Là sinh viên chuyên ngành tài chính, bằng những vốn kiến thức đã được tiếp thu ở trường cộng với sự hiểu biết từ thực tế trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TRƯỜNG LINH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TRƯỜNG LINH
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Thạc
sĩ Nguyễn Thị Lan Anh, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếu sót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làm khóa luận Em cũng xin đặc biệt cảm ơn chị Chu Thị Thảo - Kế toán trưởng của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 19 tháng 03 năm 2014
Sinh viên
Ngô Phương Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên Ngô Phương Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP 1
1.1 Vốn lưu động trong doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm vốn lưu động 1
1.1.2 Đặc điểm vốn lưu động 2
1.1.3 Nguồn hình thành vốn lưu động 3
1.1.4 Phân loại vốn lưu động 5
1.1.5 Kết cấu của vốn lưu động 8
1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 11
1.2.1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 11
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 12
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động 18
1.3.1 Các nhân tố khách quan 18
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ VIỆC SỬ DUNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỀN NHÀ TRƯỜNG LINH 22
2.1 Tổng quan về công ty cồ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 22
2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 23
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 23
2.2.2 Tình hình tài sản - nguồn vốn năm 2011 - 2012 của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 26
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 30
2.3 Thực trạng về sử dụng vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 34
Trang 62.3.1 Phân tích kết cấu vốn lưu động của công ty đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 34
2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở công ty cổ phần
đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 43
2.4 Đánh giá thực trạng việc sử dụng vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 48
2.4.1 Những vấn đề về việc sử dụng vốn lưu động ở công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 48
2.4.2 Những thuận lợi trong công tác quản lý vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 49
2.4.3 Những khó khăn trong công tác quản lý vốn lưu động của công ty 50
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ TRƯỜNG LINH 51
3.1 Môi trường kinh doanh với những thuận lợi và khó khăn của công ty 51
3.2 Định hướng phát triển của công ty 52
3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 53
3.3.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động của công ty 53
3.3.2 Những chính sách quản lý kết cấu vốn lưu động 56
3.3.3 Một số biện pháp khác 59
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Trang Bảng 2.1 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 23 Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán ngày 31/12 26 Biểu đồ 2.1 Quy mô tài sản của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh năm 2010,2011,2012 27 Biểu đồ 2.2 Quy mô vốn của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh qua các năm 2010,2011,2012 29 Bảng 2.3 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán 30 Bảng 2.4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 32 Bảng 2.5 Cơ cấu tài sản lưu động tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 34 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu vốn thành tiền tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 36 Bảng 2.7 Cơ cầu tiền gửi ngân hàng tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 37 Bảng 2.8 Cơ cấu các khoản phải thu ngắn hạn của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 38 Bảng 2.9 So sánh tín dụng thương mại cung cấp và được cung cấp tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 40 Bảng 2.10 Cơ cấu hàng tồn kho của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 41 Bảng 2.11 Các chỉ tiêu tài sản ngắn hạn khác ở công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 42 Bảng 2.12 Các chỉ tiêu sử dụng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 43 Biểu đồ 2.4 Các hệ số dánh giá tình hình quản lý vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 46 Biểu đồ 2.5 Thời gian trung bình phản ánh tình trạng sử dụng vốn lưu động của công
ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 47 Bảng 3.1 Số dư bình quân cuối năm 2012 54 Bảng 3.2 Tỷ lệ phần trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu 55
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thế giới Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài đem lại sự mới mẻ trong cách thức quản lý, chiến lược kinh doanh rất hữu ích đối với nền kinh tế mới hội nhập với thế giới như Việt Nam Hiện nay chúng ta đang tham gia vào quá trình hợp tác kinh tế nhằm đẩy mạnh sự phát triển của đất nước theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, trong quá trình này thì không thể bỏ qua vai trò của ngành xây dựng bởi vì nó là ngành xây dựng cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới đất nước Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập tạo nên cơ sở hạ tầng cho xã hội, tạo ra nền móng phát triển của mỗi quốc gia Đứng trước xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá, thị trường xây dựng cơ bản đang diễn ra một cách đa dạng và phức tạp Các doanh nghiệp luôn luôn đẩy mạnh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình để nâng cao uy tín so với các doanh nghiệp khác nhằm tìm chỗ đứng cho doanh nghiệp phát triển Theo dự báo của các nhà kinh tế học, sẽ có một làn sóng đầu tư ồ ạt chuyển vào Việt Nam, đặc biệt là ở lĩnh vực Ngân hàng và Xây dựng, phá bỏ tình trạng đóng băng trong thị trường bất động sản của nước ta trong những năm gần đây, đồng thời mở ra những nguồn vốn huy động vốn rất lớn đầu tư vào xây dựng hạ tầng cơ sở
Là sinh viên chuyên ngành tài chính, bằng những vốn kiến thức đã được tiếp thu
ở trường cộng với sự hiểu biết từ thực tế trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần
đầu tư và phát triển nhà Trường Linh, em đã chọn đề tài: “Các giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp bậc đại học của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Phân tích cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Xem xét, đánh giá một cách tổng quát về cách sử dụng vốn lưu động của công ty
cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Phạm vi nghiên cứu: Nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà
Trường Linh trong ba năm 2010, 2011, 2012
Trang 104 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận đã kết hợp sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, tổng hợp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa lý luận
