1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

86 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 756,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

86 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BIC Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt NamBIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam DNBHPN

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

NGUYỄN VĂN HÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HCM, THÁNG 08/2014

Trang 2

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

NGUYỄN VĂN HÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Trần Hậu

TP HCM, THÁNG 08/2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Văn Hùng, xin cam đoan Luận văn thạc sỹ kinh tế của tôi

với đề tài “GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIC)” là công trình nghiên cứu khoa học và độc lập của riêng cá nhân

Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của để tài

Tác giả viết Luận văn

Nguyễn Văn Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hòan thiện đề tài này, trước hết tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Trần Hậu đã nhận lời hướng dẫn khoa học, gợi ý và định hướng cho tôi để bản than tôi có thể hòan thành luận văn này một cách tốt nhất

Nhân tiện đây, tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại học và các thầy cô giáo

để cung cấp và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học Cao học tại trường

Trân trọng

NGUYỄN VĂN HÙNG

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU 9

LỜI MỞ ĐẦU 10

CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PNT 13

1.1 Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 13

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 13

1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 16

1.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm PNT 17

1.2.1 Các quan điểm về đầu tư 17

1.2.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 18

1.3 Vai trò hoạt động đầu tư của DNBHPNT 20

1.3.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 20

1.3.2 Đối với xã hội 20

1.4 Nguồn vốn đầu tư và nguyên tắc đầu tư của DNBHPNT 21

1.4.1 Nguồn vốn đầu tư 21

1.4.1.1 Vốn chủ sở hữu 21

1.4.1.2 Nguồn vốn nhàn rỗi từ Quỹ DPNV 22

1.4.1.3 Nguồn vốn đầu tư khác 23

1.4.2 Các nguyên tắc đầu tư của DNBH 23

1.4.2.1 Nguyên tắc an toàn 23

1.4.2.2 Nguyên tắc sinh lời 23

1.4.2.3 Nguyên tắc bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên 24

1.5 Các hình thức đầu tư của DNBHPNT 24

1.5.1 Đầu tư tiền gửi 24

1.5.2 Đầu tư chứng khóan 25

1.5.3 Đầu tư trái phiếu 25

1.5.4 Đầu tư cổ phiếu 26

1.5.5 Góp vốn 28

1.5.6 Các hình thức đầu tư khác 28

Trang 6

1.5.6.1 Đầu tư bất động sản 28

1.5.6.2 Cho vay thế chấp 29

1.6 Một số chỉ tiêu đánh gía hiệu quả hoạt động đầu tư 30

1.6.1 Tỷ suất lợi nhuận hoạt động đầu tư 30

1.6.2 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn chủ sở hữu 31

1.6.3 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên tổng tài sản 31

1.6.4 Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận đầu tư tài chính 31

1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của DNBHPNT 32

1.7.1 Các nhân tố ảnh bên trong 32

1.6.1.1 Các nghĩa vụ tài chính của DNBHPNT 32

1.7.1.2 Quy mô của DNBHPNT 33

1.7.1.3 Quan điểm đầu tư 33

1.7.1.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện đầu tư 34

1.7.1.5 1.7.1.5.Quy mô, tính chất nguồn vốn đầu tư của DNBHPNT 34

1.7.2 Các nhân tố bên ngoài 34

1.7.2.1 Chính sách thuế 34

1.7.2.2 Các điều kiện của thị trường tài chính 35

1.7.2.3 Các ràng buộc về mặt pháp lý đối với hoạt động đầu tư của DNBHPNT 35

1.8 Kinh nghiệm thực tiễn ở các nước trên thế giới đối với việc thúc đầy hoạt động đầu tư tài chính của DNBHPNT 36

1.8.1 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước 36

1.8.2 Thực tiễn hoạt động đầu tư của các DNBHPNT lớn trên thế giới 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐTTC TẠI BẢO HIỂM BIDV 39

2.1 Khái quát về Bảo hiểm BIDV 39

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển BIC 39

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của BIC 40

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIC 41

2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính tại BIC 43

2.2.1 Mô hình và hình thức tổ chức 43

2.2.2 Nguồn vốn đầu tư tài chính tại BIC 46

2.2.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu 47

Trang 7

2.2.2.2 Nguồn vốn từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm 48

2.2.2.3 Nguồn vốn khác 52

2.2.3 Phương thức đầu tư tài chính tại BIC 52

2.2.4 Lĩnh vực đầu tư tài chính của BIC 53

2.2.4.1 Danh mục đầu tư của BIC theo đối tượng đầu tư 54

2.2.4.1 Danh mục đầu tư của BIC theo thời hạn đầu tư 56

2.2.5 Kết quả hoạt động đầu tư tài chính tại BIC 58

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động ĐTTC tại BIC 61

2.3.1 Một số kết quả đạt được 61

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 63

2.3.2.1 Hạn chế 63

2.3.2.2 Nguyên nhân 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH BIC 68

3.1 Định hướng tăng cường hoạt động ĐTTC của BIC giai đoạn 2010 – 2020… 68 3.1.1 Định hướng phát triển chung của BIC giai đoạn 2010 – 2020 68

3.1.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính của BIC 69

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTTC tại BIC 70

3.2.1 Tăng cường nguồn vốn đầu tư 70

3.2.1.1 Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm 70

3.2.1.2 Tổ chức quản lý dòng tiền có hiệu quả 72

3.2.1.2 Tăng vốn chủ sở hữu 73

3.2.2 Thiết lập cơ cấu danh mục và đa dạng hóa danh mục đầu tư 74

3.2.2.1 Thiết lập cơ cấu danh mục đầu tư 74

3.2.2.2 Đa dạng hóa danh mục đầu tư 75

3.2.3 Hoàn thiện bộ máy tổ chức hoạt động đầu tư 77

3.2.4 Tăng cường công tác đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính 78

3.2.5 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực đầu tư 79

3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật 80

3.3 Một số kiến nghị đề xuất 80

KẾT LUẬN 84

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BIC Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt NamBIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

DNBHPNT Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

ROA Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total Assets)

ROE Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common

equyty)

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ

STT Ký hiệu Tên bảng biểu, sơ đồ

1 Sơ đồ 01 Sơ đồ cơ cấu mô hình tổ chức BIC

2 Bảng 02 Kết quả kinh doanh giai đoạn 2006-2013

3 Sơ đồ 03 Sơ đồ mô hình tổ chức ban Đầu tư tài chính

4 Bảng 04 Nguồn vốn đầu tư tài chính tại BIC

5 Biểu đồ 05 Nguồn vốn đầu tư tài chính tại BIC

6 Bảng 06 Nguồn vốn chủ sở hữu BIC (2006-2013)

7 Bảng 07 Doanh thu phí bảo hiểm BIc (2006-2013)

8 Bảng 08 Tình hình Quỹ DPNV BH của BIC (2006-2013)

9 Bảng 09 Nguồn vốn theo phương thức đầu tư của BIC

10 Bảng 10 Danh mục đầu tư giai đoạn 2006-2013

11

Bảng 11 Doanh số đầu tư tài chính của BIC theo thời hạn đầu tư (giai đoạn 2006-2013

12 Biểu đồ 12 Cơ cấu đầu tư tại thời điểm 31/12/2013

13 Bảng 13 Doanh thu hoạt dộng tài chính BIC (2006-2013)

14 Bảng 14 Cơ cấu doanh thu đầu tư tài chính BIC

15 Biểu đồ 15 Lợi nhuận hoạt động đằu tư tài chính BIC

16 Bảng 16 Hiệu suất sử dụng vốn của BIC (2006-2013)

17 Bảng 17 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của BIC (2006-2013)

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Sau khi nghiên cứu nhiều bản báo cáo tài chính của nhiều năm và nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tác giả thấy rằng đa phần các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đang có chung một thực trạng là hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc - hoạt động chính, cốt lõi nhưng chưa thực sự mang lại lợi nhuận đáng kể mà lợi nhuận chính của các doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu từ hoạt động đầu tư tài chính

Hoạt động đầu tư tài chính đóng vai trò quan trọng và quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, do đó ngoài hoạt động kinh doanh bảo hiểm được các tác giả khác nghiên cứu thì hoạt động đầu tư tài chính luôn được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là tìm các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư tài chính này

Với mong muốn tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hơn nữa trong việc mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong lĩnh vực đầu tư tài chính tác giả đã nghiên cứu và đưa ra để tài này

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

- Hệ thống hóa lý thuyết tổng quan về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của Tổng Công ty Bảo hiểm BIDV (BIC)

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư tài chính của Tổng Công ty Bảo hiểm BIDV nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng

- Đánh giá quá trình hoạt động đầu tư tài chính trong phạm vi 8 tháng của BIC

để có những nhận định về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Phân tích và đánh giá các hoạt động và mô hình tổ chức đầu tư tài chính tại Tổng Công ty bảo hiểm BIDV (BIC)

Trang 11

- Phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư tài chính của Bảo hiểm BIDV giai đoạn 2006 -2013

4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu của đề tài, trên cơ sở đánh giá khách quan các yếu tố tác động để hoạt động đầu tư tài chính tại Tổng Công ty bảo hiểm BIDV, tác giả đã đặt ra những vấn đề chính cần tháo gỡ như sau:

- Những yếu tố tác động nào hiện đang tồn tại và ảnh hưởng đến hoạt động đầu

tư tài chính tại BIC?

