Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.” Thị trường chứng khoán Để huy
Trang 2CHƯƠNG I
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
I- BẢN CHẤT – CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1- Bản chất
Mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm
Trong mọi quốc gia, muốn có nền kinh tế phát triển, tăng trưởng nhanh
và bền vững trước hết phải đáp ứng đủ nhu cầu về vốn đầu tư Đồng thời muốn
có vốn đầu tư lớn và dài hạn đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện để tăng tỷ lệ tiết kiệm và từ đó tăng khả năng cung ứng vốn đầu tư Đây chính là mối quan hệ nhân quả và nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng sản xuất và kinh doanh, từ đó tăng thu nhập quốc dân và cải thiện đời sống của mọi tầng lớp nhân dân
Quá trình giao lưu vốn
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ những chủ thể khác nhau Những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu
tư Từ đó hình thành quá trình giao lưu vốn giữa những người có vốn và những người cần vốn, họ cần gặp gỡ nhau để thỏa mãn nhu cầu của nhau
Trong nền kinh tế cũng hình thành nên một cơ chế chuyển vốn từ tiết kiệm sang đầu tư Cơ chế đó được thực hiện trong khuôn khổ thị trường tài chính
Vậy thị trường tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người cần sử dụng
Thị trường tài chính là nơi tập trung huy động các nguồn vốn trong xã hội
để tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế
2- Chức năng
2.1- Chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính (TTTC) là tập
trung các khoản tiền tiết kiệm thành nguồn vốn lớn tài trợ ngắn hạn và dài hạn cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế
Chức năng này được thể hiện qua kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp:+ Kênh tài chính gián tiếp: thông qua các trung gian tài chính là các ngân hàng và các định chế tài chính phi ngân hàng Hoạt động chủ chốt trên khu vực này là các ngân hàng thương mại với vai trò là người huy động vốn rồi đem cho vay Những trung gian tài chính thực hiện việc kinh doanh chuyển vốn từ người
dư vốn sang người cần vốn bằng việc đặt một lãi suất cao hơn cho các món cho vay so với lãi suất của các món mà họ đi vay để thu lợi nhuận Nhưng điều quan
Trang 3trọng hơn cả ở đây là hoạt động của các trung gian tài chính làm cho lãi suất – còn gọi là giá của tiền tệ phản ánh đúng cung cầu thị trường Như vậy, nhờ hoạt động tài chính gián tiếp (được gọi là sự trung gian tài chính) thị trường tài chính được vận hành.
+ Kênh tài chính trực tiếp: các chủ thể dư thừa vốn trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành tức là người cần vốn, thông qua các TTTC Trong trường hợp này, luồng tiền vận động thẳng từ người thừa vốn tới người thiếu vốn
2.2- Kích thích tiết kiệm và đầu tư
* TTTC tạo cơ hội đầu tư cho mọi thành viên trong xã hội, đó là các cơ hội đầu tư sinh lời đầy hấp dẫn; mọi cá nhân, tổ chức kinh tế… thông qua thị trường tài chính đều có thể dùng đồng tiền của mình để đầu tư dưới nhiều hình thúc thông qua các chứng khoán để kiếm lời dưới nhiều qui mô khác nhau
* TTTC còn có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, nhờ hoạt động của TTTC mà nó không những tạo cơ hội đầu tư cho mọi thành viên trong xã hội mà còn tăng hiệu suất sử dụng vốn của toàn bộ nền kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh nhờ TTTC ngày càng phát triển, công nghệ tiên tiến được ứng dụng rộng rãi làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ phát triển ngày càng cao
2.3- Hình thành giá các tài sản tài chính
Thông qua tác động qua lại giữa những người mua và người bán, giá của các tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và chính đặc điểm này của TTTC đã phát tín hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá
2.4- Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thiếu tính thanh khoản, người nắm giữ các công cụ tài chính buộc phải nắm giữ chúng cho tới khi đáo hạn, hoặc, trong trường hợp cổ phiếu cho tới khi công ty tự nguyện hoặc không tự nguyện phải thanh lý tài sản Mặc dù tất cả các TTTC đều có tính thanh khoản, song mức độ thanh khoản là khác nhau giữa các thị trường
II- CƠ CẤU CỦA TTTC
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia thành 2 loại : thị trường tiền tệ có thời hạn luân chuyển không quá một năm và thị trường vốn có thời hạn luân chuyển từ một năm trở lên
Trang 41- Thị trường tiền tệ (Money Market)
Là thị trường giao dịch mua bán quyền sử dụng các khoản tiền tệ ngắn hạn trong nền kinh tế Hiểu theo nghĩa giản đơn là nơi mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn dưới 1 năm, qua đó nó cung ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế
Theo mô hình của các nước phát triển, thị trường tiền tệ bao gồm :
+ Thị trường liên ngân hàng (Inter-bank Market) : đây là thị trường
vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng với nhau do ngân hàng Trung ương (NHTW)
tổ chức để giải quyết nhu cầu vốn giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) về
bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng… Ở đó các ngân hàng chuyên trao đổi khả năng thanh toán trên tài khoản
ở NHTW thông qua việc mua bán số ngân quỹ thừa ra, qua đó đáp ứng nhu cầu cân đối ngân quỹ trong ngày Nghiệp vụ mua bán này được thực hiện một cách đơn giản bằng cách chuyển vốn trên tài khoản của các tổ chức tín dụng tại NHTW Hàng hóa trên thị trường này là các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức tín dụng Giá cả của hàng hóa “vốn” này là lãi suất
Trên thị trường liên ngân hàng, các NHTM tham gia để tìm kiếm lợi nhuận, còn các NHTW tham gia với vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM và là người chi phối thị trường
Như vậy, xét theo chiều ngang thì thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ giữa các NHTM, các tổ chức tín dụng Nếu xét theo chiều dọc thì thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ giữa các NHTM với NHTW qua các nghiệp vụ điều hòa vốn của NHTW
+ Thị trường hối đoái (Foreign Exchange Market) : là nơi mua bán,
vay mượn ngoại tệ giữa các chủ thể có liên quan Thị trường hối đoái có tính toàn cầu mà các thành viên của nó quan hệ với nhau qua điện thoại, màn hình vi tính, telex, fax… Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, các doanh nghiệp trong nước đều phải tham gia các thị trường hối đoái để mua hay bán, vay hay cho vay ngoại tệ
Các nghiệp vụ của thị trường hối đoái phần lớn mang tính chất ngắn hạn (dưới một năm) Thành viên tham gia thị trường hối đoái chủ yếu là NHTM, doanh nghiệp, các nhà môi giới ngoại hối, các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, các nhà kinh doanh, NHTW
+ Thị trường vốn ngắn hạn (Short-term Loans Market) : là thị trường
tín dụng, đây là thị trường mà các nguồn vốn được luân chuyển theo nguyên tắc tín dụng để huy động vốn từ những người có vốn và phân phối lại cho những người cần vốn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Đây chính là sự vận động gián tiếp của vốn trong nền kinh tế thị trường thông qua các trung gian tài chính
Thị trường tín dụng bao gồm các loại thị trường sau:
Trang 5- Thị trường tín dụng ngân hàng : ở thị trường này, chủ thể tham gia là các ngân hàng với nhau, hoặc giữa các ngân hàng và khách hàng của họ.