và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
5 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn lưu động trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý và việc sử dụng vốn lưu động trong công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
Trang 111
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm vốn lưu động
Trong nền kinh tế hiện nay, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra sản phầm, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Khác với tư liệu sản xuất, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động Trong tài sản lưu động của doanh nghiệp thì có tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông Tài sản lưu động sản xuất bao gồm: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, sản phẩm dở dang,… Tài sản lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ để tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Quá trình sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động và tài sản lưu thông luôn chuyển hóa lẫn nhau vận động không ngừng để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục
Như vậy, “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu
động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên, liên tục cho đến khi hoàn thành một vòng tuần hoàn của một chu kỳ sản xuất”.[1]
Hay “Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông, vì vậy nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh” [2]
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và
1 Giáo trình tài chính doanh nghiệp
2 Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Thống Kê
Trang 122
tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi Vốn lưu động tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất Để cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy, các quá trình sản xuất sẽ không bị gián đoạn hay là bị ngắt quãng với số vốn lưu động có đủ
1.1.2 Đặc điểm vốn lưu động
Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, luôn được biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Quá trình vận động của vốn lưu động là một chu kỳ khép kín từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn thể hiện dưới các hình thái khác nhau qua từng giai đoạn Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng lẻ, vốn lưu động luân chuyển không ngừng, do vậy đòi hỏi công tác quản lý vốn lưu động là hết sức quan trọng, thường xuyên phải nắm bắt được tình hình vốn lưu động trong doanh nghiệp để tránh tình trạng việc sản xuất kinh doanh bị gián đoạn Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh
và khi tham gia vào quá trình sản xuất thì bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm Khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu động được thu hồi Đây là đặc điểm khác biệt của vốn lưu động so với vốn cố định luôn chuyển dần giá trị của nó vào sản phầm thông qua mức khấu hao Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, ban đầu khi tham gia vào quá trình sản xuất từ hình thái vốn tiền tệ chuyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển
Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách về nhiệm tài chính, sự vận động của vốn lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp
Trang 13sự ảnh hưởng của từng nguồn vốn, giúp cho doanh nghiệp xác định được nguồn vốn nào thuận lợi để tiếp cận và khai thác tốt nguồn vốn đó
1.1.3.1 Căn cứ vào nguồn vốn hình thành nên doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng; vốn chính là tiền đề của hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong các doanh nghiệp, vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nói riêng và vốn sản xuất nói chung Do đó, dựa vào nguồn vốn hình thành nên doanh nghiệp thì vốn lưu động được phân chia như sau:
Nguồn vốn lưu động hình thành trong vốn nội bộ của doanh nghiệp
- Vốn điều lệ: Là số vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc được bổ sung vốn điều lệ trong quá trình sản xuất Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Hay nguồn
theo quy định của pháp luật
- Nguồn vốn chiếm dụng: Phán ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng hợp pháp của cá tổ chức, cá nhân khác trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này thể hiện qua nợ người bán, nợ phải trả, tiền trả cho công nhân viên … chưa đến hạn phải thanh toán
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh có nguồn gốc từ lợi nhuận tái đầu tư của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động hình thành bên ngoài doanh nghiệp:
- Nguồn vốn lao động liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
- Vốn đi vay: Doanh nghiệp thường có nguồn vay ở các ngân hàng thương mại,
tổ chức tín dụng, vay thông qua phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, thương
Trang 144
phiếu vay của tổ chức, cá nhân Vốn đi vay là một nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp để đáp ứng kịp thời được nhu cầu của vốn lưu động trong kinh doanh
Doanh nghiệp phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành từ vốn giúp cho việc quản lý được nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp được xem xét và quyết định huy động nguồn vốn nào cho hợp lý nhất để đảm bảo cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, ổn định, không bị lãng phí và tránh được sự thiếu hụt vốn trong quá trình sản xuất
1.1.3.2 Căn cứ vào thời gian huy động vốn
Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động nằm trong các giai đoan sản xuất của chu
kỳ kinh doanh cho nên căn cứ vào thời gian thì nguồn vốn lưu động được chia làm hai
bộ phận Đó là nguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời
Để đảm bảo quá trình sản xuất trong kinh được thực hiện liên tục thì tương ứng với quy mô kinh doanh phải có một lượng tài sản lưu động nhất định nằm ở các giai đoạn sản xuất trong chu kỳ kinh doanh, bao gồm: các khoản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng Lượng tài sản lưu động nhất định này còn gọi là tài sản lưu động tương ứng với nguồn vốn lưu động thường xuyên Nguồn vốn lưu động thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng hình thành nên tài sản lưu động
Ta thấy:
Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Như vậy, nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp chủ động cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất một cách kịp thời, đảm bảo được quá trình kinh doanh không bị gián đoạn Mỗi doanh nghiệp với từng quy mô sản xuất kinh doanh nhất định cần có một lượng vốn thường xuyên cần thiết và cần có chiến lược huy động, tạo lập nguồn vốn tốt để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi và đạt kết quả cao Ngoài nguồn vốn lưu động thường xuyên thì còn có nguồn vốn lưu động tạm thời đáp ứng được các tài sản lưu động không có tính chất thường xuyên Nguồn vốn này có tính ngắn hạn đáp ứng được cho vốn có tinh chất tạm thời, những vấn đề bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn lưu động tạm thời này hình thành từ các khoản vay ngắn hạn, các khoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả người bán, các khoản nộp cho nhà nước, các khoản phải nộp khác mà chưa đến hạn phải trả hay nộp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn lưu động của từng thời kỳ là khác nhau so với khả năng cung ứng của nguồn vốn lưu động thường xuyên
