1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam

100 510 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng “Phát triển thị trường công nghệ trê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM NGUYỆT MINH

NHẬN DIỆN RÀO CẢN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đắc Hiến

Hà Nội, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

3 Mục tiêu nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Mẫu khảo sát 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Kết cấu luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15

1.1 Các khái niệm cơ bản 15

1.1.1 Khái niệm thương mại hóa 15

1.1.2 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu 17

1.1.3 Khái niệm rào cản 18

1.1.3.1 Khái niệm 18

1.1.3.2 Các loại rào cản 19

1.1.4 Khái niệm khoa học, công nghệ 19

1.1.4.1 Khái niệm khoa học 19

1.1.4.2 Khái niệm công nghệ 20

1.2 Khái quát về thương mại hóa kết quả nghiên cứu 21

1.2.1 Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu 21

1.2.2 Điều kiện để thương mại hóa kết quả nghiên cứu 22

1.2.3 Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu 23

1.2.4 Các hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu 27

Kết luận Chương 1 29

CHƯƠNG 2 THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN 30

2.1 Các quy định pháp luật và chính sách hỗ trợ thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu 30

2.1.1 Quy định pháp luật về thương mại hóa kết quả nghiên cứu 30

2.1.2 Các Chương trình, Đề án liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu 34

2.1.2.1 Chương trình Hỗ trợ phát triển TSTT năm 2005 (Chương trình 68) 34

2.1.2.2 Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 35

2.1.2.3 Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình mẫu Thung lũng Silicon tại Việt Nam” 35

2.1.2.4 Các dự án liên quan (IPP, FIRST, BIPP) 36

Trang 4

2.1.3 Các mô hình và định chế hỗ trợ 37

2.2 Thực trạng về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các tổ chức KH&CN ở Việt Nam 40

2.3 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 43

2.3.1 Tổng quan về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 43

2.3.2 Thực trạng hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 47

2.3.2.1 Về kết quả nghiên cứu KH&CN 47

2.3.2.2 Về công trình khoa học công bố, văn bằng SHTT 52

2.3.2.3 Về hoạt động đào tạo 53

2.4 Một số rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN 55

2.4.1 Rào cản về pháp lý 55

2.4.2 Rào cản về chính sách hỗ trợ 56

2.4.2.1 Chính sách nhân lực, nhận thức của nhà khoa học 57

2.4.2.2 Chính sách về SHTT 58

2.4.2.3 Thiếu sự liên kết với doanh nghiệp, thị trường 59

2.4.3 Rào cản về tài chính 59

2.4.4 Rào cản về thị trường 61

Kết luận Chương 2 62

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ RÀO CẢN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 63

3.1 Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại một số nước trên thế giới 63

3.1.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 63

3.1.2 Kinh nghiệm của một số nước châu Á 64

3.2 Giải pháp về cơ sở pháp lý 66

3.3 Giải pháp về chính sách hỗ trợ 71

3.3.1 Chính sách về nhân lực 71

3.3.2 Chính sách TSTT 73

3.3.3 Hỗ trợ gắn kết với doanh nghiệp, thị trường 74

3.4 Giải pháp về tài chính 77

3.5 Giải pháp về thị trường công nghệ 83

Kết luận Chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 911

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Trần Đắc Hiến, giáo viên hướng dẫn của tôi, người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Thầy đã dành cho tôi nhiều thời gian quý báu để bình luận, nhận xét và đưa ra những ý kiến xác đáng, giúp tôi hoàn thiện luận văn một cách đầy đủ và tốt nhất có thể

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, của Khoa Khoa học Quản lý, đặc biệt là Thầy Vũ Cao Đàm, Thầy Trần Văn Hải và Thầy Đào Thanh Trường, đã trang bị cho tôi những kiến thức chuyên môn quý giá và truyền cảm hứng cho tôi, giúp tôi lựa chọn hướng đi phù hợp cho đề tài nghiên cứu của mình

Lời cảm ơn của tôi xin được gửi đến Lãnh đạo của các Viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam gồm: Viện Công nghệ sinh học, Viện Công nghệ môi trường, Viện Công nghệ vật liệu, Viện Hóa học, Viện Khoa học năng lượng, Viện Công nghệ thông tin, cùng các nhà khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện điều tra, khảo sát và trao đổi nhiều kinh nghiệm thực tế

Tôi cũng khó có thể hoàn thành luận văn nếu thiếu sự giúp đỡ về tài liệu và kinh nghiệm thực tế của TS Nguyễn Quang Tuấn – Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ; ThS Phùng Ngọc Tuấn Anh, Ban Kế hoạch tài chính –

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp tại cơ quan công tác (Viện Công nghệ sinh học) đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập chương trình cao học Quản lý Khoa học và Công nghệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Cảm ơn gia đình đã luôn ở bên, ủng hộ, và khích lệ tôi trong cuộc sống!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Phạm Nguyệt Minh

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Hình 1.1 Một số yếu tố tác động và thúc đẩy hoạt động thương mại

hóa kết quả nghiên cứu

24

Hình 2.4 Biểu đồ phân bố lực lượng cán bộ khoa học của Viện Hàn

lâm KHCNVN trong giai đoạn khảo sát 2009 – 2013

46

Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng các công bố khoa học, sáng chế, giải

pháp hữu ích của Viện Hàn lâm KHCNVN giai đoạn

2009-2013

52

Bảng 2.3 Số lượng nghiên cứu sinh và học viên cao học năm 2013 53

Hình 2.5 Tổng kinh phí Viê ̣n Hàn lâm KHCNVN giai đoa ̣n 2009 –

2013

61

Hình 3.1 Quy trình giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả

nghiên cứu KH&CN

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng

định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng “Phát triển thị trường công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm KH&CN (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định “Phát triển mạnh thị trường KH&CN gắn với việc bảo hộ quyền SHTT; có nhiều hình thức thông tin giới thiệu các hoạt động và sản phẩm KH&CN; hoàn thiện các định chế về mua bán các sản phẩm KH&CN trên thị trường” góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta1

Để thể chế hóa chủ trương trên, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều luật

và các văn bản hướng dẫn thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam (Luật KH&CN, Luật SHTT, Luật CGCN, Luật Công nghệ cao, các nghị định và thông tư hướng dẫn, v.v) Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các tổ chức KH&CN nhìn chung chưa đạt được kết quả như mong muốn

Tại Nghị định số 108/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHCNVN do Thủ tướng Chính phủ ký ban

hành ngày 25/12/2012 có nêu rõ: “Viện Hàn lâm KHCNVN là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ

và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật”2 Viện Hàn lâm KHCNVN có 51 đơn vị trực thuộc bao gồm: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 33 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học;

07 đơn vị sự nghiệp khác có chức năng phục vụ công tác quản lý và nghiên cứu

1

Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng,

http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankien daihoidang?categoryId=10000716&articleId=10038382

2 Nghị định số 108/2012/NĐ-CP ban hành ngày 25 tháng 12 năm 2012

Trang 9

khoa học, 04 đơn vị tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên và 01 doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra, Viện còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa

từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu, Trong nhiều năm qua, Viện Hàn lâm KHCNVN được Nhà nước từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ trong đó có 04 Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp viện khác Nhiều Phòng thí nghiệm của Viện được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Viện có các khu sản xuất thử nghiệm nhằm trực tiếp phục vụ công tác phát triển công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế Tính đến tháng 12/2014, Viện Hàn lâm KHCNVN có tổng số trên 4000 cán bộ, trong đó có 2419 là biên chế (2642 cán bộ trong chỉ tiêu biên chế được giao); 41 GS, 152 PGS, 31 TSKH, 707 TS, 846 ThS và 718 cán bộ, viên chức có trình độ đại học3

Là một Viện Hàn lâm có nhiệm vụ đầu tầu trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của cả nước, với cơ sở, tiềm lực KH&CN như vậy và được nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ nhưng hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vẫn chưa có những bước đột phá thực sự, số lượng đề tài, dự án được ứng dụng vào thực tiễn phục vụ thiết thực cho đời sống, phục vụ cho phát triển đất nước chưa nhiều, chưa xứng tầm với nhiệm vụ được giao, kể cả một số kết quả nghiên cứu đã đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích nhưng chưa thực sự phát huy được quyền SHTT đã được bảo hộ

và chưa được khai thác hiệu quả Theo số liệu thống kê từ năm 2010 đến nay, Viện Hàn lâm KHCNVN đã được cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho 33 bằng sáng chế và 26 bằng giải pháp hữu ích trong tổng số trên 100 bằng SHTT của Viện4 Tuy nhiên, số kết quả KHCN của Viện được ứng dụng, thương mại hóa vẫn còn hạn chế Vấn đề làm thế nào để thúc đẩy hơn nữa hoạt động thương mại hóa kết

3 http://vast.ac.vn/ : Báo cáo hoạt động hàng năm của Viện Hàn lâm KHCNVN

4 Theo số liệu báo cáo tại Hội thảo “Chính sách thúc đẩy thương mại hóa TSTT ở các viện nghiên cứu” do

Trang 10

quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN luôn được các bậc lãnh đạo Viện quan tâm

