CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.2. Khái quát về thương mại hóa kết quả nghiên cứu
1.2.4. Các hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Theo Cripps và cộng sự (1999), có nhiều hình thức để thực hiện hoạt động thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khác nhau như ấn phẩm, giáo dục đào tạo, hợp đồng nghiên cứu, tư vấn, CGCN, thành lập các doanh nghiệp KH&CN, các liên doanh. Trong đó, hình thức thương mại hóa phổ biến nhất là CGCN và hình thành doanh nghiệp KH&CN.
Chuyển giao công nghệ, theo khái niệm của OECD (2003), là sự thỏa thuận giữa các chủ sở hữu TSTT và tổ chức, cá nhân về việc sử dụng, thay đổi hoặc bán lại TSTT đó. Còn Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO xác định, CGCN bao gồm việc đảm bảo nhiều quyền khác nhau phụ thuộc và nhu cầu của các bên tham gia.
Những quyền này có thể khác nhau ở từng nước, phụ thuộc vào việc vận dụng các luật về SHTT và CGCN ở những nước đó. Theo Luật CGCN năm 2006 của Việt Nam thì, CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ. Việc CGCN được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
1. Hợp đồng CGCN độc lập;
2. Phần CGCN trong dự án hoặc hợp đồng sau đây:
a) Dự án đầu tư; b) Hợp đồng nhượng quyền thương mại; c) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; d) Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo CGCN;
3. Hình thức CGCN khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp KH&CN, là một hình thức thương mại hóa ngày càng phổ biến ở các nước khối OECD, đặc biệt là hình thức này đã rất phổ biến ở các nước phát triển, ví dụ như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. Doanh nghiệp KH&CN xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX, xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) được hình thành ở các nước công nghiệp phát triển. Spin – off được khởi nguồn từ Trường đại học/ Viện nghiên
vào quá trình quản lý của doanh nghiệp. Start – up chỉ sự khởi nghiệp của một doanh nghiệp mới hình thành ngoài Trường đại học/ Viện nghiên cứu trên nền tảng kết quả KH&CN14. Mặc dù có sự khác nhau giữa spin-off và start-up, nhưng giữa chúng đều có đặc điểm chung là: (1) Khởi đầu một doanh nghiệp mới dựa trên kết quả nghiên cứu KH&CN; (2) Doanh nghiệp có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả KH&CN để sản xuất các loại sản phẩm mà người tiêu dùng có nhu cầu.
Ngoài hai hình thức thương mại hóa kết quả R&D chủ yếu đã đề cập ở trên, thực tế còn tồn tại nhiều hình thức thương mại hóa khác ví dụ như xuất bản các ấn phẩm, các dịch vụ tư vấn công nghệ, v.v. Do đó, ta có thể chia thành hai loại là hình thức thương mại hóa trực tiếp và hình thức thương mại hóa gián tiếp như sau:
Bảng 1.1. Các hình thức thương mại hóa kết quả R&D
Hình thức thương mại hóa trực tiếp Hình thức thương mại hóa gián tiếp Chuyển giao công nghệ Xuất bản ấn phẩm
Hình thành doanh nghiệp KH&CN Giảng dạy Hợp đồng dịch vụ, tư vấn có ứng dụng
kết quả R&D
Mở khóa đào tạo Thành lập các liên doanh, hợp tác nghiên
cứu
Bài viết trên các tạp chí
Trực tiếp bán kết quả nghiên cứu Báo cáo tại các hội nghị/ hội thảo Một số hình thức khác Một số hình thức khác
Việc phân loại các hình thức thương mại hóa như trên cũng phù hợp với khái niệm mà tác giả đã đưa ra “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là sự ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào đời sống xã hội và đem lại lợi ích cho xã hội”. Ở đây
“lợi ích” trong khái niệm của tác giả bao gồm nhưng không giới hạn lợi ích về mặt ứng dụng KH&CN và lợi nhuận về mặt kinh tế. Trong các hình thức thương mại hóa gián tiếp, có thể không đem lại nhiều lợi nhuận về mặt kinh tế, nhưng việc truyền tải được kiến thức, kết quả nghiên cứu KH&CN cho nhiều người trong xã
14 Barbara Bigliardi, Francesco Galati, Chiara Verbano (2013), “Evaluating Performance of University Spin – Off Companies: lessons from Italy”, Journal of Technology Management & Innovation. 2013, Volum 8, Issue 2, ISSN:0718 – 2724;
Tindara Abbate, Fabrizio Cesaroni (2014), “Market Orientation and academic spin-off firms”, Working Paper, ISSN 1989-8843, Universidad Carlos III de Madrid;
hội cũng đem lại những lợi ích đáng kể, mà những lợi ích này nhiều khả năng đem lại lợi nhuận kinh tế về sau.
* Kết luận Chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày một cách tổng quát cơ sở lý luận về hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, những khái niệm về khoa học, công nghệ, thương mại hóa, rào cản trên cơ sở của việc nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, khai thác từ những tài liệu, nghiên cứu liên quan. Nội dung được đề cập trong chương này sẽ là cơ sở để tác giả phân tích thực trạng, nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN và qua đó đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những rào cản đó.