Trang 155
Vì vậy để khắc phục tình trạng có thể bị thiếu hụt nguồn vốn lưu động bất ngờ, doanh nghiệp cần huy động và sử dụng nguồn vốn tạm thời cùng với nguồn vốn lưu động thường xuyên
Qua những phân tích trên ta có thể xác định được nuồn vốn lưu động và tài sản lưu động của doanh nghiệp:
Nguồn vốn lưu động = Nguồn vốn lưu động thường xuyên + Nguồn vốn lưu động tạm thời
Trong đó:
Nguồn vốn lưu động tạm thời là các khoản nợ ngắn hạn
Nguồn vốn lưu động thường xuyên thì bao gồm vốn chủ sở hữu, các khoản nợ trung và dài hạn
Như vậy, các doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn lưu động trong từng khâu, khả năng đáp ứng vốn lưu động của nguồn vốn chủ sở hữu để tổ chức khai thác
và sử dụng tốt các nguồn nợ dài hạn và ngắn hạn hợp lý, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả
1.1.4 Phân loại vốn lưu động
Trong mỗi doanh nghiệp, việc quản lý và tổ chức tốt được vốn lưu động có vai trò hết sức quan trọng Có thể nói, quản lý vốn lưu động là việc trọng yếu trong công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, từ loại này sang loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác thì tổng số vốn lưu động luân chuyển sẽ
phải phân loại vốn lưu động Có nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và
sử dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác
tốt vốn lưu động thì phân loại theo các tiêu thức sau:
1.1.4.1 Phân loại vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình
sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất
- Nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện trị giá những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm
Trang 166
- Nguyên vật liệu phụ: là giá trị những vật tư dự trữ dùng trong sản xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thành thực thể chủ yểu của sản phẩm, làm cho sản phẩm bền đẹp hơn
- Nhiên liệu: có tác dụng cung cấp năng lượng cho quá trình sản xuất (than, củi, xăng, dầu…)
- Vốn phụ tùng thay thế: là giá trị của những chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải
- Vốn vật liệu đóng gói: là những vật liệu dùng để đóng gói trong quá trình sản xuất như bao ni lông, giấy, hộp
- Vốn công cụ lao động nhỏ thực chất là giá trị tư liệu lao động nhưng giá trị này thấp và có thời gian sử dụng ngắn
Vốn lưu động trong khâu sản xuất
- Vốn sản xuất đang chế tạo (bán thành phẩm) là giá trị khối lượng sản phẩm đang còn trong quá trình chế tạo, đang nằm trên dây chuyền công nghệ, đã kết thúc một vài quy trình chế biến nhưng còn phải chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm
- Vốn chi phí trả trước: là những chi phí thực tế đã chi ra trong kỳ, nhưng chi phí này tương đối lớn nên phải phân bổ dần vào giá thành sản phẩm nhằm đảm bảo cho giá thành ổn định như: chi phí sửa chữa lớn, nghiên cứu chế thử sản phẩm, tiền lương công nhân nghỉ phép, công cụ xuất dùng
- Vốn về phí tổn đợi phân bổ là những phí tổn chi ra trong kỳ nhưng có tác dụng
dần vào giá thành các kỳ sau
Vốn lưu động trong khâu lưu thông
- Vốn thành phẩm gồm những thành phẩm sản xuất xong nhập kho được dự trữ cho quá trình tiêu thụ
- Vốn hàng hoá là những hàng hoá phải mua từ bên ngoài (đối với đơn vị kinh doanh thương mại)
- Vốn hàng gửi bán là giá trị của hàng hoá, thành phẩm đơn vị đã xuất gửi cho khách hàng mà chưa được khách hàng chấp nhận
- Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng mà trong quá trình luân chuyển vốn lưu động thường xuyên, tiền đang chuyển
- Vốn trong thanh toán là những khoản phải thu tạm ứng phát sinh trong quá trình bán hàng hoặc thanh toán nội bộ
Trang 177
- Vốn đầu tư chứng khoán ngắn hạn là giá trị các loại chứng khoán ngắn hạn Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn hợp
lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất
1.1.4.2 Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện
Vốn vật tƣ hàng hóa hay còn gọi là hàng tồn kho:
Hàng tồn kho chủ yếu là nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, sản phẩm đang chế tạo, phí tổn chờ phân bổ, thành phẩm, hàng đang trên đường, hàng gửi đi bán, Tùy theo đặc điểm kinh doanh của từng ngành, của từng mặt hàng, tùy quy mô hoạt động, điều kiện hoạt động mà doanh nghiệp có chính sách dự trữ hàng tồn kho một cách có hiệu quả và hợp lý Bên cạnh đó cần ước lượng, dự báo và có biện pháp duy trì mỗi loại hàng tồn kho để có tỉ trọng của từng loại đạt ở mức hợp lý trong suốt quá trình hoạt động
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
- Vốn bằng tiền: Tiền mặt là một loại tài sản có tính thanh khoản cao và tồn tại dưới nhiều hình thức như: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển đổi cho nên đòi hỏi trong hoạt động kinh doanh mỗi doanh nghiệp cần
có một lượng tiền nhất định
- Vốn trong thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:
Các khoản phải thu từ khách hàng, là một trong những bộ phận quan trọng nhất của vốn luân chuyển Khi tiến hành bán các sản phẩm của mình, doanh nghiệp thường
sẽ không thu được tiền ngay Đây là biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại và chúng tạo ra các khoản phải thu, đồng thời là công cụ đắc lực hổ trợ cho quá trình cạnh tranh Sự chênh lệch giữa thời hạn bán hàng và thu tiền luôn nãy một lượng vốn nhất định Do vậy vốn luân chuyển luôn luôn tồn tại các khoản phải thu
Trả trước cho người bán: Đây là khoản ứng trước cho người bán, do yêu cầu của nhà cung cấp và tạo niềm tin hay tính đặc biệt quan trọng của sản phẩm
Các khoản phải thu khác: Là các khoản mà doanh nghiệp phải thu khác ngoài những khoản phải thu như tạm ứng, thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
Vốn trả trước ngắn hạn: Là những khoản chi phí sửa chữa tài sản cố định, chi phí nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, chi phí về công cụ, dụng cụ… để giúp doanh nghiệp có
cơ sở xác định được nhu cầu vốn lưu động cho đúng đắn
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp kiểm soát được, xem xét, đánh giá được mức lượng hàng tồn kho, khả năng dự trữ và thanh toán của mình Tuy nhiên,
Trang 188
những khoản vốn này dễ bị thất thoát và bị chiếm dụng nên doanh nghiệp cần có chính sách quản lý chặt chẽ
1.1.4.3 Phân loại vốn lưu động theo quan hệ sở hữu
Trong doanh nghiệp, nguồn vốn lưu động được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là các khoản nợ và vốn chủ sở hữu Trong đó, các khoản nợ chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn lưu động Còn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần trong vốn lưu động của doanh nghiệp với lý do vốn chủ sở hữu là nguồn tài trợ cơ bản cho tài sản cố định