Xuất phát từ nhu cầu thực tế tại đơn vị đang công tác, tác giả định hướng

nghiên cứu và đề xuất đề tài: “Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa

kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” nhằm

phân tích thực trạng, nhận diện những rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu hiện tại Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp cơ sở

lý luận và thực tiễn về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN, trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ rào cản để các nhà quản lý có thể tham khảo, đưa ra các hành động cụ thể, phù hợp với tình hình hiện tại của các Viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên thế giới

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu có thể nảy sinh ở mọi giai đoạn của quá trình đổi mới: từ những ý tưởng ban đầu cho đến kết quả cuối cùng, theo Norman và cộng sự (1997) Nó có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như mua bản quyền công nghệ (licensing) hay như việc tạo ra các doanh nghiệp KH&CN từ các tổ chức KH&CN mẹ để tự thương mại hóa kết quả nghiên cứu của chính tổ chức đó (Koruna, 2004)

Việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới Ngay từ những năm 80 của thế

kỷ trước, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Hoa Kỳ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ Ví dụ, để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Hoa Kỳ ban hành Luật Bayh-Dole (Bayh-Dole Act 1980), quy định việc giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu có nguồn gốc kinh phí từ NSNN cho tổ chức KH&CN Cụ thể, đạo luật này giao quyền sở hữu các sáng chế được tạo ra bằng kinh phí nhà nước cho các trường đại học khai thác trong một thời hạn nhất định, nếu không khai thác được thì sau

Trang 11

thời gian đó trường đại học phải trả lại quyền sở hữu cho Nhà nước Trong những năm 90, các trường đại học Columbia, California và Stanford đã có nhiều thành tích trong CGCN Việc tác động của đạo luật này đến các nghiên cứu hàn lâm rất khiêm tốn, mà chủ yếu là tác động đến việc tăng cường công tác sáng chế và cấp phép sử dụng công nghệ (Mowery, 1998) Từ khi đạo luật này ra đời, các trường đại học của Hoa Kỳ đã đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ CGCN nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ Theo Mowery và cộng sự (2001), bản thân sự ra đời của Luật Bayh-Dole không phải là yếu tố duy nhất thúc đẩy chuyển giao kết quả R&D từ các trường đại học vào doanh nghiệp, nhưng nó là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình này Còn theo Markman và cộng sự (2009), cứ 1 đô la Mỹ đầu tư vào

tổ chức dịch vụ CGCN thì tổ chức đó nhận lại 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ CGCN Qua đó ta có thể thấy hiệu quả đầu tư thể hiện qua thu nhập hay lợi nhuận

từ hoạt động CGCN

Nghiên cứu của Karlsson Magnus (2004) bàn về thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ, cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động CGCN và những cải cách trong luật và chính sách của Hoa Kỳ nhằm mục đích chỉ ra những điểm mạnh hay

ưu điểm của Hoa Kỳ có thể áp dụng tại Thụy Điển để thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Einar Rasmussen (2008) có bài nghiên cứu về những giải pháp của chính phủ

để hỗ trợ hoạt động thương mại hóa nghiên cứu ở trường đại học: bài học kinh nghiệm từ Canada Nghiên cứu này xem xét cách hỗ trợ của chính phủ Canada nhằm hỗ trợ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu Các bài học được rút ra

từ trường hợp của Canada có liên quan đến việc các sáng kiến của chính phủ khuyến khích cách tiếp cận từ dưới lên như thế nào Điều này được thực hiện bằng cách chính phủ cung cấp nguồn lực để sử dụng trực tiếp trong các dự án thương mại hóa hoặc để phát triển chuyên môn trong hoạt động CGCN trong các trường đại học, bằng việc thử nghiệm các sáng kiến mới, hoặc tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các tổ chức thương mại hóa

Kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN có thể là đối tượng được bảo hộ

sở hữu công nghiệp hoặc không, nhưng tất cả đều là TSTT của tổ chức KH&CN đó Chính vì vậy, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng có thể được hiểu chính

Trang 12

là thương mại hóa TSTT Nghiên cứu của Bruce P Clayman và Adam Holbrook (2003) về thương mại hóa TSTT coi đó như là một yếu tố chính có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động đổi mới ở Canada

2.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ rất sớm Nghị quyết TW2 khóa VIII về KH&CN đã coi việc tạo lập thị trường cho KH&CN là một trong các giải pháp chủ yếu để phát triển KH&CN của đất nước Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư với nhiều chính sách nhằm bảo vệ TSTT và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu như Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi năm 2009), Luật CGCN năm 2006, Luật KH&CN năm 2000 (sửa đổi năm 2013), Luật Công nghệ cao năm 2008, Chương trình Hỗ trợ phát triển TSTT năm 2005 (Chương trình 68), Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020, v.v Đã có không ít viện nghiên cứu, trường đại học thành công trong việc CGCN, thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình nhưng nhìn chung số lượng còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của các tổ chức KH&CN

Đặng Duy Thịnh và cộng sự (2000) đã tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học thương mại hóa các hoạt động KH&CN ở Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra hoạt động KH&CN là quá trình chuyển hóa các nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học thành sản phẩm có thể bán ra thị trường hoặc là các quy trình công nghệ

có thể áp dụng vào thực tế Nghiên cứu của Đặng Duy Thịnh cũng đề xuất một số biện pháp mang tính định hướng và những nguyên tắc chung nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN ở nước ta như tăng cường xúc tiến năng lực thương mại hóa, thúc đẩy bảo hộ SHTT hay khuyến khích thành lập các doanh nghiệp KH&CN

Năm 2013, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN đã nghiệm

thu đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam”, do TS Nguyễn Quang Tuấn

chủ trì Nghiên cứu này đã chỉ ra cơ sở lý luận, thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN nói chung và một số

Trang 13

giải pháp vĩ mô Tuy nhiên, nghiên cứu này không đi sâu vào việc nhận diện những rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN

Tạp chí Cộng sản số 810 (tháng 4/2010) có bài viết “Thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Tuấn Thông qua việc phân

tích một số giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D của một số nước trên thế giới và đánh giá hiện trạng thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Tuấn đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả R&D ở nước ta Tuy nhiên, những giải pháp tác giả đề xuất còn chung chung, chưa đưa ra giải pháp rõ ràng có thể thực hiện ngay (ví dụ tác giả đề xuất giải pháp cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN nhưng vấn đề là cần hoàn thiện như thế nào?) Cũng như không chỉ ra những khó khăn hay rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam

Tác giả Nguyễn Vân Anh cũng có bài nghiên cứu trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 7 năm 2011 về thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhưng trên cơ sở tiếp cận từ quá trình R&D Bài viết đã trình bày những hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ quá trình R&D theo chiều xuôi và ngược, và một số hình thức khác (kể cả hình thức chưa có tại Việt Nam như: hình thành thị trường chứng khoán, bảo hiểm rủi ro đối với kết quả nghiên cứu) Tác giả cũng chỉ ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam, nhưng nhìn chung đó vẫn là những giải pháp mang tính vĩ mô, chưa có tính khả thi

cụ thể Bài viết không đề cập đến những khó khăn tồn tại của hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu R&D tại Việt Nam

Bàn về quá trình thương mại hóa các kết quả R&D, tác giả Trần Văn Hải

(Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) đã có bài viết “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu – Tiếp cận từ Quyền Sở hữu trí tuệ” trên Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 4 năm 2011 Tác giả tiếp cận từ hướng Luật SHTT, bàn về việc liệu

tất cả các kết quả R&D đều có thể thương mại hóa được hay không? Đồng thời đề xuất giải pháp trực tiếp (Thành lập các doanh nghiệp khởi nguồn từ cơ sở nghiên cứu hoặc từ các trường đại học) và gián tiếp (Đảm bảo khả năng thực thi quyền

Trang 14

SHTT) nhằm thúc đẩy hoạt động này Tác giả cũng đã chỉ rõ được trách nhiệm thực hiện những giải pháp này thuộc về ai, tuy nhiên, những khó khăn trong hoạt động thương mại hóa kết quả R&D thì tác giả chưa đề cập/ bàn đến

Xét số nhiệm vụ KH&CN các cấp hàng năm, các tổ chức KH&CN trong nước thực hiện khoảng 20.000 nhiệm vụ KH&CN, đóng góp kết quả vào nguồn TSTT có thể khai thác thương mại phục vụ phát triển sản xuất Tuy nhiên, hướng nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu theo tiêu chí ứng dụng vào khu vực doanh nghiệp sản xuất là điều cần phải quan tâm Theo thống kê của Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp KHCN, hiện Việt Nam có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức là chỉ khoảng 2.000 kết quả trong số 20.000 nhiệm vụ KH&CN là có khả năng ứng dụng thực tế, số còn lại là các nghiên cứu không phải nghiên cứu ứng dụng, hoặc những nghiên cứu không thể ứng dụng được vào thực tế sản xuất trong nước Đồng thời, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các tổ chức KH&CN vào doanh nghiệp còn rất hạn chế5

Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các tổ chức KH&CN trong nước thường nghiên cứu cái mình có, chứ không phải cái xã hội hay thị trường cần; hoặc nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu KH&CN của thế giới để vận dụng vào Việt Nam, ít công trình sáng tạo

Trên cơ sở tìm hiểu, kế thừa kết quả các nghiên cứu đi trước, Luận văn tập trung vào việc phân tích và làm rõ những vấn đề mà các nghiên cứu đi trước chưa

thực hiện, đó là nhận diện những rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết

quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ

thể nhằm khắc phục những rào cản này để hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN nói riêng và tại các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp KH&CN nói chung ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích thực trạng, nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN và đưa ra giải pháp tháo gỡ rào cản

5 Phùng Văn Quân, Diễn đàn “Làm thế nào để thương mại hóa các đề tài nghiên cứu khoa học”

Trang 15

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thực trạng thương mại hóa

- Phân tích thực trạng, chỉ ra những rào cản

- Đề xuất một số giải pháp tháo gỡ rào cản nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: những rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả

nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN

- Phạm vi thời gian: Luận văn khai khác các số liệu liên quan trong giai đoạn

Việc chọn mẫu khảo sát dựa trên tiêu chí là những Viện có kết quả nghiên cứu ứng dụng được vào thực tế

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Yếu tố nào là rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN?

- Để khắc phục những rào cản đó cần có những giải pháp nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Cơ sở pháp lý, chính sách hỗ trợ, sự hạn chế về tài chính và thị trường công nghệ chưa phát triển là rào cản chủ yếu trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN

- Để tháo gỡ những rào cản đối với hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN cần có cơ sở pháp lý, chính sách hỗ trợ phù hợp,

Trang 16

giải pháp về tài chính cho các Viện nghiên cứu và hỗ trợ thị trường công nghệ phát triển

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật và các văn bản liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo, tạp chí, giáo trình, v.v để kế thừa kết quả đã được nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở các nguồn tài liệu, dữ liệu, báo cáo về việc quản lý và thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các Viện được chọn khảo sát từ năm 2009 đến năm 2013 (giai đoạn 05 năm), tổng hợp và phân tích

dữ liệu đã thu thập được

- Phương pháp trắc nghiệm: phỏng vấn, khảo sát thực tế Phỏng vấn một số cán

bộ quản lý, nhà khoa học của các Viện được khảo sát và một số ở các đơn vị liên quan Thực hiện điều tra khảo sát thực tế về tình hình hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thực trạng hiện nay tại các Viện được khảo sát

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Chương 2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN, thực trạng và rào cản

Chương 3 Giải pháp tháo gỡ rào cản trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm thương mại hóa

Thuật ngữ thương mại ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn bán của các thương gia Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa với mục đích kiếm lời Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnh vực liên quan đến mua bán hàng hóa, ban đầu là các dịch vụ kèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng, là tất

cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau bán hàng Do sự phát triển của thương mại trên phạm vi toàn cầu mà đã nảy sinh nhiều cách hiểu về khái niệm thương mại của nhiều nước Nhằm mục đích giảm bớt sự khác biệt, từng bước nhất thể hóa cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngày 21/6/1985 Ủy ban Pháp luật thương mại Liên hợp quốc (UNCITRAL: United Nations Commission on International Trade Law)

đã thông qua Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế trong đó đưa ra khái niệm

về thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải hợp đồng Những mối quan hệ thương mại gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt hoặc đường bộ6

Theo Jobber (2007) và Dibb (2012), thương mại hóa là quá trình (hoặc chu trình) giới thiệu một sản phẩm mới hoặc một phương pháp mới ra thị trường

Trang 18

Từ điển Free Dictionary đưa ra khái niệm thương mại hóa là sự áp dụng các phương pháp hoặc các hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận

Từ điển Oxford lại đưa ra khái niệm thương mại hóa là quá trình đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ vào trạng thái sẵn sàng có thể bán được ra thị trường

Từ điển Cambridge Advanced có đưa ra khái niệm thương mại hóa là việc tổ chức cái gì đó để tạo ra lợi nhuận, còn công nghệ là nghiên cứu và tri thức thực nghiệm, đặc biệt là tri thức công nghiệp, sử dụng các phát hiện khoa học

Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2003 nêu rõ:

“Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”7

Ở Việt Nam, không có nhiều văn bản đưa ra khái niệm về thương mại hóa Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu trong giới hạn một số loại văn bản liên quan nhưng

có rất ít thông tin về khái niệm này

Tại Điều 3, Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại hóa theo

được định nghĩa: “Hoạt động thương mại hóa là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”8

Theo tác giả Nguyễn Quang Tuấn đưa ra khái niệm “Thương mại hóa có thể được hiểu một cách ngắn gọn là một quá trình sinh lợi” [16, tr.12]

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan khái niệm thương mại hóa ở phạm vi quốc

tế và trong nước, kết hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam, tác giả nhận định khái niệm thương mại hóa được đề cập trong Luật Thương mại năm 2005 là phù hợp và

sẽ sử dụng khái niệm này xuyên suốt luận văn Như vậy, tác giả sử dụng khái niệm

về thương mại hóa như sau: “Hoạt động thương mại hóa là hoạt động sinh lợi,

7 Lê Hoàng Oanh (2004), Khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam, tạp chí Khoa học pháp luật 3/2004

8 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005

Trang 19

bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

1.1.2 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ thương mại hóa kết quả R&D thường được sử dụng đan xen với các thuật ngữ khác như: “thương mại hóa công nghệ”, “thương mại hóa kết quả nghiên cứu”, hay “thương mại hóa hoạt động KH&CN” Ở đây, trong giới hạn nội dung của luận văn, tác giả không bàn luận về việc các thuật ngữ có sự khác nhau hay không, hay phân biệt như thế nào Luận văn chỉ tập trung vào vấn đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Do đó, trong luận văn này, tác giả

sử dụng thuật ngữ “thương mại hóa kết quả nghiên cứu”, “thương mại hóa công nghệ” đồng nhất nghĩa với thuật ngữ “thương mại hóa kết quả R&D”

Theo Siegel và cộng sự (1995), thương mại hóa công nghệ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự chuyển hóa công nghệ thành lợi nhuận Ở đây, khái niệm thương mại hóa công nghệ theo nghĩa hẹp là việc Siegel và cộng sự chỉ nhấn mạnh vào yếu

tố lợi nhuận tài chính mà không phải là lợi ích giữa nói chung Trong tiếng Anh có

sự phân biệt nghĩa rõ ràng giữa “profit” và “benefit”, [38, pg.18]

Còn theo nghiên cứu thương mại hóa công nghệ mới một cách nhanh chóng

và có lợi nhuận của Goyal Jay (2006, Commercializing new technology profittably and quickly), thương mại hóa kết quả R&D là hoạt động đưa các ý tưởng, khái niệm

vào sản xuất, kinh doanh

Trong khi đó, các nghiên cứu của Isabelle (2004) lại xem việc thương mại hóa kết quả R&D là một quá trình chuyển hóa tri thức nghiên cứu thành các sản phẩm mới (hoặc cải tiến), các quá trình hoặc dịch vụ và giới thiệu chúng ra thị trường để tạo ra các lợi ích kinh tế McCoy (2007) là tác giả có khái niệm tương đối giống với Isabelle, định nghĩa thương mại hóa kết quả R&D là quá trình phát hiện tri thức, phát triển các tri thức đó thành công nghệ và chuyển hóa công nghệ thành các sản phẩm mới hoặc các quy trình, dịch vụ được sử dụng hoặc bán ra thị trường9

9 Isabelle, Diane A (2004), S&T commercialization of federal research laboratories and university research,

Trang 20

Ở Scotland, thương mại hoá kết quả nghiên cứu được định nghĩa là quá trình chuyển hoá các nghiên cứu thành các sản phẩm bán ở thị trường và các qui trình công nghệ công nghiệp và người ta cho rằng con đường thương mại hoá là quá trình gồm 2 thành phần (Scottish Enteprise, The Royal Society of Edinburgh, 1996):

 Các hoạt động thương mại của các trường đại học và các viện nghiên cứu, bao gồm "bán" các hoạt động đào tạo, hợp đồng nghiên cứu và cộng tác nghiên cứu và SHTT Các hoạt động này tạo ra thu nhập cho viện, trường

