển mạnh mẽ giúp học sinh say mê hơn với môn học, là cơ sở để bồi dưỡng niềm tin, ý chí quyết tâm của người học… Ngược lại, người học có tình cảm tiêu cực thì dễ chán, thiếu hứng thú, không kích thích được tính tích cực, chủ động sáng tạo Hiểu

rõ đời sống cảm xúc, tình cảm của học sinh chính là cơ sở để người dạy điều chỉnh cảm xúc, bồi dưỡng, phát triển tình cảm tích cực cho các em trong quá trình học tập

Do đó, đòi hỏi người GV trong quá trình dạy học cần phải quan sát thái độ, hành vi của người học qua ánh mắt, cử chỉ và mức độ chú ý… Một bài giảng hay phải tạo được sự hứng thú ở học sinh, bầu không khí lớp học luôn vui vẻ, các em luôn mong muốn chiếm lĩnh tri thức Những thuộc tính gây hứng thú nhận thức cho HS trong quá trình dạy học Đạo đức của NLVHDG được biểu hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:

a) NLVHDG là lời ăn tiếng nói hằng ngày rất gần gũi, gắn bó với thực tiễn đời sống, những tình huống dễ hiểu, dễ gây ấn tượng và định hướng sự chú ý của học sinh Những ngữ liệu ấy làm cho tri thức bài học, mục đích giáo dục trở nên cụ thể, dễ hiểu, dễ tiếp thu

Trang 33

28

b) Một thuộc tính có tác dụng gây hứng thú, định hướng sự chú ý cho HS là hình thức ngắn gọn, cách diễn đạt độc đáo, lối nói vần vè,…của các NLVHDG Những thuộc tính đó tác động đến xúc cảm, đến trí tuệ, khêu gợi nhu cầu hiểu biết, khám phá,…làm cho việc dạy học Đạo đức trở nên sinh động, học sinh dễ nhớ, dễ thuộc, khắc sâu những bài học giáo dục

NLVHDG là những câu có vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc đối với HS, phù hợp với tâm lý, với trình độ tiếp nhận của HS, nhất là đối với HS tiểu học Điều này có thể thấy rõ nhất qua những câu tục ngữ, ca dao Đó là điều kiện để HS có thể liên hội với bài học, những tri thức qua các bài học Đạo đức Chẳng hạn, những câu ca dao, tục ngữ về thầy, cô rất dễ nhớ, dễ thuộc sẽ được giới thiệu đến HS khi học bài

“Biết ơn thầy giáo, cô giáo”  SGK Đạo đức lớp 4:

“Mấy ai là kẻ không thầy

Thế gian thường nói đố mày làm nên”

Hay “Mẹ cha công sức sinh thành

Ra trường thầy dạy học hành cho hay”

Nhiều trường hợp khác, để giáo dục thái độ nói năng, NLVHDG sử dụng cách diễn đạt hình tượng, cách so sánh ví von để gây ấn tượng:

+ “Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

+ “Một lời nói dối, sám hối bảy ngày”

+ “Kim vàng ai nỡ uốn câu Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”

Những ngữ liệu như vậy có sự tác động đến trí nhớ của HS Trí nhớ của HS

sẽ xâu chuỗi giữa ngữ liệu với nội dung bài học, điều này càng thể hiện rõ hơn về vai trò của việc sử dụng NLVHDG trong quá trình dạy học

c) Một thuộc tính quan trọng khác của NLVHDG bắt nguồn từ đặc trưng của VHDG, đó là hình thức, phạm vi, môi trường sáng tạo, sử dụng hết sức đa dạng, phong phú Chính vì vậy, việc sử dụng NLVHDG không chỉ được tích hợp qua môn Đạo đức, qua những giờ học chính khóa mà còn được thực hiện trong bất cứ thời gian nào, được sử dụng trong các môn học khác, trong giờ ngoại khóa, trong sinh

Trang 34

29

hoạt gia đình, xã hội… Chính vì vậy, NLVHDG có tác dụng giáo dục đạo đức cho học sinh ở nhiều nơi, với nhiều hình thức khác nhau điều này làm cho VHDG ngày càng gần gũi với học sinh hơn

1.5.2.3 Ngữ liệu văn học dân gian phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh

Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học, chúng tôi nhận thấy lứa tuổi HS Tiểu học vốn rất hiếu động, vui nhộn, thích khám phá, chú ý những điều mới lạ; những đặc điểm tác động, những cảm xúc phù hợp với đặc điểm này sẽ gây

