1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh tiền giang

226 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; kinh tế khôi phục còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng trưởng còn thấp; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới

Trang 1

- -

PHẠM THỊ MỸ PHƢỢNG

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

- - PHẠM THỊ MỸ PHƢỢNG

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Những kết luận khoa học trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Trang 4

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 19

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG

NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 19

1.1 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VAI TRÕ CỦA

NÓ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 19

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao 19

1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa 36

1.2 PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, VAI TRÕ CỦA NÓ TRONG

THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 42

1.2.1 Quan niệm về khoa học, công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ 42

1.2.2 Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa 59

1.3 QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT

LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI

KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 68

1.3.1 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là mục tiêu và động lực để phát

triển khoa học và công nghệ .69

1.3.2 Phát triển khoa học và công nghệ là điều kiện và tiền đề góp phần

phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 77

Kết luận chương 1 82

Trang 5

TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG 85 2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ - TỰ NHIÊN, ĐIỀU KIỆN KINH TẾ -

XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG 852.1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của Tiền Giang 85 2.1.2 Nội dung và đặc điểm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

tỉnh Tiền Giang 97

2.2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÁC ĐỘNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG 112 2.2.1 Thực trạng của sự phát triển gắn kết giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở tỉnh Tiền Giang 112 2.2.2 Những vấn đề đặt ra của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang 127

Kết luận chương 2 134 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG THỜI

KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 137 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KẾT HỢP VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 137

Trang 6

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang 137 3.1.2 Kết hợp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ cả về chất và lượng để trở thành năng lực nội sinh cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang 148 3.1.3 Kết hợp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học

và công nghệ tạo động lực thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang 158

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO KẾT HỢP VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ở TIỀN GIANG TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 167 3.2.1 Nâng cao nhận thức của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân tỉnh Tiền Giang về vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 167 3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý vững chắc để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 174 3.2.3 Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trên cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ với quá trình sản xuất của tỉnh Tiền Giang 182 3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật và đầu tư ngân sách một cách hợp lý tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Tiền Giang 187

Trang 7

toàn diện, bền vững của tỉnh Tiền Giang 193

Kết luận chương 3 201

PHẦN KẾT LUẬN 204

TÀI LIỆU THAM KHẢO 208

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 219

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại sống trong một thời đại với ba đặc điểm

kinh tế lớn chi phối sự phát triển của mỗi quốc gia Một là, khoa học và công

nghệ phát triển nhanh như vũ bão đã tạo ra làn sóng công nghiệp hóa lần thứ

ba và hình thành nền kinh tế tri thức Hai là, quá trình toàn cầu hóa ngày

càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc và hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu; cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng quyết liệt và mỗi quốc gia phải

giành được ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó Ba là, tình trạng khan hiếm các

loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được, đòi hỏi con người phải tìm kiếm các dạng nguyên liệu, năng lượng mới, bảo đảm phát triển bền vững Ba đặc điểm kinh tế này đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao cho sự phát triển gắn kết giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với khoa học và công nghệ nhằm tạo điều kiện thay đổi mô hình phát triển từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ nhưng chất lượng thấp sang phát triển dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp bao gồm khả năng áp dụng các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại Vào những năm cuối của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ đã trở thành một trong những động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc Các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ đã làm cho khoa học và công nghệ phát triển nhanh như vũ bão chuyển từ nguồn năng lượng than đá, sức gió, sức nước, sức mạnh cơ bắp của con người và gia súc,… sang các nguồn năng lượng dầu khí, máy hơi nước, điện năng, năng lượng nguyên tử phân hạch,… và hiện nay là khoa học và công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano,

Trang 9

công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng hạt nhân tổng hợp nhiệt hạch,… Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và biến hóa mạnh mẽ cả

về chiều rộng lẫn chiều sâu trên quy mô toàn cầu; là cơ sở giúp các nguồn lực khác phát huy tác dụng, trong đó có nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Tuy nhiên, bản thân khoa học và công nghệ không thể tự phát triển và không thể phát huy hết vai trò của mình nếu không có con người Thực tiễn đã chứng minh quan điểm về vai trò quyết định của con người trong sự phát triển sản xuất nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” [76, tr.29], mọi sự biến đổi và phát triển của xã hội, suy cho cùng, là do con người và vì con người, kể

cả sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng do con người nghiên cứu, phát minh và vận dụng sáng tạo vào mọi hoạt động của sản xuất và đời sống

Vì con người là mục tiêu, là động lực, “là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [46, tr.76] Con người là chủ thể của các hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội, là tinh hoa trong sự phát triển của thế giới; là tác nhân cải biến thế giới, sáng tạo ra lịch sử của bản thân, là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy mọi sự biến đổi trong lịch sử phát triển xã hội Chính vì thế, trong giai đoạn văn minh trí tuệ hiện nay, mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh, bền vững thì phải phát triển gắn kết giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với khoa học và công nghệ

Ở Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đặt ra yêu cầu, muốn phát triển nhanh và bền vững phải tiến hành đổi mới toàn diện để tạo mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, trong đó không thể thiếu hai nguồn lực quan trọng, đó là nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn lực khoa học và

Trang 10

công nghệ Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII (01/2016), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đánh giá kết quả đạt được trong giai đoạn năm 2011 - 2015 như sau: “tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong

5 năm đạt trên 5,9%/năm Qui mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên;… bình quân đầu người khoảng 2.109 USD Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 6,9%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng Khu vực công nghiệp cơ bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng bình quân 3,0%/năm…Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, bình quân đạt 6,3%/năm…” [48, tr.226] Đạt được kết quả như vậy nhờ Việt Nam biết phát huy giá trị của mọi nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; kinh tế khôi phục còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng trưởng còn thấp; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm;… Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này là do chất lượng nguồn nhân lực cải thiện còn chậm, thiếu lao động chất lượng cao; khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển, chưa đồng bộ, chưa hiệu quả;… Vì thế, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ là động lực then chốt phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, giúp Việt Nam đi tắt đón đầu để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tiền Giang là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là cầu nối giữa các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh, có ít tài nguyên, nhưng được thiên nhiên ưu đãi, có

