Nhận thấy tầm quan trọng của việc phải thiết kế thể chế PPP như thế nào nhằm thuhút được các nhà đầu tư tiềm năng vào phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam trong thờigian tới, trong môi tr
Trang 1VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Hồng Thắng
Lớp: Tài chính doanh nghiệp 01 – K23
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
1 Lê Thị Huyền Anh
2 Lê Văn Hiển
3 Thái Thị Cẩm Hợp
4 Huỳnh Thanh Nhân
5 Hoàng Xuân Quý
6 Nguyễn Thanh Phúc
7 Nguyễn Hoàng Trí
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 1
1 Tổng quan về phương thức đối tác công – tư (PPP) 2
1.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của PPP 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của PPP 3
1.2 Mục tiêu chính của phương thức PPP 4
1.3 Các phương thức thực hiện của PPP 5
1.3.1 Hợp đồng dịch vụ/ quản lý 5
1.3.2 Nhượng quyền khai thác (Franchise)/ cho thuê (Leasing) 5
1.3.3 Thiết kế xây dựng tài trợ vận hành (DBFO: Design Build Finance -Operate) 5
1.3.4 Xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT: Build - Operate - Transfer) 5
1.3.5 Xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO: Build - Transfer - Operate) 6
1.3.6 Xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO: Build - Own - Operate) 6
2 Môi trường thể chế về PPP và việc áp dụng PPP tại Việt Nam 7
2.1 Môi trường thể chế PPP tại Việt Nam 7
2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP 7
2.1.2 Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh PPP.8 2.1.3 Đánh giá môi trường thể chế về PPP ở Việt Nam dưới góc độ các nhà đầu tư 11
2.2 Tình hình thực hiện PPP tại Việt Nam 12
2.2.1 Trước khi Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành 12
2.2.2 Từ khi Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành 16
Trang 32.3 Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng PPP tại Việt Nam 20
2.3.1 Những vấn đề trong cơ chế quản lý, điều phối vĩ mô về PPP 20
2.3.2 Những vấn đề trong triển khai các dự án PPP 21
2.3.3 Những vấn đề trong xây dựng cơ chế hợp tác, xác định trách nhiệm, phân chia lợi ích/ rủi ro giữa các bên, ưu đãi trong các dự án PPP 22
3 Khuyến nghị hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP tại Việt Nam 23
3.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về PPP 23
3.2 Bảo đảm các điều kiện cần thiết để dự án PPP được thực hiện 24
Kết luận 25
Tài liệu tham khảo 26
Trang 4Lời mở đầu
Trong ba thập kỷ vừa qua, công cuộc đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được nhiềuthành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Góp phần quan trọng vào đó là đườnglối chính sách huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, tăng cường đầu tư vàoxây dựng cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng và động lực cho tăng trưởng, nỗ lực xây dựng thểchế, cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực công
Trong bối cảnh ngân sách quốc gia của các nước đang phát triển tương đối eo hẹp,nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) sụt giảm, việc huy động sự tham gia của khuvực tư nhân (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) vào các dự án kết cấu hạ tầng là rấtcần thiết, mà phương thức đối tác công - tư (Public - Private Partnership, PPP) là mộthình thức thích hợp, đã có lịch sử phát triển lâu dài ở nhiều quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, phương thức hợp tác công - tư với các hình thức như BOT, BTO,…
đã sớm được áp dụng triển khai ở nhiều dự án hạ tầng, nhưng phải đến Quyết định71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối táccông - tư (PPP), phương thức này mới được nhìn nhận và xem xét một cách cơ bản Kể