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp
- Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ có quyền
sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp hay bằng từ các khoản nợ Từ đó các quyết định huy động và quản lý vốn được sử dụng hợp lý hơn, đảm bảo tài chính trong
sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.1.5 Kết cấu của vốn lưu động
1.1.5.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn Đối với các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Phân tích kết cấu vốn lưu động là xem xét tỷ trọng từng loại tài sản của doanh
Trang 199
nghiệp đã hợp lý và đã phát huy được hiệu quả hay chưa Hoạt động của doanh nghiệp
có hiệu quả hay không là phụ thuộc một phần vào công tác phân bổ vốn, nếu phân bổ hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tóm lại, kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa từng bộ phận vốn lưu động trên tổng số vốn lưu động của donh nghiệp
Khi phân tích kết cấu vốn lưu động cho thấy chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tài sản lưu động của doanh nghiệp càng cao Để đánh giá được kết cấu vốn lưu động thì ta nên xem xét các thành phần sau để có thể đánh giá được khả năng sử dụng vốn lưu động
Vốn bằng tiền: gồm các các khoản tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang
chuyển Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ lượng tiền của doanh nghiêp nhàn rỗi quá lớn Bản thân tiền mặt là loại tài sản không có lãi, nhưng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì việc giữ tiền mặt trong két là điều hết sức quan trọng bởi vì tiền là một loại tài sản có tính thanh khoản cao Khi doanh nghiệp dự trữ đủ lượng tiền mặt thì có nhiều lợi ích hơn ví dụ như: được hưởng chiết khấu nếu có để tiền thanh toán ngay các khoản chi trả mua hàng hóa, dịch vụ, nguyên vật liệu đầu vào; giúp doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội thuận lợi trong kinh doanh, chủ động được trong hoạt động thanh toán, chi trả các khoản chi phí Với lượng dự trữ tiền mặt cần thiết có trong mỗi doanh nghiệp còn góp phần duy trì tốt được các chỉ số ngắn hạn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mua hàng hóa và hưởng hạn mức tín dụng rộng rãi Do đó, chỉ tiêu vốn bằng tiền trong vốn lưu động của doanh nghiệp cần được duy trì ở mức độ vừa phải
Các khoản phải thu: bao gồm các khoản phải thu của khách hàng, ứng trước cho
người bán … Chỉ tiêu này quá cao cũng không tốt đối với doanh nghiệp, điều này cho thấy vốn của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng nhiều Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, nhiều doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng Việc áp dụng phương thức này có thể làm cho doanh nghiệp tăng thêm các khoản phải thu khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro… Nhưng bên cạnh việc tăng nhiều chi phí như vậy thì đổi lại doanh nghiệp cũng được nhận những lợi ích như doanh thu bán hàng tăng, giảm được lượng hàng tồn kho cũng như chi phi dự trữ, hạn chế hao mòn
vô hình… Cho nên, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ những chính sách áp dụng cho các khoản phải thu để hạn chế được nhiều chi phí nhưng vẫn tạo ra được lợi nhuận
Hàng tồn kho: bao gồm hàng mua đang đi trên đường, nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, … Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp có chính sách tốt trong công tác bán hàng cũng như quá trình tiêu thụ sản
Trang 2010
phầm Việc quản lý tồn kho dữ trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối trong vốn lưu động của doanh nghiệp Điều quan trọng hơn là nhờ có lượng dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn trong quá trinh sản xuất, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động
Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm tiền tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí phải trả,
các khoản thế chấp, ký quỹ ký cược ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn… Doanh nghiệp có thể sử dụng một phần vốn của mình để chi trả một số khoản chi phí cần trả trước hoặc có thể dùng một lượng vốn đem đi đầu tư vào các công cụ tài chính với mục tiêu sinh lợi Đối với các khoản đầu tư ngắn hạn còn có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt ngay khi doanh nghiệp cần để đáp ứng được nhu cầu Điều này giúp cho doanh nghiệp sinh lợi tốt hơn, chủ động hơn trong việc huy động được nguồn vốn bằng tiền, kịp thời đảm bảo nhu cầu thanh toán Chỉ tiêu này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn lưu động nhưng cũng phản ánh được phần nào khả năng sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp cho ta nhìn nhận được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản chiếm trong các giai đoạn luân chuyển để xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng diều kiện cụ thể
1.1.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Nhân tố về mặt sản xuất: gồm các nhân tố quy mô sản xuất, tính chất sản
xuất,đặc điểm kỹ thuật, quy trình công nghệ, mức độ phức tạp của sản phẩm khác nhau, độ dài của một chu kỳ sản xuất khác nhau thì có tỷ trọng vốn lưu động ở trong các khâu sản xuất kinh doanh (dự trữ,sản xuất,lưu thông) cũng khác nhau
Nhân tố về mặt cung ứng tiêu thụ: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp cần dự trữ nhiều vật tư, hàng hóa và cần có nhiều nguồn cung cấp hay các đơn
vị cung ứng khác nhau Tùy thuộc vào khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng cũng ảnh hưởng ít nhiều đến kết cấu vốn lưu động do mất nhiều khoản chi phí cho việc di chuyển hay mỗi lần giao để nhận hàng Hay trong điều kiện tiêu thụ sản phẩm thì khối lượng tiêu thụ mỗi lần nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu vốn lưu động
Nhân tố về mặt thanh toán: Sử dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau
như phương thức thanh toán, thủ tục thanh toán, việc chấp hành kỷ luật thanh toán thì vốn bị chiếm dụng trong quá trình thanh toán cũng khác nhau Vì vậy, lựa chọn
Trang 2111
phương thức thanh toán khác nhau cũng ảnh hưởng đến việc tăng giảm vốn lưu động
bị chiếm dụng ở khâu này
1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, hiệu quả kinh tế là yếu tố mà các doanh nghiệp cần quan tâm đến để có thể tồn tại và phát triển Chỉ khi nào doanh nghiệp đi vào hoạt động mang lại lợi nhuận và có hiệu quả kinh doanh thì mới có khả năng chi trả những khoản chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, duy trì quy mô hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản
cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp Do đó, vốn lưu động là điều kiện cần và đủ để cho doanh nghiệp đi vào hoạt động với chu kỳ sản xuất kinh doanh được thực hiện liên tục Vốn lưu động cùng lúc được phân bổ khắp các giai đoạn sản xuất và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Muốn cho quá trình sản xuất và tái sản xuất được liên tục thì doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các hình thái đó để cho nó có được một mức tồn tại hợp lý và đồng bộ, từ đó giúp cho việc luân chuyển vốn được thuận lợi Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì sẽ gặp không ít khó khăn trong khâu tổ chức sử dụng vốn và gây gián đoạn cho tiến trình sản xuất kinh doanh Cho nên việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính chất bắt buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả tối đa thu được với một chi phí vốn lưu động nhỏ nhất Kết quả thu được này càng cao so với chi phí bỏ ra ban đầu thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt Do đó, các doanh nghiệp luôn tìm biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Một doanh nghiệp khi đi vào hoạt động thì luôn có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận của mình Việc quản lý tốt vốn lưu động cũng góp phần giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu mà đã đề ra từ đầu Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phầm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra Với lý do quản lý tốt vốn lưu động không những đảm bào cho việc sử dụng vốn hợp lý, tránh lãng phí mà còn giúp cho việc sản xuất có chi phí
Trang 2212
được hạ thấp, thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phầm và có doanh thu bán hàng nhiều hơn làm cho lợi nhuận tăng cao Nếu như một doanh nghiệp mà đang trong tình trạng quản lý vốn lưu động không tốt gây ra thừa vốn hoặc thiếu vốn lưu động sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng nhiều rủi ro cho doanh nghiệp Với tình trạng thiếu vốn lưu động như vậy sẽ không đảm bảo được một chu kỳ sản xuất kinh doanh được hoạt động một cách thường xuyên, liên tục, gây nên những thiệt hại không thể lường trước được cho doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng uy tín, thế mạnh của mình trên thương trường, đồng thời tạo ra sản phẩm với dịch vụ chắt lượng cao mà giá thành lại hạ thấp, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, làm tăng khă năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp với một nguồn lực vốn dồi dào về vốn lưu động thì sẽ tự chủ hơn trong quá trình kinh doanh, nắm bắt được các cơ hội tốt để có thể đầu tư, tìm kiếm nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp để thực hiện tái đầu tư vào chu kỳ sản xuất kinh doanh Ngược lại, trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp không thể tránh khỏi những rủi
ro không đáng có, những sự cố bất ngờ… Nếu như doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn lưu động để đối phó với những trường hợp đó thì có thể rơi vào tình trạng khó đứng vững trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Vì vậy, vốn lưu động là yếu tố nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay Thêm vào đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, là cơ sở để
mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động Tóm lại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế cạnh tranh Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm và chú trọng tới vấn đền nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm thu hồi vốn nhanh đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận cao
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Một doanh nghiệp khi đi vào hoạt động, tình hình tài chính được thể hiện qua các chỉ tiêu hay các hệ số tài chính Tùy vào từng doanh nghiệp với đặc thù hoạt động khác nhau mà các hệ số tài chính này khác nhau, thậm chí ở cùng một thời điểm nhưng các hệ số tài chính của các doanh nghiệp là khác nhau Thông qua các chỉ tiêu này, doanh nghiệp sẽ nắm được thực trạng tình hình tài chính của mình, đồng thời xác định
rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình hoạt động tài chính cũng như sản xuất Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ có những đề xuất và các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh và nâng cao
Trang 2313
hiệu quả kinh doanh Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp thì có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Trước hết, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp thì ta nên xét đến tốc độ luân chuyển vốn lưu động Với việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động hay không thì đều biểu hiện qua chỉ tiêu này, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp tương ứng
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày một vòng quay vốn)
Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong một thời kỳ nhất định,một đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại mấy đồng doanh thu, thường tính theo công thức:
Trong đó:
L: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Kỳ luân chuyển vốn phán ành số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động chỉ tiêu này được tính theo công thức như sau:
K: Kỳ luân chuyển vốn lưu động
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Số lần luân chuyển vốn lưu động càng cao chứng tỏ số vòng quay vốn lưu động luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính càng tốt, doanh nghiệp càng cần ít vốn và
tỷ suất lợi nhuận càng cao
Trang 2414
Trong các công thức trên, tổng mức luân chuyển vốn phản ánh tổng giá trị luân chuyển của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ và nó được xác định bởi công thức tổng doanh thu trừ đi các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách Nhà nước
Nếu doanh nghiệp muốn tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động thì trước hết doanh nghiệp nên có biện pháp làm tăng được doanh thu bán hàng đồng thời quản lý chặt chẽ vốn lưu động để tránh tình trạng bị thất thoát, lãng phí sao cho phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
Với công thức ở trên thì số vốn lưu động bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân vốn lưu động trong từng quý:
4
Trong đó:
VLĐ: Vốn lưu động bình quân trong kỳ
1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển phản ánh số vốn lưu động được tiết kiệm hay lãng phí của nó được luân chuyển từ kỳ này so với kỳ trước, được thể hiện qua 2 chỉ tiêu sau:
- Mức tiết kiệm tuyệt đối: Là với mức luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp không thay đổi, thêm vào đó là tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưu động được rút ra khỏi để sử dụng vào việc khác Công thức tính:
Trang 2515
- Mức tiết kiệm tương đối: Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp không cần tăng thêm hoặc bỏ tăng thêm không đáng kể số vốn lưu động bỏ ra
1.2.2.3 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Là số vốn lưu động cần có bỏ ra đầu tư bao nhiêu để đạt được một đồng doanh thu Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động Chỉ tiêu này có công thức tính như sau:
Doanh thu thuần
1.2.2.4 Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Công thức của chỉ tiêu này được tính căn