 Các hoạt động chuyển hoá nghiên cứu khoa học và tri thức khoa học thành sản phẩm thương mại và qui trình công nghệ sản xuất Kết quả của quá trình này có ý nghĩa tác động lâu dài đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tuy nhiên không có nhiều khái niệm chính xác về thương mại hóa kết quả nghiên cứu được đưa ra mà chủ yếu chú trọng bàn về vai trò của thương mại hóa Nguyễn Quang Tuấn (2013) đưa ra nhận định thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu KH&CN vào sản xuất, đời sống hoặc bất

kỳ hoạt động tạo ra lợi ích kinh tế nào khác

Từ tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả đưa ra khái niệm

thương mại hóa kết quả R&D của mình như sau: “Thương mại hóa kết quả nghiên

cứu là sự ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào đời sống xã hội và đem lại lợi ích cho xã hội” Ở đây “lợi ích” trong khái niệm của tác giả bao gồm nhưng không giới

hạn lợi ích về mặt ứng dụng KH&CN và lợi nhuận về mặt kinh tế

1.1.3 Khái niệm rào cản

1.1.3.1 Khái niệm

McCoy Andrew Patton (2007), Estaclishing a commercialization model for innovative products in the residential construction industry, State University of Virginia

Trang 21

Rào cản theo từ điển Oxford và từ điển Tiếng Việt là rào chắn hoặc một chướng ngại vật để ngăn, không cho vượt qua, dùng để ví sự trở ngại lớn khiến ngăn cách, cản trở trong việc giao lưu, thông thương10

Theo nhận định của tác giả, rào cản là những tác động gây cản trở đối với việc/ hoạt động nào đó Do vậy, có thể hiểu, rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là những tác động gây cản trở đối với hoạt động thương mại kết quả nghiên cứu

1.1.4 Khái niệm khoa học, công nghệ

1.1.4.1 Khái niệm khoa học

Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì khoa học là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa

10 http://www.oxforddictionaries.com/definition/english/barrier và theo Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển

Trang 22

Luật KH&CN 2013 định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” 1.1.4.2 Khái niệm công nghệ

Khái niệm về công nghệ được bàn nhiều trong phạm vi trong nước và quốc

tế Có thể điểm qua một số khái niệm tiêu biểu như sau:

Theo tác giả F.R.Root, “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” Theo khái

niệm này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ

là áp dụng vào sản xuất và tạo ra sản phẩm mới

Còn theo E.M Graham (1988), Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ Với cách hiểu của Graham thì công nghệ chính là thứ hàng hóa vô hình, người có được công nghệ là người nắm được lợi thế trong việc sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ nhờ áp dụng công nghệ đó

Theo OECD, công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản than chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước trong hoàn cảnh cụ thể nhất định11

Theo tác giả Vũ Cao Đàm, công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất/ thông tin, [07, tr.3]

Còn theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006) và Luật KH&CN (2013):

“Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”12

Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin sử dụng khái niệm Khoa học, Công nghệ như trong Luật KH&CN 2013 bởi đây là khái niệm được sử dụng xuyên suốt trong các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến hoạt động KH&CN

11 Xin tham khảo thêm Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2003), Công nghệ và Phát triển thị trường

công nghệ ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr 3-4

12 Xin tham khảo Luật Chuyển giao công nghệ 2006 và Luật Khoa học và Công nghệ 2013

Trang 23

1.2 Khái quát về thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.2.1 Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Ngày nay, KH&CN đã trở thành nguồn động lực trực tiếp, một nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Chính vì vậy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu – một trong những hướng đi tích cực góp phần thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và đẩy nhanh ứng dụng kết quả nghiên cứu vào cuộc sống đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu bởi vai trò kinh tế của

nó đối với xã hội

Thu nhập từ hoạt động thương mại hóa TSTT của các trường đại học và viện nghiên cứu có sự khác nhau đáng kể ở mỗi nước Theo thống kê của OECD năm

2003, một tổ chức KH&CN trong một năm có thể tạo ra thu nhập từ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ vài nghìn EUR đến vài triệu EUR Cũng theo báo cáo này, thu nhập bình quân của một trường đại học ở Hoa Kỳ từ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là 1,24 triệu EUR/ năm13

Ngoài những lợi ích trực tiếp về mặt kinh tế từ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, việc các doanh nghiệp KH&CN được thành lập và một số doanh nghiệp thành công sau đó đem lại lợi ích khó có thể đong đếm được Nó không chỉ tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người trong doanh nghiệp mà quan trọng hơn là còn tạo ra những sản phẩm, dịch vụ tốt, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, cho xã hội

Kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay được cấu thành

từ ba nguồn chính: NSNN, vốn của doanh nghiệp và vốn của nước ngoài Trong đó, kinh phí NSNN từ năm 2000 đến nay gần đạt 2% tổng chi ngân sách, tương đương 0,52% GDP cả nước Trong đó, chi cho đầu tư cho hoạt động phát triển khoảng 43%, còn lại chi cho sự nghiệp khoa học khoảng 57% (Hồ Ngọc Luật, 2010) Do

đó, vấn đề làm thế nào để thu hồi vốn tối đa có thể, tái đầu tư, đem lại lợi ích cho xã hội theo nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau; đánh giá hiệu quả đầu tư hoạt động KH&CN là việc Nhà nước rất quan tâm

Trang 24

Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 418/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 với quan điểm phát triển KH&CN: Phát triển thị trường công nghệ gắn với thực thi pháp luật về SHTT nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo KH&CN Cùng với đó là các giải pháp mang tính định hướng được đưa ra: Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm KH&CN trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường; Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ hiện đại, trước hết đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao; Nhà nước đầu tư xây dựng một số trung tâm dịch vụ KH&CN, CGCN làm nòng cốt cho hệ thống tổ chức dịch vụ môi giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá, định giá, thẩm định, giám định công nghệ; Đẩy mạnh thực thi pháp luật về SHTT, xây dựng Chương trình quốc gia về SHTT; Nghiên cứu bổ sung các định chế liên quan đến SHTT và xây dựng hệ thống các tòa án hành chính và dân sự về SHTT Tất cả những điều này đều nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam hiện nay Điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước, Chính phủ về vai trò quan trọng của hoạt động thương mại hóa kết quả R&D đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam

1.2.2 Điều kiện để thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Khi đề cập đến vấn đề thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tồn tại ít nhất

ba khía cạnh cốt lõi chúng ta cần quan tâm, đó là:

- Thương mại hóa cái gì?

- Thương mại hóa cho ai?

- Thương mại hóa như thế nào/ bằng cách nào?

Trả lời cho ba câu hỏi trên chính là những yếu tố cơ bản để có thể thương mại hóa kết quả R&D, đồng thời chỉ ra được những khó khăn thách thức, đó chính là:

- Thương mại hóa cái xã hội cần, ở đây chính là những kết quả nghiên cứu, những công nghệ có khả năng ứng dụng thực tế, đáp ứng nhu cầu của một

Trang 25

bộ phận/ nhóm đối tượng trong xã hội Vấn đề đặt ra là trong rất nhiều kết quả nghiên cứu, làm sao lựa chọn ra kết quả nào có giá trị sử dụng nhất, có khả năng thương mại hóa nhất?

- Thương mại hóa cho đúng đối tượng cần Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao xác định được chính xác nhóm đối tượng có nhu cầu thực sự? Có thể qua đây, một yếu tố nữa không kém phần quan trọng trong hoạt động thương mại hóa cần được nhắc đến, đó là các định chế trung gian, là cầu nối cho các viện nghiên cứu

và đối tượng cần/ hay doanh nghiệp đầu tư Xác định được thị trường phù hợp

- Câu hỏi thứ ba có nhiều cách khác nhau để trả lời, tùy thuộc vào từng nhà nghiên cứu/ quản lý/ đầu tư hay sản xuất Không có một câu trả lời cụ thể chính xác hay cách làm cụ thể nào cho câu hỏi này được, bởi nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, và đây cũng là một trong những vấn đề khó khăn phải đối mặt khi thương mại hóa kết quả R&D

Ba khía cạnh đề cập phía trên chính là những điều kiện cần tối thiểu để có thể thương mại hóa một kết quả nghiên cứu Do đó, nói một cách khác, điều kiện cần thiết để có thể thương mại hóa kết quả nghiên cứu đó là:

- Có đối tượng để thương mại hóa (kết quả nghiên cứu)

1.2.3 Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trên thực tế, để đưa kết quả của nghiên cứu vào thực tiễn, tức thương mại hóa được kết quả, sản phẩm đó, tồn tại một khoảng cách gồm nhiều yếu tố tác động vào hoạt động thương mại hóa này Theo Quỹ nghiên cứu của Trường Đại học

Trang 26

Wisconsin, Milwaukee, Hoa Kỳ, cần có những sự hỗ trợ là chất xúc tác để điền vào khoảng cách này, ví dụ như các đơn vị hợp tác nghiên cứu, việc quản lý TSTT, các quỹ hỗ trợ, sự hình thành doanh nghiệp spin-offs/ start-ups, tìm kiếm các đối tác để hợp tác, v.v Có thể nói đây là một trong những yếu tố tác động và thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN

Hình 1.1 Một số yếu tố tác động và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Nguồn: UWM Research Foundation (University of Wisconsin, Milwaukee)

Tài chính là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu Theo Norris & Vaizey (1973), kinh phí cho giai đoạn nghiên cứu chỉ chiếm khoảng 5 – 10%, giai đoạn phát triển và hoàn thiện công nghệ chiếm