- Thị trường tín dụng thương mại : chủ thể tham gia là các doanh nghiệp
có quan hệ kinh doanh thường xuyên với nhau
- Thị trường tín dụng nhà nước : chủ thể tham gia là Nhà nước và các tầng lớp dân cư
- Thị trường tín dụng tự do giữa các tầng lớp dân cư
Đặc điểm thị trường tiền tệ :
+ Giai đoạn luân chuyển vốn ngắn hạn (không quá 1 năm) Công cụ của thị trường tiền tệ là các khoản vay hay các chứng khoán đáo hạn trong vòng 1 năm
+ Hình thức tài chính đặc trưng là hình thức tài chính gián tiếp Đóng vai trò trung gian tài chính giữa người vay và người cho vay là các ngân hàng thương mại
+ Các công cụ của thị trường tiền tệ có tính thanh khoản cao, cung cấp lợi tức tiết kiệm cho các nhà đầu tư
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ :
* Tín phiếu Kho bạc (Treasury Bills) : là loại chứng khoán nợ ngắn hạn
do Nhà nước phát hành nhằm mục đích điều hòa lưu thông tiền tệ, hỗ trợ cho việc cân đối thu chi ngân sách, bù đắp những thiếu hụt tạm thời hoặc mục đích chống lạm phát hay khuyến khích phát triển sản xuất
Đặc điểm của loại chứng khoán ngắn hạn là thời gian đáo hạn dưới 1 năm, lãi và vốn được trả một lần khi đáo hạn
* Các khoản vay liên ngân hàng : theo qui định của Ngân hàng Trung
ương, các tổ chức nhận tiền gửi phải có một tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đáp ứng nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền Một số tổ chức có thể thừa dự trữ, một số khác lại thiếu Các tổ chức nhận tiền gửi có thể mua bán các khoản dự trữ này trên thị trường liên ngân hàng; bằng cách này có thể tối thiểu hóa được lượng tài sản có tính thanh khoản cao nhưng khả năng sinh lời thấp, như tín phiếu Kho bạc
* Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng : là giấy bảo đảm rằng
một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện số tiền mà các nhà nhập khẩu còn thiếu các nhà xuất khẩu, đến ngày đáo hạn nhà nhập khẩu sẽ trả cho ngân hàng
số tiền ghi trên giấy cộng với một khoản phí Nhà xuất khẩu không nhất thiết phải giữ giấy này cho tới khi đáo hạn mà có thể bán đi với giá chiết khấu để thu tiền trước Lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao
* Kỳ phiếu thương mại (Commercial Papers) : do doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh phát hành dùng thay thế cho giấy nợ trả cho các đơn vị hoặc cá nhân cung cấp hàng hóa hay dịch vụ cho doanh nghiệp Trong thương phiếu có qui định thời hạn trả nợ và lãi suất đến kỳ hạn sẽ được đơn vị trả cả vốn lẫn lãi
Trang 6* Kỳ phiếu ngân hàng (Bank Bills), Tín phiếu công ty tài chính, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm là các loại chứng khoán ngắn hạn thường từ 3 tháng, 6
tháng, 9 tháng đến 12 tháng, được Ngân hàng thương mại và Công ty tài chính phát hành nhằm huy động vốn, rồi dùng vốn đó cho vay (chủ yếu là ngắn hạn)
2- Thị trường vốn (Capital Market)
Còn gọi là thị trường vốn dài hạn, là một bộ phận quan trọng của TTTC, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn trong xã hội, tập trung thành những nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp và chính phủ nhằm mục đích phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu
tư Thị trường vốn bao gồm ba thị trường bộ phận : thị trường tín dụng trung và dài hạn còn gọi là thị trường thế chấp (Mortgage market), thị trường cho thuê tài chính (Leasing Market), và thị trường chứng khoán (TTCK – Securities market) Trong đó TTCK là bộ phận quan trọng nhất của TTTC trong việc tập trung và huy động những khoản vốn khổng lồ tài trợ cho các mục đích đầu tư phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ, phát triển sản xuất tại các doanh nghiệp
Thị trường thế chấp
Cung cấp tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp thường đòi hỏi phải có tài sản thế chấp Hoạt động trên thị trường này là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Thị trường cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một lại hình tài trợ vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ Theo Nghị định của Chính phủ
số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính, tại Điều 1 đã qui định : “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các đọng sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và được 2 bên thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp động cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản
đó tại thời điểm ký hợp đồng.”
Thị trường chứng khoán
Để huy động được các nguồn vốn dài hạn bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và một số các công ty còn thực hiện huy động thông qua việc phát hành các chứng khoán
Chứng khoán là các công cụ thể hiện quyền sở hữu trong một công ty (cổ phiếu) quyền chủ nợ đối với một công ty, một Chính phủ hay chính quyền địa
Trang 7phương (trái phiếu) và các công cụ khác phát sinh trên cơ sở những công cụ đã
có (công cụ phái sinh)
Khi các chứng khoán được phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu về mua bán trao đổi các chứng khoán đó Chính vì vậy TTCK đã ra đời với tư cách
là một bộ phận của thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán các loại
3- Các định chế tài chính trung gian
Trên thị trường tài chính, các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các quỹ hưu trí thường được gọi với một tên gọi đặc biệt : các định chế tài chính trung gian (Financial Intermidiaries) Vai trò của chúng là huy động được các nguồn vốn bằng cách phát hành quyền truy đòi
ra công chúng (chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hoặc cho vay), sau đó chúng quay vòng và sử dụng số tiền này để mua chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu hoặc những công cụ tài chính không được mua bán như các khoản tín dụng tiêu dùng
và tín dụng thương mại
Các định chế tài chính trung gian cũng giống như các loại hình công ty khác – đều được thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận Trong quá trình chuyển thành lợi nhuận, họ tình cờ đạt được một mục tiêu kinh tế quan trọng, đó là giúp di chuyển nguồn vốn từ người cho vay đến người đi vay
* Một số loại định chế tài chính trung gian tại các quốc gia phát triển : + Ngân hàng thương mại (Commercial banks) là tổ chức nổi bật nhất
trong các loại định chế tài chính trung gian Hiện nay tại Mỹ, có khoảng 9.000 NHTM, từ Bank America với tài sản hàng trăm tỷ dollar đến hàng ngàn ngân hàng nhỏ được phân bố rải rác khắp đất nước, nhiều ngân hàng trong số đó có tài sản ít hơn 100 triệu dollar Các NHTM cũng là loại hình đa dạng nhất về mặt các khoản phải trả lẫn tài sản Nguồn vốn chủ yếu của họ thường là những khoản tiền gửi không kỳ hạn (Dmand deposit hay Checking account), nhưng trong những thập niên gần đây, tài khoản tiền gửi tiết kiệm định kỳ (bao gồm chứng chỉ tiền gửi và các loại khoản nợ khác) ngày càng trở nên quan trọng hơn tiền gửi không kỳ hạn Điểm khác nhau chính giữa tài khoản tiết kiệm và tài khoản tiền gửi định kỳ đó là tài khoản tiền gửi định kỳ có thời gian đáo hạn đã được hoạch định trước Với những nguồn vốn này, NHTM mua rất nhiều loại tài sản, từ những chứng khoán Chín phủ ngắn hạn đến những khoản tín dụng kinh doanh dài hạn và cả những khoản vay có thế chấp
+ Quỹ hưu trí tư nhân không đảm bảo (Private noninsured pension funds), tương tự như các công ty bảo hiểm nhân thọ và chúng chủ yếu quan tâm
đến đầu tư dài hạn hơn là ngắn hạn Nguồn thu nhập của chúng đến từ những người lao động tạo nên số tiền dự trữ khi họ về hưu Vì chúng phải đối mặt với những vấn đề không chắc chắn trong ngắn hạn, chúng thường đầu tư chủ yếu vào trái phiếu công ty dài hạn và những cổ phiếu cao cấp
Trang 8+ Quỹ hỗ tương (Mutual funds) là loại tổ chức có mối quan hệ thường
xuyên với thị trường cổ phiếu, nhưng cũng có loại quỹ hỗ tương chuyên về tất
cả các loại trái phiếu cũng như về các món vay thế chấp Một quỹ hỗ tương có nhiệm vụ tập hợp những khoản tiền tiết kiệm của nhiều người lại qua việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư và đầu tư số tiền này vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, do đó chúng đạt được mức độ đa dạng hóa mà từng cá nhân riêng lẻ
sẽ không thể tự mình thực hiện được Các cổ đông luôn có thể mua lại hoặc bán lại các cổ phần của mình nếu họ muốn, nhưng giá cả họ nhận được từ quỹ hỗ tương này lại phụ thuộc vào giá những chứng khoán mà họ đang nắm giữ Mua
cổ phần trong một quỹ hỗ tương do đó sẽ có nhiều rủi ro hơn mua một chứng chỉ tiết kiệm hoặc một công cụ nào đó trên thị trường tiền tệ như trái phiếu Chính phủ, nhưng vì lý do đa dạng hóa, nó sẽ ít rủi ro hơn việc mua từng cổ phiếu và trái phiếu một cách riêng biệt
+ Công ty bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm cho con người chống lại những
hậu quả về tài chính do rủi ro về nhân mạng Công ty nhận được tiền dưới hình thức các khoản thanh toán định kỳ (gọi là phí bảo hiểm) Dựa vào số thống kê
về tử vong, những công ty bảo hiểm có thể dự đoán với mức độ chính xác cao
về việc họ sẽ chi trả bao nhiêu trong năm nay, năm sau, hay thậm chí 10 năm hoặc 20 năm sau nữa Họ sẽ đầu tư theo đó, mục đích là đạt được lợi nhuận cao nhất, ổn định với độ an toàn trong dài hạn Do đó, một tỷ lệ lớn trong tài sản của họ là trái phiếu công ty dài hạn và những khoản thế chấp dài hạn, mặc dù các loại thế chấp này chủ yếu là tài sản thương mại hơn là những tài sản cá nhân
+ Quỹ lương hưu của chính quyền địa phương (State and local government retirement funds) thực hiện những chức năng tương tự như những