- Thực trạng đầu tư tài chính tại BIC giai đoạn 2006-2013 như thế nào? Kết quả đạt được ra sao?

- Những nhóm giải pháp nào cần thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính tại BIC trong thời gian tới?

- Để đạt được mục tiêu về nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cần có những thay đổi nào từ chính sách nhà nước và bản thân BIC?

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó chủ yếu là đánh giá, phân tích số liệu, so sánh, tổng hợp và sử dụng các bảng, biểu đồ minh họa

Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả các công trình khoa học liên quan

để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của Tổng Công ty Bảo hiểm BIDV

Trang 12

+ Đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động đầu tư tài chính tại Tổng Công ty Bảo hiểm BIDV

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn thạc sỹ kinh tế này được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo

hiểm phi nhân thọ

Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính tại BIC

Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư tài chính tại BIC

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Theo Điều 3, Luật Kinh Doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự vàcác nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, trên

cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho bên mua bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xẩy ra

Mục đích kinh tế của kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, đây là mục đích chính

mà các doanh nghiệp bảo hiểm hướng đến Chỉ bằng cách có được lợi nhuận thì doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường

Trong điều kiện ngày nay, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể thu hút được nguồn vốn của các nhà đầu tư khác nếu tỷ suất lợi nhuận doanh nghiệp bằng hoặc cao hơn lĩnh vực đầu tư khác của họ trên thị trường Mức lợi nhuận cao còn giúp doanh nghiệp duy trì được nguồn quỹ dự phòng đủ lớn, hạn chế sự chuyển nhượng tái bảo hiểm và có điều kiện để nâng cao mức thu nhập cho người lao động

Bên cạnh mục tiêu chính là lợi nhuận, kinh doanh bảo hiểm còn phải đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng ổn định cuộc sống và

Trang 14

sản xuất kinh doanh khi không may có tổn thất, thiệt hại xẩy ra đối với họ, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước

Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) phi nhân thọ có đặc điểm khác kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở chỗ là hoạt động kinh doanh không mang tính chất tiết kiệm, hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ liên quan đến tài sản, trách nhiệm và tính mạng của người tham gia bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm chỉ phát sinh khi có sự kiện bảo hiểm xẩy ra cho đối tượng tham gia bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm Còn bảo hiểm nhân thọ liên quan đến tính mạng của con người và có thời hạn nhất định, sau khi hết hạn hợp đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các cam kết theo hợp đồng, đây là hoạt động bảo hiểm gắn với tiết kiệm, xuất phát từ đặc điểm này mà dẫn đến hoạt động đầu tư của mỗi loại hình kinh doanh bảo hiểm là khác nhau

KDBH thường gắn liền với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm

Như vậy, hai loại hình kinh doanh này đều tồn tại ngay trong một doanh nghiệp bảo hiểm, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau Trong đó hoạt động KDBH là chủ yếu nhưng kinh doanh tái bảo hiểm cũng đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ, hỗ trợ cho kinh doanh bảo hiểm gốc

Ngoài mục đích sinh lời, kinh doanh tái bảo hiểm còn giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ với các đối tác, tranh thủ nguồn vốn, kinh nghiệm, bổ sung thông tin, đào tạo cán bộ Đồng thời hoạt động tái bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo ổn định kinh doanh, tránh phá sản trong những trường hợp mà đối tượng tham gia bảo hiểm có số tiền bảo hiểm lớn, doanh nghiệp bảo hiểm không đủ năng lực, khả năng tài chính

Hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ có những quy tắc riêng, bởi vì bảo hiểm có những đặc điểm không giống như những ngành sản xuất dịch vụ khác, thể hiện những đặc điểm sau:

 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có vốn pháp định lớn, không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng có khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tức là kinh doanh bảo hiểm phải có điều kiện Bảo

Trang 15

hiểm với vai trò ổn định đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân doanh nghiệp, do đó đòi hỏi vốn pháp định là rất lớn

 Sản phẩm bảo hiểm là những sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, chất lượng và mẫu mã sản phẩm khách hàng chưa thể biết được khi tham gia Việc xác định giá cả sản phẩm thường phải tiến hành theo chu trình ngược, nghĩa là thu trước và chi sau, khoản chi lớn nhất cho một sản phẩm bảo hiểm thường là chi bồi thường, nhưng khoản chi này lại chưa thể xác định chính xác khi tính phí bảo hiểm, mà phải sau một thời gian thực hiện hợp đồng, sự kiện bảo hiểm có xẩy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm thì khoản chi trả mới được công ty bảo hiểm thực hiện

 Đối tượng tham gia bảo hiểm đa dạng: điều này thể hiện sản phẩm bảo hiểm có nhiều nghiệp vụ, nhiều loại hình bảo hiểm và nhiều sản phẩm bảo hiểm cung cấp cho thị trường

 Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, tới thị trường và tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân, do đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ để đảm bảo an toàn tài chính cho hàng triệu khách hàng tham gia

 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ luôn luôn phải có các quỹ

dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Nghĩa là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải trích lập các dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm đối với phần trách nhiệm giữ lại của mình Do hoạt động KDBH là có sự tích lũy rủi ro, phí bảo hiểm thu được từ khách hàng được các doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ như dự phòng bồi thường, dự phòng giao động lớn, dự phòng phí …

 Hoạt động KDBH phi nhân thọ luôn gắn kết với hoạt động đầu tư tài chính Đặc điểm của phí bảo hiểm là khoản phải trả, phí bảo hiểm thu được không thể trở thành tài sản mà chính là khoản nợ của doanh nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng nhằm đảm bảo những cam kết đối với khách hàng tham gia, do đó tại thời điểm thu phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm chưa phải thực hiện nghĩa vụ phải trả, nhưng trong quá

Trang 16

trình thực hiện, nếu xẩy ra sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với khách hàng và nguồn thanh toán này chính là các khoản phí mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ các khách hàng mà doanh nghiệp tích tụ lại được Ngoài ra do đặc điểm của doanh nghiệp bảo hiểm là thời điểm thu phí bảo hiểm và thời điểm bồi thường luôn có một khoảng cách, do đó khi doanh nghiệp bảo hiểm thu phí tạo thành nguồn vốn nhàn rỗi, ngoài ra còn có các quỹ dự phòng như dự phòng nghiệp phí, dự phòng giao động lớn, dự phòng bồi thường, vốn điều lệ … đây là những nguồn vốn nhàn rỗi mà DNBH có thể sử dụng để tham gia hoạt động đầu tư tài chính

1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm đóng vai trò quan trọng Kinh doanh bảo hiểm gốc là hoạt động chính của doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người tham gia bảo hiểm trên cơ sở người tham gia bảo hiểm thanh toán một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Tỷ lệ phí sẽ được hai bên thỏa thuận trên cơ sở những điều kiện, điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm Đối với bảo hiểm theo chế độ bắt buộc, cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm có lien quan sẽ ban hành biểu phi cụ thể để các DNBH áp dụng Theo đó khi có tổn thất xẩy ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiếm số tiền tương ứng với tỷ lệ tổn thất trên số tiền bảo hiểm nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm

Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, theo đó các doanh nghiệp bảo hiểm gốc chuyển một phần hoặc toàn bộ rủi ro đã chấp nhận bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác (nhượng tái bảo hiểm) và ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm nhận một phần hoặc toàn bộ rủi ro mà một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác đã chấp nhận (nhận tái bảo hiểm) Thông qua hoạt động tái bảo hiểm (nhận tái hoặc nhượng tái bảo hiểm) mà một dịch vụ bảo hiểm

có thể được chia sẻ cho nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau Hoạt động tái bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đảm bảo sự an toàn tài chính, nâng cao năng lực bảo hiểm, mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh quốc tế Bên cạnh

đó, hoạt động tái bảo hiểm cũng làm tăng năng lực chấp nhận dịch vụ của doanh

Trang 17

nghiệp bảo hiểm vì doanh nghiệp bảo hiểm có vốn lớn đến đâu thi luôn có giới hạn về khả năng tài chính đối với một rủi ro mà doanh nghiệp đó nhận bảo hiểm