10 – 20% và giai đoạn thương mại hóa chiếm từ 70 – 80% tổng chi phí từ nghiên cứu đến thương mại hóa thành công kết quả nghiên cứu Các Viện nghiên cứu thường chỉ được cấp kinh phí để thực hiện ở bước nghiên cứu, chỉ một số kết quả nghiên cứu sau đó được cấp kinh phí để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, lập dự án sản xuất thử nghiệm Nguyên nhân bởi nguồn kinh phí hạn hẹp từ NSNN

và cơ chế phân bổ kinh phí còn dàn trải từ các Bộ, ngành, cơ quan, chưa có sự tập trung đầu tư hiệu quả

Ngoài yếu tố tài chính, còn nhiều yếu tố tác động đến hoạt động này, có thể

kể đến các yếu tố chính như: các cán bộ nghiên cứu; các tổ chức KH&CN; doanh nghiệp mua kết quả nghiên cứu, công nghệ; các định chế trung gian, thị trường công nghệ; các cơ chế, chính sách của Nhà nước

Thứ nhất, về yếu tố các cán bộ nghiên cứu, cần có tinh thần kinh thương của

các cán bộ này Trên thực tế, đa số các kết quả nghiên cứu ban đầu chưa thể sẵn sàng ngay cho việc thương mại hóa, do đó nó đòi hỏi sự tiếp tục theo đuổi nghiên

Trang 27

cứu của các nhà khoa học để có thể đưa kết quả nghiên cứu đó vào sản xuất, kinh doanh (Hughes et al., 2011) Nếu các cán bộ nghiên cứu này không có tinh thần kinh thương, chỉ đơn thuần nghiên cứu thì rất khó để đưa một kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn, bởi khi kết thúc một đề tài họ thường chuyển sang thực hiện đề tài khác chứ không tiếp tục nghiên cứu, triển khai để đưa ra sản phẩm cuối cùng

Thứ hai, đối với các tổ chức KH&CN, sự tác động đến hoạt động thương mại

hóa phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu của tổ chức KH&CN

đó Kết quả nghiên cứu của một tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản thuần túy thì

sẽ khó (hoặc không thể) đưa vào thương mại hóa so với kết quả ở một tổ chức KH&CN khác nghiên cứu định hướng ứng dụng Ngoài ra, vai trò lãnh đạo của tổ chức KH&CN cũng đóng vai trò quan trọng tác động đến hoạt động thương mại hóa Bởi đường lối phát triển và những quyết định của người lãnh đạo sẽ ảnh hưởng đến sự hoạt động của tổ chức là điều tất yếu Đồng thời, những chính sách của tổ chức KH&CN sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại hóa nếu tổ chức KH&CN đó quan tâm và chú trọng đến hoạt động này

Thứ ba, về yếu tố các doanh nghiệp và thị trường công nghệ trong nước, gần

90% các doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ (có vốn dưới 10 tỷ đồng) Đối với các doanh nghiệp lớn, mô hình tập đoàn thì chủ yếu là doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, hoặc tập đoàn kinh tế nhà nước Các doanh nghiệp lớn có kinh phí đầu tư chi cho hoạt động R&D riêng chủ yếu sẽ ứng dụng các kết quả R&D của họ, nghiên cứu theo yêu cầu của doanh nghiệp Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có kinh phí để đầu tư riêng cho hoạt động R&D, lại thường có xu hướng mua/ nhập công nghệ, thiết bị từ nước ngoài Mặc dù chi phí ban đầu bỏ ra có thể lớn, nhưng được yên tâm, và đảm bảo về mặt chất lượng Các doanh nghiệp này thường e dè trước kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN trong nước Nguyên nhân bởi các kết quả nghiên cứu này chưa thực sự sẵn sàng ứng dụng hoặc đưa ngay vào sản xuất, kinh doanh được, mà cần trải qua quá trình đầu tư kinh phí để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình, công nghệ và giai đoạn thương mại hóa Kinh phí cho hoạt động này không hề nhỏ, mà rủi ro cao Do

đó, các kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN chưa hấp dẫn các doanh

Trang 28

nghiệp trong nước Hay nói cách khác, thị trường công nghệ chưa phát triển bởi cả hai phía cung và cầu chưa tìm được tiếng nói chung

Thứ tư, yếu tố các định chế trung gian cũng góp phần tác động đến hoạt động

thương mại hóa kết quả R&D Có thể nói, thương mại hóa kết quả R&D là một hoạt động thương mại hóa đặc thù so với các hoạt động thương mại hóa khác Đặc thù thứ nhất ở đây là sự bất bình đẳng trong thông tin hai chiều, giữa bên bán và bên mua Một mặt, các nhà khoa học, tổ chức KH&CN không biết nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp, hay nói cách khác là thị trường là gì Mặt khác, các doanh nghiệp cũng không có kênh thông tin để biết các nhà khoa học đã nghiên cứu ra cái gì? Do

đó, việc hình thành các tổ chức dịch vụ CGCN phục vụ cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động này phát triển Đặc thù thứ hai là sự khó khăn trong việc đánh giá và định giá công nghệ Đối với các hàng hóa ở thị trường khác ví dụ như thị trường bất động sản, một bên muốn mua nhà có thể chưa biết chính xác giá nhà đó là bao nhiêu, nhưng có thể tham khảo giá các nhà bên cạnh, xung quanh, cùng khu vực để có cơ sở làm tham chiếu, bởi giá cả thị trường bất động sản là công khai, bên mua hoàn toàn có thể thăm dò, tham khảo Tuy nhiên, đối với một kết quả nghiên cứu thì bên mua không thể áp dụng biện pháp tương tự như vậy Do đó, việc hình thành và phát triển các tổ chức đánh giá, và định giá công nghệ là hoàn toàn cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Thứ năm, một yếu tố quan trọng khác tác động đến thương mại hóa kết quả

R&D là cơ chế, chính sách của Nhà nước, hay nói cách khác chính là vai trò của Nhà nước trong hoạt động này Từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, việc can thiệp của Nhà nước vào hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là việc cần thiết Ví dụ, muốn hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu phát triển nhưng Nhà nước không có Luật SHTT để bảo vệ quyền sở hữu cho tác giả, chủ sở hữu (hoặc có nhưng không có tính thực thi cao), không có những chính sách hỗ trợ,

ưu đãi cho các doanh nghiệp KH&CN, cho các tổ chức KH&CN đầu tư nghiên cứu, không tạo điều kiện cho các cầu nối là định chế trung gian hoạt động thì tự bản thân hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu không thể phát triển được Do đó, Nhà nước đóng vai trò tiên quyết trong việc định hướng và hoạch định chính sách,

Trang 29

cần đưa ra những cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả R&D

1.2.4 Các hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Theo Cripps và cộng sự (1999), có nhiều hình thức để thực hiện hoạt động thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khác nhau như ấn phẩm, giáo dục đào tạo, hợp đồng nghiên cứu, tư vấn, CGCN, thành lập các doanh nghiệp KH&CN, các liên doanh Trong đó, hình thức thương mại hóa phổ biến nhất là CGCN và hình thành doanh nghiệp KH&CN

Chuyển giao công nghệ, theo khái niệm của OECD (2003), là sự thỏa thuận

giữa các chủ sở hữu TSTT và tổ chức, cá nhân về việc sử dụng, thay đổi hoặc bán lại TSTT đó Còn Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO xác định, CGCN bao gồm việc đảm bảo nhiều quyền khác nhau phụ thuộc và nhu cầu của các bên tham gia Những quyền này có thể khác nhau ở từng nước, phụ thuộc vào việc vận dụng các luật về SHTT và CGCN ở những nước đó Theo Luật CGCN năm 2006 của Việt Nam thì, CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ Việc CGCN được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:

1 Hợp đồng CGCN độc lập;

2 Phần CGCN trong dự án hoặc hợp đồng sau đây:

a) Dự án đầu tư; b) Hợp đồng nhượng quyền thương mại; c) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; d) Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo CGCN;

3 Hình thức CGCN khác theo quy định của pháp luật

Doanh nghiệp KH&CN, là một hình thức thương mại hóa ngày càng phổ

biến ở các nước khối OECD, đặc biệt là hình thức này đã rất phổ biến ở các nước phát triển, ví dụ như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản Doanh nghiệp KH&CN xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX, xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) được hình thành ở các nước công nghiệp phát triển Spin – off được khởi nguồn từ Trường đại học/ Viện nghiên

Trang 30

vào quá trình quản lý của doanh nghiệp Start – up chỉ sự khởi nghiệp của một doanh nghiệp mới hình thành ngoài Trường đại học/ Viện nghiên cứu trên nền tảng kết quả KH&CN14 Mặc dù có sự khác nhau giữa spin-off và start-up, nhưng giữa chúng đều có đặc điểm chung là: (1) Khởi đầu một doanh nghiệp mới dựa trên kết quả nghiên cứu KH&CN; (2) Doanh nghiệp có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả KH&CN để sản xuất các loại sản phẩm mà người tiêu dùng có nhu cầu