Trang 11

vị trí địa lý - tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; có nguồn nhân lực trẻ, rẻ, dồi dào, năng động và sáng tạo; đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tỉnh Tiền Giang phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc

tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiên đại hóa, nhất là trong giai đoạn 2011 -

2015, kinh tế dù có phát triển nhưng chưa ổn định và thiếu bền vững; chưa tận dụng và phát huy tốt lợi thế của tỉnh; qui mô kinh tế nhỏ, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất còn lúng và hạn chế; công nghệ lạc hậu; đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả đào tạo nghề trong nông nghiệp, nông thôn còn thấp;… [Xem: 55, tr.19-21] Do vậy, trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh

Tiền Giang lần thứ X năm 2015 đã xác định là phải “Có cơ chế, chính sách tốt

để huy động, thu hút nguồn lực con người, vốn và thành quả tiến bộ của khoa học - công nghệ Xem đây là nhân tố quan trọng hỗ trợ cho sự khiếm khuyết

trước mắt của tỉnh về nguồn nhân lực, vốn đầu tư và khoa học, công nghệ phục

vụ phát triển kinh tế - xã hội” [55, tr.22] Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ là một trong những khâu đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn chủ đề “Quan hệ

biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang” làm đề tài luận án tiến sĩ Đây là đề tài mang tính thời sự cấp

bách; có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay

Trang 12

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu Thông qua các công trình khoa học, các tác phẩm, các học giả đã đề xuất những phương hướng và giải pháp khác nhau nhằm phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học và công nghệ Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về vấn đề trên theo các chủ đề sau:

Thứ nhất là, những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trước tiên, là công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển

nguồn nhân lực Đó là tác phẩm “Vấn đề con người trong sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do GS,TS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm

do Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1996, đã khái quát những khái niệm về phát triển nguồn lực con người và cấu trúc của nó, trình bày rõ mối quan hệ giữa đào tạo, sử dụng và việc làm với phát triển nguồn nhân lực; xác định trách nhiệm của Nhà nước và ngành giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kế tiếp là tác phẩm “Kinh tế nguồn nhân lực” của PGS,TS Trần Xuân

Cầu và PGS,TS Mai Quốc Chánh (chủ biên) do Nxb Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2009, nghiên cứu về các vấn đề nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội, dân số và nguồn nhân lực, thị trường lao động và năng suất lao động

Tiếp theo là tác phẩm “Xây dựng con người - xây dựng xã hội học tập”

của GS,TS Phạm Tất Dong và TS Đào Hoàng Nam do Nxb Dân trí xuất bản năm 2011, đã tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng con người và phát

Trang 13

triển nguồn nhân lực chất lượng cao - nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

Tiếp đến là tác phẩm “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ ở Việt

Nam phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước” của GS,TS Nguyễn Văn

Khánh (chủ biên) do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2010, nêu lên những vấn đề chung về nguồn lực trí tuệ, nguồn lực trí tuệ Việt Nam, vai trò của nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước

Liên quan đến đề tài này còn có tác phẩm “Nguồn lực trí tuệ trong sự

nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của Bùi Thị Ngọc Lan do Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội xuất bản năm 2002, tập trung nghiên cứu về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ, vai trò của nguồn lực trí tuệ, những điều kiện phát huy nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội nói chung, nêu lên những thực trạng phát huy

và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, tác phẩm “Nguồn lực và động lực phát triển trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của

GS,TSKH.Lê Du Phong (chủ biên) do Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội xuất bản năm 2006, bàn về vấn đề nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh

tế thị trường, thực trạng sử dụng các nguồn lực và phát huy các động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường, chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy đầy đủ các động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực, chúng ta không thể không kể đến

các tác phẩm như: tác phẩm “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

Trang 14

công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của PGS,TS Vũ Văn

Phúc và TS Nguyễn Duy Hùng đồng chủ biên, do Nxb Chính trị quốc gia -

Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2012 đã đề cập những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nêu lên những vấn đề lý luận chung như cách tiếp cận nghiên cứu nguồn nhân lực, từ lý luận đến thực tiễn phát triển nguồn nhân lực, giới thiệu những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia, phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực,… nhằm khái quát những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng,…

Hai là, những công trình nghiên cứu về vấn đề khoa học và công nghệ

Đầu tiên phải kể đến tác phẩm “Phát triển khoa học và công nghệ - Một số

kinh nghiệm của thế giới” của GS,TS Tạ Ngọc Tấn chỉ đạo biên soạn, do

Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội xuất bản năm 2012, đã nêu rõ tổng quan

về phát triển khoa học và công nghệ trên thế giới, kinh nghiệm và gợi mở về phát triển khoa học và công nghệ của một số nước trên thế giới như Liên minh Châu Âu (EU), Liên bang Nga, Đức, Italia, Vương quốc Anh, Thụy Điển, Pháp, Hoa Kỳ, Achentina, Brazil, Canada, Nam Phi, Austalia, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaixia, Ấn Độ, Thái Lan

Kế đó là tác phẩm “Nền kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ kỹ

thuật” của TS Trần Đình Thêm và TS Trần Đức Ba do Nxb Thanh niên

xuất bản năm 2011, đã khái quát về khoa học công nghệ kỹ thuật cao và vấn

đề đào tạo nhân tài cho nền kinh tế tri thức Tiếp đến, là tác phẩm “Khoa học

và công nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu” của GS,TS Vũ Đình Cự do Nxb

