Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu tổng quan đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệcủa các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ trong và ngoài nước - Nghiên cứu thực trạng công
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔNVIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
-BÁO CÁO XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LĨNH VỰC THỦY LỢI
Trang 2Chương 2 Tổng quan về đánh giá kết quả hoạt động KH&CN của các tổ chức
Chương 3 Thự trạng công tác đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN của các
đơn vị thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
24
3.1 Đặc điểm hoạt động khoa học và công nghệ của các đơn vị thuộc Viện
Khoa học Thủy lợi Việt Nam
24
3.2 Tình hình thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp 263.3 Các kết quả hoạt động khoa học công nghệ điển hình của Viện 27
3.5 Tổng hợp các bài báo được đăng trên tạp chí trong nước 36Chương 4 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN của các
đơn vị trực thuộc Viện KHTLVN
38
4.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ các
đơn vị trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
4.4 Một số đề xuất khi áp dụng bộ tiêu chí và nâng cao hiệu quả hoạt động
khoa học công nghệ của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
50
Trang 3MỞ ĐẦU
Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán về vai trò của khoa học và công nghệ,phát triển và hoàn thiện hoạt động này phù hợp với thực tiễn của đất nước, trong bốicảnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và trước những diễn biếnbất ngờ của nền kinh tế quốc tế Nghị quyết TW 2 (khoa VIII) về khoa học công nghệ
đã xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực mạnh mẽ đổimới, ổn định tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa Các tổchức khoa học công nghệ là nơi tập trung các nghiên cứu, các công trình khoa họcmang lại cho xã hội loài người những thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực củacuộc sống Trong những năm gần đây, hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổchức nghiên cứu khoa học có những chuyển biến mới, mang lịa hiệu quả rõ rệt Bêncạnh những chuyển biến tích cực này, nhìn chung vẫn còn những hạn chế, bất cập đốivới hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu khoa học của nước
ta Nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện đổi mới cơ chế quả lý hoạt động khoa học vàcông nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói chung và Viện Khoa họcThủy lợi Việt Nam nói riêng, việc xây dựng một Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạtđộng khoa học công nghệ của các đơn vị trực thuộc là vấn đề cấp thiết Bộ tiêu chíđánh giá sẽ là căn cứ xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ và phân bổkinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ Trong khuôn khổ nghiên cứu này, để tàixây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ cho Viện Khoahọc Thủy lợi Việt Nam và các đơn vị thành viên
Trang 4CHƯƠNG 1 MỤC ĐÍCH, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Về nội dung: Tập trung vào các nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học
và công nghệ, đề xuất các tiêu chí và đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả và đánh giáhiệu quả hoạt động này của các đơn vị nghiên cứu khoa học thuộc Viện Khoa họcThủy lợi Việt Nam
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệcủa các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ trong và ngoài nước
- Nghiên cứu thực trạng công tác đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và côngnghệ của các đơn vị nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
- Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
- Đề xuất các giải pháp áp dụng bộ tiêu chí
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
Tiếp cận logic – lịch sử: xem xét các điều kiện cuh thể, hoàn cảnh lịch sử cụ thểkhi phân tích thực trạng kinh nghiệm của các nước cũng như bài học kinh nghiệm vềđánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ của các tổ chức nghiên cứu khoahọc
Bên cạnh đó, nghiên cứu này sẽ được thực hiện theo phương thức từ tổng kếtkinh nghiệm thực tế để đưa ra phương pháp và cách xác định các tiêu chí để đánh giákết quả và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và hệ thống các tiêu chí này sẽđược kiểm chứng
Phương pháp nghiên cứu:
- Hồi cứu tài liệu: tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan vềđánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
Trang 5- Nghiên cứu lý luận: hệ thống các khái niệm về hiệu quả và các biểu hiện củahiệu quả, hoạt động khoa học và công nghệ , lý thuyết về phương pháp đánh giá và hệthống tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ.
- Khảo sát đánh giá: khảo sát thực trạng và đánh giá hiệu quả của hoạt độngkhoa học và công nghệ của các đơn vị nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Thủy lợi ViệtNam bằng phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến chuyên gia thông qua các hội thảo khoahọc và trao đổi trực tiếp
Trang 6CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1 Kinh nghiệm đánh giá của các nước trên thế giới
Công tác nghiên cứu khoa học của các nước phát triển là một hoạt động sốngcòn, là động lực để phát triển sản xuất cũng như toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội.Ngân sách quốc gia, cũng như ngân sách của các doanh nghiệp dành cho hoạt độngnày khá lớn Do đó việc đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như đánh giá hoạt động khoahọc công nghệ đòi hỏi khách quan và được tiến hành một cách có hệ thống
2.1.1 Đánh giá các công trình nghiên cứu của Hà Lan
Theo quy chế 1998, công trình nghiên cứu khoa học được đánh giá theo:
- Các khía cạnh về nội dung chuyên ngành của các công trình nghiên cứu cũngnhư sứ mệnh của khoa học và của cơ sở nghiên cứu
- Sử dụng một cách rõ ràng hơn các tiêu chí đánh giá chất lượng khoa học hayđánh giá chất lượng học thuật, hiệu suất nghiên cứu, tính phù hợp và khả năng tiếp tụcphát triển trong tươgn lai của công trình nghiên cứu dưới dự soi sáng của sứ mệnh củanhóm nghiên cứu, của khoa học và của tổ chức
- Sử dụng thống nhất các quy tắc và chỉ dẫn đánh giá của Hội liên hiệp khoahọc tại Hà Lan
2.1.1.1 Chất lượng khoa học
Chất lượng khoa học của công trình nghiê cứu được đánh giá trên các cơ sở sau:
- Sự đóng góp của công trình nghiên cứu cào quá trình nghiên cứu và phát triểnkhoa học quốc tế
- Giá trị của các ấn phẩm công bố của công trình nghiên cứu
- Chất lượng của các cách tiếp cận và ý tưởng khoa học trong quá trình giảiquyết các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của chương trình hay đề tài
- Các chỉ số về sự công nhận quốc tế ngoài các ấn phẩm công bố như vị trí của
cơ sở nghiên cứu, nhà khoa học trong mạng lưới khoa học quốc tế; Những công việc
tư vấn được mời tham gia trên cơ sở uy tín khoa học
2.1.1.2 Tính phù hợp của nghiên cứu
Tính phù hợp của nghiên cứu được đánh giá dựa vào các mặt sau:
- Các ý tưởng và cách tiếp cận đặc trưng của nghiên cứu đã đóng góp vào quátrình phát triển của linh vực khoa học tương ứng
Trang 7- Tiểm năng tác động và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào phát triển công nghệtrong tương lai và đáp ứng các nhu cầu mong muốn.