Ngoài hai hình thức thương mại hóa kết quả R&D chủ yếu đã đề cập ở trên, thực tế còn tồn tại nhiều hình thức thương mại hóa khác ví dụ như xuất bản các ấn phẩm, các dịch vụ tư vấn công nghệ, v.v Do đó, ta có thể chia thành hai loại là hình thức thương mại hóa trực tiếp và hình thức thương mại hóa gián tiếp như sau:

Bảng 1.1 Các hình thức thương mại hóa kết quả R&D

Hình thức thương mại hóa trực tiếp Hình thức thương mại hóa gián tiếp

Hình thành doanh nghiệp KH&CN Giảng dạy

Hợp đồng dịch vụ, tư vấn có ứng dụng

kết quả R&D

Mở khóa đào tạo

Thành lập các liên doanh, hợp tác nghiên

cứu

Bài viết trên các tạp chí

Trực tiếp bán kết quả nghiên cứu Báo cáo tại các hội nghị/ hội thảo

Việc phân loại các hình thức thương mại hóa như trên cũng phù hợp với khái

niệm mà tác giả đã đưa ra “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là sự ứng dụng

các kết quả nghiên cứu vào đời sống xã hội và đem lại lợi ích cho xã hội” Ở đây

“lợi ích” trong khái niệm của tác giả bao gồm nhưng không giới hạn lợi ích về mặt ứng dụng KH&CN và lợi nhuận về mặt kinh tế Trong các hình thức thương mại hóa gián tiếp, có thể không đem lại nhiều lợi nhuận về mặt kinh tế, nhưng việc truyền tải được kiến thức, kết quả nghiên cứu KH&CN cho nhiều người trong xã

14 Barbara Bigliardi, Francesco Galati, Chiara Verbano (2013), “Evaluating Performance of University Spin – Off Companies: lessons from Italy”, Journal of Technology Management & Innovation 2013, Volum 8, Issue 2, ISSN:0718 – 2724;

Tindara Abbate, Fabrizio Cesaroni (2014), “Market Orientation and academic spin-off firms”, Working Paper, ISSN 1989-8843, Universidad Carlos III de Madrid;

Trang 31

hội cũng đem lại những lợi ích đáng kể, mà những lợi ích này nhiều khả năng đem lại lợi nhuận kinh tế về sau

* Kết luận Chương 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày một cách tổng quát cơ sở lý luận về hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, những khái niệm về khoa học, công nghệ, thương mại hóa, rào cản trên cơ sở của việc nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, khai thác từ những tài liệu, nghiên cứu liên quan Nội dung được đề cập trong chương này sẽ là cơ sở để tác giả phân tích thực trạng, nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN và qua đó đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những rào cản đó

Trang 32

CHƯƠNG 2

THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN 2.1 Các quy định pháp luật và chính sách hỗ trợ thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.1.1 Quy định pháp luật về thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Luật Khoa học và Công nghệ 2013

Luật KH&CN 2013 (sửa đổi từ Luật KH&CN 2000) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2013 Nhiều vấn đề mới thể hiện quan điểm đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động KH&CN, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã được thể hiện trong Luật KH&CN sửa đổi lần này

Nhằm quản lý hiệu quả hơn hoạt động của các tổ chức KH&CN, đặc biệt là các tổ chức KH&CN công lập, Luật quy định các tổ chức KH&CN được phân loại theo cấp quản lý, theo chức năng và theo hình thức sở hữu

Đối với kinh phí từ nguồn NSNN: Luật quy định Nhà nước bảo đảm chi cho KH&CN từ 2% trở lên trong tổng chi NSNN hàng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH&CN Bên cạnh đó, Luật cũng quy định mục đích sử dụng NSNN cho KH&CN, trong đó đáng chú ý là việc sử dụng NSNN trong việc mua kết quả nghiên cứu, hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao, thiết

kế, thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài thuộc các lĩnh vực ưu tiên; áp dụng

cơ chế khoán chi cho các hoạt động KH&CN sử dụng NSNN; cơ chế đầu tư đặc biệt để thực hiện các dự án KH&CN đặc biệt, quy mô lớn phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc có tác động mạnh đến năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm quốc gia

Luật quy định các doanh nghiệp nhà nước phải thành lập Quỹ phát triển KH&CN Doanh nghiệp ngoài nhà nước được khuyến khích trích thu nhập tính thuế

để thành lập Quỹ phát triển KH&CN của mình (nhưng không quy định mức tối đa

Trang 33

được trích) hoặc đóng góp vào Quỹ phát triển KH&CN của ngành, địa phương và được hưởng quyền lợi theo quy định của Quỹ

Để khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp KH&CN, Luật quy định doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi: được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu kết quả KH&CN thuộc sở hữu nhà nước; được miễn, giảm, ưu đãi thuế; được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước

Để tạo điều kiện cho việc ứng dụng kết quả nghiên cứu, Luật quy định trách nhiệm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu của bên đề xuất đặt hàng hoặc đặt hàng thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN Trường hợp tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN không thực hiện trách nhiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu sẽ không được tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN trong thời hạn ba năm kể từ ngày bị xử lý vi phạm

Luật cũng quy định về việc khuyến khích ứng dụng kết quả R&D vào sản xuất, đời sống là một trong những tiêu chí chủ yếu để đánh giá năng lực của tác giả, người đứng đầu tổ chức KH&CN, doanh nghiệp; là căn cứ để Nhà nước ưu tiên khi xét tuyển chọn, giao thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN; được các quỹ của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN xét hỗ trợ kinh phí hoạt động KH&CN

Để đảm bảo quyền lợi của nhà khoa học, nhất là đối với các nghiên cứu sử dụng NSNN, Luật quy định về quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, trong đó quy định đối với kết quả nghiên cứu thuộc sở hữu nhà nước được đại diện chủ sở hữu nhà nước xét giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu, quyền sử dụng cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN hoặc tổ chức có khả năng thương mại hóa kết quả

Trang 34

quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu sử dụng NSNN

được chia cho tác giả tối thiểu 30%; phần còn lại được phân chia giữa chủ sở hữu,

cơ quan chủ trì và người môi giới.15

Luật Chuyển giao công nghệ 2006

Quốc hội ban hành Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, khẳng định Việt Nam thực sự coi KH&CN là quốc sách Việc luật hóa các quy định của Nhà nước nhằm tạo nên một sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các quy định về CGCN Luật CGCN quy định cả các định chế trung gian phục vụ cho hoạt động CGCN, các biện pháp khuyến khích CGCN, Quỹ đổi mới công nghệ Quốc gia

Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi năm 2009

Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH12, gồm 18 Chương, 222 Điều quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó Trong Luật nêu rõ đối tượng quyền SHTT bao gồm: i) Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá ii) Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý iii) Đối tượng quyền đối với giống cây trồng

là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch Do đó, mọi kết quả nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn trong quy định (hội tủ đủ ba điều kiện: có tính mới, có tính sáng tạo và

có khả năng áp dụng công nghiệp) sẽ được bảo hộ SHTT (đối với đối tượng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp) nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình

Luật Công nghệ cao 2008

Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 gồm 06 chương, 35 điều, quy định về

15 Bùi Văn Sỹ (2013), Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 13/2013, tr 7-11

Trang 35

hoạt động công nghệ cao, chính sách, biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động công nghệ cao16 Luật quy định tập trung đầu tư phát triển công nghệ cao trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên: a) Công nghệ thông tin; b) Công nghệ sinh học; c) Công nghệ vật liệu mới; d) Công nghệ tự động hóa Có thể nói đây đều là những lĩnh vực có khả năng ứng dụng vào thực tế cao nhất, do đó khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở các lĩnh vực này tất nhiên sẽ cao hơn rất nhiều so với các ngành khác Đồng thời, bằng những quy định về ưu đãi, hỗ trợ như: a) hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; b) được xem xét hỗ trợ chi phí từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và kinh phí khác có nguồn gốc từ NSNN; c) hưởng ưu đãi khác theo quy định của pháp luật Qua đó có thể nhận thấy mức độ quan tâm và nỗ lực cao của Nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Ngày 18/02/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP về

hoạt động thông tin KH&CN, thay thế cho Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 Nghị định gồm 06 chương 38 điều, quy định một số nội dung chủ yếu về hoạt động thông tin KH&CN Nghị định đã nêu chi tiết nội dung hoạt động thông tin KH&CN bao quát từ việc tạo lập và phát triển nguồn tin đến sử dụng, phổ biến

và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác

Các quy định về sử dụng, phổ biến thông tin KH&CN nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo, lãnh đạo và quản lý, sản xuất kinh doanh, phổ biến rộng rãi kiến thức KH&CN cho quần chúng nhân dân Đặc biệt, để tránh tình trạng trùng lặp trong nghiên cứu khoa học dẫn đến lãng phí nguồn lực, thời gian, Nghị định quy định cần phải tra cứu và sử dụng thông tin KH&CN trong công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà nước cho KH&CN

Nghị định cũng quy định cụ thể các hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN được các tổ chức, cá nhân tiến hành nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý, nghiên cứu