Trang 15

Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1996, đã nêu định nghĩa về khoa học

công nghệ và vai trò của khoa học công nghệ; tác phẩm “Công nghệ tiên tiến

và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”

của TSKH Phan Xuân Dũng (chủ biên) do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2008, đã trình bày một số vấn đề chung về công nghệ cao; nêu lên thực trạng và dự báo phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ cao và một

số hình thức tiếp nhận, chuyển giao công nghệ; ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của một số nước và khu vực trên thế giới; trình bày thực trạng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao ở Việt Nam; từ đó đưa ra một số chủ trương và giải pháp về ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Tiếp theo là tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá

nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam” của TSKH Phan Xuân Dũng

(chủ biên), do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2006, tập trung giới thiệu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ; thực trạng, chủ trương và giải pháp đánh

giá khoa học và công nghệ; hay tác phẩm “Vai trò của tri thức khoa học

trong sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay của TS Trần

Hồng Lưu do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2009, đã nêu lên định nghĩa khoa học, tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Liên quan đến việc nghiên cứu những

quan niệm về khoa học công nghệ, có tác phẩm “Khoa học và công nghệ Việt

Nam - Những sắc màu tiềm năng” của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật

Việt Nam do Nxb Thanh niên xuất bản năm 2000, và “Khoa học và các khoa

học (La science et les sciences)” của Phan Ngọc, Phan Thiều (dịch) do Nxb

Thế giới xuất bản năm 1995, đã phân tích khái niệm khoa học công nghệ;

Trang 16

phân loại và nêu lên những thành tựu và vai trò của khoa học công nghệ trong cuộc sống; bàn về phát huy sức mạnh của khoa học công nghệ, có tác

phẩm “Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khoa học - công nghệ ở Việt

Nam” của PGS,TS Định Trọng Thịnh, TS Nguyễn Minh Phong do Nxb Tài

chính, Hà Nội xuất bản năm 2011, đã nêu lên một số vấn đề chung về xã hội hóa các hoạt động khoa học công nghệ; trình bày thực trạng về các hoạt động

xã hội hóa khoa học công nghệ và phân tích những kinh nghiệm hoạt động của các quốc gia có khoa học công nghệ phát triển mạnh; qua đó, đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khoa học công nghệ Nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có các công

trình: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” của

GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa, PGS,TS Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên) do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm

2002, đã nghiên cứu khá sâu về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với các vấn đề về phát triển con người, tạo nguồn nhân lực; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc phát triển đời sống tinh thần; xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển giáo dục đào tạo và khoa

học công nghệ Liên quan đến chủ đề này còn có tác phẩm “Triết học với sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa do

Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1997, đã nêu lên khái niệm, đặc điểm, nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tiếp đến, công trình “Mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo

định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS,TS Đỗ Hoài Nam,

PGS,TS Trần Đình Thiên do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2009, đã

đề cập và phân tích con đường và phương pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 17

Thứ hai là, những công trình nghiên cứu về quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Xoay quanh những vấn đề về phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở cấp vùng và cấp tỉnh, thành phố có các đề tài, tác phẩm sau: Đề tài khoa học cấp Nhà nước

KX.07.13 - “Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con

người trong sự phát triển kinh tế - xã hội” của GS,TS Lê Hữu Tầng (chủ

nhiệm); tác phẩm “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước” của TS Nguyễn Thanh do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

xuất bản năm 2002; tác phẩm “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” của tác giả Lê Văn Phục do Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

xuất bản năm 2014; tác phẩm “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân

lực tài năng” của Trần Văn Tùng do Nxb Thế giới, Hà Nội xuất bản năm

2005;… Những công trình nghiên cứu này đã khái quát hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về nguồn nhân lực và khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở phạm vi

từ cơ sở đến cả nước

Nghiên cứu về chủ đề này còn có các công trình như “Những luận cứ

khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” của Nguyễn Minh Sâm (chủ biên) do Nxb Khoa học

xã hội xuất bản năm 2003, đã phân tích khá sâu về phát triển nguồn nhân lực

trong lĩnh vực công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; “Quan hệ

giữa phát triển khoa học công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Danh Sơn do Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội xuất bản năm 2002, đã phân tích rõ vai trò của khoa học công

Trang 18

nghệ và mối quan hệ của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội

Công trình “Xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của TS Hồ Đức Việt (chủ

biên) do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2010, đã đi sâu phân tích và định hướng xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong nền kinh tế thị trường

Ngoài ra, tác phẩm “Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục

và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” của nhiều

tác giả do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam biên soạn, được Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2008 đã nêu lên kinh nghiệm của một số nước

về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức như Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc và Việt Nam

Thêm vào đó, có các chuyên đề “Đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2006 - 2015”

của nhiều tác giả viết về nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học - xã hội địa phương, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giáo dục đại học trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực; chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tiền Giang đến năm 2015…

Thứ ba là, những công trình và các văn bản, nghị quyết, kế hoạch, đề

án về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh Tiền Giang

Đề cập đến chủ đề này có các công trình: “Địa chí Tiền Giang, tập 2”

của Trần Quang Diệu – Nguyễn Quang Ân do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam phát hành

Trang 19

năm 2005; “Tiềm năng và triển vọng đến năm 2020” của Bộ Kế hoạch và

đầu tư – Viện chiến lược phát triển các vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2009

Đặc biệt, liên quan đến chủ đề này có các Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ

đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI) do Nxb Chính trị quốc

gia - Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2013; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1996; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất

bản năm 2001; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2006; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XI do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2011; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII do Văn phòng Trung ương Đảng, Hà

Nội phát hành năm 2016;… Đối với Tiền Giang, có các Văn kiện đại hội đại

biểu lần thứ VII đảng bộ tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2001 - 2005; Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII đảng bộ tỉnh Tiền Giang năm 2005; Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Tiền Giang năm 2010; Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ tỉnh Tiền Giang năm 2015

Ngoài các công trình, văn kiện của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Tiền Giang về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn những văn bản, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học và công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức và sử dụng, thu nhút nhân tài của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ tỉnh Tiền Giang,… Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tỉnh Tiền Giang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 20

Thứ nhất, là nhóm văn bản của cấp trên về phát triển nguồn nhân lực,

khoa học và công nghệ Cụ thể, Nghị quyết số 10/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/4/2012 về việc Ban hành chương trình hành động của chính phủ triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -

2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015 Quyết định số 579/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19/4/2011 về phê duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT của Bộ giáo dục và đào tạo ngày 29/12/2011 về phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 Thông tư số 19/2014/TT-BNV của Bộ nội vụ ngày 04/12/2014 về việc quy định, hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức, Quyết định số 13/2004/QĐ-BKHCN của Bộ khoa học và công nghệ ngày 25/5/2004 về việc ban hành quy định đánh giá nghiệm thu Đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước, Nghị quyết số 37-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 09/10/2014 về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030… Các văn bản này quy định những nội dung cần triển khai trong việc phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có quy định chung về mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ qua từng giai đoạn cụ thể

Thứ hai, là nhóm văn bản của tỉnh Tiền Giang về phát triển nguồn nhân

lực, khoa học và công nghệ Cụ thể, Nghị quyết số 07/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khoa VIII - Kỳ họp thứ 2 ngày 25/8/2011 về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và thu hút nguồn nhân lực của tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 33/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 01/11/2011 về việc ban hành quy định quản lý biên chế công chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 01/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 02/02/2012 về việc ban hành quy định

Trang 21

chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và thu hút nguồn nhân lực của tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 864/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 10/4/2014 về việc ban hành danh sách các chuyên ngành đào tạo sau đại cần thu hút của tỉnh Tiền Giang năm 2014; Quyết định

số 35/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc ban hành quy định về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và thu hút nguồn nhân lực của tinh Tiền Giang; Quyết định số 20/2008/QĐ-UBND của

Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 27/5/2008 về việc ban hành quy định

về quản lý và hỗ trợ triển khai đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 2665/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 30/7/2009 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghệ thông tin tỉnh Tiền Giang đến năm 2020; Hướng dẫn số 520/HĐKHCN của Hội đồng khoa học và công nghệ tỉnh Tiền Giang ngày 29/12/2011 về việc định hướng nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ năm 2013; Hướng dẫn số 510/HĐKHCN của Hội đồng khoa học và công nghệ tỉnh Tiền Giang ngày 14/12/2012 về việc định hướng nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ năm 2014; Hướng dẫn số 579/HĐKHCN của Hội đồng khoa học và công nghệ tỉnh Tiền Giang ngày 26/12/2013 về việc định hướng nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ năm 2015; Kế hoạch số 82/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 22/6/2012 về phát triển nông ngiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học từ nay đến năm 2015; Quyết định số 13/2016/QĐ-UBND ngày 13/4/2016 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc qui định quản lý đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Quyết định số 43/2015/QĐ-UBND ngày 21/12/2015 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc qui định kinh phí nhiệm vụ số 13/2016/QĐ-UBND ngày 13/4/2016 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc qui định quản lý đối với nhiệm

vụ khoa học và công nghệ;…

Trang 22

Bên cạnh đó, còn có các báo cáo của chính quyền các cấp ở tỉnh Tiền Giang về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ Chẳng hạn, Báo cáo số 32/BC-SNV của Sở Nội vụ ngày 27/01/2014 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức năm 2013 và

sơ kết 03 năm thực hiện quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng chính phủ; Báo cáo số 222/BC-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 19/12/2012 về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2012

và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013; Báo cáo số 251/BC-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 15/11/2013 về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014; Báo cáo số 231/BC-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 19/12/2014 về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015; Báo cáo số 219/BC-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 13/11/2015 về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016;… Thêm vào đó, còn có những đề án đào tạo cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2013 - 2020; đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đương chức và quy hoạch các chức danh diện Tỉnh ủy quản lý;… và những Niên giám thống kê năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 của tỉnh Tiền Giang qua, do Cục thống kê tỉnh Tiền Giang phát hành Đây là những tài liệu quan trọng để tác giả tiếp thu, chọn lọc và trình bày trong nội dung của luận án

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích:

Từ sự trình bày, phân tích những quan điểm cơ bản về nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ, luận án làm sáng tỏ quan hệ tác động qua lại giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công

Trang 23

nghệ phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang Từ

đó, đề ra những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, nguồn nhân

lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ, mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ hai, luận án trình bày, phân tích nội dung và đặc điểm của quá trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó làm rõ những vấn đề đặt ra của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ cũng như vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang

Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra của sự

kết hợp giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học

và công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả đề ra những phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

4 Đối tƣợng và phạm vi của luận án

Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng

Trang 24

cao với phát triển khoa học và công nghệ tác động đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Tiền Giang

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu quan hệ giữa nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học và công nghệ của tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt các phương pháp và các nguyên tắc cơ bản của triết học mácxít như khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể Đồng thời, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, đối chiếu và so sánh,… để nghiên cứu và trình bày những vấn đề đặt ra trong luận án

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học

Luận án đã góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ nói chung, cũng như làm rõ tình hình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ý nghĩa thực tiễn

Những đề xuất, những ý nghĩa và bài học được rút ra từ các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ trong luận án có thể góp phần vào việc hoạch định những chủ trương, những biện pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang hiện nay

Trang 25

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở các trường đại học và cao đẳng, các cơ quan nghiên cứu về nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, trong cả nước và ở tỉnh Tiền Giang

7 Cái mới của luận án

Luận án làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học và công nghệ đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ

Luận án đã chỉ ra thực trạng và những vấn đề đặt ra của quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học

và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang

Từ đó, luận án đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản để gắn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Tiền Giang

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết và

18 tiểu tiết

Trang 26

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đến nhiều nguồn lực như nguồn vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, khoa học

và công nghệ, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Quan niệm về nguồn nhân lực

