PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Kết cấu của báo cáo nghiên cứu Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 4: Kiến nghị dựa trên kết quả thực nghiệm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN TRẦN THỊNH
PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN TRẦN THỊNH
PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
-0O0 -
Để thực hiện luận văn “Phân tích yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng dẫn, đồng nghiệp, bạn bè…
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 7 năm 2013
Người thực hiện luận văn
NGUYỄN TRẦN THỊNH
Trang 4Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn học viên cao học Khóa
20, lớp đêm 11 phần đại cương và lớp Tài chính Ngân hàng đêm 6 đã cùng tôi chia
sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu, song không tránh khỏi có những sai sót Rất mong nhận được những thông tin góp ý của Quý Thầy, Cô và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1 Khái niệm về NHTM 5
1.1.1 Bản chất của NHTM 5
1.1.2 Vai trò, chức năng của NHTM 5
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 6
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán 7
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền 8
1.2 Khái niệm về lợi nhuận 9
1.2.1 Khái niệm chung 9
1.2.2 Khái niệm về lợi nhuận của NHTM 10
1.3 Điều kiện niêm yết của các NHTM trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 10
1.4 Những yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại 11
1.4.1 Yếu tố nội tại của ngân hàng 11
1.4.1.1 Rủi ro tín dụng 11
1.4.1.2 Tính thanh khoản 12
1.4.1.3 Hiệu quả quản lý 13
1.4.1.4 Quy mô ngân hàng 13
1.4.1.5 Tỷ lệ vốn 14
1.4.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô 15
1.4.2.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 15
1.4.2.2 Tốc độ lạm phát 16
1.4.3 Các yếu tố khác 17
1.4.3.1 Hình thức sở hữu ngân hàng 17
1.4.3.2 Tính tập trung của thị trường trong ngành ngân hàng 18
1.5 Mô hình nghiên cứu đề nghị 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
Trang 6CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu và nguồn dữ liệu 21
2.2 Lượng hóa các biến 22
2.2.1 Biến phụ thuộc 22
2.2.2 Biến độc lập 23
2.2.2.1 Nhóm biến về yếu tố nội tại của ngân hàng 23
2.2.2.2 Nhóm biến về yếu tố kinh tế vĩ mô 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 29
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Phân tích dữ liệu 30
3.2 Kết quả thực nghiệm 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 33
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ DỰA TRÊN KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 34
4.1 Về tính thanh khoản 34
4.2 Về quy mô ngân hàng 36
4.3 Về rủi ro tín dụng 36
4.4 Về tỷ lệ vốn 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 39
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC 1: SỐ LIỆU THU THẬP CỦA CÁC NHTM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 – 2011
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH LIKELIHOOD TEST TRONG PHẦN MỀM EVIEWS
PHỤ LỤC 3: CÁC KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TRONG PHẦN MỀM EVIEWS PHỤ LỤC 4: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
hữu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỀ TÀI
Trang
Bảng 2.1: Tình hình lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết cuối năm 2011 13
Bảng 3.1: Tóm tắt thống kê mô tả của các biến lựa chọn 22
Bảng 3.2: Định nghĩa, kí hiệu và kỳ vọng tác động của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc 29
Bảng 4.1: Ma trận tương quan của các biến độc lập trong mô hình 30
Bảng 4.2: Kiểm định Likelihood Test 30
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy 33
Trang 9TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xác định các yếu tố tác động đối với lợi nhuận của nhóm ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các yếu tố này được phân ra làm 03 nhóm chính, đó là: yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố ngành và yếu tố vĩ mô Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tập trung chủ yếu