- Mức độ đáp ứng của công trình nghiên cứu đối với những nhu cầu của mạnglưới hệ thống khoa học – công nghệ của nhà nước, các ngành công nghiệp, các cơquan trên cơ sở các kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn
- Kết quả tạo ra các nguồn tài chính khác ngoài nguồn tài trợ chính
2.1.1.3 Khả năng phát triển
Khả năng phát triển của nghiên cứu được đánh giá dựa trên các mặt sau:
- Mức độ tiếp tục phù hợp của chuyên đề nghiên cứu trên cơ sở tầm nhìn và kếhoạch phát triển trong tương lai (các dự kiến khoa học)
- Các khả năng đóng góp tài chính trong tương lai của các đối tác và điều kiệnnghiên cứu
- Sự tiếp tục hỗ trợ của các cấp lãnh đạo và quản lý đối với chương trình nghiêncứu
- Mức độ liên kết của chương trình nghiên cứu
- Điểm mạnh của các mối liên kết đã có và sẽ có của nghiên cứu với các tổ chứcnghiên cứu trong nước và quốc tế
2.1.2 Kinh nghiệm nghiên cứu đánh giá của Thụy Điển
Thụy Điển là một nước công nghiệp phát triển có trình độ khoa học công nghệcao Công tác đánh giá chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và triển khai được qua tâm vớinhững chỉ tiêu đầu tiên đối với đánh giá cơ bản là:
Đánh giá không phải là một chức năng riêng biệt được thực hiện chỉ trongnhững chu kỳ sau hoặc sau khi nghiên cứu phát triển được thực hiện; đây là một quátrình liên tục mà cơ sở xây dựng phải được đặt ra trong giai đoạn lập kế hoạch nghiêncứu triển khai
Trang 8Bản chất của đánh giá là so sánh với một số tiêu chuẩn, yêu cầu (mục tiêu),cũng như khả năng lựa chọn hoặc những nhóm kiểm soát nghiên cứu và triển khai cótính chất thống kê (trong khoa học xã hội và khoa học cuộc sống) Chỉ tiêu cần phảixác định rõ ràng ngay từ đầu.
Thông tin cơ bản (cả định tính và định lượng) cần phải có một cách đúng lúc và
ở một mức độ tương ứng, ở mức độ chi tiết khuôn mẫu tương ứng đối với mỗi mức độgiám sát quản lý hay trách nhiệm
Sự liên hệ từ trước hay tiếp tục của những người sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu
và triển khai có thể đem lại sự chuyển giao công nghệ và ứng dụng kết quả
Sự giám sát độc lập và đánh giá cần phải được thực hiện bởi những chuyên gia
có kinh nghiệm và không tham gia vào việc nghiên cứu triển khai
Ngoài ra giai đoạn lập kế hoạch rất quan trọng trong việc thiết lập giai đoạnđánh giá chương trình, cụ thể:
- Xác định nhu cầu và vấn đề của nhà tài trợ và hình thành đối tượng, chỉ báonghiên cứu
- Xác định cơ sở để so sánh, vì so sánh là bản chất của đánh giá kết quả nghiêncứu Cơ sở đánh giá có thể là kết quả của một nghiên cứu nào đó, có thể là kết quả đạtđược của một nghiên cứu tương tự trước đó, có thể là mức độ mà những yêu cầu haymục tiêu cụ thể đáp ứng được hoặc là tổng hợp các yếu tố trên
- Thiết kế và nhấn mạnh phương tiện phát triển thông tin và dữ liệu, cả phươngpháp định lượng và các chỉ số
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc lập kế hoạch đó là
để trả lời cho câu hỏi: điều gì sẽ xảy ra và ai sẽ liên quan đến nếu chương trình nghiêncứu và triển khai hoặc dự án thành công Nói cách khác là:
- Bước tiếp theo hay một loạt những bước tiếp theo trong quá trình đổi mớicông nghệ là gì?
- Ai sẽ là người liên quan đến trong việc quyết định và áp dụng những kết quảđạt được và những quyết định hay chỉ tiêu nào cần được thực hiện cũng như nhữngkhó khăn nào cần phải vượt qua để đảm bảo kết quả cuối cùng của việc cải tiến
Thành lập một đội đánh giá độc lập nhằm mục đích vạch ra hoặc diễn giải chỉtiêu và lựa chọn những phương án phù hợp đối với sự thành công của công tác đánhgiá chương trình
Đánh giá không nên được đề cập đến như là một chức năng riêng biệt chỉ trongnhững giai đoạn sau hoặc sau khi kết thúc một dự án: nó cần đề cập đến như một quá
Trang 9trình liên tục mà cơ sở của nó cần phải được đặt ra trong giai đoạn lập kế hoạchchương trình nghiên cứu và triển khai.
Kết quả đánh giá cần phải được ăn nhập với nhau sao cho đáp ứng được nhucầu của người sử dụng những nghiên cứu đánh giá này, trong khi việc sử dụng chúngđôi khi còn khó khăn hơn là đánh giá chúng Có thể cho rằng chính người sử dụngđánh giá phải là người đặt ra chính những mục tiêu đánh giá đó Một mặt, nó có thểcho phép phân loại đối tương nghiên cứu và triển khai từ giai đoạn lập kế hoạch, mặtkhác nó hỗ trợ cho đánh giá bằng cách cho phép so sánh những kết quả đạt được vớinhững gì đặt ra
Nhu cầu thiết lập một cơ sở cho sự so sánh thông tin định tính và định lượng,những thông số khoa học và công nghệ và sự phát triển đánh giá thực thi đã định
Cần phải quan tâm đến việc lựa chọn một đội ngũ đánh giá độc lập tách riêngvới việc quản lý để đảm bảo tính toàn vẹn và tính tin cậy
Để đạt được tính sâu sắc của đánh giá, cần phải có một cam kết nghiêm túc vớimột đánh giá, những người có trách nhiệm đối với quá trình đánh giá cần phải đượccung cấp đầy đủ các nguồn lực để thực hiện
2.1.3 Kinh nghiệm đánh giá của Hoa Kỳ
- Phải bắt đầu bằng những khẳng định rõ ràng về mục tiêu của chương trình
- Xây dựng các tiêu chuẩn nhằm duy trì và tăng cường tính xuất sắc, tính tráchnhiệm của hệ thống nghiên cứu
- Thiết lập các chỉ tiêu kết quả hoạt động có ích đối với các nhà quản lý vàkhuyến khích tinh thần giám mạo hiểm
- Tránh những đánh giá quá nặng nề, quá tốn kém, hoặc khuyến khích nhữngnăng suất có tính giả tạo
- Tổng quan những thành tích hợp tác và đánh giá đồng nghiệp về thành tíchhoạt động của chương trình
- Sử dụng nhiều nguồn và nhiều loại bằng chứng, chẳng hạn phối hợp các tiêuchí định tính và định lượng và cả những lời tường thuật
- Thí nghiệm nhằm phát triển một tập hợp các công cụ đánh giá hữu hiệu
- Đưa ra được những báo cáo phục vụ cho việc phát triển chính sách trongtương lai và cải tiến, điều chỉnh các kế hoạch thực hiện chương trình
- Công bố các kết quả cho công chúng và các cử tri đại diện
Một số chỉ tiêu liên quan tới kết quả hoạt động, chẳng hạn về: số lượng, chấtlượng, thời gian, chi phí, sản phẩm và kết quả đạt được Các chỉ tiêu này bao gồm:
Trang 10- Các chỉ tiêu đầu vào phản ánh năng lực, mức độ sẵn sàng của cơ quan để thựchiện chương trình hoặc các hoạt động để tạo ra các kết quả và sản phẩm Chúng baogồm: nhân lực, tài trợ, thiết bị hoặc phương tiện, hàng hóa hay dịch vụ nhận được, cácquy trình hay quy tắc làm việc.