Thuật ngữ “nguồn lực con người” được dùng phổ biến vào những năm 60 của thế kỷ XX ở phương Tây và một số nước ở Châu Á Từ đó, thuật ngữ này được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được xem là lực lượng sản xuất hàng đầu, là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, giữ vai trò quyết định trong sản xuất, quyết định năng suất lao động và sự tiến bộ của xã hội Trong lý thuyết

về sự tăng trưởng kinh tế, con người là phương tiện chủ yếu đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ Trong lý luận về vốn, con người được xem là một loại vốn cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất kinh doanh và vốn người là toàn bộ vốn về thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu Liên Hợp Quốc cho rằng: “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [128; tr.8]

Trang 27

Ngân hàng Thế giới cũng cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân Nguồn nhân lực ấy kết tinh các giá trị truyền thống, kinh nghiệm, trí tuệ của mỗi dân tộc và tinh hoa tri thức nhân loại được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu phát triển hiện tại cũng như tương lai của mỗi quốc gia

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách)

và tính năng động của con người; là tổng thể các tiềm năng của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào công việc nào đó nhằm đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tại Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực, là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” [47, tr 9]

Như vậy, nguồn nhân lực là những người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt; được đào tạo, bồi dưỡng và được phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn với nền khoa học và công nghệ hiện đại;

có ý thức trách nhiệm, thái độ và tác phong lao động năng động, sáng tạo, xung kích trong các hoạt động hữu ích vì sự tiến bộ của xã hội Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của đất nước nên khi xem xét, phân tích nguồn nhân lực phải xét ở những góc độ về số lượng, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả

sử dụng

Trang 28

Về số lượng nguồn nhân lực:

Số lượng nguồn nhân lực là tổng số người lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, được quy định bởi quy mô dân số và lực lượng lao động Trong đó, quy mô dân số được thể hiện qua số lượng dân cư, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số; lực lượng lao động được thể hiện qua cơ cấu tuổi tác, giới tính, phân bố lao động theo lãnh thổ và theo lĩnh vực ngành

Thực tế, có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn nhân lực

Thứ nhất là, nhóm yếu tố tự nhiên như cơ thể sinh học, nhu cầu và quy luật

sinh học của con người tác động đến tỷ lệ sinh - tử ảnh hưởng đến sự tăng,

giảm dân số và lực lượng lao động một cách tự nhiên Thứ hai là, nhóm yếu

tố cơ học xã hội như vấn đề di dân do nhu cầu lao động và việc làm, ảnh hưởng đến sự tăng, giảm và tính cân đối lao động ở thành thị và nông thôn

Về chất lượng nguồn nhân lực:

Chất lượng nguồn nhân lực được quy định bởi các yếu tố như sức khỏe, đạo đức, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực sáng tạo

và thẩm mỹ; trong đó trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật đóng vai trò quyết định Định nghĩa này đã thể hiện những tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

Một là, tiêu chí về sức khỏe Sức khỏe là yếu tố cơ bản quyết định thể

lực nguồn nhân lực; là vốn quý, là cội nguồn của niềm vui và hạnh phúc; là điều kiện, cơ sở và phương tiện để nguồn nhân lực phát triển trí tuệ và hiện thực hóa sức mạnh trí tuệ trong thực tiễn Bởi lẽ, một cơ thể khỏe mạnh sẽ kích thích và thúc đẩy năng lực sáng tạo của trí tuệ và khả năng thích ứng nhanh trước những thay đổi của công việc và cuộc sống

Hai là, tiêu chí về năng lực phẩm chất đạo đức Bất kỳ một thời đại nào,

một vị trí công việc nào cũng cần những con người có phẩm chất đạo đức tốt

Trang 29

Đạo đức là cái gốc, là yếu tố quyết định nhân cách con người Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với hội nhập quốc tế hiện nay, tệ nạn xã hội và sự tha hóa về phẩm chất đạo đức của con người đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp nên rất cần những con người có phẩm chất đạo đức tốt để có thể thực hiện công việc một cách hiệu quả, hợp lý, bền vững Vì vậy, nguồn nhân lực cần được trang bị và rèn luyện một cách hệ thống bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; có ý thức kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm thời gian và của cải, có tinh thần trách nhiệm, hợp tác, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp nhằm đáp ứng được lợi ích lâu dài trong quá trình lao động, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế

Ba là, tiêu chí về trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông ở

cả lĩnh vực tự nhiên và xã hội Ở một mức độ cho phép nhất định thì trình độ văn hóa của dân cư thể hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ số lượng

và tỷ lệ biết chữ; số lượng và tỷ lệ người qua các cấp học tiểu học, trung học

cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng, đại học, trên đại học,… Đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực cũng

như trình độ phát triển kinh tế - xã hội Trình độ chuyên môn kỹ thuật được

đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy, thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó Các chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo, cơ cấu lao động được đào tạo (cấp đào tạo, công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn, trình độ đào tạo,… Tiêu chí về trình độ văn hóa

và chuyên môn kỹ thuật giữ vai trò quan trọng nhất, quyết định chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì các nguồn lực khác có thể cạn kiệt theo thời gian và cách sử dụng, duy chỉ có con

Trang 30

người với lượng chất xám được đào tạo và tự đào tạo theo thời gian sẽ ngày càng được nâng cao Các nguồn lực khác không tự mình phát huy tác dụng, không trở thành động lực phát triển mà phải dựa vào nguồn nhân lực, dựa vào trí tuệ của con người Do vậy, tiêu chí này giúp nguồn nhân lực trở thành chủ thể, động lực quyết định sức mạnh và sự phát triển của quốc gia, dân tộc

