GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các NHTM.. NỢ XẤU & ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU
Trang 1LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
THỰC TRẠNG NỢ XẤU
TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM
ĐỀ TÀI SỐ 3 Nhóm số 5
Trang 2ĐỀ TÀI SỐ 3 THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN : THS TRƯƠNG MINH TUẤN
NHÓM THỰC HIỆN : 25 LÊ NGUYỄN NGỌC LẬP
Trang 3ĐÁNH GIÁ NHÓM
STT THÀNH VIÊN PHÂN CÔNG ĐỀ TÀI THÀNH HOÀN
25 LÊ NGUYỄN NGỌC LẬP Nguyên nhân của nợ xấu 100%
26 TRẦN HOÀNG LINH Tổng hợp và biên soạn tài liệu 100%
27 HỨA THẮNG LỘC Khái niệm nợ xấu và ảnh hưởng 100%
28 NGUYỄN THÀNH LUÂN Nguyên nhân của nợ xấu 100%
29 NGUYỄN THỊ MAI Thực trạng nơ xấu tại các NHTM 100%
ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 3
1 NỢ XẤU & ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU ĐẾN DOANH NGHIỆP, NỀN KINH TẾ 4
1.1 NỢ XẤU 4
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ XẤU 5
2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 6
3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ XẤU 8
3.1 YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ 8
3.2 YẾU TỐ BÊN TRONG DOANH NGHIỆP 8
3.3 YẾU TỐ TỪ CÁC NHTM 9
3.4 YẾU TỐ TỪ PHÍA CHÍNH PHỦ 13
4 PHỤ LỤC 20
4.1 TỪ VIẾT TẮT 20
4.2 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 20
Trang 5GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các NHTM Nợ xấu được ví như “cục máu đông” trong mạch máu của nền kinh tế Đề tài sẽ tập trung phân tích thực trạng và nguyên nhân nợ xấu tại các NHTM Việt Nam
Trang 61 NỢ XẤU & ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ XẤU ĐẾN DOANH NGHIỆP, NỀN KINH TẾ
Nợ nhóm 3 : gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90
ngày, đồng thời quy định các NHTM căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa của chung trong giới tín dụng chuyên ngành
Nợ nhóm 4 – nhóm 5 : Ở giai đoạn này nếu bạn không thanh lý
khoản vay thì nguy cơ ra tòa là điều đã đươc dự đoán trước và mọi chi phí phát sinh, có lẽ người chịu thiệt thòi là người đi vay ( bao gồm tiền án phí, chi phí đi lại, lãi phạt 150%,….)
Và khi khách hàng bị nợ xấu từ nhóm 3 trở lên sẽ rất khó được NHTM duyệt vay lại ít nhất là 5 năm
Như vậy nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ
nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
Trang 7Tham khảo thêm Thông tư 02/2013/TT-NHNN và 14/2014/TT-NHNN về việc phân loại nợ
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ XẤU
Đối với Ngân sách :
Nợ xấu ra tăng tạo ra gánh nặng ngân sách trong vấn đề xử lý nợ xấu.Các nguồn thu ngân sách đang ngày càng khó khăn do sự đình trệ của nền kinh tế Về dài hạn, nếu việc xử lý nợ xấu gây ra bội chi ngân sách sẽ tiềm ẩn rủi ro lạm phát, gây bất ổn nền kinh tế
Đối với Ngân hàng:
Nợ xấu tăng đe dọa an toàn hoạt động của cả hệ thống NHTM: Nếu
nợ xấu không được xử lý kịp thời, có thể gây ra sự đổ vỡ của một số NHTM yếu kém, khi đó nó sẽ có thể gây ra tác động lan truyền đến cả
hệ thống NHTM, gây mất niềm tin của người dân, của nhà đầu tư, của doanh nghiệp, của các tổ chức quốc tế Nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính quốc gia Hiện nay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng dư nợ vào khoảng 14% (trung bình cho cả
hệ thống NHTM) Nghĩa là nợ xấu chỉ cần tăng tới 14% là hệ thống NHTM đã có nguy cơ thâm hụt lớn về vốn chủ sở hữu
Đối với nền Kinh tế:
Khi nợ xấu ra tăng gây đình trệ nền kinh tế Khi nợ xấu tăng, NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro, do đó lượng vốn đưa vào lưu thông bị hạn chế Nếu nợ xấu tăng quá cao NHTM sẽ rất hạn chế cho vay đồng nghĩa với dòng huyết mạch của nền kinh tế bị nghẽn lại, các thành phần khác của nền kinh tế (doanh nghiệp, hộ sản xuất,…) cũng khó tiếp cận nguồn vốn để sản xuất, kinh doanh
Trang 8Nợ xấu là vấn đề thường trực trong NHTM, vì hoạt động tín dụng luôn