- Các chỉ tiêu đầu ra là những bảng biểu, tính toán, những ghi nhận các hoạtđộng, những nỗ lực và có thể diễn tả dưới dạng định tính hoặc định lượng
- Các chỉ tiêu và kết quả đạt được – là các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động
sơ vứi mục đích đã định
- Các chỉ tiêu đánh giá tác động là các số đo về hiệu quả trực tiếp hay gián tiếphoặc những hệ quả tạo ra từ việc thực hiện các hoạt động của các chương trình Việcđánh giá tác động có thể tiến hành trên cơ sở so sánh kết quả hoạt động của chươngtrình với tình trạng trước đó, chất lượng dịch vụ của cơ quan khoa học và công nghệnày với cơ quan khác Đo đạc tác động thường được làm dưới dạng những nghiên cứu
so sánh đặc biệt
2.1.4 Kinh nghiệm đánh giá của CHLB Đức
2.1.4.1 Đánh giá của nhóm Danh sách Xanh của CHLB Đức
Danh sách Xanh bao gồm 83 tổ chức, trong đó 80% là các Viện nghiên cứu,bảo tàng nghiên cứu và 20% là các Viện phục vụ cho nghiên cứu (các trung tâm thôngtin khoa học và công nghệ, các cơ sở dữ liệu, v.v…) Nếu phân theo lĩnh vực chuyênmôn thì hệ thống này phân bố như sau:
- Khoa học xã hội và nhân văn, chiếm 20%
- Khoa học xã hội và kinh tế, chiếm 20%
- Khoa học sự sống, chiếm 26%
- Toán học và khoa học tự nhiên, chiếm 25%
- Khoa học môi trường, chiếm 9%
Trong đánh giá các Viện thuộc Danh sách Xanh, người ta cũng đề xuất các chỉtiêu (khoảng 20 chỉ tiêu) để nhận xét năng suất và hiệu quả nghiên cứu, tập trung theocác nhóm sau:
Về chương trình nghiên cứu của tổ chức khoa học: sự hợp lý của chương
tình nghiên cứu là tính thuyết phục trong việc xác định các trọng điểm nghiên cứu (cácchương trình nghiên cứu có mang tính tổng hợp thành hệ thống gắn kết với nhau haychỉ là những đề tài rời rạc); có sức thuyết phục đối với lao động khoa học của Việntrong một tương lai trung hạn hay không (có phục vụ các mục tiêu ưu tiên, …)
Về công bố và hội nghị khoa học: sự hưởng ứng khoa học đặc biệt là dựa trên
những công bố cao, các bài viết trên tạp chí khoa học nổi tiếng; các nhà khoa học của
Trang 11Viện có được mời tham gia báo cáo tại các hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế quantrọng; Viện có tổ chức được các hội nghị ngành quốc gia và quốc tế quan trọng.
Về chất lượng đội ngũ khoa học: bao nhiêu người được mời giảng dạy tại các
trường đại học, hướng dẫn nghiên cứu sinh, bao nhiêu người được phong giáo sư, cócác chương trình tự đào tạo hay không
Về khả năng liên kết và hợp tác: khả năng huy động các nguồn tại trợ bên
ngoài; có sự tư vấn của các Viện khác trong cùng ngành hay không; sự liên kết và hợptác với các tổ chức bên ngoài của Viện (với các trường đại học, các Viện khác, các cơ
sở sản xuất …); sự năng động của các thành viên trong Viện
Khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu: số người có đăng ký sở hữu công
nghiệp; số người có thể lập công ty; số người có khả năng lôi kéo tài trợ bên ngoài…
Về chất lượng dịch vụ: năng lực và chất lượng phục vụ nhu cầu khách hàng;
dịch vụ có dựa trên công nghệ tiên tiến hay không; chất lượng của các hoạt động tưvấn…
2.1.4.2 Đánh giá của hiệp hội Fraunhofer ở Đức
Hiệp hội Fraunhofer bao gồm 56 cơ sở nghiên cứu, với ngân sách hoạt độnghàng năm khoảng 900 triệu EUR, có nhiệm vụ thực hiện triển khai, quảng bá các trithức khoa học trên các linh vực nghiên cứu ứng dụng thông qua các hợp đồng nghiêncứu và dịch vụ với các chủ hợp đồng là tư nhân hoặc Nhà nước, nhằm đảm bảo khảnăng cạnh tranh của kinh tế thủ công của Đức và giải quyết các nhiệm vụ công cộngcũng như thúc đẩy các nghiên cứu phục vụ mục đích tư nhân
Các lĩnh vực hoạt động khoa học của Fraunhofer bao gồm: kỹ thuật vật liệu,công nghệ xây dựng, kỹ thuật sản xuất, công nghệ gia công, công nghệ thông tin vàviễn thông, vi điện tử, kỹ thuật vi hệ thống, hệ thống cảm ứng, kỹ thuật kiểm tra, kỹthuật xây dựng và năng lượng; nghiên cứu về sức khỏe và môi trường; trung tâmnghiên cứu kinh tế - kỹ thuật, tư vấn và thông tin khoa học công nghệ
Sau đây là danh mục các chỉ tiêu đánh giá của hiệp hội Fraunhofer:
Các chỉ tiêu đầu vào:
- Độ năng động của đội ngũ cán bộ nghiên cứu
- Số nhà khoa học đến cộng tác
- Trình độ khoa học của đội ngũ cán bộ nghiên cứu (TS, PGS, GS)
- Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn khoa học
- Độ tuổi bình quân trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu
- Mối quan hệ với các doanh nghiệp
- Mức độ đầu tư
Trang 12Các chỉ tiêu đầu ra
- Thành tích khoa học
- Được mời giảng dạy tại các trường đại học
- Được tham gia tư vấn
- Số ấn phẩm công bố
- Tổ chức các hội thảo khoa học
- Các giải thưởng khoa học
- Các luận văn thạc sỹ và tiến sỹ
Về chuyển giao công nghệ
- Các hợp đồng thực hiện cho công nghiệp (tổng giá trị)
- Các loại hợp đồng khác
- Số lượng các hợp đồng do doanh nghiệp đặt hàng
- Số lượng các hợp đồng do ngân sách Nhà nước cấp
- Hợp tác với các ngành
- Bản quyền
- Thành lập các công ty ngoại biên (spin off)
2.1.5 Đánh giá nghiên cứu đại học tại Thái Lan
Trong hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo đại học ở Thái Lan, nghiên cứukhoa học là một đánh giá quan trọng Các hoạt động đánh giá khoa học được đánh giátheo các mặt sau:
- Chính sách, công tác lập kế hoạch và hỗ trợ hệ thống nghiên cứu
- Các ấn phẩm nghiên cứu khoa học
- Các nguồn lực nghiên cứu: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất
Như vậy đối với toàn trường đại học, công tác nghiên cứu được đánh giá toàndiện trên nhiều mặt đặc biệt là kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí trongnước và quốc tế, các chứng nhận quyền tác giả, bản quyền của các công trình khoahọc
Từ năm 2002 Thái Lan đã có cải tổ lớn về cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước vềgiáo dục với sự thành lập của Bộ Giáo dục, văn hóa và tôn giáo trong đó có Ủy bangiáo dục đại học Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong côngtác kiểm định đã thay đổi với sự thành lập một cơ quan mới là Cơ quan tiêu chuẩn giáodục quốc gia và đánh giá chất lượng (The Office for National Education Standars andQuality Asseessment) có vị trí và vai trò độc lập không trực thuộc trực tiếp Bộ Giáo
Trang 13dục, văn hóa và tôn giáo Cơ quan này có trách nhiệm đánh giá bên ngoài và các chứcnăng chủ yếu sau:
- Phát triển hệ thống đánh giá bên ngoài, hoạch định cơ chế, định hướng và cácphương pháp đánh giá bên ngoài có hiệu quả trong hệ thống đảm bảo chất lượng
- Phát triển các chuẩn mực, các tiêu chí đánh giá bên ngoài
- Giám sát và đặt ra các tiêu chí cấp chứng chỉ của các chuyên gia đánh giá bênngoài, hỗ trợ các nghiên cứu phát triển hệ thống đánh giá bên ngoài
- Phát triển và đào tạo đội ngũ chuyên gia đánh giá bên ngoài; xây dựng cácchương trình và tổ chức các khóa đào tạo, khuyến khích các cơ quan, tổ chức tư nhân,nghề nghiệp tham gia có hiệu quả vào việc đào tạo chuyên gia đánh giá bên ngoài
- Đệ trình báo cáo hàng năm về đánh giá chất lượng và các chuẩn mực giáo dụclên Chính phủ và Bộ Giáo dục, văn hóa và tôn giáo, Cơ quan ngân sách để xem xét vàhoạch định chính sách giáo dục và phân bổ ngân sách giáo dục hàng năm cũng nhưthông tin cho các cơ quan hữu quan và công chúng
Vai trò của Bộ Giáo dục, văn hóa và tôn giáo (Ủy ban giáo dục đại học) tậptrung vào công tác chỉ đạo, hỗ trợ xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng của cáctrường trực thuộc và thực hiện đánh giá bên trong Thực hiện các hoạt động thông tin
và hợp tác khu vực và quốc tế trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng đào tạo, làm cầu nốigiữa cơ quan tiêu chuẩn giáo dục với các cơ sở đào tạo
2.1.6 Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu ở Nhật Bản
Chất lượng các công tác nghiên cứu của một tổ chức khoa học được đánh giá ởcác tiêu chí sau:
- Mục đích và các mục tiêu nghiên cứu
- Cơ cấu các hoạt động nghiên cứu, các hệ thống hỗ trợ
- Sản phẩm nghiên cứu và mức độ nghiên cứu
- Sự đóng góp của các hoạt động nghiên cứu vào phát triển kinh tế, văn hóa xãhội
- Tổ chức nghiên cứu
- Quản lý và nâng cao chất lượng nghiên cứu
Như vậy, các đánh giá về nghiên cứu của Nhật Bản đối với các tổ chức nghiêncứu khoa học rất quan tâm đến mục tiêu nghiên cứu, các sản phẩm và sự đóng góp củacác nghiên cứu đối với công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
2.1.7 Bài học kinh nghiệm
Công tác nghiên cứu khoa học ở các nước phát triển là một hoạt động sống còn,động lực để phát triển sản xuất cũng như toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Ngân sách
Trang 14quốc gia, cũng như ngân sách của các doanh nghiệp dành cho hoạt động này khá lớn.
Do đó việc đánh giá hiệu quả đầu tư cũng nhưn đánh giá hiệu quả hoạt động khoa họccông nghệ đòi hỏi khách quan và được tiến hành một cách có hệ thống
Kinh nghiệm đánh giá hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học của các nước trênthế giới có thể được tổng kết như sau:
Tiến hành đánh giá bao gồm
- Ở cấp quốc gia: Các tổ chức cung cấp nguồn vốn; Hội đồng nghiên cứu
- Ở cấp cơ sở: Hội đồng khoa học; Ban lãnh đạo; các đơn vị chuyên môn
Mục tiêu đánh giá
- Phân bổ vốn nghiên cứu
- Xây dựng chiến lược
Nhóm 1: Các chỉ tiêu liên quan đến mục tiêu, tầm nhìn và chiến lược phát triển
của tổ chức nghiên cứu và triển khai Các chỉ tiêu này mang tính khái quát và baotrùm, phần lớn chúng mang tính chất định tính, chúng thể hiện vai trò và chiến lượcphát triển của tổ chức nghiên cứu và triển khai theo các hướng khoa học và công nghệtrọng điểm quốc gia Những câu hỏi đánh giá ở đây là: Tổ chức nghiên cứu và triểnkhai có xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, trung hạn và kế hoạch phát triển ngắnhạn của mình hay không? Các quy hoạch, kế hoạch đó có thể nằm trong chức năngnhiệm vụ được giao hay không? Tổ chức nghiên cứu và triển khai hình dung vị trí củamình như thế nào trong hệ thống khoa học và công nghệ của quốc gia và quốc tế? Các
đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu có đảm bảo tính hệ thống và thể hiện được tầm nhìn cũngnhư yêu cầu của tổ chức nghiên cứu và triển khai hay không? Các kế hoạch xây dựngtiềm lực và đội ngũ có thể hiện được yêu cầu phát triển đã đề ra hay không? v.v…Theo kinh nghiệm của CHLB Đức, có thể lấy các mục tiêu xác thực, đủ cụ thể, phùhợp với chức năng và nhiệm vụ được giao do tổ chức nghiên cứu và triển khai đề ralàm chuẩn mực để đánh giá
Nhóm 2: Các chỉ tiêu đầu vào, bao gồm các chỉ tiêu liên quan tới tiềm lực của
tổ chức nghiên cứu và triển khai Câu hỏi tổng quát ở đây là: Tiềm lực nghiên cứu và
Trang 15triển khai của cơ quan có đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực khoa học
và công nghệ được giao nhằm bắt kịp và vượt trình độ tiên tiến của sản xuất trongnước, trình độ khoa học và công nghệ của khu vực và quốc tế hay không?
Các tiêu chí này bao gồm những nét cơ bản sau:
- Sức mạnh của tiềm lực xét trên các thành tố cơ bản là: Nhân lực (xét trên cácmặt cơ cấu như lứa tuổi, nam nữ, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác nghiên cứukhoa học và công nghệ, phân theo các linh vực hoạt động khoa học công nghệ, cơ cấuchức vụ, v.v…); tài chính; thông tin khoa học công nghệ; trang thiết bị nghiên cứu;năng lực tổ chức công tác nghiên cứu khoa học công nghệ
- Mức độ tổng hợp của các chương trình, đề tài nghiên cứu mà cơ quan thựchiện trong những năm gần đây: tính hệ thống của các đề tài nghiên cứu, dự trữ các ý
đồ nghiên cứu, khả năng tập trung nguồn lực để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểmyếu
- Mức độ trang thiết bị các cơ sở thử nghiệm, các dự án, quy mô của cơ sở thínghiệm, khả năng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra với các dự án quốc gia
- Năng lực bồi dưỡng cán bộ, đào tạo cán bộ có trình độ cao: thành phần và tìnhtrạng của các cơ sở đào tạo (thực tập, thí nghiệm, thử nghiệm, trình diễn); cán bộ vàkhả năng tổ chức trong quá trình đào tạo (hướng dẫn viên khoa học, giảng viên, giáo
sư, cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, v.v…); các bộ phận trợ giúp khác (phòng hội thảo,hội trường, các phương tiện trang bị cho trình diễn, các phương tiện thông tin liên lạc,v.v…)
Nhóm 3: Các chỉ tiêu đầu ra là những chỉ tiêu phản ánh các kết quả hoạt động
của nghiên cứu và triển khai và hoạt động khoa học và công nghệ nói chung của tổchức nghiên cứu và triển khai, tác động vào vai trò của tổ chức nghiên cứu và triểnkhai
2.2 Trong nước
2.2.1 Điểm qua kết quả nghiên cứu khoa học của một số tổ chức
2.2.1.1 Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (VASS)
Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam là một Viện hàn lâm khoa học hàng đầucủa cả nước về lĩnh vực nông nghiệp được thành lập theo các Quyết định số 220/QĐ-TTg và Quyết định số 930/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướngChính phủ Hiện tại, Viện có 5 ban chức năng, 18 đơn vị trực thuộc, với biên chế là2.674 người, trong đó có 31 Giáo sư và Phó Giáo sư; 191 TSKH và TS; 555 Thạc sỹ;1.129 Kỹ sư/Cử nhân; Tỷ lệ cán bộ khoa học trình độ từ đại học trở lên chiếm 41,3%
Biểu 2.1 Kết quả hoạt động khoa học và công nghệ của
Trang 16Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam
1 Số lượng công trình nghiên cứu khoa học
1.1 Đề tài cấp Nhà nước (độc lập và chương trình) 49 48 611.2 Dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước 2 6 51.3 Đề tài nghiên cứu hợp tác theo nghị định thư 8 9 101.4 Đề tài cấp Bộ (độc lập và chương trình) 105 93 1101.5 Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ 17 22 34
4 Hiệu quả thông tin nghiên cứu khoa học
4.3 Các báo cáo tham luận tại các hội nghị khoa
học trong và ngoài nước
5 Hiệu quả khoa học công nghệ
5.1 Số bản quyền sáng chế được đăng ký bảo hộ
5.2 Số phát minh được công bố
5.3 Số lượng nghiên cứu được áp dụng vào thực tế
5.4 Số lượng tiến bộ kỹ thuật, sáng kiến, kinh
nghiệm được công nhận và phổ biến
+ Cây, con giống, vật liệu, thiết bị, công cụ mới
+ Phương pháp, quy trình, chính sách, công
nghệ mới
6 Hiệu quả kinh tế
6.1 Tổng kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học
Trang 17Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là tổ chức sự nghiệp khoa học được xếphạng đặc biệt, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Biểu 2.2 Kết quả hoạt động khoa học và công nghệ của Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
1 Số lượng công trình nghiên cứu khoa học
1.1 Đề tài cấp Nhà nước (độc lập và chương trình) 10 9 15
4 Hiệu quả thông tin nghiên cứu khoa học
4.3 Các báo cáo tham luận tại các hội nghị khoa học
trong và ngoài nước
5 Hiệu quả khoa học công nghệ
5.3 Số lượng nghiên cứu được áp dụng vào thực tế 35 41 175.4 Số lượng tiến bộ kỹ thuật, sáng kiến, kinh nghiệm
được công nhận và phổ biến
+ Cây, con giống, vật liệu, thiết bị, công cụ mới 20 4 17+ Phương pháp, quy trình, chính sách, công nghệ
-6 Hiệu quả kinh tế
6.1 Tổng kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học
Trang 18đề tài, dự án nghiên cứu khoa học của đơn vị khá nhiều, bình quân cứ 8 cán bộ khoahọc thì có 1 đề tài Số lượng tiến sĩ và thạc sĩ được đào tạo thông qua các kết quảnghiên cứu còn khá khiêm tốn
Đối với hiệu quả thông tin từ nghiên cứu khoa học, số lượng bài báo được công
bố trong nước còn ít với 1,5 bài báo/1công trình nghiên cứu Đối với bài báo đượccông bố trên tạp chí nước ngoài, bình quân 0,08 bài báo/1 công trình nghiên cứu Bêncạnh đó, trong 3 năm Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã xuất bản được 40 đầusách chuyên khảo và sách khác từ các công trình nghiên cứu Đây là một kết quả khátốt trong giai đoạn hiện nay
Về hiệu quả kinh tế, số liệu từ bảng trên cho thấy cứ 01 đồng đầu tư từ ngânsách cho hoạt động khoa học công nghệ thì có 02 đồng được tạo ra từ bán sản phẩm,chuyển giao công nghệ, bán bản quyền
Về cơ bản, các tổ chức đều chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạtđộng khoa học và công nghệ một cách chính thống và việc đánh giá hiệu quả đượctriển khai không thường xuyên và chưa coi đó là một nhiệm vụ cần thiết
Tiêu chí về hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng vàđưa vào hệ thống tính toán
2.2.2 Một số ý kiến về tiêu chí đánh giá
Hầu hết các tổ chức nghiên cứu khoa học khi xây dựng định hướng chiến lượckhoa học và công nghệ đều có đề cập một cách trực tiếp hay gián tiếp về các tiêu chíđánh giá chất lượng trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giaocông nghệ Có thể tóm tắt như sau:
- Xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ phù hợp vớichức năng nhiệm vụ và định hướng phát triển của ngành
- Các đề tài, dự án được triển khai và thực hiện theo kế hoạch
- Số lượng bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế tươngứng với số đề tài nghiên cứu khoa học và phù hợp với định hướng nghiên cứu
Trang 19- Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có những đóng gópmới cho khoa học, có giá trị ứng dụng thực tế giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế -
xã hội
- Đảm bảo nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
- Các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đơn vị gắnkết với các doanh nghiệp, đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực của đơn vị
Tuy nhiên các tiêu chí này mới chỉ được xem xét trong phạm vi hẹp do đókhông thể áp dụng cho tất cả các tổ chức có quy mô và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau
Một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu, đề xuất mang tính cá nhân vềhiệu quả hoạt động khoa học công nghệ như:
- TS Phạm Hữu Dục cho rằng bên cạnh hiệu quả trực tiếp, khoa học công nghệcòn có hiệu quả tiềm năng, như đầu thập niên 70, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ưuthế ngô lai, 25 năm sau đánh bật được các công ty nước ngoài, giành lại thị phần giốngngô lai ở Việt Nam; hiệu quả mang tính tích hợp, ví như Việt Nam chặn được dịchSARS sớm nhất là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu vi trùng, dịch tễ học, bác sĩđiều trị
- Ở một khía cạnh khá, GS Hoàng Tụy đưa ra nguyên tắc đánh giá các đề tàikhoa học: Nếu do nhà nước đầu tư thì hiệu quả nghiên cứu phải được công bố trên cáctạp chí chuyên ngành nước ngoài, nếu không công bố được trên các tạp chí nước ngoàithì chưa xứng tầm quốc gia tài trợ Với những đề tài chưa rõ ứng dụng cụ thể, rủi rocao thì các chuyên gia phải lập dự án sau đó xin tài trợ của nhà nước Nhà nước chỉkiểm tra kết quả và thưởng cho những đề tài có hiệu quả
- GS Vũ Cao Đàm nhấn mạnh cần phân biệt rõ kết quả và hiệu quả nghiên cứu:kết quả thì đánh giá, còn hiệu quả phải lượng định GS Vũ Cao Đàm cũng đưa ra tiêuchí đánh giá hiệu quả gồm hiệu quả khoa học (tức là hiệu quả thông tin, cả nhữngnghiên cứu thất bại cũng có hiệu quả này); hiệu quả công nghệ; hiệu quả kinh tế; hiệuquả môi trường; hiệu quả xã hội…