cứ trên lợi nhuận sau thuế và vốn lưu động bình quân trong kỳ:
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Hệ số này của vốn lưu động càng cao thì mức lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng theo do có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau Vì vậy, nó rất quan trọng, qua đó doanh nghiệp có thể sử dụng nó để thấy được hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.5 Các hệ số về khả năng thanh toán
Một doanh nghiệp có tình hình tài chính được cho là tốt trước hết được thể hiện ở khả năng chi trả thông qua các hệ số về khả năng thanh toán Đây là vấn đề được các nhà đầu tư, người cung cấp nguyên vật liệu, người cho vay,… quan tâm đến khi muốn
bỏ một lượng vốn vào doanh nghiệp Thêm vào đó, các hệ số này còn đánh giá tình hình tổ chức vốn của doanh nghiệp Vì vậy, khả năng chi trả của doanh nghiệp được nhìn nhận qua các hệ số về khả năng thanh toán sau:
Trang 2616
- Hệ số khả năng thanh toán tạm thời:
Hệ số khả năng thanh toán tạm thời là thể hiện mối quan hệ giữa tài sản lưu động
và đầu tư ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh nào mà có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn Thông thường hệ số này phải lớn hơn 1 Vì hệ số này thể hiện được mức độ đảm bảo của tài sản lưu động Hơn nữa, nó còn phản ánh khả năng có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn quá hạn và đến hạn trả bằng việc chuyển nhượng các tài sản hiện có của doanh nghiệp
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hóa nào của doanh nghiệp
Tổng nợ ngắn hạn Tài sản lưu động có khả năng thanh toán kém nhất vì khi doanh nghiệp muốn mang tài sản lưu động này đi thanh toán cho người cho vay đều phải chuyển đổi thành tiền Trong khi đó, khả năng chuyển đồi tài sản lưu động thành tiền ngay lập tức là rất khó Hệ số này càng thấp thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng kém, rủi ro tài chính càng tăng Cho nên, doanh nghiệp cần dự trữ một lượng tài sản có tính thanh khoản cao
- Khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán tức thời là khả năng doanh nghiệp sử dụng các khoản để thanh toán một cách nhanh nhất, có tính thanh khoản cao, đó là vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn Tiền là tài sản có tính linh hoạt cao, nó phản ánh khả năng thanh toán nhanh nhất khi các khoản nợ ngắn hạn đến kỳ trả nợ hay đã quá hạn Chỉ tiêu trên có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp càng lớ, đảm bảo được khả năng thanh toán nợ Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp dữ trữ một lượng tiền quá lớn trong tay thì sẽ làm cho vòng quay vốn lưu động chậm lại, làm cho hiệu quả sử dụng vốn lưu động kém đi
Trang 27số này thấp, cho thấy doanh nghiệp đã dữ trữ quá lớn lượng vật tư hàng hóa bị ứ đọng trong kho và khả năng tiêu thụ chậm Điều này dẫn tới đồng tiền đi vào thấp, khả năng quay vòng tái đầu tư ít, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp
Hàng tồn kho bình quân
Trong đó:
Hàng tồn kho bình quân = Hàng tồn đầu năm + hàng tồn cuối năm
2
- Số vòng quay các khoản phải thu:
Số vòng quay các khoản phải thu (hệ số thu nợ) là hệ số phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt
Hệ số thu nợ = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu trung bình
Hệ số thu nợ càng lớn cho thấy doanh nghiệp có chính sách thu hồi các khoản nợ nhanh, không để vốn bị chiếm dụng lâu
- Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình (thời gian thu nợ trung bình) là phản ánh số ngày cần thiết
để thu được các khoản phải thu Số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì thời gian thu nợ trung bình càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền trung bình càng ngắn thể hiện chính sách thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp tốt Tuy nhiên, nếu thời gian thu nợ trung bình quá ngắn sẽ gây ảnh hưởng đến phía người mua do phải trả nợ trong một thời gian ngắn Điều này sẽ làm cho lượng hàng hóa, sản phẩm sẽ bị tiêu thụ chậm lại
Thời gian thu nợ trung bình =
360
Hệ số thu nợ
Trang 2818
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp phải chịu ít nhiều các nhân tố tác động vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Những nhân tố gây ra ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực cho doanh nghiệp Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quả sản xuất trong quá trình kinh doanh nói chung thì nhà quản trị phải xác đinh và xem xét được những nhân tố tác động tới quá trình sản xuất, từ đó đưa ra được những giải pháp cụ thể để khắc phục Các nhân tố này có thể xem xét qua những góc độ dưới đây:
1.3.1 Các nhân tố khách quan
Trước tiên, chính sách kinh tế của nhà nước là yếu tố tác động nhiều nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế hiện nay, chính sách tài chính kinh tế của nhà nước đóng vai trò quan trọng, tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp phát triền sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đi theo chính sách mà nhà nước đã đưa ra Không chỉ có vậy, những chính sách kinh tế của Nhà nước đưa ra có tác động trực tiếp với vài trò tạo hành lang
an toàn để các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành kinh tế của cả nước Tùy từng theo thời kỳ, tùy theo mục tiêu phát triển mà Nhà nước có những chính sách ưu đãi về vốn và lãi suất tiền vay đối với từng nghành nghề
cụ thể, khuyến khích những doanh nghiệp để có được nhiều điều kiện hơn trong việc phát triển ngành nghề thuận lợi đạt được hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao hơn Ngược lại, chính sách của Nhà nước cũng có thể kìm hãm sự phát triển của một số ngành kinh doanh bằng những công cụ kinh tế của mình Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến kế hoạch sản xuát kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai là ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát có thể dẫn tới
sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn hoạt động của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc
độ trượt giá của tiền tệ hay các nhân tố tác động gián tiếp đến cung cầu đối với hàng hóa của doanh nghiệp Nếu nhu cầu hàng hóa của doanh nghiệp giảm xuống sẽ làm cho hàng tồn kho của doanh nghiệp tăng nên gây tình trạng bị ứ đọng vốn lưu thông trong khâu dự trữ
Thứ ba là do nhu cầu của thị trường, giá cả hàng hóa thiểu phát: Trong thị trường kinh tế hiện nay, nhu cầu và giá cả của hàng hóa là hai biến số rất khó xác định Sự thay đổi của hai biến số này cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động hay lợi nhuận thu về của doanh nghiệp Chẳng hạn, do tác động của nền kinh tế hiện nay với yếu tố lạm phát nên sức mua của thị trường giảm sút đối với mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh, điều này ảnh hưởng tới tiêu thụ của doanh nghiệp, sản phẩm
Trang 29có thể lường trước được