có rủi ro Trong quá trình hoạt động, các NHTM luôn phát sinh những khoản nợ xấu Nợ xấu của hệ thống NHTM gia tăng không có nghĩa rằng chính hệ thống NHTM là tác giả của những khoản nợ xấu này, bởi vì việc phát sinh những khoản nợ xấu này là do khách hàng vay không trả được nợ dẫn đến nợ xấu Khi nói về nợ xấu, tại sao nợ xấu lại gia tăng chúng ta cần xem xét các nguyên nhân từ phía Chính phủ , các NHTM, tình hình nền kinh tế và người vay có liên quan như thế nào
2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM
Tình hình nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam từ 2009 tới 02/2013
Trang 9Cơ cấu nợ xấu của Việt Nam
Tỷ lệ nợ xấu của các TCTD tại thời điểm 30/9/2012
Tại cuộc họp báo cuối tháng 4/2014, NHNN cũng cho biết nợ xấu đến hết tháng 2/2014, nếu gộp cả các khoản đã được tái cơ cấu, lên tới gần 308.000 tỷ đồng (chiếm 9,71% dư nợ)
Trang 103 NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ XẤU
3.1 YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, môi trường kinh tế vĩ
mô khó khăn làm giảm khả năng trả nợ của người vay khiến chất lượng tài sản của hệ thống NHTM suy giảm Trong giai đoạn 2008-2010, nền kinh tế Việt Nam đã đối diện với tình trạng lạm phát cao, đồng thời chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tái lặp lạm phát cao làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm Điều này phản ảnh khả năng tiêu thụ sản phẩm cũng như sức cầu tiêu dùng của nền kinh tế đang ở mức rất yếu dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng nợ xấu của các NHTM
3.2 YẾU TỐ BÊN TRONG DOANH NGHIỆP
Bên cạnh sự tác động của suy thoái kinh tế , việc tăng trưởng dựa vào vốn là chính, trong khi công nghệ, mà cụ thể là quản lý không theo kịp, doanh nghiệp càng vay nhiều càng khó có khả năng quản lý hiệu quả các đồng vốn vay
Nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay NHTM, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh kém Vì vậy khi môi trường kinh
Trang 11doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng thì các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về khả năng trả nợ Theo kết quả giám sát của Cơ quan thanh tra, giám sát NHTM, đến cuối tháng 3/2012, trong hơn 1 triệu khách hàng được chọn mẫu khảo sát tại 57 TCTD của Việt Nam có 10.782 khách hàng có hệ số nợ/vốn chủ sở hữu từ 3 lần trở lên
Tình trạng kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp, nhất là DNNN Các công ty và dự án NN kinh doanh kém hiệu quả, quan liêu , tham nhũng dẫn đến thua lỗ Có đến 70% nợ xấu là nợ của các DNNN do đây là nhóm có nhiều thuận lợi trong tiếp cận tín dụng và chiếm thị phần lớn trong tổng dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế Phần nợ xấu lớn thứ hai sau DNNN xuất phát từ một số doanh nghiệp tư nhân lớn, trong đó tập trung chủ yếu là các khoản vay đầu tư bất động sản, chứng khoán, đầu tư ngoài ngành,…Nhiều doanh nghiệp dùng nợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn Các chủ đầu tư dự án dùng vốn không đúng mục đích, lạm dụng đòn bẩy tài chính quá nặng tay, đầu tư dàn trải, thiếu khảo sát nên chưa am hiểu thị trường Sau khi thua lỗ, chủ đầu tư đã thế chấp dự án, bán công ty gây nên tình trạng sở hữu chồng chéo hoặc bị xiết nợ và không còn tiền để tiếp tục xây dựng
3.3 YẾU TỐ TỪ CÁC NHTM
Các NHTM theo đuổi chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh trong khi năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện, đặc biệt là các NHTM cổ phần chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị dẫn đến nợ xấu tăng nhanh hơn dư nợ tín dụng Bên cạnh đó, thời gian qua, một bộ phận không nhỏ vốn tín dụng và nhiều NHTM tập trung đầu tư vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, chẳng hạn bất động sản Khi các lĩnh vực này, đặc biệt là thị trường bất động sản đóng băng