16 Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11

Trang 36

khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh, v.v Qua đó, sẽ tạo ra sự cân bằng thông tin KH&CN giữa các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp

Nghị định số 49/2009/NĐ-CP ngày 21/5/2009 của Chính phủ quy định về xử

phạt hành chính trong hoạt động CGCN Nghị định gồm 04 chương, 20 điều quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả

và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CGCN Vi phạm hành chính trong hoạt động CGCN quy định tại Chương II của Nghị định này là những hành vi cố ý hoặc vô ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động CGCN mà không phải là tội phạm

và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính Nghị định này

ra đời phần nào đã giúp định hướng cho các tổ chức KH&CN định hình rõ các hành

vi được phép trong hoạt động CGCN của tổ chức mình Điều này góp phần làm cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu được rõ ràng hơn

Mới đây, ngày 13/6/2014, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số BKHCN về việc“Quy định trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước„

15/2014/TT-Thông tư gồm 14 điều quy định phạm vi, đối tượng điều chỉnh, trình tự thủ tục, quy trình thẩm định hồ sơ, nguyên tắc thẩm định, tổ chức thực hiện với sự tham gia và phối kết hợp của nhiều bộ ban ngành có liên quan với các điều khoản và quy định

có lợi cho các bên tiếp nhận kết quả nghiên cứu để CGCN; đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; thành lập, góp vốn thành lập doanh nghiệp, tổ chức KH&CN; Ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh; Cung cấp dịch vụ công phục vụ lợi ích cộng đồng, an sinh xã hội

và các hoạt động khác17

2.1.2 Các Chương trình, Đề án liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các dự án liên quan

2.1.2.1 Chương trình Hỗ trợ phát triển TSTT năm 2005 (Chương trình 68),

Chương trình hỗ trợ phát triển TSTT giai đoạn 1 được phê duyệt theo Quyết định số

17 Thông tư 15/2014/ TT-BKHCN ngày 13 tháng 6 năm 2014, Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 37

68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005; giai đoạn 2 được phê duyệt theo Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ dành cho các đối tượng: Các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị chuyên môn, các doanh nghiệp Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề của Việt Nam, các cá nhân là người Việt Nam Với hai mục tiêu chính, đó là: a) Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về bảo hộ SHTT để các doanh nghiệp chủ động xây dựng, khai thác phát triển và bảo vệ TSTT; b) Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam thông qua việc hỗ trợ xác lập, khai thác, bảo vệ và phát triển TSTT, trong đó ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có các sản phẩm chiến lược, có tiềm năng xuất khẩu

2.1.2.2 Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 (được phê

duyệt theo Quyết định số 2075/QĐ-TTG ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ) Một trong số những quan điểm phát triển quan trọng của Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 là: Thị trường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, có vai trò then chốt trong việc tạo môi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ; nâng cao năng lực KH&CN quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chương trình có ba mục tiêu chính, gồm: (i) Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển (ii) Tỷ trọng giao dịch mua bán TSTT (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN đạt không dưới 10% vào năm 2015 và không dưới 20% vào năm 2020 (iii) Đến năm 2020: Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ, trọng tâm là thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng

2.1.2.3 Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình mẫu Thung lũng Silicon tại Việt Nam”, do Bộ KH&CN giao Cục Phát triển thị trường và doanh

nghiệp KH&CN và Văn phòng Phối hợp phát triển môi trường KH&CN nghiên cứu, triển khai từ năm 2013 Mục tiêu cơ bản của Đề án là tạo ra một hệ sinh thái gồm các start-up được đào tạo, tư vấn trong chương trình đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp

Trang 38

(BA) để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm nhằm xây dựng hệ thống doanh nghiệp KH&CN thành công Theo đó, doanh nghiệp phải có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình, chiến lược kinh doanh khả thi và có đội ngũ đủ năng lực thực hiện Đồng thời tạo môi trường để thu hút chất xám thông qua xây dựng hệ thống BA, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, kết hợp nguồn vốn ngân sách để thu hút nguồn vốn đầu

tư mạo hiểm tư nhân, đặc biệt từ nước ngoài

2.1.2.4 Các dự án liên quan (IPP, FIRST, BIPP)

Dự án IPP (Chương trình Đối tác Sáng tạo - Innovation Partnership

Program) là Chương trình Hỗ trợ Phát triển chính thức (ODA) được đồng tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và Phần Lan IPP giai đoạn một từ năm 2009 – 2013, giai đoạn hai kéo dài từ năm 2014 – 2018 IPP hỗ trợ mục tiêu chung hướng đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa có thu nhập trung bình với nền kinh tế tri thức đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua việc gia tăng sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ mang tính đổi mới sáng tạo Chương trình Phối hợp chặt chẽ với các đối tác quan trọng trong nước và quốc tế nhằm mở rộng quy mô đào tạo đổi mới sáng tạo ở Việt Nam và cải thiện các cơ chế hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hướng tới thị trường quốc tế Ngoài việc hỗ trợ cung cấp vốn đầu tư giai đoạn đầu cho các dự án đổi mới thực hiện bởi các doanh nghiệp mới thành lập và các nhóm phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, IPP còn xây dựng năng lực cho các đối tác công-tư thông qua các chương trình đào tạo khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo Hoạt động của Quỹ tập trung vào: Dịch vụ hỗ trợ; Tài trợ các dự án đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp mới thành lập; Tài trợ phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo; Đào tạo khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; Chương trình học bổng Đổi mới sáng tạo

Dự án FIRST là dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu

khoa học và công nghệ - Fostering innovation through Research, Science, and Technology” do Ngân hàng thế giới (World Bank) thực hiện với Bộ KH&CN, nhằm

giúp Việt Nam xây dựng một số Viện nghiên cứu được xếp hạng trong khu vực và thế giới; góp phần chuyển toàn bộ cơ chế hoạt động KH&CN Việt Nam sang cơ chế hoạt động theo thông lệ quốc tế; tạo ra được một hệ thống doanh nghiệp KH&CN mạnh xuất phát từ các Viện, trường tạo nên một lực lượng sản xuất mới cho xã hội

Trang 39

Dự án có tổng mức đầu tư là 100 triệu USD là nguồn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng thế giới nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo Quốc gia của Việt Nam Dự án tập trung vào ba đối tượng: thể chế, tổ chức KH&CN, doanh nghiệp và được chia thành ba hợp phần chính: (1) Hỗ trợ cơ sở để hoạch định chính sách và thí điểm chính sách KH&CN; (2) Hỗ trợ chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập và tăng cường liên kết doanh nghiệp với KH&CN; (3) Quản lý dự án và nghiên cứu các chính sách liên quan đến hoạt động của dự án

Dự án BIPP là dự án “Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các

cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” giữa Chính phủ Bỉ và Việt Nam với tổng vốn đầu tư

là 04 triệu euro Dự án sẽ giúp Việt Nam tạo lập khung pháp lý hỗ trợ quá trình phát triển của các doanh nghiệp KH&CN nhằm thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo BIPP bao gồm bốn hợp phần: (i) Củng cố khung pháp lý hỗ trợ ươm tạo Doanh nghiệp KH&CN, Vườn ươm doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam; (ii) Hỗ trợ thí điểm hai vườn ươm Doanh nghiệp KH&CN ở Hà Nội và TP HCM; (iii) Vận hành Quỹ Innofund hỗ trợ trực tiếp các hoạt động, dự án ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; (iv) Thiết lập và vận hành khung theo dõi và đánh giá các kết quả dự án Theo thỏa thuận, BIPP sẽ hỗ trợ các vườn ươm doanh nghiệp KH&CN và doanh nghiệp KH&CN theo ba nội dung: (i) Hỗ trợ xây dựng chính sách phát triển hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam; (ii) Hỗ trợ các hoạt động của hai vườn ươm thí điểm tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; (iii) Vận hành Quỹ Innofund

để hỗ trợ, tài trợ trực tiếp cho các vườn ươm và doanh nghiệp KH&CN

2.1.3 Các mô hình và định chế hỗ trợ

Hiện nay, ở Việt Nam hình thành các khu theo mô hình cụ thể nhằm tập trung các tổ chức nghiên cứu và triển khai cùng hướng nghiên cứu, các doanh nghiệp vào một chỗ để cùng hợp tác và phát triển, đồng thời được hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước, như Khu Công nghệ thông tin tập trung, Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Khu Công nghệ cao, hay như mô hình thung

lũng Silicon theo Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình mẫu Thung lũng Silicon tại Việt Nam” đã đề cập phía trên

Trang 40

Khu Công nghệ thông tin tập trung, theo Nghị định 154/2013/NĐ-CP về khu công nghệ thông tin (CNTT) tập trung, là khu tập trung các hoạt động nghiên cứu - phát triển, đào tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ CNTT, cung cấp

hạ tầng, cung ứng dịch vụ công nghệ thông tin cho các tổ chức, doanh nghiệp và các

hoạt động khác liên quan đến CNTT Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện dự