Trong hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm sẽ nhận được một khoản phí tái bảo hiểm theo tỷ lệ đã nhận tái bảo hiểm và có nghĩa vụ phải bồi thường theo tỷ lệ khi có tổn thất xẩy ra đối với đối tượng bảo hiểm hoặc sự kiện bảo hiểm do công ty nhượng tái thực hiện Ngược lại hoạt động nhượng tái bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ nhận được một khoản hoa hồng từ doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm, được tính theo tỷ lệ phần trăm trên phần phí bảo hiểm, cũng như quyền được nhận tiền bồi thường tái bảo hiểm từ doanh nghiệp nhận tái khi có tổn thất xẩy ra cho đối tựong bảo hiểm

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.2.1 Các quan điểm về đầu tư

Đầu tư là thuật ngữ được đề cập trong nhiều tác phẩm của các nhà kinh tế học hiện đại cũng như trong sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng Theo nghĩa rộng, đầu tư có thể hiểu là sự hy sinh nguồn lực hiện tại (như tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai Với khái niệm đầu tư hiểu theo nghĩa rộng này, tất cả các hành động chi dùng vốn

và nguồn lực trong hiện tại nhằm mục đích thu được lợi ích nào đó trong tương lai đều

có thể gọi là đầu tư Tuy nhiên, theo từng quan điểm khác nhau mà hoạt động đầu tư

có thể được hiểu cụ thể khác nhau

Trên quan điểm kinh tế phát triển, chỉ những hoạt động bỏ vốn và nguồn lực nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi

người dân trong xã hội thì mới được gọi là đầu tư của nền kinh tế hay gọi là đầu tư phát triển Còn hoạt động đầu tư của các tổ chức và cá nhân chỉ là chuyển giao quyền

sở hữu tài sản như tiền gửi tiết kiệm, mua chứng khoán, hàng hóa tích trữ không làm

tăng tài sản cho nền kinh tế một cách trực tiếp thì được gọi là đầu tư tài chính

Trên quan điểm tài chính tiền tệ, khái niệm đầu tư gắn liền với việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, sự tương tác giữa nguồn vốn và sử dụng vốn của mỗi chủ thể của nền kinh tế đã dẫn tới tình trạng

Trang 18

thừa vốn hoặc thiếu vốn Nơi thừa vốn tìm cách sử dụng nguồn vốn của mình sao cho

có lợi nhất, còn nơi thiếu vốn tìm cách sao cho bù đắp được sự thiếu hụt với chi phí thấp nhất Chính điều này đã làm xuất hiện nhu cầu chuyển giao về vốn và được thực hiện theo hai cách: một là, người thừa vốn chuyển trực tiếp vốn cho người thiếu vốn

sử dụng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng được gọi là đầu tư trực tiếp; hai là, việc

chuyển vốn được thực hiện gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian tài chính như

các Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính… được gọi là đầu tư gián tiếp

Trên quan điểm tài chính doanh nghiệp, đầu tư được hiểu theo nghĩa rộng nhất,

đó là hành động chi dùng vốn và nguồn lực hiện tại nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh nhất định nào đó của doanh nghiệp trong tương lai Theo cơ cấu tài sản đầu tư, đầu tư của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: đầu tư tài sản cố đinh, đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản tài chính

Đầu tư tài sản cố định: là hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng tài

sản cố định hữu hình hoặc vô hình của doanh nghiệp

Đầu tư tài sản lưu động: là hoạt động đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu

động cần thiết để đảm báo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường

Đầu tư tài sản tài chính: là hoạt động đầu tư vào các tài sản tài chính như gửi

tiền gửi tiết kiệm, mua chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu hoặc góp vốn liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác

Như vậy, tùy theo mục đích nghiên cứu mà khái niệm đầu tư có thể được hiểu theo những cách khác nhau và có những ý nghĩa riêng Việc phân chia này giúp cho Nhà nước và các doanh nghiệp có những chính sách phù hợp với từng loại hình đầu tư

Hiện nay, hoạt động đầu tư là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của các DNBH nói chung và các DNBHPNT nói riêng Theo quan điểm của

luận văn, hoạt động đầu tư của DNBHPNT là hành động chi dùng vốn nhàn rỗi từ vốn chủ sở hữu và phí bảo hiểm thu được nhằm mục đích thu lợi nhuận trong tương lai cho doanh nghiệp

1.2.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 19

Ngày nay, bảo hiểm được thừa nhận như là một công cụ đảm bảo cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội thông qua việc hỗ trợ tài chính để khắc phục các tổn thất và thiệt hại gây ra cho con người và tài sản

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm

Có thể thấy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm có đặc thù riêng đó là sự đảo ngược của chu kỳ kinh doanh Phí bảo hiểm (doanh thu từ bán sản phẩm bảo hiểm) được thu trước, còn cam kết bồi thường, trả tiền bảo hiểm (tức giá trị sử dụng của sản phẩm bảo hiểm) được thực hiện sau khi mua Như vậy, từ phí bảo hiểm, các DNBH có trong tay một quỹ tài chính rất lớn và quỹ này sẽ chỉ được chi dùng sau một khoảng thời gian nhất định khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Mặt khác, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng tham gia bảo hiểm, các DNBH thường có vốn chủ sở hữu lớn để đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định cũng như về quỹ dữ trữ bắt buộc Tuy vậy, do thuộc ngành kinh doanh dịch vụ nên nhu cầu vốn để đầu tư tài sản cố định và tài sản lưu động của các DNBH không nhiều Chính vì vậy, các DNBH có một lượng vốn tạm thời rất lớn để đầu tư trở lại nền kinh tế, thường là thông qua thị trường tài chính

Hoạt động đầu tư của DNBHPNT có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư của các DNBHPNT là vốn nhàn rỗi từ vốn chủ sở

hữu và phí bảo hiểm thu được Nguồn vốn đầu tư từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm là những nguồn vốn ngắn hạn và là các khoản Nợ mang tính may rủi

Thứ hai, hoạt động đầu tư của DNBHPNT là hoạt động đầu tư tài chính Việc

đầu tư trở lại nền kinh tế của DNBHPNT được thực hiện thông qua thị trường tài chính dưới các hình thức như gửi tiền ngân hàng, mua chứng khoán hay góp vốn cổ phần và các hình thức đầu tư khác được pháp luật cho phép

Thứ ba, hoạt động đầu tư của DNBHPNT là hình thức đầu tư gián tiếp và là

nguồn cung cấp vốn cho đầu tư phát triển Mặc dù là hoạt động đầu tư tài chính, không trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế nhưng DNBH chính là trung gian tài chính, huy động vốn nhỏ lẻ và rải rác trong dân chúng dưới hình thức phí bảo hiểm để tạo lập

Trang 20

nên quỹ đầu tư lớn cung cấp ra thị trường tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn để đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy Nhà nước cần phải có những chính sách phù hợp để các DNBH phát huy được vai trò huy động và cung cấp vốn cho đầu tư phát triển kinh tế

1.3 VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DNBHPNT

Có thể nói hoạt động đầu tư của DNBHPNT có vai trò rất lớn không những với bản thân DNBHPNT mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế

1.3.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Đầu tư có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳ DNBH nào

- Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của DNBH Tỷ suất lợi nhuận đầu tư cao sẽ giúp DNBH có điều kiện giảm phí bảo hiểm, từ đó dành được khách hàng từ các đối thủ cạnh tranh Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện thị trường bảo hiểm đang cạnh tranh gay gắt thông qua hạ phí bảo hiểm, trong khi đó tỷ

lệ bồi thường/phí bảo hiểm luôn ở mức cao nên hầu như toàn bộ chi phí hoạt động và lợi nhuận của DNBH đều lấy từ lãi đầu tư

- Đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng thu nhập và lợi nhuận của DNBH, giúp mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng cổ tức cho cổ đông, tăng quỹ phúc lợi và thu nhập cho người lao động

- Hoạt động đầu tư có thể góp phần thúc đẩy hoạt động bảo hiểm thông qua việc khuyếch trương quảng cáo công ty thông qua các dự án góp vốn hoặc yêu cầu sự hợp tác về bảo hiểm với các đơn vị mà DNBH góp vốn, đầu tư trái phiếu, tiền gửi (bán

chéo sản phẩm qua ngân hàng)…

1.3.2 Đối với xã hội

Vai trò của hoạt động đầu tư được thể hiện rõ nét nhất thông qua vị trí của DNBH trong cấu trúc của hệ thống thị trường tài chính Bên cạnh các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ đầu tư… DNBH cũng là một trung gian tài chính, thực hiện thu hút vốn nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân dưới hình thức phí bảo hiểm và cung ứng vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động đầu tư Qua đó góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn, thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế

Trang 21

Ngoài ra, hoạt động đầu tư của các DNBH còn có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà nước và tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân

1.4 NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ VÀ NGUYÊN TẮC ĐẦU TƯ CỦA DNBHPNT 1.4.1 Nguồn vốn đầu tư

Vốn đầu tư của DNBH được huy động chủ yếu từ hai nguồn cơ bản là vốn chủ

sở hữu và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

Thực tế, Nhà nước yêu cầu vốn pháp định của các DNBH tương đối cao để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Ví dụ như ở Việt Nam hiện nay, luật bảo hiểm quy định vốn pháp định với DNBHPNT là 300 tỷ đồng Việt Nam, DNBHNT

là 600 tỷ đồng Việt Nam

DNBH thường phải ký quỹ một phần vốn điều lệ theo quy định của pháp luật (ở Việt Nam hiện nay tiền ký quỹ bằng 2% vốn pháp định), phần còn lại doanh nghiệp

có thể đem đầu tư để sinh lời

b Lợi nhuận chưa phân phối

Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của DNBH được phân phối cho các

cổ đông dưới hình thức cổ tức, trích lập các quỹ như quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi…, phần còn lại chưa sử dụng sẽ bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp

Trang 22

Trong các DNBH, vốn điều lệ và lợi nhuận chưa phân phối thường chưa phải là nguồn vốn đầu tư lớn nhất nhưng rất quan trọng vì nó là vốn tự có của doanh nghiệp nên ít chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, tạo điều kiện để DNBH có thể đầu tư vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lời cao

1.4.1.2 Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

Để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, pháp luật quy định các DNBH bắt buộc phải trích lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ Cuối mội năm tài chính, các DNBHPNT phải trích lập DPNV theo từng nghiệp vụ bảo hiểm đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp, thông thường là ba loại quỹ DPNV sau:

- Dự phòng phí

Được sử dụng để bồi thường cho trách nhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm tiếp theo Việc DNBHPNT trích lập dự phòng phí xuất phát từ sự không trùng khớp giữa năm tài chính và thời gian hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

- Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết (Dự phòng bồi thường)

Được sử dụng để bồi thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm chưa khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng cuối năm tài chính chưa được giải quyết

Việc trích lập dự phòng bồi thường chính là do sự sai lệch giữa thời điểm xảy

ra tổn thất và thời điểm thanh toán bồi thường được thực hiện

- Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất (Dự phòng dao động lớn)

Dự phòng dao động lớn được sử dụng để bồi thường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí bảo hiểm giữ lại trong năm tài chính sau khi

đã trích lập dự phòng phí và dự phòng bồi thường không đủ để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp

Các DNBHPNT thường không phải sử dụng các quỹ DPNV này để chi trả, bồi thường hết ngay trong năm tài chính tiếp theo Ngoài ra, DNBHPNT có thể lấy chính

từ tiền phí thu trong năm để chi trả, bồi thường cho phần trách nhiệm phát sinh từ những hợp đồng ký những năm trước đó Do vậy một phần quỹ DPNV nhàn rỗi có thể đem đầu tư sinh lời Tùy theo quy định của từng nước mà việc xác định bao nhiêu

Trang 23

trong số quỹ DPNV được coi là “nhàn rỗi” để DNBHPNT được đem đi đầu tư và việc đầu tư nguồn vốn này cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật

1.4.1.3 Nguồn vốn đầu tư khác

Ngoài các nguồn vốn cơ bản kể trên, DNBHPNT có thể sử dụng các nguồn vốn khác để đầu tư như nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, nguồn vốn nhận ủy thác từ các cá nhân, tổ chức…

1.4.2 Các nguyên tắc đầu tư của DNBH

1.4.2.1 Nguyên tắc an toàn

Hoạt động đầu tư trong DNBH luôn những trước những rủi ro đầu tư cơ bản sau:

- Rủi ro lãi suất: Rủi ro này xuất phát từ chỗ giá trị của các khoản đầu tư có lãi

suất cố định chịu sự biến động khi lãi suất trên thị trường thay đổi và tỷ suất sinh lời thực tế có thể biến đổi một cách tương ứng

- Rủi ro tín dụng: Rủi ro này xảy ra khi bên vay vốn của DNBH bị phá sản hay

tái cơ cấu tổ chức khiến họ không thể trả lại tiền đầu tư cho DNBH như đã cam kết

- Rủi ro thị trường: Rủi ro này xuất phát từ sựt hay đổi của thị trường thuộc

lĩnh vực mà DNBH đầu tư

- Rủi ro tiền tệ: Tỷ giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ luôn thay đổi làm cho

giá trị các khoản đầu tư định giá bằng nội tệ sẽ thay đổi theo

Việc đảm bảo nguyên tắc an toàn trong hoạt động đầu tư là rất quan trọng để DNBH có thể đảm bảo khả năng tài chính để thực hiện các cam kết với khách hàng trong các hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Nguyên tắc này được pháp luật thể chế bằng việc quy định những giới hạn đối với các hoạt động đầu tư có mức độ rủi ro cao Ngoài ra, nguyên tắc này cũng yêu cầu các DNBH phải phân tán rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình

1.4.2.2 Nguyên tắc sinh lời

Hoạt động đầu tư là nguồn chính tạo ra lợi nhuận cho DNBH- nguồn vô cùng quan trọng giúp DNBH tăng cường sức mạnh tài chính, thực hiện các chiến lược kinh doanh Vì vậy, hoạt động đầu tư cần thiết phải có một tỷ suất sinh lời tốt Tuy vậy nguyên lý đầu tư là rủi ro đầu tư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận đầu tư càng cao và

Trang 24

ngược lại Do đó, nhà quản lý quỹ đầu tư của DNBH cần lựa chọn một cơ cấu danh mục cân đối để đảm bảo cả nguyên tắc an toàn và nguyên tắc sinh lời

1.4.2.3 Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên

DNBHPNT có thể phải chi trả bồi thường cho khách hàng bất kỳ lúc nào khi có

sự kiện bảo hiểm xảy ra bởi vậy danh mục đầu tư phải cân đối về thời hạn (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) để có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên Tính thanh khoản của các khoản mục đầu tư của DNBH cũng được pháp luật thể chế hóa bằng việc quy định danh mục đầu tư với tỷ lệ nhất định

Trong thực tế, việc đồng thời thực hiện các nguyên tắc trên đối với DNBH là một vấn đề rất phức tạp vì khi thực hiện nguyên tắc an toàn, và khả năng thanh toán thường xuyên thì khả năng sinh lời sẽ giảm xuống và ngược lại Việc phân bổ nguồn vốn vào các loại hình đầu tư, xác định cơ cấu danh mục đầu tư hợp lý là vô cùng quan trọng và đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm của người quản lý quỹ đầu tư

1.5 CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CỦA DNBHPNT

Hoạt động đầu tư của các DNBHPNT chủ yếu được thực hiện thông qua thị trường tài chính, bao gồm các hoạt động cơ bản sau:

1.5.1 Đầu tư tiền gửi

Đầu tư tiền gửi là việc DNBHPNT gửi tiền có kỳ hạn tại các Tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, công ty tài chính…) để hưởng lãi theo lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi…

Hoạt động đầu tư tiền gửi đơn giản và có độ rủi ro thấp nhất trong các loại hình đầu tư Thực tế, loại hình đầu tư này không bị giới hạn bởi quy định của pháp luật và thường chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu danh mục đầu tư của DNBHPNT do

nó đảm bảo tính an toàn nhất định cho DNBH

Tuy nhiên, hình thức đầu tư này lại chịu ảnh hưởng rất lớn của lạm phát, của sự bất ổn định của lãi suất và thường có lãi suất không cao bằng loại hình đầu tư khác

Hơn nữa, thời hạn đầu tư thường ngắn do các ngân hàng thương mại thường chỉ thực hiện huy động vốn bằng tiền gửi với thời hạn ngắn, trong vòng 24 tháng để có thể điều chỉnh kịp thời lãi suất huy động cho phù hợp với lãi suất thị trường nên không phù hợp với các nhà đầu tư từ nguồn vốn dài hạn

Trang 25

Ở các nước phát triển, hình thức đầu tư này chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn đầu tư, bởi hiệu quả không cao Nó chỉ là hình thức giữ tiền tạm thời của các nhà bảo hiểm trong lúc tìm các hình thức đầu tư hiệu quả khác Như ở Mỹ, tỷ trọng khoản mục này trong tổng vốn đầu tư của các DNBH nhân thọ chỉ là 5,7%, còn

ở Canada là gần 8%

Tuy vậy, đầu tư tiền gửi vẫn là hình thức đầu tư chủ yếu đối với các DNBH ở các thị trường vốn chưa phát triển như nước ta Khi thị trường vốn phát triển, DNBH chuyển một phần đáng kể vốn từ hình thức tiền gửi kỳ hạn sang đầu tư chứng khoán để tăng hiệu quả đầu tư

1.5.2 Đầu tư chứng khoán

Các khoản đầu tư chứng khoán có khả năng mang lại lãi cổ tức và lãi vốn lớn cho DNBHPNT Đồng thời, các chứng khoản thường có tính thanh khoản cao, DNBHPNT có thể nhanh chóng bán các loại chứng khoán trên thị trường để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền mặt của doanh nghiệp Hai công cụ chính trên thị trường chứng khoán là trái phiếu và cổ phiếu