Trang 12và giá bất động sản giảm sâu kéo theo nợ xấu cho vay lĩnh vực này tăng nhanh
Năng lực quản trị rủi ro của các NHTM
o Năng lực của cán bộ tín dụng về thẩm định còn hạn chế ,công tác thẩm định không kỹ lưỡng, nghiêm ngặt: trong quá trình thẩm định trước khi cho vay, có trường hợp quan hệ cá nhân có ảnh hưởng nhất định, vì vậy có hiện tượng buông lỏng công tác thẩm định, không đánh giá một cách toàn diện, chính xác những rủi ro của khoản vay, thiếu hiểu biết đầy đủ về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong thời điểm hiện tại cũng như tương lai, đánh giá quá lạc quan, thiếu phân tích ảnh hưởng tiềm ẩn của môi trường xung quanh, biến động bất thường của kinh tế trong và ngoài nước
o Quá trình xét duyệt hồ sơ: có trường hợp NHTM bỏ qua một thực
tế thủ tục và hồ sơ vay vốn của khách hàng không đầy đủ, hay hồ
sơ vay vốn của khách hàng là hồ sơ ảo Do đó làm mất đi sự chính xác và tính hiện thực khi xem xét hồ sơ vay vốn của khách hàng.Các NHTM chưa chú trọng quản trị danh mục cho vay dẫn đến tỷ trọng cho vay DNNN cao và rủi ro hơn là nhiều NHTM cổ phần được thành lập để phục vụ một số nhóm khách hàng ưu tiên cao Đây là các doanh nghiệp có “sân sau” hay có mối quan hệ mật thiết với các cổ đông lớn
o Vẫn còn nhiều NHTM Việt Nam biến nghiệp vụ cơ cấu nợ, vốn là một nghiệp vụ bình thường của NHTM thành một hình thức để giảm tỷ lệ nợ xấu của mình do nợ cơ cấu không được tính vào nợ xấu Đồng thời, không ít NHTM đã hạn chế phân loại nợ xuống
Trang 13nhóm 3 – 5 để tránh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tránh ảnh hưởng đến lợi nhuận của mình
o Công nghệ NHTM còn nhiều bất cập so với yêu cầu hoạt động Công nghệ NHTM lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh, nhất là công tác quản trị hệ thống trong điều kiện các NHTM Việt Nam có sự mở rộng đáng kể về phạm vi địa bàn hoạt động lẫn danh mục các dịch vụ NH và tăng trưởng tín dụng quá nhanh Để các hoạt động diễn ra thuận lợi, an toàn và hiệu quả, rất cần có sự hậu thuẫn của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin Nếu như điều kiện này không được đáp ứng thì cũng có nghĩa là các NHTM càng mở ra thêm nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ, càng mở ra thêm nhiều mạng lưới chi nhánh giao dịch, tốc độ tăng trưởng tín dụng càng nhanh, thì rủi ro sẽ càng gia tăng khó kiểm soát hơn và khi đó rủi ro tiềm ẩn sẽ càng lớn
o Công tác thanh tra, giám sát NH trong một thời gian dài chưa phát huy hiệu quả cao trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM, nhất là các vi phạm quy định hạn chế cấp tín dụng và đầu tư quá mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao Có hiện tượng NH thiếu biện pháp hiệu quả để xác định, định hướng và kiểm soát rủi
ro trong từng khu vực, số liệu quá khứ không đầy đủ, hệ thống thông tin không cập nhật, kinh nghiệm cá nhân nhiều khi lạm dụng
có thể để lại hậu quả cho hoạt động NH Do đó, biện pháp quản lý yếu kém có nguy cơ tập trung và mang tính hệ thống
Hoạt động thâu tóm, mua bán, sát nhập các công ty sân sau, sở hữu chéo trong NH,… đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền Hiện tại có gần chục NH TMCP có quan hệ CP với NHTM nhà nước
Trang 14chẳng hạn như giữa Vietcombank với các NH Quân đội (MB), Eximbank, Phương Đông ngay cả các NH TMCP cũng đang sở hữu lẫn nhau như Eximbank sở hữu CP của NH khác như Sacombank, VietABank Sở hữu chéo không phải lúc nào cũng gây ra hệ lụy tiêu cực, bởi nó góp phần cải thiện sự hỗ trợ vốn, công nghệ, kinh nghiệm lẫn nhau giữa các thành viên Nhưng nó thực sự gây ra “thảm họa” nếu không được kiểm soát chặt chẽ, khi mà cổ đông là tập thể hay pháp nhân sở hữu tỷ lệ CP chi phối, có quyền định đoạt tại nhiều NH khác nhau.Trong số hình thức sở hữu chéo, có một rủi ro rất lớn là việc các cổ đông, nhóm cổ đông chi phối một hay nhiều NH bị sở hữu bởi các tập đoàn tư nhân Khi đó, mọi tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động tín dụng sẽ bị phá vỡ, NH “bơm” vốn cho “sân sau”, cho nhóm khách hàng có quan hệ thân thiết với các cổ đông chi phối Điều này khiến mọi hệ số an toàn của NH bị lệch chuẩn, con số phản ánh chỉ là