Thứ năm là do đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Tùy vào từng đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp mà có những hướng sử dụng vốn lưu động khác nhau Một doanh nghiệp có loại hình sản xuất khác với một doanh nghiệp làm nhiệm vụ lưu thông, doanh nghiệp hoạt động mang tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp hoạt động thường xuyên Thêm vào đó, yếu tố chu kỳ của một quy trình sản xuất cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động Đối với những hàng hóa có chu kỳ sản xuất dài vốn hàng hóa lớn, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên biến động, doanh thu bán hàng không đều sẽ làm cho tốc độ luân chuyển vốn lưu động chậm hơn Ngược lại, hàng hóa có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động không có nhiều biến động lớn, tiền thu về từ việc bán hàng thường xuyên hơn, vốn thu hồi nhanh, vòng quay vốn lưu động lớn Bên cạnh đó sự phân bổ hàng hoá giữa nơi sản xuất và tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển hàng hoá Nếu sự phân bố này là hợp lý sẽ tạo điều kiện rút ngắn thời gian lưu thông hàng hoá, tăng tốc độ chu chuyển tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Thứ sáu là do tác động của các mạng khoa học công nghệ nên sẽ giảm giá tài sản, vật tư vì vậy nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thời giá trị của sản phẩm thì hàng hóa bán ra sẽ thiều tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng
Ngoài ra các chính sách vĩ mô của nhà nước có sự thay đổi về chính sách, chế độ,
hệ thống pháp luật và thuế … cũng tác động tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
Ngoài nhân tố khách quan nêu trên còn có nhân tố chủ quan của chính bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới sử dụng vốn lưu động cũng như toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 3020
Thứ nhất là xác định nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp Việc xác định được nhu cầu vốn lưu động là hết sức quan trọng Nếu xác định nhu cầu vốn lưu động thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ảnh hưởng không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Thứ hai là việc lựa chọn dự án đầu tư Đây là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp lựa chọn đầu tư sản xuất ra các sản phẩm có dịch vụ chất lượng cao, mẫu mà phù hợp với thị yếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành phù hợp thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay vốn lưu động nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và ngược lại
Thứ ba là trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay là một nhân tố quan trọng Một doanh nghiệp muốn hoạt động tốt không chỉ phụ thuộc vào nhiều bộ phận mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ cũng như khả năng quản
lý của đội ngũ các nhà lãnh đạo trên cấp độ tổng thể Nếu trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp kém sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm,
dự trữ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp
Thứ tư là trình độ tổ chức quản trị nhân sự trong doanh nghiệp Con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vai trò của con người càng trở nên hết sức quan trọng Nếu doanh nghiệp tổ chức nhân sự bố trí đúng người đúng người đúng việc, đúng chuyên ngành thì mọi việc trở nên nhịp nhàng, không mất nhiều thời gian cho việc chỉnh đốn cũng nhắc nhở mọi người Nếu việc tổ chức nhân
sự của doanh nghiệp tốt thì mọi việc trở nên ăn khớp đi vào quỹ đạo thì sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sẻ dụng vốn lưu độnng nói riêng
Thứ năm là trình độ tổ chức quá trình luân chuyển hàng hóa Để đưa hàng hoá đến được tay người tiêu dùng, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí nào đó trong vốn lưu động và tổ chức một quy trình mua vào, dự trữ, bán ra Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách giảm chi phí và nâng số vòng vốn quay thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt quá trình mua vào, dự trữ và bán ra Quy trình tổ chức này được quyết định bởi trình độ tổ chức lưu chuyển hàng hoá của doanh nghiệp và khả năng cơ giới hoá
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả
tổ chức và sử dụng vốn lưu động, các doanh nghiệp cần nghiên cứu và xem xét một
Trang 3121
cách kĩ lưỡng sự ảnh hưởng của các nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong việc sử dụng vốn lưu động nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để đồng vốn lưu động càng cao
Kết luận chương 1:
Trong chương một, nội dung được nói tới là những cơ sở lý luận cơ bản về vốn lưu động cùng với việc phân tích sự cần thiết của việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Phần đầu chương là làm rõ khái niệm vốn lưu động thông qua việc tìm hiểu về đặc điểm, phân loại, nguồn hình thành vốn lưu động Đến cuối chương là xoay quanh vấn đề sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng với một số chỉ tiêu và những nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trang 3222
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ VIỆC SỬ
DUNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỀN NHÀ TRƯỜNG LINH
2.1 Tổng quan về công ty cồ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
Công ty Cổ phần đầu tư phát triển nhà Trường Linh là công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản và hoạt động theo luật doanh nghiệp và được phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 0103000545 ngày 01 tháng 10 năm 2001 và thay đổi lần 5 ngày 01 tháng 2 năm 2008 Công ty có trụ sở chính ở số 2 – Lô 13B – Trung Yên – Cầu Giấy với mã số thuế là 0101102431 Năm 2008 Công ty thành lập thêm chi nhánh
số 2 tại Số 1 đường 25, Phường Bình An, quận 2, TP.HCM nhằm mở rộng thị trường kinh doanh Vì thế đã nâng mức vốn điều lệ của công ty lên 135.000.000 đồng ( Một trăm ba mươi năm tỷ đồng), và số lượng lao động lên tới 690 người Công ty CP đầu
tư phát triển nhà Trường Linh được thành lập từ năm 2001 nhưng đến năm 2006 mới phát triển một cách nhanh chóng Với sự lãnh đạo của hội đồng quản trị công ty cùng với sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ công nhân viên, trong những năm qua công
ty đã đạt được nhiều thành tích đáng kể:
- Năm 2007 công ty đã đạt cúp “Doanh nghiệp trẻ xuất sắc” tỉnh Hải Dương;
- Năm 2008 đạt cúp “Doanh nhân thành đạt” do Doanh nghiệp vừa và nhỏ trao tặng;
- Cúp vàng “Doanh nhân văn hoá” 2008 do trung tâm doanh nhân trao tặng;
- Cúp vàng hội nhập năm 2009 do Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tặng;
- Bằng khen của UBND tỉnh Hải Dương cho Doanh nghiệp trẻ xuất sắc 3 năm liền 2007, 2008, 2009
Khái quát về ngành nghề kinh doanh của công ty