quỹ tư nhân ngoại trừ việc chúng được tài trợ bởi chính quyền địa phương
+ Quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ (Money market mutual funds)
thay vì đầu tư tiền vào thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu thì họ mua những công cụ có tính thanh khoản cao trên thị trường tiền tệ ngắn hạn như những CDs có thể chuyển nhượng được và những tín phiếu công ty có chất lượng cao
+ Tổ chức tiết kiệm và cho vay (S&Ls : Savings and Loans associations) theo cách truyền thống thì hầu hết nguồn vốn của họ thông qua
những tài khoản tiền gửi tiết kiệm, thường được gọi là shares, và dùng chúng để cho vay mua nhà cửa Đây là mục đích cơ bản của những tổ chức này – khuyến khích các gia đình tiết kiệm và sở hữu nhà ở Ngày nay chúng thường phát hành những tài khoản tiền gửi và cho vay tiêu dùng cũng như cho vay kinh doanh với
số lượng hạn chế Những ngân hàng tiết kiệm (Savings banks) trên thực tế thì giống với những tổ chức tiết kiệm và cho vay
+ Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn (Propety and casualty Insurance company) bảo hiểm cho thân chủ của họ tránh khỏi việc mất trộm và hỏa hoạn,
chống việc mất cắp và va chạm các phương tiện giao thông, bác sĩ chống lại
Trang 9những vụ khởi kiện vì những sơ suất trong khi điều trị cho bệnh nhân, và những doanh nghiệp chống lại những vụ kiện cáo do sai sót Với số tiền bán bảo hiểm,
họ mua những trái phiếu công ty, trái phiếu địa phương, cổ phiếu có chất lượng cao, và những công cụ trên thị trường tiền tệ
+ Công ty tài chính tiêu dùng và thương mại (Commercial and consumer finance companies) chuyên về lĩnh vực cho vay mua xe hơi, cho vay
để du lịch trong mùa nghỉ phép, và cho những công ty kinh doanh vay để tài trợ vốn và máy móc thiết bị
+ Những hiệp hội tín dụng (Credit Unions) thường được bao gồm trong
nhóm những tổ chức tiết kiệm Chúng được cấu tạo như những hợp tác xã với những người có cùng mối quan tâm, như những nhân viên của một công ty nào
đó hoặc thành viên của một liên đoàn lao động, một hội ái hữu hay một nhà thờ nào đó Thành viên của những hiệp hội tín dụng này mua cổ phần và do đó họ được phép vay tiền của hiệp hội Ngày nay họ cung cấp thêm những tài khoản tiền gửi (gọi là Credit union share draft) và cũng cho vay thế chấp dài hạn
Trang 10Những cuộc bàn bạc này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người gia tăng, rồi hình thành một “khu chợ riêng”.
Tại những cuộc bàn bạc này, họ trao đổi, thương lượng, nhưng chỉ là những lời nói miệng với nhau, không có hàng hóa, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ, hàng mẫu nào trong tay cả Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các “hợp đồng” mua bán, trao đổi thực hiện ngay, và những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hay một năm sau mới thực hiện
Cuối thế kỷ 15, “khu chợ riêng” trở thành một “thị trường” Ở đó họ thống nhất với nhau những qui ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những qui ước đó được sửa đổi hoàn chỉnh thành những qui tắc có giá trị bắt buộc chung
Giao lưu kinh tế ngày càng phát triển, những phiên chợ cách nhau cả tháng không còn phù hợp, họ đã rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày
Phiên chợ riêng được diễn đầu tiên vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Tại lữ điếm Vanber có một bảng hiệu hình 3 túi da với một từ tiếng Pháp “Bourse” tức là “Mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”
“Mậu dịch trường” là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung của “Mậu dịch trường” : Mậu dịch trường hàng hóa, Mậu dịch trường ngoại tệ và Mậu dịch trường giá khoán động sản
Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even bị cát lấp, tàu bè ra vào khó khăn, “Mậu dịch trường” ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers, một hải cảng lớn của Bỉ thời đó
Mậu dịch trường Auvers phát triển rất nhanh Giữa thế kỷ 16, viên quan đại thần tài chính Anh quốc Theomes Gresham đến đây thị sát và sau đó đã thiết lập một “Mậu dịch trường” tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở
Trang 11giao dịch chứng khoán London Các “Mậu dịch trường” khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu.
2- Khái niệm TTCK
Thị trường chứng khoán (Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công
cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền
TTCK là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung Mặt khác, TTCK là một thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn Đặc tính
đó khiến cho TTCK cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thông qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư; tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế
Xuất phát từ vai trò quan trọng cũng như tính chất phức tập như vậy của TTCK, việc điều hành và giám sát thị trường là vô cùng cần thiết để đảm bảo được tính hiệu quả, công bằng, lành mạnh trong hoạt động của thị trường, bảo
vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư, dung hòa lợi ích của tất cả những người tham gia thị trường, tận dụng và duy trì được các nguồn vốn để phát triển kinh tế Mỗi thị trường có cơ chế điều hành và giám sát thị trường riêng phù hợp với các tính chất và đặc điểm của riêng nó
3- Cơ chế điều hành và giám sát TTCK
Nhìn chung các tổ chức tham gia quản lý và giám sát thị trường gồm 2 nhóm : các cơ quan quản lý của Chính phủ và các tổ chức tự quản
Các cơ quan quản lý của Chính phủ
Đây là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động của TTCK Nhìn chung các cơ quan quản lý thị trường của Chính phủ chỉ thực hiện các chức năng quản lý chung chứ không trực tiếp điều hành và giám sát thị trường Các cơ quan này có thẩm quyền ban hành các qui định điều chỉnh các hoạt động trên TTCK tạo nên cơ sở cho các tổ chức tự quản trực tiếp thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trường của mình
Ủy ban chứng khoán là cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, với các chức năng sau :
+ Thực hiện các qui định quản lý ngành chứng khoán của Bộ Tài chính, phối hợp với các tổ chức tự quản để điều hành và giám sát có hiệu quả hoạt động của TTCK
+ Kiểm soát mọi vấn đề trong hoạt động thị trường như đăng ký chứng khoán, giám sát các công ty niêm yết, phát hiện và xử lý các trường hợp gian lận
Trang 12+ Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát hoạt động của các tổ chức này, xử lý các vi phạm nếu các tổ chức tự quản không xử lý được.
+ Thanh tra đối với các cá nhân hay tổ chức để bảo vệ lợi ích chung của công chúng trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật
+ Điều hành các hoạt động giao dịch diễn ra trên Sở thông qua việc đưa
ra và đảm bảo thực hiện các qui định cho các hoạt động giao dịch trên thị trường Sở giao dịch
+ Giám sát, theo dõi các giao dịch giữa các công ty thành viên và các khách hàng của họ Khi phát hiện các vi phạm Sở giao dịch tiến hành xử lý, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp Trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng đến các qui định của ngành chứng khoán, Sở giao dịch có thể báo cáo lên
Ủy ban chứng khoán để giải quyết
+ Hoạt động điều hành và giám sát của Sở giao dịch phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với các qui định pháp luật có liên quan đến ngành chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán được thành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán và đảm bảo các lợi ích chung của TTCK Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện các chức năng điều hành và giám sát TTCK như sau :
+ Điều hành và giám sát thị trường giao dịch phi tập trung Các công ty muốn tham gia thị trường này phải đăng ký với Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và phải thực hiện các qui định do Hiệp hội đưa ra
+ Đưa ra các qui định chung cho các công ty chứng khoán thành viên trong các lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và đảm bảo thực hiện các qui định này
Thu nhận các khiếu nại của khách hàng và điều tra các công ty chứng khoán thành viên để tìm ra các vi phạm, sau đó chuyển các kết quả điều tra tới công ty chứng khoán đó để giải quyết
Đại diện cho ngành chứng khoán, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đưa ra các đề xuất và gợi ý với những cơ quan quản lý TTCK của Chính phủ về các vấn đề tổng quát trên TTCK
4- Các thành phần tham gia trên TTCK
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK cỏ thể được chia thành 3 nhóm sau :
Trang 13- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại : nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
+ Các nhà đầu tư cá nhân :
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình
tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm
+ Nhà môi giới – Công ty chứng khoán :
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt đông trong lĩnh vực chứng khoán có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán
Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền
Các tổ chức quản lý điều hành TTCK
+ Ủy ban chứng khoán
Cơ quan này có thể có những tên gọi khác nhau, tùy từng nước Nó được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với TTCK
Tại Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước cũng đã được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ Ủy ban chứng khoán
Trang 14Nhà nước là một cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về TTCK ở Việt Nam.
+ Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên Sở giao dịch chứng khoán Ngoài ra Sở giao dịch chứng khoán cũng ban hành những qui định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các qui định của luật pháp và Ủy ban chứng khoán
+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng
và cho toàn ngành chứng khoán nói chung
5- Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá
Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị trường Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan Vì vậy TTCK phải được xây dựng trên cơ
sở hệ thống công bố thông tin tốt Theo Luật định, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới đợt phát hành Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch chứng khoán, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũng hàm nghĩa rằng, một khi đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình
Nguyên tắc trung gian
Trang 15Theo nguyên tắc này, trên TTCK, các giao dịch được thực hiện thông qua
tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình
Nguyên tắc tập trung
TTCK phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên Sở giao dịch chứng khoán và trên thị trường OTC, có sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức tự quản Các chứng khoán, hàng hóa của TTCK là các sản phẩm tài chính cao cấp nên việc giao dịch chúng đòi hỏi thị trường phải có những cơ sở vật chất nhất định chứ không thể diễn ra một cách tùy tiện
II- CƠ CẤU
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
1- Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Vai trò của thị trường sơ cấp
- Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua việc phát hành chứng khoán
- Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn
Đặc điểm của thị trường sơ cấp
- Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành Là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư
- Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…
- Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định
và thường được in ngay trên chứng khoán
2- Thị trường thứ cấp
Trang 16Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
Đặc điểm thị trường thứ cấp :
- Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành chứng khoán mà chuyển vận giữa những người đầu tư chứng khoán trên thị trường Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp
- Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định
- Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp
Cũng có thể phân loại TTCK theo tính chất tập trung của thị trường (tính chất tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung tại một địa điểm vật chất) Khi đó, TTCK bao gồm Sở giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phi tập trung)
Sơ đồ cơ cấu của thị trường chứng khoán
Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (Quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán)
Thị trường chứng khoán
3- Sở giao dịch chứng khoán
Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép
Trang 17lệnh để hình thành nên phiên giao dịch Chỉ có các loại chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây.
4- Thị trường OTC (Over the Counter Market)
Thị trường OTC là thị trường phi tập trung cùng với thị trường tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán – Sở giao dịch chứng khoán) tạo nên một TTCK hoàn chỉnh Thị trường OTC là một thị trường có tổ chức (không phải là thị trường chợ đen như nhiều người lầm tưởng) dành cho những chứng khoán không niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán
Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào đó các nhà môi giới (công ty chứng khoán) kết nối các giao dịch qua mạng máy tính diện rộng giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống
III- CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TTCK
1- Chức năng của TTCK
+ Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công
ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
+ Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng.
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính
vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
+ Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chỉnh phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
Trang 182- Vai trò của TTCK
+ Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trông những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
+ Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp.
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Sự biến động không ngừng của giá chứng khoán, đặc biệt là giá của cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan và khoa học tại bất kỳ thời điểm nào
Ngoài ra đối với các công ty niêm yết, nghĩa vụ công khai thông tin trên TTCK, giúp các nhà đầu tư, các nhà quản lý thị trường có thể đánh giá sự tăng trưởng ổn định hay suy thoái bất ổn định của các công ty
+ Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển.
TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hóa cũng như việc thành lập và phát triển của công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản cho chúng và như thế thu hút các nhà đầu tư đến góp vốn vào công
ty cổ phần
Ngược lại, chính sự phát triển của mô hình công ty cổ phần đã làm phong phú và đa dạng các loại hàng hóa trên TTCK, thúc đẩy sự phát triển sôi động của TTCK
Có thể nói TTCK và công ty cổ phần là 2 định chế song hành hỗ trợ nhau cùng phát triển
+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
TTCK không những thu hút các nguồn vốn trong nội địa mà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu công ty ra thị trường vốn quốc tế để thu hút thêm ngoại tệ Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua kênh chứng khoán (FPI) là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được toàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích riêng mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ điều kiện nào của các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 19Sau đây là một số những hành vi tiêu cực khá phổ biến trên các TTCK:
Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường
Trên TTCK hoạt động đầu tư làm tăng doanh số giao dịch thị trường, tăng tính thanh khoản của chứng khoán Nhưng nếu những nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm giá cổ phiếu tăng hay giảm đột biến lũng đoạn thị trường, thì đây lại là một hành vi tiêu cực cần phải ngăn cấm
Bán khống
Là thuật ngữ dùng để chỉ các nhà đầu tư bán chứng khoán mà họ chưa có quyền sở hữu Trong thực tế việc bán khống đem lại lợi nhuận rất cao nếu họ tiên đoán đúng xu hướng của thị trường Nhưng đây là hành vi lũng đoạn thị trường nếu nó được thực hiện bởi sự cấu kết của nhiều người Mua bán khống với số lượng lớn tạo ra cung cầu giả tạo về chứng khoán gây khủng hoảng thị trường tác hại xấu đến nền kinh tế
Mua bán nội gián
Là hành vi của những kẻ lợi dụng quyền hành hay sự ưu tiên trong việc nắm giữ các thông tin nội bộ của một công ty có phát hành chứng khoán ra thị trường để cố tình mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty cổ phần có báo giá trên thị trường Sau khi thông tin này được công bó rộng rãi công khai ra công chúng sẽ có sự thay đổi lớn về giá cả cổ phiếu, đây là thời cơ tốt cho những kẻ mua bán nội gián kiếm được lợi nhuận lớn, nhưng nó đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc công bằng về công khai thông tin cho mọi nhà đầu tư trên TTCK
Theo qui định hiện hành, cấm các đối tượng biết thông tin nội bộ thực hiện các hành vi sau đây :
- Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho bên thứ ba
- Tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho bên thứ ba mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ
Các tổ chức, cá nhân sau đây được coi là người biết thông tin nội bộ :
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, Ban kiểm soát tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết
- Người tiếp cận được thông tin nội bộ do vị trí công việc trong tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết
Trang 20- Cổ đông lớn của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết.
- Cá nhân làm việc tại Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán và tại các cơ quan khác được tiếp cận với thông tin nội bộ
- Người kiểm toán hoạt động tài chính của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết
- Cá nhân làm việc trong các tổ chức có quan hệ hợp tác kinh doanh với
tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết
- Cá nhân làm việc trong các tổ chức trung gian trên TTCK
- Các tổ chức, cá nhân có liên quan khác
Làm thiệt hại lợi ích người đầu tư
- Làm trái lệnh đặt mua, bán của người đầu tư
- Không cung cấp xác nhận giao dịch theo qui định
- Tự ý mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mượn danh nghĩa khách hàng để mua, bán chứng khoán
- các hành vi khác làm thiệt hại đến lợi ích người đầu tư
Thông tin sai sự thật
Là một hành vi thiếu đạo đức nhằm mục đích làm cho giá cổ phiếu của công ty khác sụt giảm hoặc giá cổ phiếu của công ty mình được tăng cao do việc phao tin đồn thất thiệt trên thị trường
Các công ty niêm yết cũng có thể vi phạm hành vi thông tin sai sự thật nếu cung cấp thông tin cho thị trường không cập nhật, không đầy đủ hoặc thậm chí là hoàn toàn sai sự thật cũng làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư và gây rối loạn thị trường Các công ty này cũng bị xử lý thích đáng như bị đình chỉ niêm yết hoặc nghiêm trọng hơn là hủy bỏ niêm yết
Tất cả những hành vi thiếu đạo đức này đều bị nghiêm cấm trong các Luật chứng khoán các quốc gia và phải bị xử lý thích đáng
Trang 21Theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó :
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo qui định của pháp luật về chứng khoán
2- Đặc điểm
- Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần
- Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông Ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể phát hành cổ phần ưu đãi :
cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi do điều lệ công ty quy định
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận kinh doanh Đặc điểm này của công ty cổ phần đã cho phép các nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty Đặc điểm này cho thấy các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm pháp lý hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào
Trang 22công ty (khác với tính chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp tư nhân trong doanh nghiệp tư nhân).
- Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng Đặc điểm này cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công chúng
- Cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa (khác với công ty TNHH là số thành viên không được quá 50 thành viên) Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, vì vậy số lượng cổ đông của công ty cổ phần thường là rất đông
cổ phần trong nền kinh tế thị trường
+ Cổ đông của công ty góp vốn vào công ty và hưởng lãi hoặc chịu lỗ tương ứng vào tỷ lệ vốn góp vào công ty Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp Như vậy, các
cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp vào công ty Các cổ đông chia sẻ rủi ro với nhau trong trường hợp công ty làm ăn bị thua lỗ (và chỉ phải chịu trong phần vốn góp vào công ty)
+ Công ty cổ phần thường có rất nhiều cổ đông, vì thế công ty có thể tập trung nhiều trí tuệ từ các cổ đông Các cổ đông có thể tự mình tham gia quản lý công ty hoặc cử người tham gia quản lý công ty
+ Cổ phiếu, trái phiếu của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng (trừ một số trường hợp đặc biệt), vì vậy cho phép nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển hướng đầu tư Điều này thể hiện sự đa dạng trong đầu tư, phù hợp với
xu hướng phát triển năng động của kinh tế thị trường
+ Công ty cổ phần với việc phát hành các loại chứng khoán và cùng với việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của TTCK Và khi TTCK ra đời, nó sẽ tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh
Trang 23+ Công ty cổ phần gồm đông đảo các cổ đông tham gia và thường là không quen biết nhau, với mức độ tham gia góp vốn vào công ty cũng khác nhau Điều này có thể dẫn đến việc lợi dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hóa lợi ích giữa các nhóm cổ đông khác nhau Vì vậy, việc quản lý, điều hành công ty cổ phần là hết sức phức tạp.
+ Cơ cấu tổ chức quản lý ở công ty cổ phần tương đối cồng kềnh và phức tạp, vì vậy chi phí cho việc quản lý là tương đối lớn
Tuy nhiên, công ty cổ phần là một loại hình tổ chức kinh doanh phù hợp với qui mô sản xuất lớn, thích ứng được những đòi hỏi của nền sản xuất xã hội hóa cao và sự phát triển của nền kinh tế hiện đại Hiện nay, công ty cổ phần là
mô hình phổ biến trên thế giới, nhất là ở các nước có nền công nghiệp cao
II- CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
Công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
1- Đại hội đồng cổ đông
Gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Đại hội đồng cổ đông bao gồm các loại sau :
+ Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua Điều lệ công ty
+ Đại hội đồng thường kỳ được tiến hành hàng năm từ một đến hai lần Đại hội đồng thường kỳ được triệu tập vào cuối mỗi năm tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà hội đồng quản trị hoặc kiểm soát viên thấy cần thiết, để giải quyết các công việc thuộc hoạt động kinh doanh của công ty trong khuôn khổ điều lệ, trong đó có các việc chủ yếu sau :
- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinh doanh hàng năm
- Thảo luận và thông qua bảng tổng kết năm tài chính
- Bầu, bãi miễn thành viên hội đồng quản trị và kiểm soát viên
- Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty, số lợi nhuận chia cho cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinh doanh
- Xem xét, quyết định giải pháp khắc phục các biến động lớn về tài chính của công ty
- Xem xét sai phạm của Hội đồng quản trị gây thiệt hại cho công ty
+ Đại hội đồng bất thường được triệu tập để sửa đổi Điều lệ công ty hoặc thảo luận những vấn đề khẩn cấp có nguy cơ đe dọa đến sự hoạt động bình
Trang 24thường của công ty như gặp khó khăn về tài chính, cần thay đổi chiến lược kinh doanh, chấn chỉnh hoạt động của Đại hội đồng quản trị và ban kiểm soát…
Thành phần tham dự Đại hội đồng cổ đông : về nguyên tắc, mọi cổ đông của công ty cổ phần đều có quyền tham dự Đại hội đồng để thảo luận, bàn bạc
và quyết định những vấn đề về tổ chức và quản trị của công ty Song trong thực
tế phát triển loại hình công ty cổ phần sẽ có những công ty có số lượng cổ đông lớn (hàng ngàn hoặc thậm chí hàng vạn cổ đông), trong trường hợp này, việc triệu tập tất cả để tham dự là hết sức khó khăn Mặt khác, số vốn góp cổ phần của các cổ đông vào công ty thường không bằng nhau Vì vậy, ở những công ty
cổ phần có số lượng cổ đông lớn thường tiến hành đại hội đại biểu cổ đông Số lượng đại biểu tham dự Đại hội đồng thường được ấn định trước và phân bố theo số cổ phần hoặc số vốn góp vào công ty Những cổ đông có đủ số cổ phần hoặc số vốn góp qui định cho một đại biểu của đại hội thì được tham dự đại hội Những cổ đông không đủ điều kiện cho một đại biểu thì có thể tập hợp lại cho
đủ điều kiện để cử người đại diện tham dự Đại hội đại biểu cổ đông
Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước đại hội đồng cổ đông về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm luật pháp gây thiệt hại cho công ty Do đó Hội đồng quản trị cần phải gồm những thành viên có trình độ chuyên môn và quản lý giỏi, am hiểu các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp lý, pháp luật thì mới hoàn thành nhiệm vụ được giao
3- Giám đốc (Tổng giám đốc)
Do hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm giám đốc (tổng giám đốc) Trường hợp điều lệ công ty không qui định chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật, thì giám đốc (tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty
Giám đốc có nhiệm vụ và quyền hạn như sau :
- Trình chủ tịch Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông những phương hướng nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch hàng năm của công ty
- Trực tiếp và toàn quyền điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tự quyết định những biện pháp giải quyết những vụ việc phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước chủ tịch Hội đồng quản trị về các quyết định đó
Trang 25- Chấp hành đầy đủ các quyết định và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị có liên quan đến trách nhiệm của giám đốc.
- Báo cáo đều đặn hàng tháng, quý, năm kết quả kinh doanh của công ty với chủ tịch Hội đồng quản trị
- Quyết định việc tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh bộ máy điều hành của công ty, bổ nhiệm, bãi miễn, trả lương, thưởng cho các nhân viên dưới quyền (từ phó giám đốc đến người lao động) trong công ty
- Ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thuê mướn nhân công với bên ngoài
- Lập qui chế tuyển dụng, sử dụng, bảo đảm an toan lao động, bồi dưỡng tay nghề, đào tạo cán bộ cho CNVC trong công ty, trình Hội đồng quản trị chuẩn y và quyết định Sau khi đã được Hội đồng quản trị phê duyệt cho thi hành, phải tổ chức thực hiện đúng các qui chế đó
- Trình chủ tịch Hội đồng quản trị duyệt phương án sử dụng các quỹ của công ty và thực hiện đúng phương án sau khi đã được duyệt
- Tổ chức bảo vệ trật tự an ninh, bảo vệ an toàn sản xuất và tài sản công ty
- Chấp hành lệnh kiểm tra của ban kiểm soát công ty, xuất trình đầy đủ
hồ sơ tài liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho ban kiểm soát hoàn thành nhiệm vụ
4- Ban kiểm soát
Đây là bộ phận do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động của Hội đồng quản trị nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông – những người sở hữu chủ đối với công ty
Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :
- Kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các bảng tổng kết năm tài chính của công ty và triệu tập Đại hội đồng cổ đông khi xét thấy cần thiết
- Trình Đại hội đồng cổ đông báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính của công ty
- Báo cáo về những sự kiện tài chính bất thường xảy ra, về những ưu khuyết điểm trong quản lý tài chính của Hội đồng quản trị
Kiểm soát viên được hưởng thù lao do Đại hội đồng cổ đông quyết định
và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những sai phạm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gây thiệt hại cho công ty
Quyền hạn, trách nhiệm của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát được qui định cụ thể tại Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty
5- Bản điều lệ công ty cổ phần (Charter)
Tư cách pháp nhân của công ty cổ phần thể hiện trong điều lệ công ty Bản điều lệ này do các cơ quan quản lý Nhà nước qui định các nét căn bản
Điều lệ công ty là một bản cam kết của tất cả các cổ đông về thành lập và hoạt động của công ty được thông qua tại Đại hội đồng thành lập
Trang 26Điều lệ công ty cổ phần phải có các nội dung sau đây :
- Hình thức, mục tiêu, tên gọi, trụ sở, thời gian hoạt động của công ty
- Họ tên các sáng lập viên (nếu có)
- Vốn điều lệ, trong đó ghi rõ giá trị phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bằng bản quyền sở hữu công nghiệp
- Phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty TNHH, mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với công ty cổ phần
- Thể thức hoạt động và thông qua quyết định của Đại hội đồng
- Cơ cấu quản lý và kiểm soát của công ty
- Các loại quỹ, mức giới hạn các quỹ được lập tại công ty
- Thể lệ quyết toán và phân chia lợi nhuận
- Các trường hợp sáp nhập, chuyển đổi hình thức, giải thể công ty và thể thức thanh lý tài sản của công ty