ấn tượng mạnh mẽ, dễ lưu lại trong trí nhớ, trong thói quen và nhận thức của HS Chẳng hạn, truyện cổ là thế giới của những tưởng tượng và những mơ ước, điều này

vô cùng phù hợp với đặc điểm tâm lí của các em Vì thế giới của trẻ là thế giới của những ước mơ và những cảm xúc mãnh liệt

Đối với HS lớp 4 – 5, các em đã được giảng dạy VHDG một cách có hệ thống thông qua môn tiếng Việt, vì vậy khi giáo viên sử dụng những NLVHDG vào dạy học môn Đạo đức thì không gây bỡ ngỡ, lạ lẫm với các em mà còn tăng thêm hiệu quả về mặt giáo dục cũng như giáo dưỡng cho học sinh Tức là, khi đưa NLVHDG vào bài dạy của mình GV đã một phần khơi gợi kiến thức VHDG mà các

em đã được biết, được học thông qua các môn học khác Từ đó, GV liên hệ, cung cấp thêm những ngữ liệu mới phù hợp với nhận thức của học sinh, thông qua đó giáo viên rút ra những bài học đạo đức cho học sinh học tập và rèn luyện Có thể nói chính điều này đã góp phần tích cực trong việc phát triển tư duy, ngôn ngữ của các em

1.5.3 Những yêu cầu chung của việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian

Từ VHDG đến NLVHDG, từ NLVHDG được sử dụng cho mọi đối tượng đến NLVHDG được sử dụng trong nhà trường, cho đối tượng học sinh là một quá trình không những bị chi phối bởi những quy luật của VHDG mà còn có quan hệ tực tiếp đến những nguyên tắc giáo dục, nguyên tắc dạy học Chính vì vậy, việc sử dụng NLVHDG trong dạy học Đạo đức ở trường Tiểu học cũng cần phải chú ý tới những nguyên tắc sau:

Trang 35

30

1.5.3.1 Bám sát nội dung bài học

Đây là yêu cầu đầu tiên đảm bảo tính hiệu quả của việc sử dụng NLVHDG trong dạy học môn Đạo đức Việc sử dụng NLVHDG sẽ góp phần phục vụ cho nội dung dạy học, mạng lại hiệu quả và tạo những điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học Vì vậy, khi lựa chọn và sử dụng cần phải đặt câu hỏi:

Tất cả những câu hỏi trên nhằm làm cho việc lựa chọn và sử dụng NLVHDG bám sát được mục đích, yêu cầu, nội dung của bài học

Không bám sát nội dung bài học trong từng bài, từng vấn đề, việc lựa chọn ngữ liệu sẽ tùy tiện, việc phân tích ngữ liệu có thể đúng nhưng không phù hợp với nội dung và không làm nổi bật ý nghĩa của bài học, làm cho nhận thức của học sinh

bị lệch hướng Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng NLVHDG xa rời nội dung bài học hoặc khai thác, phân tích một cách gò ép, miễn cưỡng sẽ làm cho học sinh không có hứng thú học tập và không tiếp thu những ngữ liệu đó một cách hiệu quả Chính vì vậy, khi sử dụng NLVHDG là phải có định hướng, bám sát nội dung bài học, chọn những ngữ liệu “đắt”, phù hợp với đối tượng học sinh GV cần phải có sự tìm hiểu, phân tích để nắm vững nội dung cũng như ý nghĩa hàm chứa trong từng ngữ liệu và nội dung đó phải đảm bảo tính giáo dục, tính giáo dưỡng, phát triển trong quá trình dạy học Có như vậy, việc sử dụng NLVHDG mới phát huy được những tác dụng tiềm tàng của nó và mang lại hiệu quả cao

1.5.3.2 Chú ý đến tính khả thi

NLVHDG chứa đựng một kho kinh nghiệm sống đầy quý báu, là một nguồn tri thức dân gian phong phú và bổ ích, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách Vì vậy, NLVHDG hàm chứa những nội dung dạy học Đạo đức, có khả năng tạo hứng thú trong quá trình dạy học nhưng không phải ngữ liệu nào cũng có khả

Trang 36

31

năng như nhau trong một tình huống, một bài học cụ thể Việc sử dụng ngữ liệu đạt hiệu quả đến mức độ nào không chỉ phụ thuộc vào “sự hàm chứa nội dung dạy học Đạo đức” hay “khả năng tạo hứng thú” của ngữ liệu ấy, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của giáo viên, của học sinh và các yếu tố trong quá trình dạy học