từ đó tới nay, thực tiễn thí điểm triển khai các dự án theo hình thức PPP đã đạt đượcmột số kết quả nhất định, song cũng còn không ít trở ngại, khó khăn cả về nhận thức,khuôn khổ thể chế và thực tiễn quá trình triển khai
Nhận thấy tầm quan trọng của việc phải thiết kế thể chế PPP như thế nào nhằm thuhút được các nhà đầu tư tiềm năng vào phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam trong thờigian tới, trong môi trường pháp lý và năng lực cụ thể tại Việt Nam, nhóm đã chọn đềtài:
“Phương thức đối tác công – tư (PPP): Khuôn khổ thể chế tại Việt Nam”
Nghiên cứu này được thực hiện gồm ba nội dung chính: giới thiệu bản chất, đặcđiểm của mô hình hợp tác công - tư; đánh giá môi trường thể chế PPP và việc áp dụngPPP ở Việt Nam, đặc biệt là những bất cập và những nội dung cần sửa đổi trong Nghịđịnh số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thứcBOT, BTO và BT, và Quyết định 71 nêu trên; trên cơ sở đó, khuyến nghị những vấn
đề cần lưu ý để hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP cho Việt Nam
Trang 51 Tổng quan về phương thức đối tác công – tư (PPP)
1.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của PPP
1.1.1 Khái niệm
Phương thức đối tác công tư (Public Private Partnership – PPP) được định nghĩadưới nhiều khía cạnh và có nhiều phiên bản khác nhau, tùy theo bối cảnh của các quốcgia hoặc tổ chức nghiên cứu Cụ thể:
Theo cuốn sách “PPP: Hướng dẫn cho chính quyền địa phương” xuất bản tháng5/1999, Chính quyền bang British Columbia, Canada coi Đối tác công tư là “sự phốihợp giữa các cơ quan chính phủ và tổ chức tư nhân nhằm mục đích cung cấp cơ sở hạtầng công, các tiện nghi cho cộng đồng và các dịch vụ liên quan” (Ministry ofMunicipal Affair, 1999)
Trong khi đó, Sổ tay hướng dẫn về PPP do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)phát hành năm 2008 coi thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân” miêu tảmột loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ chức nhà nước và tổ chức tư nhân liênquan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác” (ADB, 2008)
Trong nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP: Vai trò của chiến lược hỗ trợ tàichính trong phát triển bền vững”, Colverson và Perera coi PPP “là một hình thức được
áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa nhà nước và khu vực tư nhân nhằm mục tiêucung cấp dịch vụ và phát triển cơ sở hạ tầng” (Colverson và Perera, 2012)
Một số tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng PPP củaCanada (Canadian Council for Public Private Partnership), Hội đồng quốc gia về PPPcủa Mỹ (National Council for Public Private Partnership) cũng đưa ra những khái niệmriêng của mình về PPP Chẳng hạn như “PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vựccông và tư, dựa trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng đồng thôngqua việc phân bố hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích”
Có thể nhận thấy, mặc dù tồn tại dưới những dạng khác nhau trong thuật ngữ hoặc
Trang 6vực truyền thống của PPP là phát triển cơ sở hạ tầng song hiện tại được mở rộng hơnsang các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục…
Phân tích sâu sắc hơn bản chất của sự hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhâncho thấy, trong mối quan hệ này, Nhà nước có thể đóng vai trò như “bên cấp vốn” (tức
là hỗ trợ về vốn, tài sản… cho khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công trên
cơ sở ký hoặc không ký hợp đồng giữa hai bên) Nhà nước cũng có thể đóng vai trò là