1.5.3 Đầu tư trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ (gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm có 3 loại là:

- Trái phiếu chính phủ: là trái phiếu do Chính phủ và Chính quyền địa phương phát hành để có nguồn tài chính tài trợ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các công trình công cộng

- Trái phiếu công ty: là trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn trong nền kinh tế để tài trợ cho các nhu cầu vốn lớn có tính chất dài hạn của công ty

- Trái phiếu của Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phát hành để huy động nguồn tài chính dài hạn

Nhìn chung trái phiếu là một loại đầu tư lớn nhất trong danh mục đầu tư của các DNBH trên thế giới vì nó là một khoản đầu tư tương đối an toàn với các ưu thế sau:

- Một là, đầu tư trái phiếu mang lại thu nhập thường xuyên ổn định

Trang 26

Lãi suất của trái phiếu thường được ấn định ngay từ đầu và cố định trong suốt vòng đời của trái phiếu nên có thể coi trái phiếu là một loại đầu tư có thu nhập cố định Ngoài ra, nhà đầu tư có thể thu được khoản chênh lệch giá từ việc bán trái phiếu trước hạn Đặc điểm này tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thể tính được dòng thu nhập

dự kiến trong tương lai Hơn nữa, lãi suất này thường là cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng cùng kỳ hạn, đặc biệt đối với trái phiếu công ty

Khả năng chuyển đổi của trái phiếu trước ngày đáo hạn cũng đảm bảo cho khả năng huy động vốn dài hạn của người phát hành và thu hồi vốn nhanh chóng của người mua Trong trường hợp cần thiết, DNBH có thể bán trái phiếu một cách nhanh chóng để thực hiện nghĩa vụ với khách hàng Tuy nhiên, để thực hiện được việc chuyển nhượng trái phiếu dễ dàng, nhanh chóng đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán phát triển

- Hai là, trái phiếu có độ an toàn cao Trái phiếu trên thị trường thường do

chính phủ hoặc các tập đoàn lớn, các công ty có uy tín phát hành Do vậy việc thanh toán gốc và lãi trái phiếu thường được đảm bảo khá chắc chắn Nếu người phát hành trái phiếu không thể thanh toán đúng hạn, người nắm giữ trái phiếu có quyền khiếu nại trên số tài sản của người phát hành Và trong trường hợp các công ty bị giải thể hoặc thanh lý thì trái phiếu lại được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu

Hơn nữa, đối với mục tiêu mua và lưu giữ trái phiếu thì việc biến động giá trái phiếu không ảnh hưởng đến dòng thu nhập từ lãi trái phiếu và số vốn thu hồi Đặc điểm này rất phù hợp với các công ty đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn

Với các ưu điểm trên, trong những năm gần đây, đầu tư vào trái phiếu đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong danh mục đầu tư của các DNBH trên thế giới Ví dụ như

ở Mỹ, khoản đầu tư vào trái phiếu chiếm tới 71,7% tổng vốn đầu tư, còn ở Canada, tỷ

lệ này là 44,3%

Tuy nhiên, khi thực hiện đầu tư vào trái phiếu, các nhà đầu tư phải chịu những rủi ro nhất định Rủi ro cơ bản nhất đó là rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất Mức rủi ro của mỗi trái phiếu phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của đơn vị phát hành, các bảo đảm kèm theo (tài sản bảo đảm, bảo lãnh thanh toán…) và kỳ hạn, lãi suất (thả nổi hay cố định), tính chất trái phiếu (trái phiếu có thể thu hồi, trái phiếu có thể chuyển đổi…)

1.5.4 Đầu tư cổ phiếu

Trang 27

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Khi các DNBHPNT đầu

tư vào cổ phiếu, họ được hưởng các quyền đối với công ty với tư cách là người sở hữu với mức độ tương ứng với loại hình cổ phiếu và tỷ lệ cổ phiếu họ nắm giữ

Có 2 loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Điểm khác biệt cơ bản giữa 2 loại cổ phiếu này là thu nhập cổ tức hàng năm Tùy theo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu mà nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu thường (cổ đông thường) có thể nhận được cổ tức cao hoặc thấp hoặc là không có Trong khi đó, nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu ưu đãi (cổ đông ưu đãi) được nhận cổ tức theo tỷ lệ cố định hàng năm trừ khi công ty không có đủ lợi nhuận để trả và được ưu tiên nhận cổ tức trước cổ đông thường Ngoài ra, cổ đông ưu đãi không có quyền bỏ phiếu cho những vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của công ty như cổ đông thường Như vậy, đầu tư vào cổ phiếu thường có mức độ rủi ro cao hơn đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi nhưng tỷ suất lợi nhuận cũng lớn hơn

Khi đầu tư cổ phiếu, trường hợp công ty làm ăn có lãi, nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận dưới dạng cổ tức, và lãi càng lớn thì cổ tức được chia càng nhiều, từ đó tăng thu nhập cho nhà đầu tư Ngoài ra người giữ cổ phiếu nhận được thu nhập từ cổ phiếu thông qua khoản chênh lệch giá khi bán cổ phiếu

Bên cạnh đó, khả năng chuyển nhượng của cổ phiếu cho phép nhà đầu tư có thể bán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần mình sở hữu khi cần thiết để đáp ứng nhu cầu

về vốn tại một thời điểm nhất định Tuy nhiên để thực hiện được điều này cũng đòi hỏi phải có một thị trường chứng khoán phát triển

Ngoài ra thu nhập từ cổ phiếu không bị đánh thuế thu nhập vì cổ tức được chia

từ phần lợi nhuận sau thuế của công ty cổ phần

Bên cạnh những ưu thế trên, đầu tư cổ phiếu cũng có những bất lợi sau:

- Một là, chi phí để thu thập thông tin khi tiến hành đầu tư cao ảnh hưởng đến

lợi nhuận đầu tư

- Hai là, sự không ổn định của nguồn thu nhập từ cổ phiếu Do lượng cổ tức

được hưởng phụ thuộc chủ yếu vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành và chính sách chia cổ tức của công ty Trong trường hợp công ty làm ăn không

có lãi hoặc ban quản trị công ty quyết định giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn thì

Trang 28

nhà đầu tư sẽ không được chia cổ tức Do vậy, nhà đầu tư khó dự đoán được chính xác nguồn thu nhập dự kiến trong tương lai

- Ba là, người giữ cổ phiếu có quyền ưu tiên thấp hơn người giữ trái phiếu đối

với các tài sản của công ty trong trường hợp công ty phá sản Người giữ cổ phiếu sẽ chỉ được trả tiền nếu quỹ còn lại sau khi thanh toán cho người giữ trái phiếu và các chủ nợ khác

- Bốn là, sự biến động bất thường của giá cổ phiếu do tác động của rất nhiều

yếu tố khác nhau làm nhà đầu tư không thể dự đoán trước được Giá cổ phiếu thường

có xu hướng biến động nhiều hơn giá trái phiếu vì cổ phiếu không có ngày đáo hạn và không có giá trị đáo hạn

Vì mức độ rủi ro cao hơn và đặc điểm dòng tiền không đều của cổ phiếu nên các nhà bảo hiểm bị luật pháp hạn chế về tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu

Ngoài ra để đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro đầu tư, DNBH cũng thực hiện đầu tư vào các công cụ tài chính khác như các hợp đồng quyền chọn mua, quyền chọn bán, các hợp đồng kỳ hạn… Tuy nhiên, việc đầu tư vào các công cụ này chỉ được thực hiện tại các nước có thị trường tài chính phát triển

1.5.5 Góp vốn

Góp vốn là hình thức DNBHPNT đầu tư vốn thành lập hoặc mua lại phần vốn góp tại công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết Với hình thức đầu tư này, chủ đầu tư được tham gia quá trình quản lý công ty, và được hưởng lãi theo kết quả kinh doanh dưới dạng lãi liên doanh

Ưu điểm của hình thức này là lãi liên doanh không phải chịu thuế thu nhập vì

nó được trích từ nguồn lợi nhuận sau thuế của công ty Nếu công ty làm ăn thuận lợi thì nhà đầu tư có cơ hội có được một khoản thu nhập bền vững trong dài hạn

Tuy nhiên, ngược lại nếu kinh doanh gặp khó khăn thì nhà đầu tư sẽ không thu được lãi, thậm chí cả vốn, trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ phá sản

Một điểm nữa là hiệu quả của công việc góp vốn liên doanh, liên kết cũng phụ thuộc rất lớn vào đối tác cùng tham gia liên doanh, đặc biệt là góp vốn chi phối