Bốn là, tiêu chí về năng lực sáng tạo và thẩm mỹ Trong quá trình hội

nhập quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế yêu cầu mỗi quốc gia muốn đứng vững trên thương trường phải có những hàng hóa đạt chất lượng tốt, giá thành rẻ, đáp ứng được thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Do vậy, nguồn nhân lực trong xã hội này phải có năng lực lao động sáng tạo và thẩm mỹ cao trong hoạt động sản xuất Khả năng sáng tạo và thẩm mỹ giúp định hướng việc bồi dưỡng nhu cầu, khát vọng của con người theo tiêu chuẩn chân - thiện - mỹ Sự phát triển của thẩm mỹ đúng đắn sẽ có tác động trở lại thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trình độ cao hơn, đặc biệt nó

có giá trị định hướng cho các hoạt động trí tuệ, cho việc sử dụng các thành tựu của trí tuệ, của khoa học vào những mục đích nhân văn, tiến bộ xã hội vì cuộc sống hạnh phúc của con người Tiêu chuẩn của năng lực sáng tạo và thẩm mỹ về con người ở thời kỳ hiện đại được thể hiện ở tính giáo dục, khả năng hợp tác, năng lực tiếp nhận và kỹ năng sống hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Như vậy, chất lượng nguồn nhân được quyết định bởi các yếu tố về sức khỏe, đạo đức, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn

kỹ thuật và năng lực sáng tạo, thẩm mỹ Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực còn được xem xét ở cơ cấu và hiệu quả sử dụng

Cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện ở phương diện cơ cấu trình độ

đào tạo, cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu phân bố nguồn nhân lực ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau,… Cơ cấu nguồn nhân lực được quy định bởi cơ cấu giáo dục - đào tạo và cơ cấu kinh tế - xã hội Nếu cơ cấu

Trang 31

giáo dục - đào tạo thích ứng với cơ cấu kinh tế - xã hội sẽ tạo ra nguồn nhân lực hợp lý, thúc đẩy quốc gia phát triển Ngược lại, cơ cấu giáo dục - đào tạo không phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực được tạo ra không đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, thất nghiệp tăng Vì thế, phải có sự phối hợp hài hòa giữa giáo dục - đào tạo với yêu cầu về nguồn nhân lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; có những chủ trương, chính sách, kế hoạch, đề án giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và phân bổ nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội để phát huy sức mạnh của nguồn nhân lực Cơ cấu nguồn nhân lực là tiêu chí góp phần đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

Về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội hiện nay, nhiều quốc gia chú trọng đến vai trò của nguồn nhân lực, xem xét nguồn nhân lực một cách toàn diện, đúng đắn và hiện thực thông qua hiệu quả lao động của nguồn nhân lực Nếu cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, nguồn nhân lực được phân bổ, sử dụng đúng, phù hợp với yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực, vùng, miền sẽ đem lại hiệu quả cao trong công việc, tạo động lực phát triển

xã hội Vì “dù hình thái xã hội như thế nào chăng nữa thì người lao động và tư liệu sản xuất bao giờ cũng là nhân tố của sản xuất” [80, tr 274-275] nên nguồn nhân lực được đào tạo và sử dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội Ngược lại, nếu sử dụng nguồn nhân lực bất hợp

lý, phân công không đúng người, không đúng việc sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của quốc gia Tóm lại, khi xem xét nguồn nhân lực phải quan tâm

cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Đây là nguồn lực nội sinh quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển toàn diện, bền vững của quốc gia

Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội VI (12/1986) đến nay, luôn xem trọng và yêu cầu phát

Trang 32

huy nhân tố con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), Đảng Cộng sản Việt Nam

đã khẳng định “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho

sự phát triển nhanh chóng và bền vững” [41, tr.342] Đến Đại hội IX (4/2001), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [42, tr.212] Khi xã hội ngày càng phát triển, khoa học và công nghệ càng hiện đại thì con người cũng ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Do vậy, quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao xuất hiện như một tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Quan niệm về nguồn nhân lực chất lƣợng cao

Vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao và quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về nguồn nhân lực chất lượng cao Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao

Trong thời đại của C.Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng C.Mác cho rằng: “nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người

có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất” [78, tr.474] Từ quan niệm này có thể hiểu, những con người này vừa

là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền đại công nghiệp Đây là những người lao động có trình độ, có tính kỷ luật, tinh thần tự giác và mang lại hiệu quả năng suất lao động cao; là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, đưa khoa học ứng dụng vào sản xuất mới

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), lần đầu tiên, thuật ngữ “nguồn nhân lực chất lượng cao”

Trang 33

được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức nêu ra trong Văn kiện Đại hội:

“Thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [43, tr.34], góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất và chưa có những tiêu chí cơ bản

để xác định thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, tuy các nhà nghiên cứu về nguồn nhân lực tiếp cận vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng có những quan niệm gần như tương đồng

Theo GS,VS Phạm Minh Hạc: “nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước

ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được

mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ

và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh” [62, tr.147-148]

GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: nguồn nhân lực chất lượng cao

“là một lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là

có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [19; 185]

Theo PGS,TS Đường Vinh Sường: “nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững của cộng đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung” [133]

Tại các cuộc Hội thảo khoa học, trên các trang web, tạp chí, vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao cũng trở thành đề tài thu hút sự quan tâm

Trang 34

của nhiều học giả Chẳng hạn, TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: “nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm dùng để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng dụng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn

kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề)” [33, tr.20] Đỗ Văn Dạo cho rằng: “nguồn nhân lực chất lượng cao là

bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức đã được đào tạo vào quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động cao” [30, tr.29-30]

Từ những quan niệm trên có thể khái quát định nghĩa nguồn nhân lực

chất lượng cao theo hai cách hiểu Tiếp cận theo cách hiểu mang tính chất

định tính, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao

động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo

ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho

sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng cũng như của toàn xã hội Tiếp

cận theo cách hiểu mang tính chất định lượng, nguồn nhân lực chất lượng

cao được hiểu theo hai hướng Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn

kỹ thuật Trên thực tế, khái niệm “lao động qua đào tạo” rất phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức và phương pháp đào tạo khác nhau, từ học nghề ngắn hạn đến cao đẳng, đại học đều có thể được xem là “lao động qua đào tạo” Như vậy, nếu coi nguồn nhân lực chất lượng cao là lao động qua đào tạo sẽ dẫn đến một sự phân hóa lớn về trình độ của nguồn nhân lực này Hai

là, nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học, cao đẳng, nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học,

Trang 35

công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng,… Thực tế, có một cách hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới là nguồn nhân lực chất lượng cao Quan niệm này mang tính phiến diện

Có thể thấy, về mặt khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao chưa có

sự thống nhất Cả hai cách hiểu mang tính định tính và định lượng đều có những hạn chế nhất định Cách hiểu về mặt định tính sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thống kê nguồn nhân lực chất lượng cao Cách hiểu về mặt định lượng sẽ không tính đến những nghệ nhân, những người có khả năng đặc biệt làm được những công việc mà ít người làm được nhưng lại không qua trường lớp đào tạo nào Mặt khác, không phải bất kỳ người lao động nào đã qua đào tạo đều có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các công việc tương ứng với trình độ đào tạo nhưng vẫn được xem là nhân lực có chất lượng cao

Như vậy, theo tác giả, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận

ưu việt của nguồn nhân lực; là những lao động lành nghề, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; có đủ sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt; có thái độ tốt, tác phong công nghiệp; có ý thức tổ chức kỷ luật cao với công việc; có khả năng xử lý và thích ứng nhanh với những thay đổi của những điều kiện, yêu cầu và công nghệ sản xuất; có khả năng lao động sáng tạo, là chủ quá trình sản xuất, đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động cao; đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững của cộng đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận cấu

thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất của nguồn nhân lực; có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường, của các doanh nghiệp trong và ngoài nước; là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức và tình cảm trong sáng, có thể không đông về số lượng nhưng phải đạt chất lượng và hiệu quả công việc cao

Trang 36

Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là tổng thể các cách thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo sự tăng trưởng về số lượng, chất lượng và hiệu quả quản lý, sử dụng, lao động sáng tạo của nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước

Trước hết là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về số lượng

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận đặc biệt, là lực lượng tinh túy nhất của nguồn nhân lực chất lượng cao nên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về số lượng là phải xuất phát từ những tiêu chí tăng số lượng nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về số lượng là mở rộng quy

mô dân số và lực lượng lao động theo một cơ cấu hợp lý nhằm đảm bảo lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu trẻ, khỏe, có khả năng chịu đựng và thích nghi tốt trước những áp lực công việc Số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao được quy định bởi quy mô dân số và lực lượng lao động nên có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao không tương xứng sẽ tác động không tốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Để làm được điều đó cần đảm bảo chính sách dân số hợp lý, phù hợp với quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước Nghĩa là, phải đảm bảo tỷ lệ sinh và phân bố dân số thích hợp với đặc trưng phát triển của từng vùng miền, lãnh thổ Số lượng người lao động qua đào tạo phải ngày càng nhiều và làm việc với hiệu quả cao

Hơn nữa, phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn với phát triển cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao về giới, về độ tuổi sao cho cân đối, phù hợp với chiến lược phát triển chung của mỗi quốc gia và đáp ứng nhu cầu phát triển riêng của mỗi địa phương Phát triển cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao phải có sự cân đối giữa tỉ lệ nam và nữ trong các

Trang 37

thành phần kinh tế Vấn đề này tùy thuộc vào tỷ lệ sinh nam và nữ, nhất là quá trình phân bố lao động trong các ngành nghề và các vùng kinh tế của một quốc gia Thêm vào đó, quá trình hội nhập và phát triển hiện nay đã yêu cầu phải có một nguồn nhân lực trẻ trong độ tuổi lao động, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về số lượng là giảm số người thất nghiệp, số người làm nội trợ; làm cho số người trong độ tuổi lao động có việc làm và nâng cao hiệu quả lao động của số người đang làm việc trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Song song với việc chú trọng về số lượng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được nâng cao về chất lượng

Chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là, thể hiện trạng thái nhất định của nguồn lực con người với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể chủ động, sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các quan hệ khác

Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những yếu tố về trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng và hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực Trong các yếu tố này, trí lực

và trình độ chuyên môn kỹ thuật là những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất quyết định sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển của xã hội

Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về chất lượng là phát triển ở các phương diện thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và nhân cách, đạo đức, lối sống, phong cách, thái độ làm việc

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở phương diện thể lực

Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không bệnh tật, có đủ sức để tiếp tục học tập, làm việc trong một hình thái lao động, nghề nghiệp nhất định; là điều kiện đảm bảo cho con

Trang 38

người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chủ yếu để con người chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất hiện thực Sức khỏe tốt là điều kiện cơ bản giúp con người phát triển hài hòa cả về thể chất lẫn tinh thần

Nguồn nhân lực chất lượng cao có sức khỏe tốt được thể hiện qua các chỉ số cơ bản như chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, tầm vóc, sức mạnh, sự nhanh nhạy, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai, sức mạnh cơ bắp trong công việc, khả năng chịu đựng sức ép và áp lực trong công việc Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về thể lực bên cạnh yếu tố gen di truyền còn phụ thuộc vào các yếu

tố liên quan đến chăm sóc, rèn luyện sức khỏe, chế độ dinh dưỡng,…

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về trí lực

Trí lực của nguồn nhân lực chất lượng cao được biểu hiện qua phương diện trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực sáng tạo Trong đó, trình độ học vấn là tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất đánh giá trí lực của nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi lẽ, bất kỳ người lao động nào, dù

ở bất kỳ một vị trí làm việc nào, cũng cần một trình độ học vấn nhất định, có

sự hiểu biết để nhận thức được mọi vấn đề liên quan đến công việc mà mình đảm nhận

Bên cạnh trình độ học vấn, nguồn nhân lực chất lượng cao phải có trình

độ chuyên môn kỹ thuật cao Vì nó thể hiện kiến thức và kỹ năng cần thiết để nguồn nhân lực chất lượng cao thực hiện công việc của mình Nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, ít nhất phải được đào tạo lành nghề, có kỹ năng thực hành và ứng dụng về một lĩnh vực chuyên môn nào đó để đáp ứng yêu cầu công việc được phân công đạt hiệu quả cao