“bên mua dịch vụ” (do tư nhân cung cấp) một cách lâu dài; hoặc “nhà điều phối” tạo ranhững diễn đàn để thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của PPP
Chia sẻ rủi ro (và lợi ích): Forward và Aldis (2009), Kappeler và Nemoz (2010),
Quium (2011) và Planning Commission (2004) đều thống nhất cho rằng việc chia sẻrủi ro là vấn đề trung tâm và là đặc điểm nổi bật nhất của mô hình PPP Bao gồm:
Rủi ro trong quá trình xây dựng do những lý do như sự vỡ nợ của nhà thầu, môitrường bị tàn phá
Rủi ro về thị trường do những nguyên nhân cầu không tương xứng, mức thuế sửdụng dịch vụ không thực tế
Rủi ro về tài chính do sự thay đổi về tỷ giá, lãi suất, thuế tăng lên, do lạm phát…
Rủi ro trong quá trình vận hành và bảo trì do hợp đồng bị ngừng lại, những rủi ro
về mặt công nghệ hoặc lao động
Rủi ro về mặt pháp lý do những thay đổi trong hệ thống luật pháp, do tình trạng vỡ
Trang 7Một số đặc điểm khác của phương thức PPP được Kappeler và Nemoz (2010) mô tả
bao gồm:
Mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa đối tác công và tư
Các nội dung chính của dự án PPP bao gồm “thiết kế, xây dựng, vận hành hoặc/ vàbảo trì”, gắn liền với nguồn tài chính từ đối tác tư nhân
Đối tác công trả công cho đối tác tư trong suốt vòng đời của dự án PPP, căn cứvào chất lượng dịch vụ cung cấp
1.2 Mục tiêu chính của phương thức PPP
Cải thiện đáng kể việc cung cấp các dịch vụ công bằng việc góp phần vào sự giatăng chất lượng và số lượng đầu tư
Tăng cường tiềm năng của tài sản khu vực công, bao gồm cả doanh nghiệp nhànước, và do đó cung cấp giá trị cho người nộp thuế và lợi ích rộng lớn hơn cho nềnkinh tế
Cho phép các bên liên quan nhận được sự chia sẻ lợi nhuận công bằng trong PPP
Trang 81.3 Các phương thức thực hiện của PPP
1.3.1 Hợp đồng dịch vụ/ quản lý
Hợp đồng dịch vụ: là hợp đồng thoả thuận giữa một cơ quan/ đơn vị thuộc khu vựccông (sau đây gọi là cơ quan nhà nước) có thẩm quyền với một đơn vị/ công ty tưnhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đơn vị tư nhân thực hiện một hoặc một số nhiệm
vụ, dịch vụ cụ thể trong một thời gian nhất định
Hợp đồng quản lý: là hợp đồng giữa cơ quan nhà nước (khuvực công) với đối tác
tư nhân, trong đó thoả thuận cho khu vực tư nhân được quản lý một tiện ích hay dịch
vụ công
1.3.2 Nhượng quyền khai thác (Franchise)/ cho thuê (Leasing)
Phương thức nhượng quyền khai thác, theo nghĩa rộng, là một hình thức tổ chứcthực hiện PPP, trong đó khu vực nhà nước dựa trên các tài sản/ cơ sở hạ tầng do nhànước xây dựng và sở hữu (sau đây gọi là tài sản/ cơ sở hạ tầng sẵn có), nhượng lạiquyền khai thác, kinh doanh cho khu vực tư nhân Trong mô hình này, đối tác tư nhânđược lựa chọn sẽ được dành quyền vận hành và duy trì dịch vụ công
Có hai hình thức cụ thể đối với phương thức này, đó là: Nhượng quyền khai thác(Franchise) và cho thuê (Leasing)
1.3.3 Thiết kế xây dựng tài trợ vận hành (DBFO: Design Build Finance
-Operate)
DBFO là một phương thức PPP, trong đó đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giaiđoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công, bao gồm: thiết kế (D), xây dựng (B), tàitrợ (F) và vận hành dự án (O) thông qua một hợp đồng dài hạn
1.3.4 Xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT: Build - Operate - Transfer)
BOT là một phương thức PPP trong đó khu vực nhà nước và đối tác tư nhân thoảthuận cho phép đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng (bao gồm: xây mới, nâng cấp, pháttriển) công trình cơ sở hạ tầng và được phép kinh doanh (vận hành, khai thác) côngtrình cơ sở hạ tầng đó trong một thời hạn nhất định nhằm thu lại chi phí đã bỏ ra và thumột khoản lợi nhuận Kết thúc thời hạn hợp đồng, đối tác tư nhân phải chuyển giaokhông bồi hoàn công trình cơ sở hạ tầng cho khu vực nhà nước