1.5.6 Các hình thức đầu tư khác

1.5.6.1 Đầu tư bất động sản

Trang 29

Đầu tư bất động sản mang lại cho các DNBH khoản thu nhập dưới dạng thu nhập cho thuê bất động sản và cơ hội tăng giá của khoản đầu tư Trong trường hợp cho thuê được bất động sản, đây sẽ là một nguồn thu nhập cao, thường xuyên, khá ổn định

Tỷ lệ thu nhập hiện tại nhận được từ đầu tư bất động sản thường lớn hơn tỷ lệ cổ tức được chia khi đầu tư cổ phiếu thường Đối với các công ty đầu tư từ nguồn vốn dài hạn thì đây là một loại hình đầu tư hiệu quả

Đầu tư bất động sản cũng là một hình thức quảng bá hình ảnh của công ty qua việc cung cấp những toà nhà chất lượng cao cho khách hàng

Tuy nhiên dòng thu nhập nhận được từ đầu tư bất động sản thường thường khó

dự đoán được vì khả năng không cho thuê được Giá trị bất động sản có thể dao động đáng kể qua thời gian Sự biến động giá cả bất động sản chịu tác động của nhiều yếu

tố khác nhau, khó có thể lường trước được Do đó sẽ là mạo hiểm nếu DNBH đầu tư bất động sản để chờ giá tăng bán đi thu lợi nhuận từ chênh lệch giá

Một đặc điểm bất lợi nữa là bất động sản có tính lỏng rất thấp Việc chuyển nhượng một bất động sản thường đòi hỏi những thủ tục phức tạp, thời gian lâu dài, đặc biệt khi thị trường địa ốc chưa phát triển như ở nước ta

Do đó, hoạt động kinh doanh bất động sản của DNBH luôn phải chịu những hạn chế nhất định của pháp luật và các DNBHPNT thường không đầu tư nhiều vào bất

động sản

1.5.6.2 Cho vay thế chấp

Các DNBHPNT có thể cho vay như một trung gian tài chính, đem đến cho công chúng một sự lựa chọn tài chính khác bên cạnh các tổ chức tín dụng Tuy nhiên trong hoạt động này, DNBH phải cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng thương mại nên cũng gặp phải nhiều khó khăn Hơn nữa, tính lỏng của các khoản cho vay trong điều kiện thị trường mua bán nợ chưa phát triển như ở nước ta là rất thấp, do vậy thường không phù hợp với các khoản đầu tư từ quỹ dự phòng ở các DNBH phi nhân thọ luôn có nhu cầu tiền mặt lớn

Một hình thức cho vay phổ biến thường được các DNBHPNT thực hiện là repo trái phiếu – tức là cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu

Trang 30

Ngoài những hình thức đầu tư cơ bản kể trên, các DNBHPNT có thể đầu tư ở một số hình thức khác tùy theo quy định của từng nước và sự phát triển của thị trường

tài chính như các chứng khoán phái sinh, vàng, ngoại tệ…

1.6 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

Thị trường bảo hiểm ngày càng cạnh tranh gay gắt, đặc biệt tại các thị trường bảo hiểm chưa phát triển, chủ yếu các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh thông qua hạ phí bảo hiểm Thực tế này khiến hoạt động kinh doanh bảo hiểm có lợi nhuận rất thấp thậm chí còn thua lỗ Nguồn thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính thường là nguồn lợi nhuận chính tại các DNBH nói chung và các DNBHPNT Bởi vậy, hiệu quả hoạt động đầu tư đóng vai trò rất quan trọng trong hiệu quả kinh doanh chung của DNBHPNT

Để đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư, các DNBHPNT thường sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản sau:

1.6.1 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư

Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư Nhưng suy cho cùng, mọi sự đầu tư đều có mục đích lớn nhất là tối

đa hóa lợi nhuận Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn để đầu tư chính là hiệu suất sinh lời của đồng vốn tức là một đồng vốn bỏ ra tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

DNBH cũng là một tổ chức hạch toán kinh doanh trên thị trường nên doanh nghiệp phải tính toán sao cho một đồng vốn đầu tư bỏ ra phải thu được nhiều lợi nhuận nhất Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư là chỉ tiêu quan trọng phản ánh nội dung này

Phương pháp đánh giá khả năng sinh lời của tài sản đầu tư tài chính như sau:

Pt – Po +D

R = -

Po Trong đó:

Pt là giá trị tài sản đầu tư tài chính tại thời điểm t

Po là giá trị gốc

D: lợi tức sinh lời của tài sản thu được: cổ tức

Trang 31

Tài sản đầu tư = Đầu tư tài chính

Lưu ý: Trường hợp DNBHPNT sử dụng vốn vay để đầu tư thì có thể trừ nguồn

vốn vay khỏi mẫu số của công thức (1) để xác định mức độ sinh lời từ nguồn vốn đầu

tư của bản thân doanh nghiệp

1.6.2 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của chủ sở hữu tham gia vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận hoạt động đầu tư trong kỳ tính toán

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên

1.6.3 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên tổng tài sản

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản của doanh nghiệp thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư trong kỳ tính toán

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư

1.6.4 Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận đầu tư tài chính

Trang 32

Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính qua các năm của DNBH

Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận ĐTTC

Lợi nhuận ĐTTC kỳ báo cáoLợi nhuận ĐTTC kỳ liền trước 1 x100%

Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên, DNBH có thể sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư như: Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) và Thời gian hoàn vốn

1.7 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ

CỦA DNBHPNT

1.7.1 Các nhân tố bên trong

1.7.1.1 Các nghĩa vụ tài chính của DNBHPNT

Nghĩa vụ tài chính của DNBHPNT gồm nghĩa vụ đối với khách hàng và nghĩa

vụ đối với cổ đông

- Nghĩa vụ đối với khách hàng:

Việc thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng của các DNBHPNT thể hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ dự phòng nghiệp vụ Các DNBHPNT thường không thể dự đoán chắc chắn về thời gian xảy ra khiếu nại và số tiền phải trả cho việc giải quyết khiếu nại của khách hàng DNBHPNT có thể phải đối mặt với tình trạng mức khiếu nại tặng một cách bất thường và đòi hỏi công ty phải thanh toán bồi thường trong thời gian ngắn để đảm bảo uy tín, chất lượng dịch vụ Vì vậy, DNBHPNT phải đẩu tư một khoản đáng kể vào những tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo chi trả cho các khoản bồi thường này

Tính thanh khoản của tài sản đầu tư có 2 đặc điểm:

Thứ nhất, các khoản đầu tư đó không bị biến động lớn về giá trong thời gian

Trang 33

Vốn chủ sở hữu của một DNBHPNT ít bị hạn chế hơn so với đầu tư từ vốn nhàn rỗi của quỹ dự phòng nghiệp vụ và tài trợ cho việc phát triển kinh doanh lâu dài nên thường được ưu tiên sử dụng để đầu tư vào các tài sản có khả năng thu lợi nhuận cao, đảm bảo giá trị của vốn chủ sở hữu tăng lên theo thời gian hay ít nhất cũng theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh doanh

Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó các DNBHPNT cũng phải quan tâm tới rủi ro thanh khoản của các tài sản đầu tư mà doanh nghiệp nắm giữ vì vốn chủ sở hữu là chỗ dựa cuối cùng của các DNBHPNT để giải quyết cho những tổn thất lớn có thể phải bồi thường trong tương lai

Việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu và từ nguồn nhàn rỗi của quỹ dự phòng nghiệp vụ không hoàn toàn độc lập với nhau nhưng thực tế một DNBHPNT có tỷ lệ vốn chủ sở hữu/quỹ dự phòng nghiệp vụ lớn thì có chính sách đầu tư ít thận trọng hơn

so với các DNBHPNT khác

1.7.1.2 Quy mô của DNBHPNT

Quy mô của DNBH có ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu danh mục đầu tư Cụ thể:

- Các DNBHPNT lớn, tức là có vốn đầu tư lớn, sẽ có phạm vi lựa chọn đầu tư rộng hơn, có khả năng đa dạng hóa danh mục tốt hơn, đặc biệt với một số lĩnh vực yêu cầu vốn đầu tư lớn như trái phiếu chính phủ, bất động sản…

- Bên cạnh đó, mức độ thanh khoản của các tài sản tài chính sẽ phụ thuộc vào quy

mô đầu tư vào tài sản của DNBHPNT so với quy mô của toàn thị trường Với cùng một tài sản đầu tư, đối với một DNBHPNT nhỏ, tài sản đầu tư đó có giá trị nhỏ, khi cần họ có thể bán ngay ra thị trường mà không lo làm rối loạn thị trường, đảm bảo tính thanh khoản tốt Trong khi đó, với một DNBHPNT lớn nắm giữ một giá trị lớn tài sản đầu tư đó, khi cần bán hết ra thị trường có thể làm tăng đột biến cung và làm tài sản đầu tư bị giảm giá, tính thanh khoản không được đảm bảo

