Các Chương trình, Đề án liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Một phần của tài liệu Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam (Trang 36 - 39)

CHƯƠNG 2 THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN

2.1. Các quy định pháp luật và chính sách hỗ trợ thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.1.2. Các Chương trình, Đề án liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.1.2.1. Chương trình Hỗ trợ phát triển TSTT năm 2005 (Chương trình 68), Chương trình hỗ trợ phát triển TSTT giai đoạn 1 được phê duyệt theo Quyết định số

17 Thông tư 15/2014/ TT-BKHCN ngày 13 tháng 6 năm 2014, Bộ Khoa học và Công nghệ

68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005; giai đoạn 2 được phê duyệt theo Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ dành cho các đối tượng:

Các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị chuyên môn, các doanh nghiệp Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề của Việt Nam, các cá nhân là người Việt Nam. Với hai mục tiêu chính, đó là: a) Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về bảo hộ SHTT để các doanh nghiệp chủ động xây dựng, khai thác phát triển và bảo vệ TSTT; b) Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam thông qua việc hỗ trợ xác lập, khai thác, bảo vệ và phát triển TSTT, trong đó ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có các sản phẩm chiến lược, có tiềm năng xuất khẩu.

2.1.2.2. Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 2075/QĐ-TTG ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ). Một trong số những quan điểm phát triển quan trọng của Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 là: Thị trường KH&CN là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, có vai trò then chốt trong việc tạo môi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ; nâng cao năng lực KH&CN quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chương trình có ba mục tiêu chính, gồm: (i) Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển. (ii) Tỷ trọng giao dịch mua bán TSTT (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN đạt không dưới 10%

vào năm 2015 và không dưới 20% vào năm 2020. (iii) Đến năm 2020: Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ, trọng tâm là thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

2.1.2.3. Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình mẫu Thung lũng Silicon tại Việt Nam”, do Bộ KH&CN giao Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN và Văn phòng Phối hợp phát triển môi trường KH&CN nghiên cứu, triển khai từ năm 2013. Mục tiêu cơ bản của Đề án là tạo ra một hệ sinh thái gồm các start-up được đào tạo, tư vấn trong chương trình đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp

(BA) để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm nhằm xây dựng hệ thống doanh nghiệp KH&CN thành công. Theo đó, doanh nghiệp phải có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình, chiến lược kinh doanh khả thi và có đội ngũ đủ năng lực thực hiện.

Đồng thời tạo môi trường để thu hút chất xám thông qua xây dựng hệ thống BA, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, kết hợp nguồn vốn ngân sách để thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tư nhân, đặc biệt từ nước ngoài.

2.1.2.4. Các dự án liên quan (IPP, FIRST, BIPP)

Dự án IPP (Chương trình Đối tác Sáng tạo - Innovation Partnership Program) là Chương trình Hỗ trợ Phát triển chính thức (ODA) được đồng tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và Phần Lan. IPP giai đoạn một từ năm 2009 – 2013, giai đoạn hai kéo dài từ năm 2014 – 2018. IPP hỗ trợ mục tiêu chung hướng đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa có thu nhập trung bình với nền kinh tế tri thức đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua việc gia tăng sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ mang tính đổi mới sáng tạo. Chương trình Phối hợp chặt chẽ với các đối tác quan trọng trong nước và quốc tế nhằm mở rộng quy mô đào tạo đổi mới sáng tạo ở Việt Nam và cải thiện các cơ chế hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hướng tới thị trường quốc tế. Ngoài việc hỗ trợ cung cấp vốn đầu tư giai đoạn đầu cho các dự án đổi mới thực hiện bởi các doanh nghiệp mới thành lập và các nhóm phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, IPP còn xây dựng năng lực cho các đối tác công-tư thông qua các chương trình đào tạo khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Hoạt động của Quỹ tập trung vào: Dịch vụ hỗ trợ; Tài trợ các dự án đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp mới thành lập; Tài trợ phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo; Đào tạo khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; Chương trình học bổng Đổi mới sáng tạo.

Dự án FIRST là dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ - Fostering innovation through Research, Science, and Technology” do Ngân hàng thế giới (World Bank) thực hiện với Bộ KH&CN, nhằm giúp Việt Nam xây dựng một số Viện nghiên cứu được xếp hạng trong khu vực và thế giới; góp phần chuyển toàn bộ cơ chế hoạt động KH&CN Việt Nam sang cơ chế hoạt động theo thông lệ quốc tế; tạo ra được một hệ thống doanh nghiệp KH&CN mạnh xuất phát từ các Viện, trường tạo nên một lực lượng sản xuất mới cho xã hội.

Dự án có tổng mức đầu tư là 100 triệu USD là nguồn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng thế giới nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo Quốc gia của Việt Nam. Dự án tập trung vào ba đối tượng: thể chế, tổ chức KH&CN, doanh nghiệp và được chia thành ba hợp phần chính: (1) Hỗ trợ cơ sở để hoạch định chính sách và thí điểm chính sách KH&CN; (2) Hỗ trợ chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập và tăng cường liên kết doanh nghiệp với KH&CN; (3) Quản lý dự án và nghiên cứu các chính sách liên quan đến hoạt động của dự án.

Dự án BIPP là dự án “Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” giữa Chính phủ Bỉ và Việt Nam với tổng vốn đầu tư là 04 triệu euro. Dự án sẽ giúp Việt Nam tạo lập khung pháp lý hỗ trợ quá trình phát triển của các doanh nghiệp KH&CN nhằm thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo.

BIPP bao gồm bốn hợp phần: (i) Củng cố khung pháp lý hỗ trợ ươm tạo Doanh nghiệp KH&CN, Vườn ươm doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam; (ii) Hỗ trợ thí điểm hai vườn ươm Doanh nghiệp KH&CN ở Hà Nội và TP. HCM; (iii) Vận hành Quỹ Innofund hỗ trợ trực tiếp các hoạt động, dự án ươm tạo doanh nghiệp KH&CN;

(iv) Thiết lập và vận hành khung theo dõi và đánh giá các kết quả dự án. Theo thỏa thuận, BIPP sẽ hỗ trợ các vườn ươm doanh nghiệp KH&CN và doanh nghiệp KH&CN theo ba nội dung: (i) Hỗ trợ xây dựng chính sách phát triển hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam; (ii) Hỗ trợ các hoạt động của hai vườn ươm thí điểm tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; (iii) Vận hành Quỹ Innofund để hỗ trợ, tài trợ trực tiếp cho các vườn ươm và doanh nghiệp KH&CN.

Một phần của tài liệu Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam (Trang 36 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(100 trang)