Trang 91.3.5 Xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO: Build - Transfer - Operate)
Hợp đồng BTO là một hình thức hợp đồng PPP, được ký kết giữa cơ quan nhànước có thẩm quyền và đối tác tư nhân, trong đó đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng côngtrình cơ sở hạ tầng, sau khi xây dựng xong công trình, đối tác tư nhân chuyển giaoquyền sở hữu tài sản cho nhà nước, ngược lại, nhà nước dành cho đối tác tư nhânquyền khai thác, sử dụng công trình đó trong một thời hạn nhất định
1.3.6 Xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO: Build - Own - Operate)
Phương thức BOO là phương thức trong đó khu vực nhà nước và đối tác tư nhânthoả thuận: đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng tài sản/cơ sở hạ tầng dịch vụ công vàđược phép khai thác, vận hành tài sản/cơ sở hạ tầng Đối tác tư nhân có quyền sở hữutài sản trong suốt vòng đời của nó
Trang 102 Môi trường thể chế về PPP và việc áp dụng PPP tại Việt Nam
2.1 Môi trường thể chế PPP tại Việt Nam
2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP
Để đảm bảo tính minh bạch và công bằng giữa các bên tham gia hợp đồng PPP,khung pháp lý cần phải thiết kế đủ rộng để giúp các nhà đầu tư tư nhân tránh các rủi
ro Hiện nay, hai văn bản có tính pháp lý cao nhất là Luật Đấu Thầu và Luật Đầu Tư.Luật Đấu Thầu quy định về quy trình, thủ tục, các hình thức đấu thầu để lựa chọn nhàthầu cung cấp dịch vụ, mua sắm hàng hóa và xây lắp với các gói thầu của các dự án.Lĩnh vực đấu thầu ở Việt Nam nói chung đang bị chia nhỏ và quản lý không tập trung,các quy định về đấu thầu nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật gây nêntình trạng chồng chéo và gây khó khăn cho các đơn vị thực hiện về các phương diện:Đấu thầu lựa chọn nhà thầu; thực hiện hợp đồng BOT, BTO và BT; Đấu thầu lựa chọnnhà đầu tư thực hiện dự án theo hình thức đối tác – công tư; Đấu thầu theo phươngthức mua sắm tập trung Thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khíchđầu tư trong nước, Luật Đầu Tư (hiệu lực từ ngày 01/07/2006) quy định việc quản lýhoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh theo hướng không còn những quy địnhmang tính phân biệt đối xử bất hợp lý hoặc áp đặt có lợi cho chủ nhà Quy định về ưuđãi, hỗ trợ và đảm bảo đầu tư cũng như các quy định về quyền tự chủ kinh doanh,quyền lựa chọn hình thức đầu tư đều được áp dụng thống nhất đối với tất cả các nhàđầu tư không phân biệt các thành phần kinh tế
Bên cạnh đó, còn kể tới sự liên quan của các hoạt động PPP với Luật Ngân Sách
và Luật Xây Dựng Luật Ngân Sách nhà nước quy định tổng thể về chi đầu tư pháttriển, bao gồm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thuhồi vốn; đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính của nhànước; góp vốn cổ phần, liên doanh; dự trữ bổ dung nhà nước Luật Xây Dựng quy địnhquản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư có hoạt động xây dựng, bao gồm thẩmquyền lập và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng
Tính cho tới thời điểm hiện nay, các văn bản còn hiệu lực thi hành gồm Nghị Định108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức Hợp Đồng Xây Dựng - Kinh Doanh -Chuyển Giao, Hợp đồng Xây Dựng – Chuyển Giao – Kinh Doanh, Hợp Đồng Xây
Trang 11Dựng - Chuyển Giao; Nghị Định 24/2011/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị Định108/2009/NĐ-CP và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thíđiểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư.