Trang 39

Cùng với trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao cần có năng lực lao động sáng tạo trong công việc Sáng tạo là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển Xã hội luôn vận động và phát triển, khoa học và công nghệ tác động nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội nên người lao động phải không ngừng năng động, sáng tạo nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước Nếu không có tính sáng tạo thì hoạt động của tổ chức, của dân tộc sẽ bị tê liệt và lạc hậu Do vậy, tính năng động sáng tạo là tiêu chí để phân biệt nguồn nhân lực với nguồn nhân lực chất lượng cao Đặc biệt, đối với nguồn nhân lực chất lượng cao ở vị trí lãnh đạo, quản lý, điều hành một doanh nghiệp, một tổ chức, một quốc gia thì tiêu chí này có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự hưng thịnh

và phát triển của doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia Ngày nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về trí lực phải đặc biệt quan tâm đến quá trình

tự đào tạo để nâng cao chất lượng trí tuệ Vì các nguồn lực khác không tự phát huy tác dụng và cũng không tự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, mọi sự phát triển đều phụ thuộc vào năng lực và trí tuệ của con người Mọi nguồn lực khác theo thời gian sẽ cạn kiệt và khó thể phục hồi, duy chỉ có trí tuệ, chất xám của con người là có khả năng tự sản sinh, tự tái tạo và nó phát triển không ngừng cùng với “quá trình sáng tạo cái mới, nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người trong sự phát triển ngày càng tiến bộ, văn minh” [82, tr.21]

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về nhân cách, đạo đức, lối sống, phong cách và thái độ làm việc

Nhân cách là bộ mặt tâm lý, tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu

hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động, giao tiếp; thể hiện những giá trị và những chuẩn mực đạo đức xã hội Nó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức mà xã hội vươn tới, được cá nhân

Trang 40

lĩnh hội và thể hiện trong đời sống của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống hàng ngày Các giá trị chuẩn mực đó thể hiện hiệu quả công việc, đóng góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách cá nhân

Vì thực chất, nhân cách là quá trình xã hội hóa cá nhân, tiếp thu các giá trị văn hóa của gia đình, cộng đồng, xã hội và tăng dần hay làm giảm mức phù hợp giữa thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị của bản thân và cộng đồng, xã hội Diện mạo nhân cách con người do hoàn cảnh kinh tế - xã hội và hoạt động, giao tiếp quyết định Do vậy, nhân cách mang tính xã hội và tính cá thể với những kinh nghiệm, nếp suy nghĩ, tình cảm, hoài bão, niềm tin, định hướng giá trị, tính cách riêng nên tạo ra tính đa dạng của các cá nhân Chính nhân cách hình thành nên những con người cụ thể với những cá tính riêng, bản chất riêng, giúp phân định người tốt, người chưa tốt hay người xấu

Trí lực cũng như thể lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy sự tiến bộ

xã hội khi chủ nhân của nó là những con người có phẩm chất đạo đức và nhân cách tốt Trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của

họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, phát triển nguồn nhân lực, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, bồi dưỡng và nâng cao sức khỏe cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, chúng ta phải đặc biệt coi trọng việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay, xã hội rất cần những con người phát triển toàn diện nên hoàn thiện nhân cách cho nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu cơ bản để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Để góp phần hoàn thiện nhân cách con người, nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực thì không thể thiếu yếu tố đạo đức, lối sống Đạo đức, lối sống góp

phần làm nên chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, là kinh nghiệm sống, nhu cầu thói quen vận dụng tri thức tổng hợp và kinh nghiệm của mình vào

Ngày đăng: 13/10/2016, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Almanach, (1997), Những nền văn minh thế giới, Nxb. Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Tác giả: Almanach
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
2. Nguyễn Thị Thu Anh (2004), Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, Giáo trình trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Anh
Năm: 2004
3. TS. Trần Đình Thêm và TS. Trần Đức Ba (2011), Nền kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ kỹ thuật, Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ kỹ thuật
Tác giả: TS. Trần Đình Thêm và TS. Trần Đức Ba
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2011
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
7. Bàn về chiến lược con người (1990), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chiến lược con người
Tác giả: Bàn về chiến lược con người
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1990
8. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Bộ Kế hoạch và đầu tư - Viện chiến lược phát triển các vùng, tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương (2009), Tiềm năng và triển vọng đến năm 2020, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và triển vọng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư - Viện chiến lược phát triển các vùng, tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
10. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
11. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Khoa học và kỹ thuật Việt Nam 1996 - 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Khoa học và kỹ thuật Việt Nam 1996 - 2000, Nxb
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nxb." Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (2002), Khoa học và công nghệ thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ thế giới
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và môi trường
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (2002), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và môi trường
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. PGS. TS. Trần Xuân Cầu và PGS. TS. Mai Quốc Chánh (chủ biên) (2009), Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb. Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: PGS. TS. Trần Xuân Cầu và PGS. TS. Mai Quốc Chánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2009
15. Con người và nguồn nhân lực con người trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và nguồn nhân lực con người trong phát triển
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
17. Nguyễn Trọng Chuẩn, (1990), “Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000”, Tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000”
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1990
18. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), Nguồn nhân lực và phát triển, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 04 - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực và phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
19. Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp nhà nước KX-05 (2003), Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp nhà nước KX-05
Năm: 2003
25. TS. Hà Chuyên (2009): Động lực phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam (Việt Nam có thể trở thành con Rồng Châu Á?), Nxb.Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam (Việt Nam có thể trở thành con Rồng Châu Á?)
Tác giả: TS. Hà Chuyên
Nhà XB: Nxb. Thống kê Hà Nội
Năm: 2009
27. GS. TS. Vũ Đình Cự (1996), Khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu
Tác giả: GS. TS. Vũ Đình Cự
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
28. Đỗ Minh Cương (1998), Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
29. GS.TS. Mai Ngọc Cường (chủ biên) (2013), Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: GS.TS. Mai Ngọc Cường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w