đó là xem xét tác động của nhóm yếu tố nội tại ngân hàng và nhóm yếu tố vĩ mô đối với lợi nhuận Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để chạy dữ liệu bảng gồm 09 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn
từ 2006 – 2011
Kết quả cho thấy: tính thanh khoản và rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực lên lợi nhuận, trong khi đó, quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn có mối quan hệ đồng biến với lợi nhuận Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng GDP cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả quản lý và tốc độ tăng trưởng lạm phát không thật sự ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Việt Nam
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 5,03%, thấp nhất trong một thập kỷ qua Đây là hệ quả của việc ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát,
cụ thể về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước thể hiện tính kiên định trong kiểm soát lạm phát ngay từ đầu năm 2011 qua Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 với tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% - 16%; tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa 22% và tối đa 16% vào 31/12/2011 và tiếp tục kiên định chính sách đó cho đến nửa đầu năm
2012 trước khi giảm lãi suất điều hành lần thứ nhất vào ngày 13/03/2012 Trong bối cảnh khó khăn như vậy, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng rất nhiều, cụ thể hàng loạt ngân hàng đã bị suy giảm lợi nhuận, cũng như không đạt được lợi nhuận mục tiêu được đề ra từ đầu năm Tuy nhiên, yếu tố về vĩ mô cũng chỉ là một trong những yếu tố có thể tác động đến lợi nhuận ngân hàng, bên cạnh
đó, nhóm yếu tố nội tại ngân hàng được xem là những yếu tố quan trọng góp phần vào việc cải thiện lợi nhuận và tình hình hoạt động của ngân hàng
Nói khác hơn, lợi nhuận luôn là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp, trong lĩnh vực ngân hàng, điều này cũng không là ngoại lệ Đứng trên góc độ vi mô và vĩ
mô, lợi nhuận luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Ở cấp độ vi mô, lợi nhuận chính là điều kiện thiết yếu và là nguồn vốn rẻ nhất của một tổ chức tín dụng Lợi nhuận ngân hàng không chỉ là kết quả của hoạt động kinh doanh mà còn là tính thiết yếu cho hoạt động thành công của ngân hàng trong giai đoạn cạnh tranh quyết liệt trên thị trường tín dụng Vì vậy, mục tiêu cơ bản của các nhà quản trị ngân hàng là phải đạt được lợi nhuận như là tính tất yếu của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Ở cấp độ vĩ mô, một hệ thống ngân hàng tốt và làm ăn có hiệu quả có khả năng chống chọi tốt với những cú sốc tiêu cực và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia
Trang 11Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng nhằm đưa ra các giải pháp và kiến nghị giúp cho các ngân hàng niêm yết nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung có thể nâng cao lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết và thực tiễn hiện nay
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện xây dựng mô hình đo lường sự tác động của 02 nhóm yếu tố: các yếu tố đặc thù của ngân hàng (yếu tố nội tại) và yếu tố thuộc về kinh tế
vĩ mô (yếu tố bên ngoài) đến lợi nhuận của ngân hàng, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xác định các nhân tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng dựa trên các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và thế giới
- Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của nhóm ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Ngoài ra, nghiên cứu cũng quan tâm đến việc đưa ra một quan điểm nhằm
giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có thể tìm ra giải pháp, cũng như đề ra chiến
lược kinh doanh hiệu quả nhất tùy vào khả năng nội tại và diễn biến của nền kinh tế
Để đạt được các mục tiêu này, nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau đây:
1 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng?