2.1.2 Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh PPP
Các quy định về đầu tư theo phương thức hợp đồng BOT, BTO và BT
Nghị Định 108/2009/NĐ-CP và Nghị Định 24/2011/NĐ-CP quy định cụ thể vềcác nội dung: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng dự án;nguồn vốn thực hiện dự án; lĩnh vực đầu tư; Lựa chọn Nhà Đầu Tư đàm phán hợpđồng dự án; thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện dự án; Ưu đãi và đảm bảođầu tư đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án
Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn, các quy định về đầu tư theo các hình thức BTO,BOT và BT bộc lộ một số hạn chế cơ bản
Thứ nhất, cơ quan nhà nước trở nên bị động khi đàm phán do không đánh giá một
cách chủ động và độc lập về tính khả thi của dự án, các yếu tố đầu vào, chỉ tiêu kinh tế
và hiệu quả dự án
Thứ hai, chưa giải quyết được đầy đủ vấn đề phân chia trách nhiệm và rủi ro
trong đầu tư Theo các hình thức này, Nhà nước không có nghĩa vụ phải bỏ vốn thamgia đầu tư vào dự án, Nhà đầu tư chịu trách nhiệm bỏ vốn và gánh chịu toàn bộ rủi rotrong quá trình xây dựng và vận hành dự án mà lẽ ra Nhà nước phải chia sẻ
Thứ ba, có một vài vấn đề cụ thể chưa được quy định cụ thể như sử dụng bảo lãnh
chính phủ chưa rõ ràng, thời hạn chuyển giao của BOT không được xác định, vai tròcủa chính phủ và những cơ quan phát triển dự án và nhà đầu tư tư nhân trong việc chịurủi ro và chi phí khi phát triển dự án, điều chỉnh mức giá và lệ phí mà người sử dụngphải trả, đảm bảo nợ vay và quyền can thiệp của người cho vay
Những hạn chế này dẫn tới hạn chế khả năng huy động vốn từ các nhà đầu tư vàviệc thương thảo hợp đồng ít thành công
Trang 12Quy chế thực hiện thí điểm PPP theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 19/11/2010 về ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo phương thức đối tác công –
tư và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Quyết định 71/2010/QĐ-TTg là cơ sở pháp lý để bước đầu thực hiện dự án đầu tưtheo phương thức kết hợp Nhà nước và Tư nhân, mở ra khả năng mạnh mẽ hơn nguồnvốn tư nhân tham gia đầu tư vào xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng Quyết định gồm cómột số nội dung cơ bản để tiến hành dự án PPP gồm: phần tham gia nhà nước vào dựán; chuẩn bị dự án và lập danh mục dự án; lựa chọn nhà đầu tư và ký kết hợp đồng dựán; nội dung hợp đồng dự án; cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện dự án; quyếttoán và chuyển giao công trình; ưa đãi và bảo đảm đầu tư Tuy nhiên, theo các quyđịnh của quy chế thí điểm, việc triển khai thực hiện dự án vẫn có một số khó khăn,vướng mắc cần được tháo gỡ
Thứ nhất, quy định phần vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư trong tổng mức đầu tư
của dự án là khá cao, nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được
Thứ hai, quy định giới hạn phần vốn tham gia của Nhà nước trong một dự án PPP
không quá 30% tổng vốn đầu tư mà không tính tới đặc thù của từng dự án, khiến một
số dự án PPP tiềm năng đã không được chấp nhận
Thứ ba, chưa quy định rõ phần tham gia vốn của nhà nước trong dự án (nội dung,
hình thức và điều kiện sử dụng) và mối quan hệ giữa phần vốn này với việc đảm bảotính khả thi của dự án
Thứ tư, chưa quy định rõ cơ chế cấp vốn và quản lý vốn thuộc phần tham gia vốn
nhà nước
Thứ năm, chưa tính tới tiêu chí hấp dẫn về mặt thương mại của các dự án được
xếp vào danh mục PPP để có thể đảm bảo khả năng tiếp cận tài chính từ các bên chovay
Thứ sáu, lĩnh vực thí điểm đầu tư còn hạn chế giới hạn trong 9 lĩnh vực.