án đầu tư mới trong lĩnh vực CNTT tại khu CNTT tập trung sẽ được hưởng một số

hỗ trợ, ưu đãi về thuế, tín dụng đầu tư và các chính sách ưu đãi khác nhau Hiện nay Việt Nam có 07 khu CNTT tập trung trên cả nước Trong đó ở TP Hồ Chí Minh có

04 khu: Công viên Phần mềm Quang Trung, Trung tâm Công nghệ Phần mềm TP

Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, TOWN; 01 khu ở Hà Nội: Trung tâm giao dịch CNTT Hà Nội; 01 Khu Công viên Phần mềm Đà Nẵng và 01 khu là Trung tâm Công nghệ Phần mềm Cần Thơ

E-Hiện nay, Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã đi

vào hoạt động, làm tiền đề cho việc phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khác Điển hình như: mô hình sản xuất rau an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại

TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Lâm Đồng; sản xuất nấm quy mô trang trại tại Vĩnh Phúc; vùng trồng chè theo công nghệ trồng, chế biến chè của Đài Loan ở Thái Nguyên, Lâm Đồng, v.v.18

Khu Công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo môi trường thuận

lợi thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là thu hút các tập đoàn đa quốc gia Khu công nghệ cao còn là nơi thu hút, tập hợp lực lượng trí thức KH&CN trong cả nước, trí thức Việt kiều và các nhà KH&CN nước ngoài trong nghiên cứu, sáng tạo và CGCN trực tiếp cho sản xuất và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao Hiện có các khu như Khu Công nghệ cao Hoà Lạc, Khu công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao Đà Nẵng

Ngoài các quy định về pháp luật, các chương trình, đề án, dự án hỗ trợ, sự nỗ lực của Nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường công nghệ còn thể hiện qua việc hình thành các Quỹ cho hoạt

18 Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp – nông thôn Ban Kinh tế Trung ương, nghiep-ap-dung-cong-nghe-cao-co-che-rieng-cho-nganh-dac-thu/

Ngày đăng: 29/11/2015, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Vân Anh (2011), Thương mại hóa kết quả nghiên cứu – Nhìn từ góc độ của quá trình R&D , Tạp chí Hoạt động khoa học, số 7/2011, tr. 24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hoạt động khoa học
Tác giả: Nguyễn Vân Anh
Năm: 2011
3. Trần Ngọc Ca (2009), Công nghệ và Chuyển giao công nghệ, Tài liệu phục vụ bài giảng Chương trình Cao học về Quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và Chuyển giao công nghệ
Tác giả: Trần Ngọc Ca
Năm: 2009
7. Vũ Cao Đàm (2007), Giáo trình giảng dạy về Công nghệ luận 8. Lê Trung Đạo (2009), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giảng dạy về Công nghệ luận" 8. Lê Trung Đạo (2009), "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Vũ Cao Đàm (2007), Giáo trình giảng dạy về Công nghệ luận 8. Lê Trung Đạo
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2009
9. Nguyễn Thị Hương Giang (2009), Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước (nghiên cứu trường hợp Đại học Bách khoa Hà Nội), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý TSTT được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2009
10. Trần Văn Hải (2011), Thương mại hóa kết quả nghiên cứu – Tiếp cận từ Quyền Sở hữu trí tuệ, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4/2011, tr. 36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hoạt động khoa học
Tác giả: Trần Văn Hải
Năm: 2011
11. Trần Đắc Hiến (2012), Để KH&CN thực sự là động lực cho phát triển, Cổng thông tin điện tử Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để KH&CN thực sự là động lực cho phát triển
Tác giả: Trần Đắc Hiến
Năm: 2012
12. Đoàn Đức Lương (2009), Vai trò của sở hữu trí tuệ trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 51, tr. 97-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Năm: 2009
13. Bùi Văn Sỹ (2013), Những điểm mới trong Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi 2013, Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 13/2013, tr. 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Sỹ
Năm: 2013
14. Đặng Duy Thịnh và cộng sự (2000), Nghiên cứu xây dựng luận cứ cho việc thương mại hóa hoạt động KH&CN ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng luận cứ cho việc thương mại hóa hoạt động KH&CN ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Duy Thịnh và cộng sự
Năm: 2000
15. Nguyễn Quang Tuấn (2013), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam, Đề tài cấp Bộ Khoa học và Công nghệ số 03/HĐ-ĐT-VCLCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Năm: 2013
16. Nguyễn Quang Tuấn (2010), Thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 810, tr. 72-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Năm: 2010
20. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long (2013), Thương mại hóa TSTT tại Viện, Trường còn nhiều hạn chế, ngày cập nhật 08/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại hóa TSTT tại Viện, Trường còn nhiều hạn chế
Tác giả: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2013
23. Tạp chí Tia Sáng, Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày cập nhật 10/7/2013 24. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (2001), Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”, NXB Bộ Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”
Tác giả: Tạp chí Tia Sáng, Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày cập nhật 10/7/2013 24. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Nhà XB: NXB Bộ Văn hóa thông tin
Năm: 2001
25. Trần Công Thành, Phan Quốc Nguyên (2012), Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở Malaysia và một số gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 8/2012 tr. 74-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hoạt động khoa học
Tác giả: Trần Công Thành, Phan Quốc Nguyên
Năm: 2012
26. Hoàng Thị Hải Yến (2010), Tổng quan về bảo hộ sở hữu trí tuệ, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 3/2010, tr. 52-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Hoàng Thị Hải Yến
Năm: 2010
27. Asley J. Stevens (2004), The enactment of Bayh-Dole, Journal of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: The enactment of Bayh-Dole
Tác giả: Asley J. Stevens
Năm: 2004
28. Chandran Govindaraju (2010), R&D commercialization challenges for developing countries: the case of Malaysia, Tech Monitor, Nov – Dec 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: R&D commercialization challenges for developing countries: the case of Malaysia
Tác giả: Chandran Govindaraju
Năm: 2010
29. Einar Rasmussen (2008), Government instruments to support the commercialization of university research: Lessons from Canada, Technovation, Volume 28, Issue 8, August 2008, pg. 506 – 517 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government instruments to support the commercialization of university research: Lessons from Canada
Tác giả: Einar Rasmussen
Năm: 2008
31. Kamariah Ismail, Collin Mason, Saral Cooper, Wan Zaidi Wan Omar, Izaidin Abdul Majid (2010), University Spin-off Formation: How decision making process has been made? International journal of business and social science, Vol 1, Nov 2; pg. 103-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: University Spin-off Formation: How decision making process has been made
Tác giả: Kamariah Ismail, Collin Mason, Saral Cooper, Wan Zaidi Wan Omar, Izaidin Abdul Majid
Năm: 2010
32. Karlsson Magnus (2004), Commercialization of Research Results in the United States – An overview of Federal and Academic Technology Transfer, Swedish Institute for Growth Policy Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Commercialization of Research Results in the United States – An overview of Federal and Academic Technology Transfer
Tác giả: Karlsson Magnus
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Một số yếu tố tác động và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 1.1. Một số yếu tố tác động và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu (Trang 26)
Bảng 1.1. Các hình thức thương mại hóa kết quả R&D - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bảng 1.1. Các hình thức thương mại hóa kết quả R&D (Trang 30)
Hình 2.1. Sơ đồ hoạt động KH&CN - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 2.1. Sơ đồ hoạt động KH&CN (Trang 43)
Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu nhân lực Viện Hàn lâm KHCNVN - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu nhân lực Viện Hàn lâm KHCNVN (Trang 48)
Bảng 2.1. Tổng hợp các hợp đồng KHCN thực hiện năm 2013  (*) - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bảng 2.1. Tổng hợp các hợp đồng KHCN thực hiện năm 2013 (*) (Trang 50)
Bảng 2.2. Tổng hợp số lƣợng các công bố khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích  của Viện Hàn lâm KHCNVN giai đoạn 2009-2013 - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bảng 2.2. Tổng hợp số lƣợng các công bố khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích của Viện Hàn lâm KHCNVN giai đoạn 2009-2013 (Trang 54)
Bảng  2.3. Số lƣợng nghiên cứu sinh và học viên cao học năm 2013 - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
ng 2.3. Số lƣợng nghiên cứu sinh và học viên cao học năm 2013 (Trang 55)
Hình 2.5. Tổng kinh phi ́ Viê ̣n Hàn lâm KHCNVN giai đoa ̣n 2009 – 2013 - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 2.5. Tổng kinh phi ́ Viê ̣n Hàn lâm KHCNVN giai đoa ̣n 2009 – 2013 (Trang 63)
Hình 3.1. Quy trình giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu KH&CN - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 3.1. Quy trình giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu KH&CN (Trang 70)
Hình 3.2. Mô hình tổ chức hoạt động của Văn phòng/ Trung tâm CGCN - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 3.2. Mô hình tổ chức hoạt động của Văn phòng/ Trung tâm CGCN (Trang 78)
Bảng 3.1. Tổng hợp dự toán chi NSNN năm 2013 (tính đến 12/2013) - Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Bảng 3.1. Tổng hợp dự toán chi NSNN năm 2013 (tính đến 12/2013) (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w