2.3 Cơ sở khoa học của việc đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ
2.3.1 Một số khái niệm cơ bản về hoạt động nghiên cứu khoa học
2.3.1.1 Khái niệm khoa học có các định nghĩa sau:
- Là lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thứcmới về tự nhiên, xã hội, tư duy và bao gồm tất cả những điều kiện, những yếu tố của
sự sản xuất này: nhà khoa học, cơ quan khoa học, phương pháp, thông tin khoa học
- Là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy
Trang 202.3.1.2 Khái niệm công nghệ có các định nghĩa sau:
- Là môn khoa học ứng dụng nhừm vận dụng các quy luật tự nhiên và cácnguyên lý khoa học, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
- Là phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hóa các tri thức ứng dụng khoahọc
- Là tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được
sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra những sản phẩmvật chất và dịch vụ
Khái niệm công nghệ còn được hiểu:
- Là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phươngtiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
2.3.1.3 Hoạt động khoa học và công nghệ
Theo UNESCO, hoạt động khoa học và công nghệ được định nghĩa là: các hoạtđộng có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứngdụng các tri thức khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, làcác khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, các khoa học ý học và nông nghiệp,cũng như các khoa học xã hội và nhân văn
2.3.1.4 Nghiên cứu và triển khai
Nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm, gọi tắt là nghiên cứu và triểnkhai là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàngkiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và nhằm sử dụng các kiến thức
để tạo ra những ứng dụng mới
Định nghĩa trên cho thấy nhân tố quyết định để định nghĩa nghiên cứu và triểnkhai là sự có mặt của yếu tố sáng tạo và đổi mới Thuộc tính này là chung cho cảnghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm
2.3.1.5 Nghiên cứu khoa học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, họcthuyết mới, … về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốthơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Thí dụ: Quan niệm thực vật
là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận Nhưvậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận độngcủa vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hìnhthành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Phân biệt ra
2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
Trang 21Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thửnghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệmnghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tựnhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giátrị hơn Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnhvực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từlúc ngồi trên ghế nhà trường.
2.3.1.6 Dịch vụ khoa học và công nghệ
Dịch vụ khoa học và công nghệ là tập hợp tất cả các hoạt động liên quan đếnnghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm và góp phần vào việc sản xuất, truyền
bá và áp dụng các kiến thức khoa học và công nghệ
2.3.2 Hiệu quả và hiệu quả nghiên cứu khoa học
2.3.2.1 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả nghiên cứu khoa học
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ hiệu quả được định nghĩa nhưsau: “Hiệu quả là kết quả đích thực” của một hoạt động, công việc nào đó Hiệu quả là
so sánh đầu vào với đầu ra của một quyết định nào đó
Hiệu quả nghiên cứu khoa được thể hiện qua sự so sánh giữa các nguồn lực đầu
tư (nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện v.v ) cho công trình với các kêtquả, sản phẩm khoa học công nghệ thu được sau khi kết thúc nghiên cứu (giá trị trong)
và các lợi ích, giá trị vật chất, tinh thần tạo ra cho khoa học công nghệ và kinh tế xãhội lâu dài khi ứng dụng các kết quả nghiên cứu sau này (giá trị ngoài)
Theo GS Vũ Cao Đàm (2007), hiệu quả nghiên cứu khoa học là lợi ích thu đượcsau khi áp sụng kết quả nghiên cứu khoa học Một kết quả nghiên cứu có thể đưa lạihiệu quả sau khi áp dụng, và sẽ không đưa lại hiệu quả gì nếu không đưa vào áp dụng
Tuy nhiên, người ta có thể tính trước được hiệu quả dự kiến nếu như một kếtquả nghiên cứu được áp dụng trong tương lai Người ta gọi đó là hiệu quả tiềm năng
Việc đánh giá nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ chủyếu là đánh giá giá trị trong (kết quả nghiên cứu khi kết thúc đề tài) Cần chú ý đến cácyếu tố đầu vào như số lượng và chất lượng nhân lực tham gia nghiên cứu (uy tín vàtrình độ khoa học công nghệ của tập thể nghiên cứu), chất lượng thông tin khoa học,kinh phí đầu tư, giá trị và chất lượng cơ sở vật chất và trang thiết bị cho nghiên cứu,quỹ thời gian nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu v.v… và số lượng, giá trị các sản phẩmđầu ra của nghiên cứu
2.3.2.2 Mục đích đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học
Trang 22Đánh giá hiệu quả ngiên cứu là nhằm đưa ra những nhận định về mức độ hiệuquả của mỗi phương án đầu tư và nghiên cứu khoa học, xem đầu tư vào hướng nào thìđạt hiệu quả như thế nào, từ đó có thể so sánh hiệu quả của những phương án đầu tưkhác nhau, để cuối cùng đưa ra được những quyết định chính sách đầu tư có hiệu quảnhất
2.3.2.3 Quan điểm đánh giá hiệu quả
Hiệu quả của nghiên cứu khoa học là một phạm trù phức tạp, thậm chí rất phứctạp, không dễ đặt mọi con số về đầu tư vào nghiên cứu khoa học nói chung và mọi chiphí để đưa kết quả nghiên cứu lên bàn tính toán hiệu quả
Lý do của những khó khăn này khá đa dạng vì không phải mọi kết quả nghiêncứu đều đưa đến hiệu quả kinh tế; không phải mọi hiệu quả kinh tế đều thấy đượcngay
2.3.2.4 Phân loại hiệu quả nghiên cứu khoa học và các tiêu chí đánh giá
Do tính chất phức tạp và đa dạng của các công trình nghiên cứu khoa học côngnghệ nên có thể phân tích hiệu quả nghiên cứu theo các mặt kinh tế, xã hội, khoa học,công nghệ, thông tin v.v… Lưu ý tính tổng hợp của hiệu quả nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế (tính thành tiền)
Là hiệu số hoặc tỷ số so sánh giữa tổng giá trị kinh tế thu được ở đầu ra (giá trịkinh tế của các sản phẩm khoa học công nghệ) do các kết quả nghiên cứu tạo ra ở thờiđiểm đánh giá xác định hiệu quả với tổng chi phí đầu vào (nhân lực, kinh phí, nguyênvật liệu, khấu hao phương tiện và cơ sở vật chất, năng lượng v.v…) Hiệu quả kinh tếcũng có thể tính bằng số tiền tiết kiệm được, giảm giá thành sản phẩm do ứng dụng kếtquả nghiên cứu Phương pháp phổ biến hiện nay là phân tích lợi ích – chi phí
Công thức là: HQKT = Tổng giá trị, lợi ích kinh tế thu được – Tổng cho chi phínghiên cứu Theo tỷ lệ: Tổng giá trị, lợi ích kinh tế thu được/Tổng chi phí nghiên cứu
x 100%
Chỉ tiêu định tính:
- Triển vọng làm biến đổi cơ cấu một ngành kinh tế đang tồn tại
- Triển vọng phát triển một ngành kinh tế mới
Chỉ tiêu định lượng:
- Tính toán được giá trị thu được bằng tiền do kỹ thuật mới đưa lại
- Phần tăng doanh số do sử dụng công nghệ mới, sản phẩm mới
- Phần tăng lợi nhuận do công nghệ mới, sản phẩm mới đưa lại
Do tính chất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học đặc biệt là trong cácnghiên cứu cơ bản, giá trị và hiệu quả kinh tế của hoạt động nghiên cứu khoa học được
Trang 23thể hiện lâu dài và gián tiếp thông qua các hoạt động truyền bá tri thức, nghiên cứuứng dụng nên khó xác định một cách tường minh và cụ thể hiệu quả kinh tế bằng tiền.Ngay cả khi tiến hành thương mại hóa sản phẩm khoa học thì hiệu quả kinh tế cũng chỉmang tính chất tương đối.