Trang 13Bảng so sánh: Phạm vi điều chỉnh và lựa chọn dự án trong các văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh PPP hiện hành Nội
Phạm
vi điều
chỉnh
Quy định điều kiện, thủ tục và nguyên tắc áp
dụng thí điểm đối với một số dự án đầu tư
phát triển hạ tầng, cung cấp dịch vụ công theo
hình thức đối tác công tư Đầu tư theo hình
thức đối tác công – tư là việc Nhà nước và
Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án
phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ
công trên cơ sở Hợp đồng Dự án
QĐ 71 áp dụng thí điểm đối với một số dự án
đầu tư theo hình thức PPP Ngoài đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng còn đầu tư cung cấp dịch
vụ công
Quy định lĩnh vực, điềukiện, trình tự, thủ tục đầu
tư, ưu đãi đầu tư; quyền
và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng BOT,BTO và BT
Hợp đồng được ký kếtgiữa cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và Nhà đầu tư
để xây dựng công trìnhkết cấu hạ tầng
Lựa
chọn dự
án
Dự án thực hiện phải đáp ứng tiêu chí sau:
Dự án quan trọng, quy mô lớn, có yêucầu cấp thiết cho nhu cầu phát triển kinhtế
Dự án có khả năng hoàn vốn cho nhàđầu tư từ nguồn thu hợp lý của người dửdụng
Dự án có khả năng khai thác được lợithế về công nghệ, kinh nghiệm quản lý,vận hành và sử dụng hiệu quả năng lựctài chính của khu vực tư
Gồm các dự án quan trọngquốc gia và các dự án cònlại được phân thành cácnhóm A, B và C theo quyđịnh của pháp luật về xâydựng
Trang 142.1.3 Đánh giá môi trường thể chế về PPP ở Việt Nam dưới góc độ các nhà đầu tư
Quyết định 71/2010/QĐ-TTg bước đầu đã mở hành lang pháp lý cho việc thí điểm
mô hinh đầu tư mới – mô hình đối tác công – tư kết hợp Tuy nhiên, thực tế sau hơn banăm triển khai thí điểm PPP đã phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc mới đòi hỏi phải
có sự điều chính Quyết định 71 cũng như bổ sung thay thế bằng các văn bản pháp lý
có liên quan
Thứ nhất, cụm từ “thí điểm” tạo cảm giác bất an và không chắc chắn đối với các
nhà đầu tư
Thứ hai, những lĩnh vực của PPP rất hạn hẹp, mặc dù các điều khoản cho phép
chính phủ có thể bổ sung, nhưng cơ chế kém minh bạch và rắc rối này thị trường vàcác nhà đầu tư đánh giá là cách không tích cực
Thứ ba, quy định về mức tham gia tối đa của vốn nhà nước là 30% sẽ loại bỏ tới
80% các dự án về PPP, trong khi không có quy định rõ phần đóng góp của nhà nước
cụ thể bao gồm những nội dung nào
Thứ tư, quy trình phê duyệt dự án PPP còn phức tạp và thẩm quyền cuối cùng của
mọi dự án PPP đều thuộc chính phủ, kể cả với các dự án nhỏ
Thứ năm, Việt Nam không có một khung pháp lý đồng nhất cho những dự án
theo hình thức PPP Nghị định 108 dành cho các dự án BOT và quyết định 71 dànhcho các dự án PPP có những nội dung không đồng nhất và cũng không kết nối vớinhau gây bối rối cho nhà đầu tư vì không xác định được khi đến Việt Nam đầu tư sẽđược áp dụng quy định pháp lý nào cho những dự án của họ
Thứ sáu, cần phải có một khuôn khổ pháp lý có hiệu lực mạnh mẽ hơn để bảo
đảm thực thi PPP ở Việt Nam Ở những nước không có luật PPP song vẫn triển khaihình thức PPP rất thành công (tiêu biểu như Anh, Nhật Bản) là bởi hiệu lực hợp đồngtrong hệ thống pháp lý các nước này rất mạnh mẽ, đồng thời có năng lực đàm phán,quy trình quản lý dự án, cơ chế tài phán giải quyết tranh chấp hợp đồng tốt