1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện thị trường này

40 466 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 693 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện thị trường này. TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn , thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

Trang 1

TRƯỜNG Đ ẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Lớp: Cao học đêm 9

Tp Hồ Chí Minh, tháng 01-2010

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN

1 Nguyễn Văn Long Sơn

2 Hồ Vĩnh Sơn

3 Vũ Minh Tân

4 Lâm Quốc Thi

5 Nguyễn Quốc Toản

Trang 3

- TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loạichứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chínhkhác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh, hợp đồng tương lai, quyềnchọn, quyền mua cổ phiếu…

1.2 Phân loại TTCK

1.2.1 Căn cứ vào qúa trình luân chuyển chứng khoán

a Thị trường sơ cấp

Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành Trên thị trường này vốn

từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư muacác chứng khoán mới phát hành

Vai trò: Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền

nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển sang dạng vốn dài hạn

Trang 4

b Thị trường thứ cấp

Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu chứngkhoán đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành

Đặc điểm:

Trên thị trường thứ cấp các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc vềcác nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chưng khoán chứ không thuộc về các nhàphát hành

Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do,giá chứngkhoán trên thị trường thứ cấp sẽ do cung và cầu quyết định

Thị trường thứ cấp hoạt động liên tục, nhà đầu tư có thể mua và bán các CK nhiềulần trên thị trường này

1.2.2 Căn cứ vào phương diện pháp lý của hình thức tổ chức thị trường

Thị trường chứng khoán chính thức (The stock exchange), hay còn

gọi là thị trường chứng khoán tập trung

Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch tập trung tại 1 điểm, các lệnh đượcchuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nênphiên giao dịch Chỉ có CK đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây

Thị trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market –

OTC), hay còn gọi là TTCK phi tập trung

Đây là 1 thị trường có tổ chức dành cho những CK không niêm yết trên trung tâmgiao dịch chứng khoán

Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào đó các nhà môigiới ( công ty chứng khoán) kết nối các giao dịch qua mạng máy tính diện rộnggiữa các công ty CK và trung tâm quản lý hệ thống

1.2.3 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên TTCK

Thị trường cổ phiếu : Là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ

phiếu bao gồm CP thường, CP ưu đãi

Trang 5

Thị trường trái phiếu: Là thị trường giao dịch và mua bán các loại trái

phiếu đã được phát hành bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và tráiphiếu chính phủ

Thị trường các công cụ phái sinh : Là thị trường phát hành và mua đi

bán lại các chứng từ tài chính khác như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợpđồng quyền chọn…

1.3 Chức năng của TTCK

1.3.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗicủa họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộngsản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phươngcũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạtầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

1.3.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hộilựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tínhchất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoáphù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

1.3.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thànhtiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản làmột trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây làyếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng

động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị

trường càng cao.

1.3.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cáchtổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanhnghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh

Trang 6

tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng côngnghệ mới, cải tiến sản phẩm.

1.3.5 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén vàchính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh

tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cựccủa nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là mộtcông cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thôngqua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu

bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể

sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu

tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

1.4 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK

Thị trường chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trunggian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai

1.4.1 Nguyên tắc trung gian

Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đềuđuợc thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhàmôi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài

ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tưvấn cho khách hàng trong việc đầu tư

Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau

để mua bán chứng khoán Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặtlệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh

1.4.2 Nguyên tắc đấu giá

Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và cáclệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vàoviệc xác định giá này Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự

Trang 7

Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếpđấu giá.

Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệthống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xác địnhmức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất

1.4.3 Nguyên tắc công khai

Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai

Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thịtrường Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳhàng năm của công ty, các sự kiện bất thường nhà đầu tư tham gia vào thị trườngchứng khoán

Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thànhmột cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch Do đó, ở hầu hết cácnước trên thế giới hiện nay, mỗi nuớc chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duynhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị truờng thôngqua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư)

Một số nước rộng lớn còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thìđều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt

1.5 Các chủ thể tham gia vào TTCK

b Công ty phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty

c Các tổ chức tài chính như (các qũy đầu tư chứng khoán, công ty quản lýquỹ): phát hành công cụ tài chính như: trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…

Trang 8

1.5.2 Nhà đầu tư

Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu tư có thể

được chia thành 2 loại:

Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia

mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời

Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán

chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường

Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảohiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công tychứng khoán

1.5.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK

a Các công ty chứng khoán

Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận mộthoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới,tự doanh

và tư vấn đầu tư chứng khoán

b Công ty quản lý quỹ

Thực hiện quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.Công ty quản lý quỹ thay mặt quỹ đầu

tư để phát hành chứng chỉ quỹ, qua đó hình thành nên các quỹ đầu tư hoạt độngtrên thị trường chứng khoán với chức năng kinh doanh chứng khoán và quản lýdoanh mục đầu tư

c Các tổ chức có liên quan đến TTCK

Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện

chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam nhằm bảo vệ lợi ích củanhà đầu tư và đảm bảo TTCK hoạt động lành mạnh,có hiệu quả và phát triên bềnvững

Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường

giao dịch tập trung và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giaodịch chứng khoán trên SGDCK phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK

Trang 9

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: là tổ chức của các công ty

chứng khoán và các nhà kinh doanh chứng khoán, được thành lập với mục đíchbảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư

Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán :là tổ chức nhận lưu

giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giaodịch chứng khoán

Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: cung cấp hệ thống máy tính

với các chương trình để thông qua đó có thể thực hiện được các lệnh giao dịch mộtcách chính xác nhanh chóng

Các tổ chức tài trợ chứng khoán : được thành lập với mục đích mở rộng

và tăng trưởng của thị trường chứng khoán

Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ

đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi của các chủ thể phát hànhchứng khoán

Trang 10

CHƯƠNG 2

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT

NAM

2.1 Sự hình thành TTCK Việt Nam

Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nướccông nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sáchhuy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồnvốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứng khoántất yếu sẽ ra đời vì nó giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn trung vàdài hạn cho hoạt động kinh tế

Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ chiến lược có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước,trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện kinh tế –chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở thamkhảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị trường chứng khoán trên thếgiới, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời

Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định

số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thị trườngchứng khoán Việt Nam ra đời

Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã do UỷBan Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lậptheo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạtđộng thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000

Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đời vàongày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch

Trang 11

chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DNnhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng).

2.2 Các giai đoạn phảt triển của TTCK

2.2.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán

Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vàovận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 vàthực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thời điểm lúc bấy giờ,chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷđồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch

Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vàonăm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưngchỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đãmất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Trong 4 tháng “hoảng loạn”này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời nguyền khôngbao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm muabán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận thì trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhấtchỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm

Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng,không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết

Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chínhthức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắmgiữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngânhàng)

Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quantâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo

ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tếcũng như tới cuộc sống của mỗi người dân

Trang 12

Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau :

Năm Năm

2000

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

a Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam

Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”,tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạtđộng giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâmGiao dịch Hà Nội và thị trường OTC

Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứngkhoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉsau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "húthồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻnày đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được vớikhối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm

Trang 13

Năm 2006, TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàngiao dịch TP Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch HàNội (Hastc) tăng 152,4%

Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầunăm

Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị cổphiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường

Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổ phiếuđược phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính Trên thị trường phi tập trung,tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên Hastc

Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty,

số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 nămtrước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểmcuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006

Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước tamang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua,bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bongbóng” là có thật

Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng

12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mớitham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhàđầu tư nước ngoài

Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm VớiHASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ sốVN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170% Đây

là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng.Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sựgóp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm

Trang 14

yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 tráiphiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng Xétriêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức ViệtNam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tươngđương với 13,8 tỷ USD.