Trước hết, việc sử dụng phụ thuộc vào hình thức, quy mô, khối lượng của ngữ liệu Trong thời lượng một tiết, việc dẫn ngữ liệu, phân tích và khái quát ngữ liệu không thể chiếm thời gian quá lớn trong tương quan với các ngữ liệu khác Cho nên, cần phải có định hướng về thời gian, về yêu cầu của bài học để xác định số lượng ngữ liệu, lựa chọn những ngữ liệu đắt nhất để phát huy hiệu quả tối đa của việc sử dụng

Mặt khác, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu phải phù hợp với trình độ và tâm lý của học sinh Chẳng hạn, truyện cổ tích có tác động mạnh mẽ trong việc bồi đắp tâm hồn trẻ thơ với lời văn giản dị, mộc mạc, giàu hình tượng, nội dung đơn giản, dễ hiểu phù hợp với tâm lý của học sinh; nhưng những chuyện vui mang ý nghĩa hàm ngôn thì lại không phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học Cho nên, cần phải lựa chọn ngữ liệu nào để vừa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đảm bảo tính phát triển trong dạy học, vừa hàm chứa được nội dung dạy học, vừa tránh “sự quá tải” trong việc sử dụng ngữ liệu

Một vấn đề cũng cần lưu ý, đó là khả năng sử dụng ngữ liệu thực tế của giáo viên Cùng một ngữ liệu, một bài học, có người sử dụng thành công, có người sử dụng kém hiệu quả, điều đó phụ thuộc vào mức độ am hiểu ngữ liệu, phụ thuộc vào phương pháp dạy học và năng lực sư phạm của giáo viên Giáo viên cần phải hiểu rằng, có những ngữ liệu sử dụng hình thức kể thì hay, nhưng có những ngữ liệu phải đọc mới thấy được cái sâu sắc của nó; có những ngữ liệu kể đi kể lại vẫn có tác dụng, nhưng có những ngữ liệu khi sử dụng lại gây một phản ứng của học sinh “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” Vì vậy, thành công của việc sử dụng ngữ liệu phụ thuộc rất lớn vào năng lực vận dụng thực tế của giáo viên

Trang 37

32

1.5.3.3 Đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện

Dạy học Đạo đức trong nhà trường nhằm hướng tới thực hiện những mục đích giáo dục nói chung Vì thế, ở mỗi bộ môn bao gồm môn Đạo đức không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức lý thuyết và rèn luyện kĩ năng thực hành mà còn chú ý đến những nội dung giáo dục

Điều này không chỉ xuất phát từ yêu cầu giáo dục của việc dạy học Đạo đức

mà còn bắt nguồn từ tính chất, nội dung, khả năng của các NLVHDG NLVHDG tổng hòa các tri thức, quan niệm, kinh nghiệm của nhân dân từ thế hệ này sang thế

hệ khác, ở tất cả mọi lĩnh vực Chúng ta có thể khai thác những tri thức có tính chất tích hợp, những tri thức về tự nhiên, xã hội, những tri thức về các hoạt động của con người Chính vì vậy, những bài dạy Đạo đức sử dụng NLVHDG không chỉ đơn thuần cung cấp và rèn luyện cho học sinh những tri thức và kỹ năng về giao tiếp, ứng xử mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ và những phẩm chất tốt đẹp khác của con người Đó là tình cảm yêu quê hương, đất nước, tinh thần nhân đạo, tính lạc quan; đó còn là sự thể hiện của trí tuệ sâu sắc, tính hài hước dí dỏm…Khai thác, sử dụng những nội dung đó, chúng ta sẽ làm cho bài học Đạo đức bớt khô khan, mang lại sự thích thú tìm tòi, khám phá cho học sinh, đồng thời có thể lồng ghép thực hiện những nội dung giáo dục khác

Tác dụng giáo dục, giáo dưỡng của việc sử dụng NLVHDG không chỉ được khẳng định, chứng minh qua cái hay, cái đẹp, cái tích cực của chúng mà còn được thực hiện qua việc phân tích, bác bỏ những mặt tiêu cực, hạn chế, lạc hậu trong tri thức dân gian Đó là những hạn chế của lịch sử, của thời đại, tạo nên những quan niệm, tri thức không phù hợp với hoàn cảnh hiện nay hoặc với đối tượng học sinh Chẳng hạn:

“Vô duyên chưa nói đã cười

Có duyên gọi chín mười lời không thưa”

“Chim khôn chưa bắt đã bay Người khôn ít nói, ít hay trả lời”

Trang 38

33

Với những câu ca dao trên, thì những mẫu người như thế, cách nói năng như thế được xem là tiêu chuẩn của người xưa (công, dung, ngôn, hạnh) thì bây giờ không còn phù hợp

Trong dạy học Đạo đức, nếu không lưu ý đến điều này, việc sử dụng NLVHDG sẽ gây hạn chế đến hiệu quả của giờ học Vì vậy, khi sử dụng NLVHDG như mục đích giáo dục không có nghĩa là gán cho NLVHDG những nhiệm vụ, chức năng quá nặng nề, quá khả năng thực tế của nó và như thế việc sử dụng không đi đúng mục đích phục vụ dạy học Đạo đức

1.5.3.4 Linh hoạt trong khai thác nội dung và lựa chọn hình thức qui trình sử dụng

Các tác phẩm VHDG thường không có tính cố định về mặt văn bản Chính vì vậy, trong quá trình lưu truyền, tác giả dân gian có thể thêm bớt, thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng và mục đích thể hiện tác phẩm Do những đặc điểm

đó, khi sử dụng NLVHDG, tùy thuộc vào từng nội dung bài học cụ thể, GV có thể chọn lọc những ngữ liệu phù hợp với bài học Cho nên, linh hoạt là một trong những yêu cầu của việc sử dụng NLVHDG Sự linh hoạt đó có thể được thực hiện khi khai thác nội dung ngữ liệu hoặc lựa chọn cách thức sử dụng

Về mặt nội dung, có thể nhấn mạnh một ý nghĩa nào đó trong các ý nghĩa tiềm tàng trong ngữ liệu Về mặt hình thức sử dụng, cách khai thác cũng cần có sự

đa dạng, sáng tạo trong việc dẫn ngữ liệu, phân tích ngữ liệu, khái quát ngữ liệu để việc sử dụng tránh được sự đơn điệu, nhàm chán, lãng phí thời gian Căn cứ vào thời lượng của tiết học, vào trình độ nhận thức của học sinh, vào khả năng của ngữ liệu, GV có thể có sự lược bỏ quy mô ngữ liệu, giản lược các thao tác phân tích, … Một vấn đề cũng cần phải được xử lý một cách hợp lý là mối quan hệ giữa NLVHDG với các loại ngữ liệu khác, tương quan giữa NLVHDG với những ngữ liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa Xác định mối quan hệ, tỷ lệ giữa các loại ngữ liệu nhằm làm cho bài học trở nên phong phú, sinh động

Tóm lại, khả năng và tác dụng của NLVHDG rất tiềm tàng và phong phú, nhưng khả năng và tác dụng đó có biến thành hiện thực hay không, còn phụ thuộc vào sự ứng biến nhanh nhạy, vào năng lực vận dụng của người GV, chủ thể quan trọng nhất của việc sử dụng ngữ liệu này trong dạy học Đạo đức

Trang 39

34

1.5.4 Cơ sở của việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian trong dạy môn Đạo đức

Như đã nói ở trên, việc sử dụng NLVHDG cần dựa vào những đặc trưng của từng thể loại và dựa vào mục tiêu, nội dung môn học để lựa chọn những ngữ liệu phù hợp, thiết thực nhằm mang lại hiệu quả cao Người viết nhận thấy, trong các thể loại của VHDG thì truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ là phù hợp và gần gũi với lứa tuổi học sinh Tiểu học

1.5.4.1 Truyện cổ tích

Truyện cổ tích: Là thể loại truyện cổ dân gian ra đời trong thời kì xã hội đã phân chia giai cấp nên mang chủ đề xã hội, phản ánh những xung đột đặc trưng cho các thời kì lịch sử khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp Vừa mô tả và lí giải hiện thực, cổ tích vừa thể hiện mơ ước của người lao động về một cuộc sống tốt đẹp hơn thực tại Ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kỳ còn mang lại cho cổ tích một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh

Truyện cổ tích có hai đặc trưng cơ bản

* Truyện cổ tích được sáng tác với mục đích giáo dục đạo đức cho trẻ em

Nó tác động đến trẻ em từ xúc cảm nghệ thuật chân thực đến nhận thức lí tính Tiếp xúc với cổ tích, trước hết trẻ em được vui buồn với số phận của những con người cụ thể, sau đó những quan niệm, nhận xét về cái đẹp, cái thiện mới dần dần được hình thành trong suy nghĩ, tác động đến hành vi của các em

Đối tượng miêu tả của truyện cổ tích là những con người “nhỏ bé” không có địa vị xã hội và tiềm lực kinh tế Họ đều là những người mang những phẩm chất lí tưởng theo quan niệm của người lao động xưa: cần cù, chân thật, nhân hậu Càng qua thử thách, phẩm chất của họ càng ngời sáng Vì vậy, hành vi và nhân cách của

họ có sức hấp dẫn đặc biệt với trẻ em, trở thành mẫu mực cho trẻ học tập Trái ngược với những con người lí tưởng đó là kẻ ác, những con người luôn áp chế người khác, lừa lọc, tham lam Trong xung đột với nhân vật chính diện, các nhân vật phản diện này đều thất bại dưới hình thức này hay hình thức khác, giữ chức năng là những phản ví dụ nhằm hoàn thiện đầy đủ ý nghĩa các bài học giáo dục đạo đức của cổ tích Vì vậy, song hành với cô Tấm là cô Cám, có Thạch Sanh thì phải

Trang 40

35

có Lí Thông, có người anh tham lam, xảo quyệt thì phải có người em thật thà, có cô chị độc ác thì phải có cô em nhân hậu, có ác quỷ thì phải có người hùng…Những xung đột xã hội được thể hiện trong cổ tích suy cho cùng là những xung đột được gói gọn trong phạm trù đạo đức với những mặt đối lập: thiện – ác, tốt – xấu, trung thực – gian xảo, chăm chỉ  lười biếng, độ lượng – hẹp hòi…Những biểu hiện tính cách ấy được miêu tả đầy ấn tượng và nhất quán qua các nhân vật chức năng, các nhân vật này có những tính cách được ấn định từ trước, không thay đổi theo hoàn cảnh, khắc sâu trong tâm trí trẻ em một hình ảnh nào đó, từ đó cung cấp cho trẻ một bài học đạo đức nào đó Khi đưa truyện cổ tích vào tiết học đạo đức thì hiệu quả giáo dục càng sâu sắc hơn

* Truyện cổ tích phản ánh thực tại một cách độc đáo

Nếu thần thoại và truyền thuyết chú ý đến những đề tài cao cả thuộc vấn đề tồn vong của một dân tộc thì truyện cổ tích lại quan tâm đến những quan hệ của con người trong sinh hoạt đời thường Tuy vậy, khác với hiện thực ngoài đời, các yếu tố

thực tế trong cổ tích luôn đan xen với yếu tố kì ảo, tạo ra một vườn cổ tích rất độc

đáo, những gì phi lí, không thể tồn tại ngoài đời thì đều được chấp nhận dễ dàng trong cổ tích Cũng từ đó, nó chiếu rọi một thứ ánh sáng đặc biệt vào cuộc đời tối tăm đầy đau khổ của con người, thôi thúc tiềm năng và niềm lạc quan của họ Vì vậy, sử dụng truyện cổ tích vào những giờ Đạo đức thì những yếu tố thần kì đó góp phần mang lại không khí hào hứng, khơi gợi động cơ học tập và sự thích thú cho các em

Căn cứ vào phương thức phản ánh có thể chia truyện cổ tích thành hai loại:

Cổ tích thần kì và Cổ tích sinh hoạt

* Cổ tích thần kì là loại cổ tích ra đời sớm, luôn luôn sử dụng yếu tố thần kì

khi xây dựng cốt truyện và miêu tả số phận nhân vật, nếu thiếu sự can thiệp của nó, câu chuyện khó lòng tiếp tục Vì vậy, mọi mâu thuẫn xung đột đều được giải quyết theo xu hướng thõa mãn khát vọng tự do hạnh phúc của người xưa Những con người nhỏ bé vốn bị thua thiệt đủ điều sẽ được thay đổi số phận Người em bất hạnh

sẽ được ra đảo vàng, những cô bé mồ côi sẽ trở thành những bà hoàng, anh trai cày

sẽ thành con rể phú ông, Thạch Sanh lên làm vua, những chàng ngốc thông minh,

Ngày đăng: 22/12/2015, 00:24

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w