Hiệu quả xã hội
Thể hiện qua mức độ đóng góp của công tình nghiên cứu vào quá trình giảiquyết các vấn đề xã hội đặt ra trong từng thời kỳ phát triển xã hội cụ thể, thúc đẩy việcphát triển xã hội (về con người, cộng đồng, giáo dục, nâng cao chất lượng và mứcsống của các tầng lớp dân cư, môi trường v.v…) Hiệu quả xã hội có thể đánh giá qua
so sánh tổng chi phí đầu tư cho công trình nghiên cứu với mức độ đóng góp và phạm
vi tác động vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau
Hiệu quả xã hội là loại hiệu quả xét đến một cách tổng thể các tác động của kếtquả nghiên cứu vào xã hội:
- Tác động nâng cao dân trí
- Tác động xóa đói giảm nghèo
- Tác động khắc phục bất bình đẳng xã hội
- Tác động đến sức khỏe cộng đồng
- Tác động đến môi trường
Hiệu quả khoa học công nghệ
Thể hiện qua mức độ đóng góp của công trình nghiên cứu vào quá trình giảiquyết các vấn đề khoa học công nghệ đặt ra trong từng thời kỳ phát triển khoa họccông nghệ cụ thể, thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ (cơ sở lý luận, trình độkhoa học và năng lực công nghệ quốc gia v.v…) Hiệu quả khoa học công nghệ có thểđánh giá:
- Qua so sánh tổng chi phí đầu tư cho công trình nghiên cứu (nhân lực, vật lực,tài lực) với mức độ đóng góp và phạm vi tác động vào quá trình giải quyết các vấn đềkhoa học công nghệ nói chung và từng lĩnh vực khoa học công nghệ nói riêng
- Những khái niệm, phạm trù mới
- Phát minh sáng chế
Hiệu quả thông tin
Thể hiện qua quá trình và kết quả thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, xử
lý, phân tích, đánh giá và sử dụng các nguồn thông tin đa dạng và tin cậy phục vụ chocác hoạt động nghiên cứu và phổ biến thông tin khoa học kết quả nghiên cứu Các kếtquả nghiên cứu được xử lý, thông tin rộng rãi trong cộng đồng khoa học và xã hội Các
ấn phẩm thông tin khoa học có giá trị được công bố và sử dụng rộng rãi
Trang 24- Đưa lại thông tin mới cho khoa học nói chung
- Đưa lại thông tin mới cho chính ngành khoa học được xem xét
- Đưa lại thông tin mới cho các ngành khoa học khác
- Số lần được trích dẫn trên các tạp chí quan trọng nhất của thế giới theo thống
kê của Viện thông tin khoa học quốc tế (ISI) của Hoa Kỳ
Hiệu quả đào tạo
Là sự đóng góp của các hoạt động nghiên cứu khoa học trong công tác đào tạo
và phát triển giáo dục, đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ như số lượng vàtrình độ nhân lực khoa học và công nghệ được đào tạo thông qua các hoạt động nghiêncứu khoa học; các hoạt động nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình đào tạo đểnâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo v.v…
Chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tốkhách quan và chủ quan trong đó yếu tố chủ quan là con người (chuyên gia, cán bộkhoa học) là rất quan trọng Điều này liên quan đến khái niệm về năng suất lao độngtri thức Theo Peter F Drucker có sáu yếu tố quyết định đến năng suất lao động trithức là:
- Năng suất lao động tri thức đòi hỏi chúng ta phải đặt câu hỏi đầu tiên và cơbản là: Nhiệm vụ là gì? Chứ không phải câu hỏi “làm như thế nào”? như trong laođộng chân tay
- Mỗi một lao động tri thức phải tự chịu trách nhiệm về năng suất lao động củamình Họ phải tự quản lý bản thân Họ phải được tự trị
- Sự đổi mới liên tục phải là một phần của công việc, là nhiệm vụ và tráchnhiệm của lao động tri thức
- Công việc tri thức đòi hỏi lao động tri thức phải không ngừng học tập vàkhông ngừng giảng dạy
- Năng suất lao động tri thức không phải chủ yếu là số lượng đầu ra – chí ít làthoạt đầu Chất lượng cũng quan trọng không kém
- Năng suất lao động tri thức đòi hỏi rằng: người lao động tri thức phải đượcnhìn nhận và đối xử như là “tài sản” hơn là “chi phí” Nó đòi hỏi người lao động trithức mong muốn làm việc cho tổ chức mình hơn là cho các cơ hội khác
Hiệu quả an ninh, quốc phòng
Hiệu quả an ninh, quốc phòng là loại hiệu quả xét đến sự đóng góp của kết quảnghiên cứu vào việc phát triển các phương pháp và phương tiện mới phục vụ sựnghiệp an ninh, quốc phòng
Trang 25Các phương pháp và phương tiện mới phục vụ sự nghiệp an ninh, quốc phòngrất đa dạng Nó tồn tại tiềm tàng trong nhiều công trình nghiên cứu rất khác nhau
Ví dụ, những kết quả nghiên cứu về công nghệ sinh học có thể đưa đến những
áp dụng trong chiến tranh sinh học; những kết quả nghiên cứu “đùa chơi” về virus củacác tin tặc trên mạng lại có thể có những ứng dụng rất quan trọng trong việc xâm nhập
và phá hủy các đầu não chỉ huy qua mạng…
Như vậy ciệc xem xét các hiệu quả này đòi hỏi một sự nhạy cảm rất cao của cácchuyên gia
- Các thành tưu có khả năng vận dụng vào an ninh quốc phòng
- Các phương tiện có khả năng vận dụng vào an ninh quốc phòng
- Các phương pháp có khả năng vận dụng vào an ninh quốc phòng
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC ĐƠN VỊ THUỘC VIỆN
KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
Trang 263.1 Đặc điểm hoạt động khoa học và công nghệ của các đơn vị thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam là một Viện hàn lâm khoa học hàng đầu của
cả nước về khoa học và công nghệ thuỷ lợi, được xếp hạng đặc biệt theo Quyết định số594/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10-5-2007 Viện có 17 đơn vị thành viên.Các đơn vị của Viện tập trung ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, ngoài ra còn một
số cở sở thí nghiệm đặt tại Bình Dương, Phú Thọ, Hải Phòng, Nam Định
Tổng số cán bộ của Viện là 1.300 người trong đó có 03 giáo sư, 28 phó giáo sư,
75 tiến sĩ và 294 thạc sĩ, 650 là kỹ sư và cử nhân, phần còn lại là công nhân kỹ thuật