(Nguồn: TTGDCK Tp HCM và TTGDCK Hà Nội)

b Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ

Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trườngphát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tínhcông khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.VNIndex đạt đỉnh1.170,67 điểm HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm

Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giaodịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao độngmạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Indexdừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndex đạt được mứctăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuốinăm 2006

Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giaodịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương vớitổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng

TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối lượnggiao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trịgiao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng và 15,8lần về giá trị giao dịch so với năm 2006 Quy mô giao dịch tăng trưởng mạnh khimức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khi năm 2006 chỉđạt 19 tỷ đồng/phiên

Trang 15

c Các giai đoạn phát triển của thị trường

Nhìn nhận khách quan từ góc độ thị trường, bên cạnh những thành công, TTCKqua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăng trầm nhấtđịnh khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường: giai đoạn thịtrường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và điều chỉnhmạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi đi vào thoáitrào trong 4 tháng cuối năm

Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007

Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàn giaodịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7 nămhoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạt động

Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớn nhất khiđạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch

Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị trườngtrong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trị vốn hóa492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷ trọng4/5 Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thị trường khôngphải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá cổ phiếu tăngmạnh

Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạt các

cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… tất cảđều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu năm, trong

đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB (113,57%), REE(122,66%), ACB (197%),… Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá đỉnh kể từ khi lênsàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000 đ/CP), DHG(394.000đ/CP), REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP), SAM (250.000đ/CP),KDC (246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP), ACB (292.000đ/CP)…

Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này phải kểđến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giao dịch trung

Trang 16

bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tại sàn HCM, bình quân mỗiphiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạt con số 300 tỷ đồng.

Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007

Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước cũngnhư Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm soátthị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá nóngcủa thị trường Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt.Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trong một khoảng thời gian rấtdài (từ cuối Tháng 3 đến đầu Tháng 9)

Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE và HASTC, tất

cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng VNIndex chỉ trong vòng 1tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), giảm tới 22,6% sovới mức đỉnh vào tháng 3 Hastc – Index trở về mốc 321,44 điểm (24/04/2007),giảm 30% so với mức đỉnh Thị trường đã mất điểm quá nhanh trong 1 thời gianngắn khiến giá giao dịch của các cổ phiếu đã trở về gần mức giá thiết lập vào đầunăm

Trong giai đoạn này, thị trường cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạn cuốiTháng 5/2007 khi VNIndex quay trở về mốc 1.107,52 điểm (23/05/2007) Nhưng

do tác động tâm lý quá mạnh của các chính sách kiềm chế thị trường trước đó nhưChỉ thị 03, Luật thuế thu nhập cá nhân,…., thị trường nhanh chóng trở lại trạngthái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh khiến giai đoạn đầu Tháng 8, thịtrường xác lập mức đáy 883,9 điểm của VNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm củaHastc - Index (23/08/2007)

Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu Tháng 8), sàn HCM cónhững phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100CP)

Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của khối nàytrên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh Giá trị giao dịch bình quân của khối

Trang 17

NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so vớigiai đoạn đầu năm.

Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm

Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầutháng 9 đến cuối Tháng 10/2007

Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các mã cổphiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất trong 6 tháng giữanăm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ phiếu trở vềmức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3 Trong giai đoạn này, VNIndex đã có nhữngphiên giao dịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59 điểmngày 01/10/2007)

Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhóm các

cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ phiếu Sông Đà:S99, SDA, S91… tại HASTC Lượng giao dịch bình quân phiên tại HOSE luôn ởtrên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP vào ngày01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE với trungbình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng

Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảm vào 2tháng cuối năm Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng có các đợt phụchồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố Tuy nhiên sự phục hồi nàykhông duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăngđiểm Chính điều này đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn, Trong khi nguồncầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng Tương quan cungcầu mất cân bằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối lượnggiao dịch và giá trị giao dịch VNIndex giảm xuống dưỡi ngưỡng điểm 1.000 vàchỉ xoay quanh mốc 900 điểm, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế

Trang 18

Giai đoạn 2008-2009 : Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh và có sự tăng nhẹ vào

cuốinăm 2009

Nhìn lại thị trường sau 01 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường: Indexgiảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuống dướimệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sự can thiệp của các

cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.Tính từ đầu năm đến hếtngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạn chính