1.7.1.3 Quan điểm đầu tư

Hoạt động đầu tư của DNBHPNT chịu tác động của nhiều nhân tố, nhưng suy cho cùng, quyết định đầu tư vào đâu, giá trị đầu tư bao nhiêu… là do người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư quyết định trong khuôn khổ pháp luật cho phép Nếu người quản lý đầu tư là người thận trọng, họ thiên về lựa chọn danh mục đầu tư có mức độ rủi ro thấp Ngược lại, nếu người quản lý đầu tư là người mạo hiểm, họ có thể

Trang 34

lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro cao để tìm kiếm tỷ suất sinh lời hấp dẫn

Thực tế cho thấy quan điểm quản lý đầu tư ở các thị trường bảo hiểm khác nhau là khác nhau Do cùng chịu một sức ép từ thị trường, các chính sách đầu tư nhìn chung có xu hướng tương tự nhau giữa các DNBHPNT hoạt động trên cùng một thị trường Bên cạnh đó, các quan điểm đầu tư cũng không tách biệt với bối cảnh, quy mô

và mức độ phát triển của thị trường vốn Các khu vực tài chính tự do, năng động hơn

sẽ tạo ra các tập quán quản lý đầu tư linh hoạt và ít thận trọng hơn

1.7.1.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện đầu tư

Đây cũng là một trong số những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định hiệu quả đầu tư của công ty Nhìn chung, hoạt động đầu tư của DNBH được thực hiện trong rất nhiều lĩnh vực rất đa dạng và chịu nhiều rủi ro Do đó, cán bộ thực hiện đầu tư phải có trình độ chuyên môn, được đào tạo chuyên sâu và có kinh nghiệm thì mới có thể tối đa hóa hiệu quả danh mục đầu tư của DNBH trên cơ sở lựa chọn những phương án đầu tư có độ rủi ro và mức lợi nhuận hợp lý

1.7.1.5 Quy mô, tính chất nguồn vốn đầu tư của DNBHPNT

Quy mô nguồn vốn tại mỗi DNBHPNT đều có ảnh hưởng chung đến nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn của DNBHPNT càng lớn thì khả năng đầu tư tài chính cũng tăng theo

Nguồn vốn đầu tư từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm là những nguồn vốn ngắn hạn và là các khoản Nợ mang tính may rủi Chính vì yếu tố này việc đầu tư tài chính cũng bị tác động không nhỏ

1.7.2 Các nhân tố bên ngoài

Hoạt động đầu tư của DNBHPNT cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế nào luôn chịu tác động của các nhân tố bên ngoài là: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế xã hội, môi trường chính trị, môi trường kinh tế quốc tế Trong đó, một số nhân tố quan trọng là:

1.7.2.1 Chính sách thuế

Thuế là một nhân tố bên ngoài quan trọng có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động đầu tư của DNBHPNT, cụ thể:

Trang 35

- Để khuyến khích tăng đầu tư cho nền kinh tế, các chính phủ thường ưu đãi không đánh thuế hoặc giảm thuế đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nếu lợi nhuận được đem tái đầu tư Khi nhà nước áp dụng chính sách thuế này, các DNBHPNT sẽ có xu hướng để lại nhiều hơn lợi nhuận sau thuế, bổ sung vào vốn điều

lệ, tăng nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp

- DNBHPNT sẽ tăng giá trị đầu tư vào những lĩnh vực phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước được nhà nước khuyến khích thông qua việc giảm thuế

- Thuế sẽ ảnh hưởng đặc biệt tới việc lựa chọn hình thức đầu tư khi nhà nước

có những ưu đãi thuế riêng cho các DNBHPNT so với các nhà đầu tư khác

1.7.2.2 Các điều kiện của thị trường tài chính

Quy mô và mức độ phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng lớn tới sự lựa chọn đầu tư của các nhà đầu tư nói chung và các DNBHPNT nói riêng Thị trường tài chính phát triển thể hiện ở số lượng và chất lượng hàng hóa (các tài sản tài chính) trên thị trường, sự minh bạch và đầy đủ thông tin, khả năng kết nối và thực hiện các giao dịch nhanh chóng, chính xác Tại các thị trường tài chính phát triển, DNBHPNT

có nhiều sự lựa chọn hình thức đầu tư Ngược lại, nếu thị trường tài chính chưa phát triển đầy đủ thì sự lựa chọn hình thức đầu tư sẽ bị hạn chế lớn

Điều này thể hiện khá rõ ở thị trường Việt Nam trong những năm vừa qua Trong những năm trước đây, các DNBHPNT ở Việt Nam gần như không có cơ hội đầu tư ngoài tiền gửi tại ngân hàng và trái phiếu chính phủ và một phần nhỏ kinh doanh bất động sản Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thị trường tài chính ngày cảng phát triển với sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán và sự tham gia năng động của các chủ thể trên thị trường, các DNBHPNT ngày càng có nhiều sự lựa chọn đầu tư và quan điểm đầu tư cũng linh hoạt hơn rất nhiều

1.7.2.3 Các ràng buộc về mặt pháp lý đối với hoạt động đầu tư của DNBHPNT

Việc DNBHPNT được phép đầu tư vào những lĩnh vực nào, giá trị đầu tư là bao nhiêu thông thường đều bị pháp luật các nước khống chế Có 3 lý do cơ bản cho việc Nhà nước khống chế hoạt động đầu tư của các DNBH nói chung và DNBHPNT nói riêng, đó là:

Trang 36

Một là, bảo vệ người tham gia bào hiểm Việc quản lý của Nhà nước đối với

hoạt động đầu tư của các DNBHPNT trước hết nhằm làm giảm bớt khả năng các doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất thanh khoản, phá sản và nếu xảy ra phá sản thì đảm bảo rằng người tham gia bảo hiểm sẽ bị thiệt hại ít nhất Thông thường, nếu được

tự do quyết định, nhà đầu tư sẽ thiên về những lĩnh vực cho tỷ suất lợi nhuận đầu tư cao và cũng đồng nghĩa với khả năng gặp rủi ro cao Nếu rủi ro xảy ra sẽ mất vốn đầu

tư và sẽ rất nguy hiểm nếu vốn này lại từ quỹ DPNV tức là từ phí bảo hiểm được dùng

để chi trả cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Do đó, việc sử dụng các quỹ DPNV để đầu tư luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ

Hai là, định hướng sự lưu chuyển của các quỹ đầu tư Ở các thị trường bảo

hiểm phát triển, các DNBH có nguồn vốn đầu tư rất dồi dào nên thường quản lý một

số lượng khá lớn các tài sản tài chính Vì vậy, đôi khi Chính phủ các nước này thấy cần phải định hướng sự luân chuyển của các tài sản tài chính này để phục vụ cho mục tiêu kinh tế cao hơn của đất nước Việc định hướng như trên nhằm phục vụ một số mục tiêu sau:

- Đảm bảo có đủ nguồn vốn để tài trợ cho các chương trình công cộng

- Đảm bảo các quỹ được đầu tư vào nền kinh tế trong nước

- Bổ sung vào thâm hụt ngân sách nhà nước

Ba là, giảm nguy cơ tập trung quyền lực trong lĩnh vực tài chính Do nguồn

vốn đầu tư của DNBH là rất lớn, chỉ đứng hàng thứ hai sau các ngân hàng thương mại trên thị trường vốn nên Nhà nước thường tìm cách kiểm soát đối với chiến lược đa dạng hóa đầu tư của DNBH Từ đó ngăn chặn các doanh nghiệp này sử dụng các nguồn lực tài chính của họ để kiểm soát các tổ chức tài chính khác

1.8 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI

VỚI VIỆC THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DNBHPNT

1.8.1 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước

Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước khác nhau mà việc chuyển các mục tiêu quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư của DNBH thành các quy định pháp luật hạn chế hoạt động đầu tư của các DNBH nói chung và các DNBHPNT phi nhân thọ ở

Trang 37

các nước là khác nhau Trên cơ sở tham khảo luật bảo hiểm của các nước, ta có thể thấy các quy định pháp luật này đều có một số đặc điểm chung là:

o Đều nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau: (1) các tài sản đầu tư phải đảm bảo có mức độ rủi ro thấp nhất có thể chấp nhận được; (2) Danh mục đầu tư phải được đa dạng hóa ở mức đủ để làm giảm thiểu rủi ro thua lỗ và

có đủ tính thanh khoản để đáp ứng nhu cầu lưu chuyển tiền ngắn hạn phát sinh

o Đều nằm trong quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm hoặc những văn bản dưới luật

o Đều có sự thay đổi thường xuyên cho phù hợp với điều kiện của thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính luôn biến động

o Đều quy định những hạn chế pháp luật chủ yếu áp dụng đối với đầu tư quỹ DPNV và ít hạn chế hơn đối với vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, ở một số nước vẫn quy định hạn chế đầu tư vì suy cho cùng đây cũng là nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh toán cho DNBH, nhưng chỉ bị hạn chế ở phần vốn pháp định

o Đều bao gồm các quy định chủ yếu sau: quy định danh mục đầu tư, quy định giới hạn tối đa/tối thiểu cho từng loại tài sản đầu tư, quy định giới hạn tối đa/tối thiểu cho từng khoản đầu tư, và quy định về đầu tư ra nước ngoài