Điều lệ công ty sau khi được Đại hội đồng thành lập thông qua sẽ trở thành văn bản pháp lý làm căn cứ xử lý mọi vấn đề có liên quan phát sinh trong việc tổ chức quản lý hoạt động của công ty và buộc mọi cổ đông của công ty phải tuân theo Trong quá trình hoạt động, nếu công ty muốn sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty thì phải đưa ra thảo luận tại Đại hội đồng cổ đông và phải được biểu quyết theo đa số phiếu quá bán
II- CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY CỔ PHẦN
1- Công ty cổ phần nội bộ (Private Company)
Là công ty cổ phần chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập
ra công ty, những CBCNV trong công ty và các pháp nhân là những đơn vị trực thuộc những đơn vị trong cùng tập đoàn của đơn vị sáng lập Đây là loại cổ phiếu ký danh không được chuyển nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng theo một số điều kiện nhất định trong nội bộ công ty Việc tăng vốn của công ty rất hạn chế và chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tích lũy từ trong nội
bộ công ty
2- Công ty cổ phần đại chúng (Public Company)
Là công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, ngoài những đối tượng nội bộ như công ty cổ phần nội bộ
Phần lớn những công ty cổ phần mới thành lập đã bắt đầu như những công ty cổ phần nội bộ Đến khi công ty đã phát triển, tiếng tăm đã lan rộng, hội
đủ điều kiện họ có thể phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, trở thành một công ty cổ phần đại chúng
Khi một công ty cổ phần lần đầu tiên phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công chúng, người ta gọi công ty đó “trở thành công cộng”(go public) Và đợt phát hành đó được gọi là đợt phát hành đầu tiên cho công chúng (Initial public offering – IPO)
Trang 273- Công ty cổ phần niêm yết (Listed Company)
Các công ty cổ phần đại chúng tiếp tục con đường phấn đấu của mình để
có đủ điều kiện để có thể niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán sẽ trở thành công ty niêm yết Hàng hóa chứng khoán của họ sẽ được giao dịch trên các TTCK tập trung, họ trở thành những công ty cổ phần hàng đầu của quốc gia, có
uy tín, tiếng tăm và được hưởng những điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và huy động vốn
Trang 28CHƯƠNG IV
CHỨNG KHOÁN
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm : trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh
I- TRÁI PHIẾU (BONDS)
1- Khái niệm
Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu
+ Mệnh giá (Parvalua) : là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, đại diện cho số tiền được trả tại thời điểm đáo hạn
có 2 phương thức trả lãi : 6 tháng/lần và 1 năm/lần
2- Đặc điểm trái phiếu
- Trái phiếu là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn hay còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định, thường 3 – 5 năm là trung hạn và 7 – 10 năm trở lên là dài hạn Cuối kỳ đáo hạn phải trả lại vốn gốc cho trái chủ
- Được hưởng lãi cố định và tỷ suất lãi trái phiếu không cao nhưng không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh, ít rủi ro Trong trường hợp trái phiếu là công trái thì hầu như không có yếu tố rủi ro
- Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
Trang 29- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải
có lãi
- Có phương án khả thi về việc sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu
- Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
4- Các loại trái phiếu
Nếu căn cứ vào chủ thể phát hành có thể chia trái phiếu ra làm 2 loại :
Trái phiếu Chính phủ (Government Bonds) : do ngân sách chính quyền
trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu
tư của ngân sách Nhà nước, quản lý lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của Nhà nước
Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bonds) : do các doanh nghiệp phát
hành (có đủ điều kiện của UBCK) nhằm mục đích đầug tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh
Trái phiếu của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của các nhà đầu tư, là nguồn vốn vay chủ yếu cho các công ty cổ phần ở các nước phát triển
Sau đây là một số loại trái phiếu chủ yếu :
Trái phiếu thu nhập (Income Bonds) : là trái
phiếu mà việc thanh toán lãi phụ thuộc vào mức thu lợi hàng năm của công ty, loại trái phiếu này thường được phát hành khi công ty gặp khó khăn về tài chính hay cần huy động vốn đầu tư vào các dự án Tùy theo lợi nhuận công ty thu được sẽ trả lãi cho trái chủ, tuy nhiên, tỷ lệ lãi không lớn hơn lãi suất qui định trên trái phiếu Về mặt này loại trái phiếu này giống cổ phiếu ưu đãi nhưng nó khác ở chỗ tiền lãi trả cho trái phiếu thu nhập được khấu trừ thuế (trả trước thuế), còn đối với cổ phiếu ưu đãi thì không được khấu trừ (trả sau thuế).
Trang 30Trái phiếu có thế chấp (Mortgage Bonds) : các
doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải có thế chấp bằng tài sản hay chứng khoán, cũng có thể phát hành trái phiếu dưới sự bảo lãnh của một công ty hay ngân hàng lớn có uy tín
Trái phiếu không có thế chấp (Debenture) : một
số các công ty lớn có tiếng tăm và uy tín trên thị trường quốc nội và quốc ngoại có thể phát hành trái phiếu mà không cần thế chấp Bởi vì chính uy tín của công ty ấy
Trái phiếu có thể chuộc lại (Callable Bonds) : trái
phiếu này có kèm điều khoản được công ty chuộc lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá Nhà đầu tư có thể chọn lựa để chấp nhận sự chuộc lại của công ty hay không.
Trái phiếu có lãi suất ổn định (Straight Bonds) :
là loại trái phiếu truyền thống được phát hành phổ biến
ở tất cả các TTCK trên thế giới Với đặc điểm trả lãi suất ổn định và định kỳ thường 6 tháng hay 1 năm một
Trang 31lần, nó ràng buộc doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi trong suốt thời gian lưu hành trái phiếu.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds) : là loại trái phiếu mà lãi suất của nó được điều
chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Đặc điểm này đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp khi thị trường tài chính tiền tệ không ổn định Thông thường cứ 6 tháng một lần, căn
cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng lại điều chỉnh lãi suất trái phiếu cho phù hợp.
Trái phiếu chiết khấu (Zero Coupon Bonds) : là
loại trái phiếu không trả lãi định kỳ Căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu, giá này rất thấp so với mệnh giá gọi là giá chiết khấu, nhưng khi đáo hạn trái chủ lại được hoàn lại vốn gốc bằng với mệnh giá của trái phiếu.
5- Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu
Nói chung, giá thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu, chúng ta chỉ cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu
Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu.
Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề vốn Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu
Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK Mặc dù lãi suất trái phiếu có vẻ hứa hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn
Thời gian đáo hạn.
Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp Ví dụ 1 trái phiêu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi xuất thị trường bình
ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ năm trở đi sẽ có khuynh hướng càng cao so
Trang 32với giá các năm đầu tiên Trên thực tế người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”.
Dự kiến về lạm phát.
Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi xuất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát Dẫn đến kết quả
là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù cho thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phát
Sự vận động của giá trái phiếu với các thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn biến của lạm phát
Biến động lãi suất thị trường.
Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn thay đổi Trong trường hợp này, vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá của trái phiếu
có lợi tức cố định sẽ giảm Nhìn ở khía cạnh khác, nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì việc tăng lãi suất (chính việc này làm giảm giá trái phiếu) có thể được coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải thiện
Thay đổi tỷ giá hối đoái.
Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ Ví dụ đồng dollar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với đồng bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng dollar Mỹ
2- Đặc điểm
Trang 33- Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn.
- Cổ tức của cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó không cố định Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định Nhưng ngược lại cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có khi công ty làm ăn thua lỗ
- Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý
- Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của công ty
3- Điều kiện phát hành
Theo qui định hiện hành, các công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu
ra công chúng phải hội đủ những điều kiện sau:
- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải
4- Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông thường
- Thứ hai, trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay tình trạng phá sản của công ty chỉ giới hạn trên phần vốn góp trên cổ phiếu Nếu công ty làm ăn không hiệu quả xem như họ mất phần vốn đã được bỏ ra để mua
Trang 34khả năng trả cổ tức cho cổ đông, cổ đông không có quyền đưa Ban lãnh đạo của công ty ra trước pháp luật Nhưng dẫu sao việc mất khả năng chi trả cổ tức cũng ảnh hưởng lớn đến giá trị cổ phiếu công ty trên thị trường.