và lao động khác Đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao của Viện chiếm tỷ lệ khôngcao khoảng 30% Hoạt động chuyên môn của Viện và các đơn vị thành viên tập trungchủ yếu theo 04 chức năng chính là: Nghiên cứu khoa học, Chuyển giao công nghệ,
Tư vấn đầu tư và xây dựng, Đào tạo Sau đại học và Hợp tác quốc tế Là Viện nghiêncứu đa ngành, hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) gắn liền với 7 chuyên ngànhsau đây:
- Tài nguyên nước và bảo vệ môi trường;
- Chỉnh trị sông, bảo vệ bờ biển, phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai;
- Thủy nông cải tạo đất và cấp thoát nước;
- Quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện;
- Công nghệ xây dựng và bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện;
- Kinh tế thủy lợi;
- Thiết bị cơ điện chuyên dùng thủy lợi;
- Công nghệ thông tin, tự động hóa và phần mềm
Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu của Viện sau khi sát nhập
đã từng bước được nhà nước đầu tư thông qua các kênh: Phòng thí nghiệm trọng điểmquốc gia về động lực học sông biển, sửa chữa lớn xây dựng nhỏ, đầu tư chiều sâu vàtăng cường các trang thiết bị nghiên cứu, bên cạnh đó các đơn vị thuộc Viện cũng đãtrích từ ngồn vốn tự có để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất hiện có của đơn vị để phục
vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ
Trong giai đoạn 2008-2012 Viện được Nhà nước đầu từ từ nguồn kinh phí sựnghiệp khoa học công nghệ như sau:
Biểu 3.1 Kinh phí hoạt động khoa học và công nghệ của Viện KHTLVN 2008-2012
Các dự án Thiết bị và SCN
KP từ dự án viện trợ (HTQT)
Trang 27Hoạt động khoa học công nghệ của Viện và các viện thành viên gồm những nộidung chủ yếu sau:
- Tham gia tuyển chọn và thực hiện các đề tài, dự án thuộc các chương trìnhkhoa học công nghệ (KC) cấp Nhà nước, các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm độc lậpcấp Nhà nước, các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và hợp tác nghiên cứu theo nghị địnhthư với nước ngoài…
- Thực hiện các đề tài, dự án và nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ, cấp cơ
sở về nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tăng cường tiềm lực nghiên cứu
- Thực hiện các đề tài với các tình dưới dạng các hợp đồng nghiên cứu ứngdụng thông qua Sở Khoa học và Công nghê
- Hoạt động thông tin khoa học công nghệ, hội nghị, hội thảo khoa học (trongnước, quốc tế), hoạt động sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn/quy chuẩn đo lường chất lượng…
- Tham gia đào tạo và ghắn kết quá trình nghiên cứu với đào tào, hợp tác quốc
tế trong đào tạo và chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao các kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, liên doanh liên kếtvới doanh nghiệp để đẩy nhanh quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu và thực tiễnđời sống
Trang 283.2 Tình hình thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp.
3.2.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước
Giai đoạn 2008÷2012 Viện đã triển khai 17 nhiệm vụ cấp Nhà nước thuộc cácchương trình khoa học công nghệ (KC.018, KC.05 và KC.09); 06 dự án thử nghiệmcấp Nhà nước; 33 nhiệm vụ độc lập cấp nhà nước; 05 nhiệm vụ nghị định thư hợp tácvới nước ngoài
Số lượng nhiệm vụ cấp Nhà nước và kinh phí thực hiện tăng dần qua các nămthể hiện năng lực nghiên cứu của cán bộ của Viện ngày các được nâng cao Đối vớinhững nhiệm vụ nghiên cứu theo nghị định thư đã mở ra hướng hợp tác với các nướcphát triển (Đức, Pháp, Trung Quốc, Hà Quốc…) Hợp tác nghiên cứu khoa học với cácnước ngoài mang lại nhiều kết quả có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn, giải quyếtđược các vấn đề cụ thể ứng dụng hệ thống SCADA trong quản lý điều hành hồ chứachống lũ và kiểm soát trên kênh, xây dựng và hoàn thiện bộ công cụ hỗ trợ ra quyếtđịnh quản lý lưu vực sông, xử lý các tình huống khẩn cấp cho các trạm thủy điện trongđiều kiện biến đổi khí hậu, ứng dụng các giải pháp thân thiện môi trường để kiểm soátđược mối, kiến, giá cho các công trình xây dựng
Các kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ đều có ý nghĩa khoa học và thực tiễn,giải quyết được nhiều vấn đề cụ thể trong lĩnh vực phòng chống giảm nhẹ thiên tai,hạn hán, chống xâm nhập mặn phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và từng bướcđáp ứng yêu cầu tái cơ cấu của nghành trong điều kiện hiện nay
3.2.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ
Trong giai đoạn 2008 – 2012 Viện thực hiện 73 nhiệm vụ cấp Bộ trong đó có
57 đề tài, 06 dự án sảu xuất thử nghiệm và 10 dự án bảo vệ môi trường đã nghiệm thu
61 nhiệm vụ, trong đó có 23/61 (38%) nhiệm vụ có kết quả đóng góp, ứng dụng trựctiếp vào sản xuất, đời sống
Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ được tuyển chọn theoquy trình quy định tại Quy chế quản lý đề tài khoa học và công nghệ của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, tập trung theo các hướng trọng điểm của ngành, có sảnphẩm rõ ràng và địa chỉ ứng dụng cụ thể
Các đề tài, dự án cấp Bộ đã đạt được các bước phát triển rõ rệt, chất lượng ngàycàng được nâng cao, góp phần giải quyết những vấn đề của khoa học và phát triển kinh
tế - xã hội
3.3 Các kết quả hoạt động khoa học công nghệ điển hình của Viện
Hoạt động khoa học của Viện luôn bám sát các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, chiến lược phát triển của bộ, ngành, các chương trình trọng điểm được
đề ra trong mỗi thời đoạn và nhu cầu đòi hỏi của từng địa phương Các kết quả thực