1.8.2 Thực tiễn hoạt động đầu tư của các DNBHPNT lớn trên thế giới

Tại các thị trường bảo hiểm phát triển, các DNBH nói chung và các DNBHPNT nói riêng đều có xu hướng phát triển hoạt động kinh doanh theo mô hình các tập đoàn bảo hiểm - đầu tư tài chính, ví dụ như: Tập đoàn bảo hiểm Mitsui Sumitomo (MSIG) của Nhật Bản, Tập đoàn tài chính – bảo hiểm Allianz của Đức, Tập đoàn bảo hiểm AXA của Pháp, Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ…

Với các tập đoàn bảo hiểm này, hoạt động đầu tư tài chính không chỉ là nguồn mang lại lợi nhuận lớn trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp mà còn đóng vai trò to lớn hỗ trợ sự bành trướng quy mô hoạt động bảo hiểm và định hướng sự phát triển của doanh nghiệp Ta có thể thấy rõ sự hỗ trợ này thông qua xem xét sự phát triển của Tập đoàn Allianz

Trang 38

Allianz AG ra đời năm 1890 tại Berlin, sau đó chuyển đầu não về Munich năm

1949 Năm 1986, Allianz mua công ty Cornhill Insurance ở London và mua cổ phiếu Riunione Adriatica di Sicurità (RAS), Milan, tăng cường sự hiện diện ở Tây và Nam

Âu trong thập kỷ 1980 Năm 1990, Allianz bắt đầu bành trướng sang các nước Đông

Âu với việc xuất hiện ở Hungary Cũng trong thập kỷ này, Allianz thôn tính Fireman’s Fund, một công ty bảo hiểm ở Hoa Kỳ, tiếp sau đó là mua công ty Assurances Generales de France (AGF), Paris Những hoạt động thâu tóm này được tiếp bước bằng tiến vào Châu Á qua các liên doanh và mua lại doanh nghiệp ở Trung Quốc và Hàn Quốc Khoảng thời gian này, Allianz cũng tăng cường hoạt động quản lý tài sản thông qua hoạt động đầu tư tài chính, ví dụ mua các công ty quản lý tài sản ở California

Năm 2001, Allianz tiếp quản Ngân hàng Dresdner, một ngân hàng lớn ở Đức Tập đoàn Allianz và Ngân hàng Dresdner Bank dựng nên Allianz Global Investors để hợp nhất các hoạt động quản lý tài sản

Vào tháng 2 năm 2006, cổ đông RAS phê chuẩn sự sáp nhập với Allianz, tập đoàn Allianz Group thành lập lại theo Luật công ty của Châu Âu

Năm 2008, với tổng doanh thu là 92,5 tỷ euro, Allianz là định chế bảo hiểm quốc tế và dịch vụ tài chính thứ hai trên thế giới Allianz Global Investors đứng trong nhóm 5 nhà quản lý đầu tư năng động nhất toàn cầu nắm trong tay lượng tài sản 970 tỷ euro, trong đó 725 tỷ euro là tài sản của bên thứ ba từ các tổ chức quản lý tài sản như PIMCO (quỹ trái phiếu), RCM (quỹ cổ phiếu vốn), AAAm (quỹ đầu tư rủi ro), Degi (quỹ bất động sản)…

Hiện nay, Allianz hiện diện ở 70 quốc gia với hơn 180 ngàn nhân viên Đứng đầu tập đoàn quốc tế này là công ty cổ phần mẹ Allianz SE, trụ sở ở Munich Allianz cung cấp cho 60 triệu khách hàng toàn cầu các nhóm dịch vụ hoàn thiện gồm: bảo hiểm tài sản và thiệt hại; bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe; quản lý tài sản và dịch vụ ngân hàng Từ đó ta có thể thấy được hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chính mang lại cho Allianz trong suốt những năm qua

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI

BẢO HIỂM BIDV 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM BIDV

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển BIC

Tên đầy đủ và chính thức: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam

- Tên giao dịch bằng tiếng Việt: Tổng Công ty BIC

- Tên viết tắt: BIC

- Vốn điều lệ: 762.299.820.000 đồng 1

BIC ra đời trên cơ sở chiến lược thành lập Tập đoàn tài chính mang thương hiệu BIDV (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) thông qua việc BIDV mua lại phần vốn góp của Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế QBE (Australia) trong Liên doanh Bảo hiểm Việt Úc (là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được thành lập và hoạt động tại Việt Nam từ năm 1999) và chính thức đi vào hoạt động với tên gọi mới Công ty BIC kể từ ngày 01/01/2006 Việc chuyển nhượng vốn hoạt động của Công ty BIC được Bộ tài chính phê duyệt vào ngày 27 tháng 12 năm 2005 theo văn bản số 16943/BTC-BH Theo Giấy phép thành lập thì Công ty BIC có thời gian hoạt động 89 năm với vốn điều lệ là 100 tỷ đồng Việt Nam

Kế thừa kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm sau 6 năm của liên doanh và kinh nghiệm hoạt động trên thị trường tài chính hơn 50 năm qua của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam, sau khi đi vào hoạt động, BIC (BIC) tiếp tục thực hiện chiến lược cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ được thiết kế phù hợp trong tổng thể các sản phẩm dịch vụ tài chính trọn gói của BIDV tới khách hàng

Từ ngày 01/10/2010, được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, BIC chính thức chuyển đổi sang mô hình Tổng Công ty Cổ phần và tăng vốn điều lệ lên 660 tỷ đồng

19 chi nhánh được chuyển đổi thành các công ty thành viên hạch toán phụ thuộc, sau

đó BIC được thành lập thêm 03 công ty thành viên nâng tổng số đơn vị thành viên lên

      

1 Tăng vốn điều lệ mới được BTC cấp Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC12/KDBH ngày 26/08/2014 trước khi

Trang 40

22 đơn vị, nâng vốn điều lệ lên 726.299.820.000 đồng sau đợt chia cổ tức bằng cổ phiếu và có 02 công ty liên doanh tại nước ngoài

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của BIC

Cơ cấu tổ chức hoạt động của BIC được khái quát qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 01- Cơ cấu mô hình tổ chức của BIC

Trong đó:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền quyết định cao nhất tại Tổng công

ty

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty

để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

Tổng giám đốc là người điều hành các hoạt động chung hàng ngày của Tổng công ty và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của Tổng công ty đối với Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông

Các Ban chức năng tại trụ sở chính đóng vai trò định hướng, điều hành quản lý,

hỗ trợ, nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, thị trường mới, kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh của toàn Tổng công ty và thực hiện việc giải quyết các công

This image cannot currently be displayed.

Ngày đăng: 26/10/2015, 09:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 03- Sơ đồ mô hình tổ chức Ban Đầu tư tài chính - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Sơ đồ 03 Sơ đồ mô hình tổ chức Ban Đầu tư tài chính (Trang 44)
Bảng 04: Nguồn vốn đầu tư tài chính của BIC (2006-2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 04 Nguồn vốn đầu tư tài chính của BIC (2006-2013) (Trang 46)
Bảng 06: Nguồn vốn chủ sở hữu của BIC (2006-2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 06 Nguồn vốn chủ sở hữu của BIC (2006-2013) (Trang 48)
Bảng 07: Doanh thu phí bảo hiểm của BIC (2006-2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 07 Doanh thu phí bảo hiểm của BIC (2006-2013) (Trang 49)
Bảng 08: Tình hình quỹ DPNV bảo hiểm của BIC (2006-2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 08 Tình hình quỹ DPNV bảo hiểm của BIC (2006-2013) (Trang 50)
Bảng 09: Nguồn vốn theo phương thức đầu tư của BIC (2006 -2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 09 Nguồn vốn theo phương thức đầu tư của BIC (2006 -2013) (Trang 52)
Bảng 10: Danh mục đầu tư giai đoạn 2006-2013 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 10 Danh mục đầu tư giai đoạn 2006-2013 (Trang 53)
Bảng 14: Cơ cấu doanh thu đầu tư tài chính của BIC (2006 – 2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 14 Cơ cấu doanh thu đầu tư tài chính của BIC (2006 – 2013) (Trang 58)
Bảng 16: Hiệu suất sử dụng vốn của BIC (2006 – 2013) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 16 Hiệu suất sử dụng vốn của BIC (2006 – 2013) (Trang 59)
Bảng 17: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của BIC (2006-2010) - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ đầu tư tài CHÍNH tại TỔNG CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM NGÂN HÀNG đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Bảng 17 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của BIC (2006-2010) (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w