- Quyền được chia tài sản thanh lý : trong trường hợp rủi ro, công ty bị giải thể, cổ đông cũng được chia phần những giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng
là người cuối cùng được hưởng giá trị tài sản còn lại khi thanh lý
- Quyền bầu cử : cổ đông thực hiện quyền bầu cử Hội đồng quản trị qua phiếu bầu tương ứng với số vốn góp
- Quyền phát biểu : trong các buổi họp Đại hội cổ đông, cổ đông được quyền phát biểu về các mặt hoạt động của công ty, giá trị của các phát biểu này cũng tương ứng với phần vốn góp
5- Các loại giá cổ phiếu
Mệnh giá (par-value) : giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh
giá của cổ phiếu Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa, thậm chí
ở Mỹ người ta còn phát hành cổ phiếu không có mệnh giá (no par-value stocks), bởi vì đối với cổ phiếu mệnh giá ít có ý nghĩa kinh tế
Thông thường khi công ty mới thành lập, mệnh giá cổ phiếu được tính như sau :
Mệnh giá cổ phiếu = Vốn điều lệ của công ty cổ phần / Tổng số CP đăng ký PH Mới phát hành
Ví dụ : Năm 2000, công ty cổ phần A thành lập với vốn điều lệ 30 tỷ
đồng, số cổ phần đăng ký phát hành là 3.000.000 Ta có :
30 tỷ đồngMệnh giá mỗi CP = - = 10.000đ/CP
3.000.000Nhưng với thời gian, công ty càng ngày càng phát triển, giá trị thực của
cổ phiếu cũng như giá bán của cổ phiếu trên thị trường thoát ly càng lúc càng xa mệnh giá cổ phiếu, và hơn thế nữa, cái mà nhà đầu tư quan tâm khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu đó là cổ tức công ty, yếu tố cấu thành nên giá trị thực của cổ phiếu Do đó, mệnh giá cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa
Thư giá (Book value) : giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh
trình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định
Cũng theo ví dụ trên, năm 2003 công ty A quyết định tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm 1.000.000 CP, mệnh giá mỗi cổ phiếu vẫn là 10.000đ, nhưng giá bán cổ phiếu trên thị trường là 25.000đ Biết rằng quỹ tích lũy dùng cho đầu tư còn lại tính đến cuối năm 2003 là 10 tỷ đồng
Trên sổ sách kế toán ngày 31/12/2003 như sau :
Vốn cổ phần :
Vốn cổ phần theo mệnh giá :
4 triệu x 10.000 = 40 tỷ đồngVốn thặng dư :
Trang 35(25.000 – 10.000) x 1 triệu = 15 tỷ đồngQuỹ tích lũy : 10 tỷ đồng
Tổng số vốn cổ phần : 65 tỷ đồng
65 tỷ đồngThư giá cổ phiếu = - = 16.250đ
4 triệu
Hiện giá (Present value) : là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện
tại Được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển công ty và lãi suất thị trường Đây là căn cứ quan trọng cho nhà đầu tư khi quyết định đầu
tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường và chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất
Tại điểm cân đối giữa cung và cầu, hiện giá của cổ phiếu là giá cả hợp lý của cổ phiếu được nhà đầu tư chấp thuận
Thị giá (Market value) : là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại một thời
điểm nhất định Tùy theo quan hệ cung cầu mà thị giá có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng giá trị thực của nó tại thời điểm mua bán Quan hệ cung cầu cổ phiếu, đến lượt nó lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội… trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó
6- Các loại cổ phiếu thường
Phần lớn cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu thường với những đặc điểm trên, nhưng đôi khi công ty cũng phát hành những loại cổ phiếu thường khác, với những đặc điểm riêng từ sự khác biệt liên quan đến quyền bầu
cử hay quyền được hưởng cổ tức
+ Cổ phiếu thường loại “A” : là loại cổ phiếu phát hành ra công chúng và được hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử Do đó loại này có giá hơi thấp hơn loại cổ phiếu thường được bỏ phiếu
+ Cổ phiếu thường loại “B” : thường được gọi là cổ phiếu sáng lập viên (founders’ shares), có quyền bầu cử, nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi khả năng sinh lợi của công ty đã đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định
+ Cổ phiếu thường có gộp lãi (accumulatinh ordinary shares) : người cầm loại cổ phiếu này sẽ không nhận cổ tức bằng tiền mặt mà sẽ được nhận cổ tức bằng một số cổ phiếu – có giá trị tương đương – mới phát hành mà không phải góp thêm vốn Ngoài ra tùy theo đặc điểm hoạt động của công ty mà còn có những loại cổ phiếu thường khác
Ngoài ra, tùy theo đặc điểm của công ty mà còn có những loại cổ phiếu thường khác
+ Cổ phiếu “thượng hạng” (Blue chip stocks) : đây là loại cổ phiếu hạng cao của các công ty lớn có lịch sử phát triển lâu đời, vững mạnh về khả năng sinh lợi và trả cổ tức Các cổ phiếu thường của các
Trang 36công ty có một lịch sử tài chính tốt, ổn định và phát triển là loại cổ phiếu có giá trị cao trên thị trường.
+ Cổ phiếu tăng trưởng (Growth stocks) : cổ phiếu này được phát hành bởi công ty đang trên đà tăng trưởng nhanh Công ty này quan tâm đến việc đầu tư cho mở rộng sản xuất, nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, nó thường giữ lại hầu hết tiền lời để dành vào việc đầu
tư Do đó trả cổ tức thường chỉ một phần nhỏ hoặc không có.
+ Cổ phiếu thu nhập (Income stocks) : đây là cổ phiếu mà cổ tức thường được trả cao hơn mức trung bình trên thị trường Loại cổ phiếu này được những người hưu trí hoặc lớn tuổi ưu chuộng vì khả năng nhận thu nhập hiện tại cao hơn trung bình Hầu hết các công ty công cộng phát hành loại này.
+ Cổ phiếu chu kỳ (Cyclical stocks) : là cổ phiếu của các công
ty mà thu nhập của nó dao động theo chu kỳ kinh tế Khi điều kiện kinh tế phát triển ổn định, công ty có thu nhập khá, tích lũy nhiều, giá
cổ phiếu cũng tăng cao trên thị trường.
Ngược lại, khi kinh tế gặp khó khăn, việc kinh doanh của công
ty cũng giảm sút và giá cổ phiếu cũng giảm Các ngành công nghiệp mang tính chu kỳ gồm ngành kỹ nghệ thép, xi măng, thiết bị máy và động cơ.
+ Cổ phiếu theo mùa (Seasonal stocks) : các công ty mà thu nhập tăng cao vào những mùa nhất định trong năm (nghỉ hè, đầu năm học, lễ giáng sinh, năm mới…) ảnh hưởng đến thu nhập của cổ phiếu, cũng tăng cao chỉ theo mùa kinh doanh.
Giữa tình trạng kinh doanh của công ty và cổ phiếu của công ty tuy có mối liên hệ với nhau, nhưng nó lại phản ảnh những tính chất khác nhau.
+ Công ty tăng trưởng và cổ phiếu tăng trưởng.
- Công ty tăng trưởng là công ty có những cơ hội đầu tư cho doanh số bán khá cao và lợi nhuận tăng trưởng khá mạnh.
- Cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu cho lợi tức cao hơn những cổ phiếu khác có cùng mức độ rủi ro.
+ Công ty thận trọng và cổ phiếu thận trọng.
- Công ty thận trọng là công ty có lợi nhuận giảm ít nhất khi trình trạng kinh tế vĩ mô thay đổi.
Trang 37- Cổ phiếu thận trọng là cổ phiếu của những công ty có hệ số beta thấp (beta là hệ số biến động của cổ phiếu trong tương quan với phần còn lại của TTCK, cổ phiếu có hệ số beta thấp hơn sẽ có khả năng tăng và giảm giá chậm hơn so với thị trường, ngược lại, cổ phiếu có hệ số beta cao sẽ có biến động giá cao hơn mức thị trường nói chung Một nhà đầu tư bảo thủ có mục đích chính là bảo toàn vốn
sẽ tập trung vào các cổ phiếu có hệ số beta thấp, trong khi những nhà đầu cơ chấp nhận rủi ro cao để có được lợi nhuận lớn sẽ tìm kiếm các
cổ phiếu có hệ số beta cao).
Lợi tức của những cổ phiếu này giảm ít hơn lợi tức thị trường khi thực trạng kinh tế vĩ mô thay đổi.
+ Công ty chu kỳ và cổ phiếu chu kỳ.
- Công ty chu kỳ là công ty mà doanh thu và lợi nhuận bị tác động bởi những thay đổi trong chu kỳ thực của nền kinh tế.
- Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của tất cả các công ty mà suất sinh lợi của nó biến động nhiều hơn thị trường.
+ Công ty đầu cơ và cổ phiếu đầu cơ.
- Công ty đầu cơ là công ty có rủi ro cao và hứa hẹn cho lợi nhuận cao.
- Cổ phiếu đầu cơ là cổ phiếu có hệ số beta cao Trên thị trường
cổ phiếu này thường được định giá cao hơn giá trị thực của nó.
7- Nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu
* Nếu nhìn vào khía cạnh vật chất của doanh nghiệp chẳng hạn như máy móc thiết bị nhà xưởng, có thể đúng phần nào khi nói giá của cổ phiếu bằng tổng giá trị ròng (Net asset = Asset – Debt) của tài sản doanh nghiệp chia cho số
cổ phần
Nhưng về mặt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Net asset chưa đủ
để đo lường giá trị của cổ phiếu Nói một cách có cơ sở hơn, yếu tố quan trọng nhất là số lợi nhuận kiếm được trên việc đầu tư tiền tệ trong một năm, và đây chính là suất chia lời (divident rate) của cổ phiếu
Và như thế, câu hỏi bao nhiêu lợi nhuận kiếm được trên cổ phiếu ? sẽ trở nên một yếu tố quan trọng hàng đầu trong mối quan hệ cung cầu Đây chính là yếu tố cơ bản phía sau việc hình thành nên giá cổ phiếu Cơ bản, giá cổ phiếu chính bằng phần chia lời trên cổ phiếu chia cho lãi suất
* Từ quan điểm giá cổ phần được xác định tại điểm cân đối giữa cung và cầu, việc thay đổi cơ cấu cân đối nảy sinh ra việc điều chỉnh giá cổ phiếu cho thích hợp với sự cân đối mới và cứ như thế tiếp diễn : cân đối – mất cân đối – điều chỉnh và cân đối…
Trang 38Có nhiều cách để phân tích nguyên nhân gây ra sự dao động của giá cổ phiếu Ở đây chúng ta chia ra làm các nhóm nhân tố :
• Những nhân tố phi kinh tế
Những nhân tố ảnh hưởng chính khác nữa là những nhân tố phi kinh tế bao gồm những thay đổi trong điều kiện chính trị như là chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu quản lý hành chính, thay đổi thời tiết hoặc những điều kiện thiên nhiên khác…
Ngoài ra các thay đổi về điều kiện văn hóa, ví dụ như sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
• Những nhân tố thị trường
Những nhân tố thị trường hay nhân tố nội tại của thị trường bao gồm sự biến động thị trường và mối quan hệ cung – cầu, được coi như là nhóm nhân tố thứ ba ảnh hưởng giá chứng khoán
Sự thăng trầm của thị trường là hiện tượng của việc quá trớn trong việc ước đoán giá cổ phiếu, như trong trường hợp ước đoán giá cổ phiếu quá cao
Nói tóm lại, sự biến động giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng bởi sự pha trộn nhiều nhân tố khác nhau, trong đó nhân tố cơ bản tập trung nhất là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và triển vọng phát triển
B- Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock)
1- Khái niệm
Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu Đó là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn, như : người giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng lại được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản
2- Đặc điểm
Trang 39- Cũng là chứng khoán vốn, không có kỳ hạn và không được hoàn vốn Người mua cổ phiếu ưu đãi được xem là cổ đông của công ty do đó phần vốn góp qua việc mua cổ phiếu là góp vĩnh viễn không được hoàn trả.
- Cổ phiếu ưu đãi giống như trái phiếu được ấn định một tỷ lệ lãi cố định tính trên mệnh giá
D = d% x FTuy nhiên, việc trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi là việc phân phối lợi nhuận trong nội bộ công ty, chính sách phân phối này linh hoạt và mềm dẻo tùy theo tình hình kinh doanh của công ty, cổ tức này có thể trả đủ hay không trả đủ Hơn nữa, phần cổ tức không trả đủ có bảo lưu hay không bảo lưu cũng tùy vào loại cổ phiếu ưu đãi
3- Các loại cổ phiếu ưu đãi
* Cổ phiếu ưu đãi tích lũy
Cũng là một loại cổ phiếu ưu đãi hưởng cổ tức theo lãi suất cố định, nhưng trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi để trả cổ tức hoặc trả không đủ lãi cổ phần thì phần còn thiếu năm nay sẽ được tích lũy sang năm sau hay vài năm sau khi công ty có đủ lợi nhuận để trả Nếu nợ cổ tức tích lũy lãi đến lúc công ty có lãi sẽ dành ra phần lãi ưu tiên trả cho cổ phiếu ưu đãi trước khi trả cho cổ đông thường
* Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy
Khác với cổ phiếu ưu đãi tích lũy ở chỗ lãi cổ phần thiếu sẽ được bỏ qua
và chỉ trả đủ cổ tức khi công ty làm ăn có lãi
* Cổ phiếu ưu đãi có chia phần
Cổ đông của loại cổ phiếu này ngoài phần cổ tức được chia cố định, khi công ty làm ăn có lãi nhiều, sẽ được hưởng thêm một phần lợi tức phụ trội theo
tỷ lệ qui định
* Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường
Loại cổ phiếu này theo qui định có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo một tỷ lệ chuyển đổi hoặc giá chuyển đổi đã ấn định trước
Người cầm loại cổ phiếu ưu đãi này sẽ thực hiện việc chuyển đổi khi giá thị trường của cổ phiếu thường tăng cao
* Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại
Một số công ty trong tình trạng khẩn cấp cần một số vốn lớn trong một thời gian ngắn nên phát hành loại cổ phiếu ưu đãi với mức lãi suất cao để thu hút nhà đầu tư Nhưng loại cổ phiếu ưu đãi này theo qui định có thể được chuộc lại bởi công ty sau một thời hạn ấn định, khi tình hình tài chính công ty đã khá hơn Khi chuộc lại công ty sẽ phải trả một khoản tiền thưởng nhất định theo một
tỷ lệ trên mệnh giá cổ phiếu cho chủ sở hữu
* Các loại cổ phiếu ưu đãi theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam :
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây :
+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Trang 40Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết
do Điều lệ công ty qui định
+ Cổ phần ưu đãi cổ tức
Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi
cổ tức
+ Cổ phần ưu đãi hoàn lại
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất
cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại
cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại
III- CÔNG CỤ PHÁI SINH
1- Hợp đồng tương lai (Future contracts – Futures)
Hợp đồng tương lai là một cam kết bằng văn bản về việc chuyển giao một tài sản cụ thể hay chứng khoán vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận ở thời điểm hiện tại
Có các loại : hợp đồng dựa trên các chứng khoán sinh lãi (như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc và các khoản tiền gửi có kỳ hạn), hợp đồng dựa trên các chỉ số thị trường (như Standard & Poor’s 500 và chỉ số Nikkei của Nhật)
Việc mua bán các hợp đồng này diễn ra tại nhiều thị trường hàng hóa khác nhau bên cạnh các nông sản truyền thống Mặc dù các Hợp đồng tương lai của nông dân đã tồn tại từ giữa thế kỷ XIX cón các Hợp đồng tương lai của tài sản tài chính chỉ mới xuất hiện 30 năm trước đây nhưng khối lượng giao dịch các loại hợp đồng này vượt xa so với loại hợp đồng dựa trên hàng nông sản Các hợp đồng tương lai tài sản tài chính hiển nhiên trở nên phổ biến chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn chúng cũng có một số đặc tính thông thường như các loại Hợp đồng tương lai khác
Đối với hợp đồng tài chính tương lai thì các tài sản tài chính gốc có thể là một chứng khoán cụ thể hay giá trị qui ra tiền của một nhóm chứng khoán
Đối với hợp đồng dựa trên chỉ số giá chứng khoán thì yêu cầu phải giao một khoản giá trị bằng tiền mặt của một chỉ số cụ thể Ví dụ khá phổ biến là hợp đồng S&P500 sẽ bắt buộc giao một khoản tiền gấp 500 lần giá trị chỉ số S&P