Theo giấy Chứng nhận Đăng ký kinh doanh lần 06 ngày 17 tháng 12 năm 2010, ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ của công ty cổ phần Đầu tư phát triển Nhà Trường Linh rất phong phú, đa dạng nhưng chủ yếu là kinh doanh bất động sản Về lĩnh vực xây dựng, công ty còn đầu tư xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, thủy lợi và các đường điện dưới 35 KV, nạo vét, bồi đắp mặt bằng, đào đắp nền, đào đắp công trình, xây dựng các loại nhà, lập hồ sơ thầu, tư vấn thầu (không xác định gói thầu, giá hợp đồng trong hoạt đồng xây dựng); Có thể nói đây là lĩnh vực mang lại nguồn lợi nhuận tương đối cao cho công ty Với vị trí địa lý thuận lợi của công ty nằm
ở vị trí gần trung tâm thành phố nên đã đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, cụm dân cư, đô thị, giao thông vận tải Thêm vào đó, công ty còn đầu tư sang lĩnh vực
Trang 3323
xây dựng những công trình công ích, cung cấp, quản lý các dịch vụ nhà cao tầng, vận hành bảo trì thang máy, sửa chữa duy tu cải tạo công trình, quản lý khu công cộng trong nhà chung cư Không chỉ có vậy trong những khu đô thị mới, khu dân cư tập trung thì công ty chủ yếu xây dựng về đường xá giao thông, hệ thống cấp thoát nước, chiếu sáng công cộng Ngoài ra công ty còn kinh doanh khai thác đá, cát, sỏi, đất sét
và cao lanh, chế biến các loại khoáng sản
2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận của công ty cổ phần đầu tư và
phát triển nhà Trường Linh
Bảng 2.1 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tính: Đồng
CHỈ TIÊU
So sánh năm 2012 với 2011 So sánh năm 2011 với 2010
Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối đối (%) Tương
hàng và CCDV (39.421.997.950) (100,75) (1.732.148.901) (4,24) Doanh thu hoạt động tài
LN thuần từ HĐKD (23.801.642.770) 1039,51 (14.651.289.697) (118,52) Thu nhập khác (958.999) (100,00) (49.768.000) (100,00)
Lợi nhuận khác (958.999) (100,00) (49.768.000) (100,00)
Trang 3424
Tổng lợi nhuận kế toán
trước thuế (23.802.601.769) 1039,99 (14.701.057.697) (118,45) Chi phí thuế TNDN
hiện hành (1.099.190.073) (100,00) (3.102.836.989) (100,00) Lợi nhuận sau thuế
TNDN (22.703.411.696) 670,13 (11.598.220.708) (124,60)
(Nguồn: Phòng Kế Toán)
Qua bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 2 năm gần đây của Công
ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh, ta thấy doanh thu và lợi nhuận của Công ty năm 2012 tăng cao hơn so với năm 2011 Cụ thể như sau:
- Tình hình doanh thu
Trong ba năm qua, tình hình doanh thu chung của công ty không thực sự tăng Khoản mục doanh thu thuần của công ty tăng 8,33% từ giai đoạn năm 2010 – 2011 sang đến giải đoạn 2011 – 2012 Sự gia tăng này là trong gian đoạn chuyển tiếp là năm
2011 công ty đã có những hợp đồng kinh tế lớn, duy trì và phát triển được các mối quan hệ với khách hàng một cách chặt chẽ hơn Điều này đuợc thể hiện rõ qua khoản mục giảm trừ doanh thu bằng 0 trong 3 năm liên tiếp Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng
nhận thấy doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty trong giai đoạn 2011 – 2012
sụt giảm khá đang kể là 28,11% trong khi trong năm 2010 – 2011 tăng 1,07% Một cách nhìn khách quan cho thấy rằng công ty chưa quản lý tốt hoạt động tài chính của mình, dẫn đến sự tăng giảm rõ rệt Một biện pháp khắc phục cũng như đưa ra những phương án xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm là điều cần thiết nhằm điều tiết lại lượng tiền cũng như các hoạt động tài chính được diễn ra dễ dàng, hợp lí và nhằm tránh gây ra những tổn thất kinh tế đối với công ty
- Tình hình chi phí
Bên cạnh đó, chỉ tiêu chi phí năm 2011 so với năm 2010 có phần tăng mạnh Cụ thể chi phí tài chính (chi phí lãi vay) tăng 61,41%, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mức tăng lần lượt là 69,44% và 3,24% Điều này có thể lý giải do đặc thù của ngành kinh doanh bất động sản là phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng, chính sách tiền tệ của nhà nước khiến cho lãi vay doanh nghiệp tăng cao, cộng thêm tình hình thế giới bất ổn làm nguồn hàng dư thừa khiến giá giảm, hàng tồn kho nhiều Năm 2012 lại có chiều hướng giảm hơn so với năm 2011 Cũng với những chỉ tiêu trên thì chi phí tài chính (chi phí lãi vay) giảm 39,89%, chi phí bán hàng là 96,61%, chi phí quản lý doanh nghiệp là 1,96% Việc các chi phí này giảm có thể lý giải được trong nền kinh tế khó khăn như hiện nay, nhu cầu của khách hàng không còn cao trong khi tình hình bất động sản vẫn còn bất động, thêm vào đó là lãi suất của ngân hàng đã giảm nên lãi vay của doanh nghiệp có chiều hướng giảm
Trang 3525
- Tình hình lợi nhuận:
Về mặt lợi nhuận, tổng thể lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty trong 3 năm qua đều có xu hướng giảm Đây là đều đáng lo ngại cho công ty hiện nay Năm 2010 thì lợi nhuận gộp là 40.859.967.708 đồng Năm 2011 là 39.127.818.807 đồng nhưng sang đến năm 2012 thì lợi nhuận gộp giảm mạnh xuống còn 294.179.143 đồng, tương ứng giảm 100,75% Trong năm, công ty mua nhiều nguyên vật liệu xây dựng để phục vụ cho nhưng công trình, điều này làm cho giá vốn hàng bán tăng cao dẫn đến doanh thu thuần bị giảm Đây là nguyên nhân làm cho lợi nhuận gộp của công ty giảm Thêm vào đó, tỷ lệ giá vốn hàng bán cũng là một yếu tố làm cho lợi nhuận gộp giảm Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, Trường Linh vẫn chịu những thiệt hại nặng nề từ khủng hoảng kinh
tế nói chung Việc hiện nay mà công ty có thể làm nhằm tăng cao lợi nhuận là tích cực hơn nữa trong hoạt động marketing, nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng cũng như đưa ra một số ưu đã nhất định đối với từng đối tượng khách hàng làm tăng tối đa mức tăng có thể của lợi nhuận trong các năm tiếp theo
Từ tình hình kinh doanh chung của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh, ta có thể kết luận rằng công ty không nằm ngoài vòng xoáy của khủng hoảng, nhưng đưa ra những biện pháp hợp lí sẽ giúp công ty tránh được những thiệt hại đáng kể Là ngành xây dựng đặc thù liên quan nhiều đến kinh tế, sở thích cũng như nhu cầu của người dân nên sự sáng tạo, linh động trong kinh doanh sẽ góp phần tạo nên sự khác biệt cho công ty
Trang 3626
2.2.2 Tình hình tài sản - nguồn vốn năm 2011 - 2012 của công ty cổ phần đầu tư
và phát triển nhà Trường Linh
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán ngày 31/12
Đơn vị tiền: Đồng Việt Nam
CHỈ TIÊU
So sánh 2012 và 2011 So sánh 2011 và 2010
Tuyệt đối Tương
đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%) TÀI SẢN
TS ngắn hạn khác (2.184.828.400) (25,97) 6.188.760.078 231,59 TÀI SẢN DÀI HẠN 118.804.474.357 233,97 (5.803.712.680) (10,57) Tài sản cố định 52.041.006.452 186,49 (4.360.378.132) (13,51) Tài sản dài hạn khác 40.472.212.323 176,95 (1.483.334.548) (6,55) TỔNG TÀI SẢN 162.244.076.039 35,62 129.258.894.610 39,23
NGUỒN VỐN
NỢ PHẢI TRẢ 188.585.745.362 59,15 133.202.991.183 70,63
Nợ ngắn hạn 188.585.745.352 59,15 146.645.262.383 85,31
Nợ dài hạn (3.266.812.790) (100,0) (13.442.271.200) (80,45) VỐN CHỦ SỞ HỮU (26.341.669.323) (19,27) (3.944.096.573) (2,80) Vốn chủ sở hữu (26.341.669.323) (19,27) (3.944.096.573) (2,80) TỔNG CỘNG
NGUỒN VỐN 162.244.076.039 35,62 129.258.894.610 39,23
(Nguồn: Phòng Kế toán)