Trong năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việc Chínhphủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn, kinh doanhhiệu quả và việc bán bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kể hàng loạtngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu đểtăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng thị trường CK có nguy cơ thừa "hàng"

Giai đoạn 1: Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác động từ tác động của kinh tế vĩ mô

Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị và trởthành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầunăm 2008

Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đ ầu tư trong giai đoạn này chủ yếu xuấtphát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chính sách thắtchặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp từ phíangân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK

Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắtđầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:

 UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;

 SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;

 NHTM được vận động ngừng giải chấp;

 Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ

Trang 19

Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, vàthị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác động tớitâm lý các nhà đầu tư Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71phiên VNIndex giảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm liêntiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008 Sau 103 phiên giao dịch,VNIndexgiảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77% Bình quân trong mỗi phiên, toàn thịtrường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương khoảng 482 tỷđồng.

Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất là nhóm cổphiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệpBĐS)

Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can thiệpvào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008 Tổng cộng trongnăm 2008, UBCKNN đ ã có 04 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sànchứng khoán Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị tr ường, ngăn đà suy giảmmạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa ra nhóm 19giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên thịtrường,kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết mua vào cổ phiếuquỹ

Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đã đưađến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô Chỉ số tiêu dùng băt đầu gia tăng vớimức trung bình 2,07%/tháng trong 02 cuối năm 2007 Tiếp nối xu thế này, trongquý I/ 2008, chỉ số CPI tiếp tục gia tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng và đạtđỉnh vào tháng 05/200822 với mức tăng 3,91%

Trong chu kỳ tăng giá nửa đầu năm 2008, tại đa số thời điểm, lương thực được coi

là yếu tố tác động chủ yếu đến chỉ số giá Tính đến tháng 06, giá lương thực đãtăng 57,22% so v ới tháng 12/2007

Chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ lệ lạm phát tăng cao trong nước và sự biến độngmạnh của giá cả hàng hóa trên thế giới, thị tr ường hàng hóa và thị trường tiền tệViệt Nam tiếp tục có những biến động mạnh

Trang 20

Trên thị trường hàng hóa, xăng dầu - loại hàng hóa cơ bản thuộc sự kiểm soát củaChính phủ - đã được điều chỉnh mạnh Trên thị trường tiền tệ, lãi suất từ NHNN vàNHTM liên tiếp xác định các mặt bằng mới Chịu tác động sức ép từ lạm phát, l ãisuất từ các NHTM tăng mạnh trong cuối quý II, dao động từ 16 - 18% đối với huyđộng tiền gửi và 20-21% đối với các khoản vay Đặc biệt các sản phẩm huy độngvốn với kỳ hạn ngắn, lãi suất cao là tiêu điểm của hệ thống NH trong giai đoạnnày Sự căng thẳng về thanh khoản và sự xáo trộnvề dòng chảy của tiền gửi huyđộng là nỗi lo của các NHTM trong giai đoạn này Thâm hụt thương mại cao nhấtvào trong năm tháng đầu năm với mức trung bình là khoảng 2,6 tỷ USD/tháng.Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng 3/2008 vớimục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm h ụt thương mại Các chính sách chủ yếuđược thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi suất cơ bản và thắtchặt đầu tư công để hạn chế nguồn cung tiền trên thị trường.

Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn

Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue -chip như STB, FPT, DPM…và đặcbiệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác n ước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã cóđược những phi ên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này VNIndex và Hastc-Indexliên ti ếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có đư ợcnhững chuỗi tăng điểm kéo dài Đây cũng là giai đoạn thị trư ờng hoạt động sôiđộng nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượng giao dịch v à giá trị giao dịchthường xuyên ở mức cao VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương 45,52%.Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương 599,18 tỷđồng/phiên

Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầu khí(tăng 80,33%), nguyên vật liệu v à công nghệ (tăng 89,78%) Các đại diện tiêubiểu cho nhóm cổ phiếu n ày bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…

Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiếtlập được trong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết cả giai đoạn này, VNIndex

Ngày đăng: 05/10/2014, 17:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w