là 2.000 tỷ đồng.Như vậy, kết thúc vòng quay - qua ít nhất 4 lần mua bán nợ - khoản nợ 2.000 tỷ đồng của ngân hàng A vẫn còn nguyên vẹn Thời điểm bắt đầu mua nợ là quý IV hàng năm và kết thúc vào
Trang 15quý III năm sau cũng nhằm tránh thời điểm chốt số liệu ngày 31/12 hàng năm.Khi ấy, nợ xấu của ngân hàng đương nhiên sẽ nằm trong khoản mục "nợ phải thu" của báo cáo tài chính, thay vì nằm trong con
số và tỷ lệ nợ xấu Vòng quay này có thể kéo dài 3 - 4 năm, giúp cho khoản nợ luôn "đẹp" trên sổ sách Nếu quả thực các ngân hàng vận dụng cách mua bán nợ chéo giữa các AMC, thì có thể thấy "mạng nhện" này cũng "chằng chịt", khó gỡ không thua kém gì sở hữu chéo
cổ phần giữa các ngân hàng
Rủi ro về đạo đạo đức : Nợ xấu còn có nguyên nhân sâu xa từ đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ NH và khách hàng Kinh doanh NH dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm thì đạo đức làm nghề nghiệp
NH không chỉ cần thiết mà còn mang tính bắt buộc Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà một số cán bộ NH đã cấu kết với khách hàng
để che dấu sự thật, gian lận, cố ý làm trái quy định của NHNN, của NHTM Mặc dù chưa có số liệu công bố cụ thể nhưng trong tổng số
nợ xấu đó, một tỷ lệ không nhỏ nảy sinh từ vi phạm đạo đức nghề nghiệp
3.4 YẾU TỐ TỪ PHÍA CHÍNH PHỦ
Mặc dù những năm qua chúng ta đã rất chú ý xây dựng và từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý về hoạt động NH, nhưng nhìn tổng thể
có thể thấy hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện Chẳng hạn, một số điều luật đã có nhưng chưa được triển khai (về xiết nợ, về phát mại tài sản, về thế chấp, cầm cố, các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất đai, ) Mặt khác, hiệu lực thực thi các văn bản pháp luật về hoạt động NH chưa cao, điều này đã và đang
Trang 16Nam Bên cạnh đó, chủ trương, chính sách của NN còn thiếu tính ổn định, làm cho hệ thống NH phải đổi mặt với nguy cơ rủi ro chính sách, nhất là các chính sách về lãi suất, tỷ giá, vàng, bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào trong nền kinh tế đều cần có sự điều tiết của NN thông qua các công cụ chính sách pháp luật và khi tình hình kinh tế
có sự thay đổi thì cơ chế chính sách tất yếu phải thay đổi cho phù hợp, bảo đảm sự điều tiết có hiệu quả của NN đối với từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Một thực tế không thể không xem xét và có sự điều chỉnh cho phù hợp, đó là hiện nay thay vì dựa trên phán đoán các tín hiệu từ các diễn biến thị trường, thì trên thì trường tài chính Việt Nam, có vẻ không ít các NHTM đang nhìn vào động thái chính sách để đưa ra các quyết định kinh doanh Các chính sách về tài chính - tiền tệ càng tỏ ra cứng rắn thì xu thế này càng biểu hiện rõ nét hơn Rõ ràng đây là điều không hề mong đợi trong một nền kinh tế căn bản đã chuyển sang kinh doanh theo thị trường từ nhiều năm nay, bởi thực tiễn mà chúng
ta rút ra được đó là điều hành nền kinh tế theo tín hiệu thị trường sẽ giúp giảm thiểu được những phí tổn so với điều hành nặng về công cụ chính sách mang tính chất hành chính Tuy vậy, cần phải nhìn nhận một thực tế là trong những năm qua, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu cạnh tranh quá mức, thiếu lành mạnh, khó kiểm soát bằng các công cụ kinh tế nên việc điều hành bằng các công cụ hành chính là rất cần thiết Song sự hạn chế căn bản của việc điều hành bằng các công cụ hành chính là rất dễ gây sốc cho nền kinh tế, nên phải xác định được “điểm dừng” để nhanh chóng chuyển sang điều hành thị trường tài chính bằng chính các công cụ kinh tế
Nhóm nguyên nhân từ cơ chế xử lý nợ xấu: