1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Ảnh hưởng của cung tiền mỹ tới sản xuất của mỹ và hồng kông

21 513 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 Tóm tắt Những kiểm định theo tiêu chuẩn kinh tế lượng cho dù tiền có ảnh hưởng đến sản lượng sẽ vô nghĩa nếu chính sách tiền tệ là sự lựa chọn tối ưu để làm dịu sự biến động sản lượng.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

SẢN LƯỢNG CỦA HỒNG KÔNG

(Why U.S money does not cause U.S ouput but does cause

Hong Kong output)

GVHD: TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO Danh sách thành viên nhóm 6 –Lớp TC01 – CH23

TP.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

SẢN LƯỢNG CỦA HỒNG KÔNG

(Why U.S money does not cause U.S ouput but does cause

Hong Kong output)

GVHD: TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO Danh sách thành viên nhóm 6 –Lớp TC01 – CH23

TP.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT 3

Tóm tắt 4

1 Giới thiệu 4

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 8

3 Phương pháp nghiên cứu 8

4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu 9

5 Kết luận 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC 20

Trang 4

3

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

ADF: Kiểm định tăng cường đơn biến Dickey-Fuller

AIC: Tiêu chuẩn thông tin Akaike

Fed: Cục dự trữ Liên bang Mỹ

OLS: Phương pháp bình phương nhỏ nhất

VAR: Mô hình tự hồi quy véc tơ

VECM: Mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số

SIC: Tiêu chuẩn thông tin Schwarz

Trang 5

4

Tóm tắt

Những kiểm định theo tiêu chuẩn kinh tế lượng cho dù tiền có ảnh hưởng đến sản lượng sẽ vô nghĩa nếu chính sách tiền tệ là sự lựa chọn tối ưu để làm dịu sự biến động sản lượng Nếu chính sách tiền tệ của Mỹ được lựa chọn để làm dịu sự biến động sản lượng của Mỹ, chúng tôi thấy rằng cung tiền của Mỹ sẽ không có tác động-Granger đến sản lượng của Mỹ Thật vậy, như đã được nghiên cứu bởi Rowe và Yetman (2002) [Xác định mục tiêu hoạch định chính sách: một ứng dụng tại ngân hàng của Canada (Tạp chí Kinh tế Canada 35 (2), 239-256)], nếu có một độ trễ sáu quý trong ảnh hưởng của cung tiền đến sản lượng, sau đó sản lượng của Mỹ sẽ không thể dự báo được từ bất kỳ thông tin thiết lập sẵn từ sáu quý bị trễ của Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Những nếu ở các quốc gia khác, ví dụ như Hồng Kông, có đồng tiền được cố định với đồng đô la Mỹ, chính sách tiền tệ của Hồng Kông sau đó sẽ được lựa chọn ở Washington D.C, với việc không quan tâm để có ít biến động sản lượng của Hồng Kông Những kiểm tra quan hệ nhân quả về mặt kinh tế lượng giữa sự tác động cung tiền của Mỹ đến sản lượng của Hồng Kông sẽ cho thấy bằng chứng về quan hệ nhân quả ngay sau đây

Tác giả đi vào kiểm tra thực nghiệm này Phân tích thực nghiệm của nhóm tác giả cũng đưa ra một thước đo về mức độ ổn định kinh tế vĩ mô được hy sinh bằng việc áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định chứ không phải là một chính sách tiền tệ độc

sự tán thành đáng kể về ảnh hưởng định tính của một cú sốc chính sách tiền tệ trong

sự nhận thức rằng suy luận là chặt chẽ trên một tập hợp lớn các mô hình đã được xem xét trong các nghiên cứu trước

Sự bất đồng chỉ đến từ hai trường phái phổ biến của kinh tế vĩ mô Trường phái kinh tế vĩ mô Keynes lập luận rằng cung tiền không ảnh hưởng đến tổng cầu, và do

đó sẽ không ảnh hưởng đến sản lượng thực Một số nhà kinh tế học vĩ mô cổ điển lại cho rằng cung tiền có thể ảnh hưởng đến tổng cầu, nhưng giá cả và tiền lương hoàn toàn linh hoạt, và đường cung là đường thẳng đứng, có nghĩa là chỉ có mức giá sẽ giảm và sản lượng thực thì không thay đổi

Mặc dù có sự tán đồng chung rằng cung tiền tác động đến sản lượng, (song các) bằng chứng kinh tế lượng hỗ trợ là yếu hoặc không thuyết phục Lý do cơ bản

Trang 6

5

cho các bằng chứng kinh tế lượng yếu cũng đơn giản (Là do) các thử nghiệm mô tả vấn đề trên rất khó xảy ra (Vì) Fed tin rằng một sự cắt giảm bất thường 20% cung tiền sẽ có kết quả tai hại đến sản lượng thực, họ không sẳn lòng để thực hiện một thử nghiệm như thế Họ không tùy tiện cắt giảm 20% cung tiền đơn thuần chỉ để thấy một cuộc đại suy thoái xảy ra như thế nào Vì vậy các loại thử nghiệm mà kiểm tra đúng cách để xem tác động của cung tiền đến sản lượng không bao giờ được thực hiện Nói một cách khác, hồi quy OLS sản lượng đến tiền sẽ chỉ đem lại ước tính không lệch nếu cung tiền có một biến tích cực và nếu tiền là biến ngoại sinh liên quan đến sản lượng Nhưng ngoại sinh của tiền liên quan đến sản lượng có nghĩa là Fed chọn chính sách tiền tệ mà không xem xét đến ảnh hưởng của chính sách đó đến sản lượng Fed không muốn chịu trách nhiệm nên sẽ không bao giờ chọn một chính sách tiền tệ như vậy

Nếu trong hồi quy OLS tìm thấy được ảnh hưởng của cung tiền đến sản lượng, nghĩa là Fed đã gây ra hoặc cho phép cung tiền biến đổi theo một cách rằng sự biến đổi của sản lượng cao hơn những gì nó đã có nếu Fed đã hành động khác nhau Phát hiện này cho thấy không chỉ ảnh hưởng của cung tiền đến sản lượng mà còn cho thấy Fed đã hành xử vô trách nhiệm và điên rồ Vì trách nhiệm và sự khôn ngoan của mình, Fed sẽ không bao giờ thực hiện các loại thử nghiệm mà sẽ để chúng tôi trực tiếp kiểm tra tiền có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng

Vấn đề này cùng với việc kiểm tra cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng hay không là hoàn toàn đúng khi Fed thông qua những mục tiêu ưu tiên hàng đầu để làm dịu sự biến động sản lượng Rất nhiều nhà kinh tế nghĩ rằng, một phần đáng kể của

sự thay đổi chính sách của ngân hàng trung ương phản ánh những phản ứng có hệ thống của các nhà hoạch định chính sách tới sự thay đổi trạng thái của nền kinh tế (Christiano và cộng sự, 1999) Phản ánh có hệ thống này là hình thức điển hình cho khái niệm quy tắc phản hồi hoặc chức năng phản ứng.1

Giả sử có một số phương trình cấu trúc cơ bản, được biết từ Fed, với sản lượng thực là yt+j và cung tiền là mt và một số biến khác, với độ trễ là j chu kỳ trong ảnh

hưởng của tiền đến sản lượng

tế trong dài hạn Về mặt này, xem Faust và Leeper (1997) và Pagan và Robertson (1995)

Trang 7

6

(3) Bởi vì bất kỳ giá trị nào có thể được phân tích trong sự kỳ vọng sản lượng thực hợp lý và lỗi dự báo, lỗi dự báo ở đây phải không liên quan với bất kỳ thông tin nào

tại cùng thời điểm thiết lập t, chúng ta có

(4) Thay phương trình (2) và (3) vào phương tình (4) ta được:

𝑦𝑡+𝑗 = 𝑔𝑡+𝑗+ 𝑒𝑡+𝑗 (5) Phương trình (5) nói rằng sản lượng sẽ bằng với một xu hướng thời gian cộng với sai số ngẫu nhiên mà hoàn toàn không liên quan với bất kỳ thông tin có sẵn nào

tại thời điểm t Có lẽ, cung tiền là một phần của thiết lập thông tin Nghĩa là nếu Fed

sử dụng chính sách tiền tệ để làm dịu sự biến động sản lượng thực, sản lượng sẽ không cần tương quan với độ trễ của cung tiền (Rowe and Yetman, 2002) Mặc dù bằng cách

giả định cung tiền ảnh hưởng đến sản lượng, với một độ trễ là j chu kỳ, bất kỳ việc

kiểm định nhân quả về mặt kinh tế lượng sẽ không tìm thấy bằng chứng về quan hệ nhân quả

Để hiểu rõ hơn, chúng ta đặt trong hoàn cảnh Fed sẽ chọn việc cắt giảm 20% cung tiền Họ sẽ làm điều này nếu họ biết được một số thông tin (về một số biến khác trong phương trình cấu trúc F, ví dụ như cắt giảm thuế lớn) mà sẽ dẫn đến mong đợi một sự tăng trưởng lớn về sản lượng nếu cung tiền được giữ không đổi Nếu Fed dự báo chính xác, cung tiền sẽ giảm 20%, nhưng sản lượng sẽ tiếp tục tăng trưởng theo

xu hướng Sự gia tăng chỉ trong sản lượng sẽ là kết quả của các lỗi dự báo của Fed,

và những điều đó sẽ không tương quan với bất kỳ điều gì Fed biết tại thời điểm chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến sản lượng

Để xem cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng hay không, chúng tôi đã tìm một tập hợp dữ liệu mà ở đây cơ quan điều tiết tiền tệ thay đổi cung tiền không quan tâm đến tác động của cung tiền đến sản lượng Hồng Kông cung cấp một dữ liệu như thế.2 Trong nhiều năm, Hồng Kông đã duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái cố định với đồng đô la Vì Hồng Kông có mối quan hệ nhỏ với Mỹ và vì Fed cam kết không chịu trách nhiệm trong việc giúp Hồng Kông duy trì tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ của Hồng Kông hiệu quả khi thiết lập ở Washiton D.C Nếu những cú sốc xảy ra đối

với nền kinh tế của Mỹ và Hồng Kông tương quan không hoàn toàn, và nếu Fed thực

hiện chính sách tiền tệ để làm dịu sự biến động sản lượng của Mỹ mà không quan tâm đến sản lượng của Hồng Kông, có nghĩa rằng chính sách tiền tệ này ít nhất một lần ngoại sinh liên quan đến sản lượng đầu ra của Hồng Kông

Giả định rằng Fed nhận thấy một biến động chắc chắn về đòn đánh trúng vào nền kinh tế Mỹ Nó làm giảm nguồn cung tiền để mà dựa vào chiều hướng và bù đắp lại phần nào biến động này Nếu dự báo của những giả định này là thành công, sản

2 Một số quốc gia khác như Thái Lan và Ác-hen-ti-na cũng được xem xét Đáng tiếc, dữ liệu đại diện có giới hạn chủ yếu để mở rộng phân tích thực nghiệm của chúng tôi và các nước khác

Trang 8

7

lượng của Mỹ sẽ tiếp tục xu hướng phát triển Nhưng nếu không có một cú sốc tương

tự nào tác động đến nền kinh tế Hồng Kông, nền kinh tế Hồng Kông sẽ bị tác động mạnh bởi sự cắt giảm cung tiền của Mỹ, nếu không có sự bù đắp nào cho biến động này, và sẽ rơi vào tình trạng suy thoái Tương tự như vậy, nếu như Fed biết trước một

cú sốc tiêu cực đến nền kinh tế Mỹ, thì nó sẽ có động thái tăng cung tiền Theo quan sát sau đây là không có sự thay đổi về sản lượng của Mỹ, nhưng trong khi đó Hồng Kông thì lại có một sự biến động mạnh mẽ.3

Thật vậy, nếu Fed làm dịu sự biến động sản lượng của Mỹ nhưng không quan tâm đến sản lượng của Hổng Kông, và nếu như biến động khác ảnh hưởng đến nền kinh tế của Mỹ và Hồng Kông có mối tương quan không hoàn toàn, lúc đó cung tiền của Mỹ sẽ được cho là tác động nhân quả-Granger đến sản lượng của Hồng Kông, mà không phải là nguyên nhân ảnh hưởng đến sản lượng của Mỹ

Các nội dung chính của bài nghiên cứu:

- Đặt vấn đề về chính sách tiền tệ của Mỹ tác động đến sản lượng của Hồng Kông qua kênh cung tiền Giả định thước đo về mức ổn định kinh tế vĩ mô bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái cố định chứ không phải một chính sách tiền

tệ độc lập

- Lập luận xoay quanh vấn đề cung tiền ảnh hưởng đến sản lượng thực hay không từ các ý kiến khác nhau Đưa ra phương trình sản lượng theo xu hướng thời gian

- Lựa chọn các biến, thiết lập mô hình thực nghiệm cung tiền của Mỹ tác động đến sản lượng của Hồng Kông

- Xử lý chuỗi dữ liệu thời gian bằng các phép toán thống kê và mô hình đã được kiểm định: kiểm tra tính dừng, đồng liên kết của mỗi chuỗi thời gian; kiểm định sự tồn tại của quan hệ đồng liên kết; ước lượng mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số và kiểm định quan hệ nhân quả

- Lập luận, đánh giá vấn đề nghiên cứu

- Tóm tắt, nếu quan điểm và kết luận

Các vấn đề nghiên cứu:

- Ước tính tác động cung tiền của Mỹ đến sản lượng của Hồng Kông

- Đưa ra một thước đo về mức độ ổn định kinh tế vĩ mô được hy sinh bằng việc

áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định chứ không phải là một chính sách tiền tệ độc lập

3 Câu chuyện của chúng tôi ở đây là giả định cú sốc đến từ nền kinh tế Mỹ là cú sốc IS Một cú sốc tích cực IS đến từ nền kinh tế Mỹ nghĩa là Fed sẽ cắt giảm cung tiền và tăng lãi suất để giữ tổng cầu của Mỹ không đổi Tuy nhiên mức lãi suất ở Mỹ cao sẽ có nghĩa là lãi suất ở Hồng Kông cũng cao, miễn là có ít nhất một sự chuyển nhượng vốn Và lãi suất Hồng Kông cao hơn sẽ làm giảm tổng cầu tại Hồng Kông (trừ khi Hồng Kông ngẫu nhiên đối mặt với một cú sốc tích cực tương tự như IS) Nếu cú sốc của nền kinh tế Mỹ là một cú sốc LM, chẳng hạn như sụt giảm nhu cầu tiền ở Mỹ, Fed sẽ giảm cung tiền tương ứng, để lại lãi suất không thay đổi, và

sẽ không có hiệu lực ở mỗi nước

Trang 9

8

2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

Trong phần này, ngoài việc đề cập các quan điểm của các nhà kinh tế của hai trương phái kinh tế vĩ mô xoay quanh vấn đề cung tiền có tác động đến sản lượng hay không? (đề cập ở phần giới thiệu) Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến một số nghiên cứu trước xung quanh những quốc gia theo đuổi chế độ bản vị vàng

Trong một số giai đoạn thực tế, trường hợp xem xét Hồng Kông như là một quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế - nơi mà các quốc gia còn theo đuổi chế

độ bản vị vàng Thực tế, có một vài nghiên cứu trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thì cung cấp những bằng chứng liên quan đến vai trò của nhân tố tiền trong giai đoạn này; như nghiên cứu của Bernanke (1995) Theo ông, “những cú sốc kinh tế đã tạo nên làn sóng lây lan khắp thế giới thông qua chế độ bản vị vàng”; ngoài ra còn được tìm thấy trong các nghiên cứu của Choudhri và Kochin (1980), Eichengreen (1984), Hamilton (1988) và một số nghiên cứu khác Thật vậy, một nghiên cứu mới về chế

độ bản vị vàng cho phép các nhà kinh tế học có thể đưa ra những khẳng định đầy chắc chắn rằng nhân tố tiền tệ đóng vai trò quan trọng, trong cả việc làm suy giảm giá cả

và sản lượng, và cả những phục hồi sau này Những bằng chứng chứng tỏ rằng những quốc gia đã rời bỏ chế độ bản vị vàng thì phục hồi sau khủng hoảng nhanh hơn những quốc gia vẫn giữ chế độ bản vị vàng Không có một quốc gia nào cho thấy họ có thể phục hồi một cách mạnh mẽ trong khi vẫn giữ chế độ bản vị vàng Sự phụ thuộc mạnh

mẽ giữa sự phục hồi của tỷ giá với cách thức quản lý tỷ giá là xa vời, đây là bằng chứng đầy hiệu quả về tầm quan trọng của nhân tố tiền tệ

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác liên quan như: (về mô hình và cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ)

- Nghiên cứu của Nguyễn Đức Long & Lê Quang Phong (2012) về nguyên tắc Taylor trong điều hành chính sách tiền tệ có đề cập đến chính sách tiền tệ của Fed qua lãi suất điều hành bám sát lãi suất khuyến nghị của Taylor

- Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2014) nghiên cứu vấn đề truyền dẫn của chính sách tiền tệ: Một số mô hình kiểm định phù hợp; đã đưa ra các mô hình thích hợp để đo lường sự truyền dẫn chính sách tiền tệ và một số ưu nhược điểm

- Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam đã đưa ra nhận định về mức độ truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất có ảnh hưởng lớn đến sản lượng công nghiệp, lạm phát và giá chứng khoán hơn so với các kênh còn lại

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này tác giả kiểm định đồng liên kết của mỗi chuỗi thời gian, bằng cách sử dụng tăng cường đơn biến Dickey Fuller (ADF) kiểm tra đơn vị gốc (Dickey và Fuller, 1979; Said và Dickey, 1984) Sau đó tiến hành kiểm định sự tồn tại của quan hệ đồng liên kết bằng cách sử dụng kiểm định của Johansen (Johansen,

Trang 10

9

1988) Và cuối cùng, tác giả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số véc tơ (VECM) và kiểm định nhân quả Granger (bằng việc) sử dụng các khuyến nghị của Phillips và Toda (1994)

Dữ liệu của tác giả bao gồm các véc tơ Zt có kích thước n x 1, trong đó gồm có

ba chuỗi thời gian được sử dụng trong các phân tích (tiếp sau đây) Đó là Zt = (y1t, y2t,

y3t)’, trong đó y1t biểu thị logarit của sản lượng của Hồng Kông (ythk); y2t biểu thị logarit của sản lượng của Mỹ (ytus) và y3t biểu thị logarit cung tiền của Mỹ (mtus) hoặc

là mức lãi suất điều hành (Rtus) Dữ liệu được thu thập theo quý, từ quý 1 năm 1986 đến quý 4 năm 1999 (14 năm tròn)

4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu

Nội dung bài nghiên cứu này của tác giả được thực hiện qua ba bước: Bước đầu tiên, tác giả kiểm định đồng liên kết của mỗi chuỗi thời gian, bằng cách sử dụng tăng cường đơn biến Dickey Fuller (ADF) kiểm tra đơn vị gốc (Dickey và Fuller, 1979; Said và Dickey, 1984) Bước thứ hai, tác giả tiến hành kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết bằng cách sử dụng kiểm định Johansen (Johansen, 1988) Trong bước thứ 3, và cũng là bước cuối cùng, tác giả đi vào ước lượng mô hình véc

tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) và kiểm định nhân quả Granger (bằng việc) sử dụng các khuyến nghị của Phillips và Toda (1994)

Trong thực tế, cách thích hợp để kiểm tra nguyên nhân phụ thuộc vào việc có hay không có sự tồn tại các mối quan hệ đồng liên kết Trong trường hợp có các quan

hệ đồng liên kết, chúng ta có thể kiểm định nhân quả trong ngắn hạn bằng cách sử dụng kiểm định F với ý nghĩa khác biệt đầu tiên về độ trễ của các biến có liên quan

thể kiểm định nhân quả trong dài hạn, bên cạnh đó sử dụng kiểm định F với ý nghĩa của việc điều chỉnh sai số theo thời gian Một số tài liệu tham khảo thực nghiệm là Hayo (1999), Khalid và Guan (1999) ,và Wernerheim (2000)

Trong việc áp dụng các kiểm định ADF, chiều dài độ trễ đã được lựa chọn bằng cách sử dụng quy trình tuần tự được đề xuất bởi Campbell và Perron (1991) trong đó bao gồm một số giả định ban đầu độ trễ tối đa (được gọi là kmax) trong tính toán của mô hình tự hồi quy ADF và kiểm định với mức ý nghĩa (90%) về độ trễ cuối cùng Nếu không có ý nghĩa được tìm thấy, các số liệu thống kê một lần nữa được ước tính bằng cách sử dụng độ trễ kmax -1 Quy trình này được lặp đi lặp lại cho đến khi không có độ trễ đáng kể nào được tìm thấy thì k = 0 được lựa chọn

Các kết quả4 cho thấy có bằng chứng về tính không dừng cho tất cả các chuỗi Nói cách khác, tất cả các chuỗi có thể được xem giống như các phương pháp sai phân bậc 1 I(1) Với thực tế này, bước thứ hai của chúng tôi là để xác minh sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết giữa tập hợp các biến

4 Để tiết kiệm không gian, kết quả không được trình bày nhưng nó được cung cấp theo yêu cầu

Ngày đăng: 07/05/2015, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w