2 Thang đo nào để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến lợi nhuận ngân hàng?
Phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua 02 giai đoạn chính: (1) nghiên cứu sơ
bộ được thực hiện thông qua việc thu thập các nghiên cứu trước đây liên quan đến
đề tài nghiên cứu, từ đó xác định cơ sở lý luận, các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng, sau đó, tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu dựa vào các yếu tố đã xác định được; (2) thu thập số liệu thông qua các báo cáo tài chính được công bố
Trang 12của nhóm ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tiếp theo, sử dụng phần mềm thống kê để chạy mô hình nhằm đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến lợi nhuận ngân hàng
Đối tượng nghiên cứu chính là các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng,
cụ thể ở đây là nhóm ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Do hạn chế về việc thu thập số liệu đối với toàn hệ thống ngân hàng và bên cạnh đó, theo số liệu thu thập đến cuối năm 2011, nhóm ngân hàng niêm yết đã chiếm phần lớn thị phần trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, cụ thể: 44% đối với thị phần dư nợ tín dụng và 74,8% đối với thị phần huy động, vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ là nhóm ngân hàng hiện đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mặt khác, từ tháng 8 năm 2012, ngân hàng ngân hàng Nhà
Hà Nội (Habubank) đã chính thức sáp nhập vào ngân hàng ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), do đó, để đảm bảo tính thống nhất về mặt thời gian của các mẫu khảo sát, luận văn chỉ thu thập số liệu từ báo cáo tài chính (được công bố chính thức) của
09 ngân hàng niêm yết, bao gồm: ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), ngân hàng Công thương Việt Nam (CTG), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (STB), ngân hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (EIB), ngân hàng Quân đội (MBB), ngân hàng Nam Việt (NVB), ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB), trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động như thời gian vừa qua, lợi nhuận của ngân hàng đã suy giảm rất nhiều, một phần do tác động từ sự suy thoái chung của nền kinh tế, nhưng phần còn lại vẫn là do sự điều hành của chính các ngân hàng Có quá nhiều yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng
Vì vậy, nghiên cứu sẽ là một sự xác định rõ ràng và đáng tin cậy nhằm chỉ ra đâu là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng, để từ đó, các nhà
Trang 13điều hành chính sách, các chuyên gia kinh tế và trên hết là các nhà quản trị tại các ngân hàng có thể hoạch định những chiến lược kinh doanh, cũng như các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng
Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết
- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
- Chương 4: Kiến nghị dựa trên kết quả thực nghiệm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm về NHTM
1.1.1 Bản chất của NHTM
Khái niệm chung về ngân hàng đó là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh
về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan Tuy nhiên, theo luật của các tổ chức tín dụng tại Anh thì NHTM là tổ chức tài chính trực tiếp giao dịch với công chúng để huy động các khoản tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho công chúng Tại Mỹ, cụ thể là theo FED (Federal Reserve System – Cục dự trữ liên bang) thì NHTM là một tổ chức tài chính dưới dạng một công ty cổ phần, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, sẵn sàng cho việc cho vay
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua thì ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
1.1.2 Vai trò, chức năng của NHTM
- Về vai trò: các NHTM là lực lượng chủ yếu trong việc thực thi các quan hệ tín dụng, biến vai trò khách quan của tín dụng thành hiện thực trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn để phát triển kinh tế và góp phần quan trọng vào việc hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội Các NHTM có vai trò trung gian, chuyển các khoản tiết kiệm tiền nhàn rỗi tạm thời thành tín dụng đầu tư; vai trò thanh toán; vai trò bảo lãnh; vai trò đại lý; vai trò thực hiện chính sách tiền tệ
Trang 15- Về chức năng: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu, thường xuyên là huy động tiền gửi của khách hàng để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Quá trình hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Ngày nay, NHTM đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng và trở thành một loại hình ngân hàng chiếm vị trí chủ yếu trong hệ thống các ngân hàng trung gian Chức năng cụ thể của NHTM như sau:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa hiện tượng vốn tiền tệ nhàn rỗi từ chủ thể kinh
tế này, trong khi chủ thể kinh tế khác có nhu cầu lại thiếu vốn, cần được bổ sung Giải quyết vấn đề này, NHTM đóng vai trò là trung gian tín dụng, trở thành “cầu nối” để người có vốn và người cần vốn gặp nhau
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn
Như vậy, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay Với chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ Cụ thể:
Đối với bản thân NHTM, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình do ngân hàng trả lãi tiền gửi cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn và cung cấp các phương tiện thanh toán
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm
Trang 16kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp
Đối với nền kinh tế, chức năng này của NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế vì nó đã đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất tạo thêm việc làm cho người lao động Với chức năng này, NHTM đã tối thiểu hóa chi phí thông tin và chi phí giao dịch trong nền kinh tế, kích thích quá trình luôn chuyển vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản thanh toán chi trả cho khách hàng Thay cho việc thanh toán trực tiếp, các doanh nghiệp,
cá nhân… Có thể nhờ NHTM thực hiện những công việc này dựa trên những khoản tiền mà họ đã gửi ở ngân hàng, thông qua việc mang tiền của người phải trả chuyển cho người được trả bằng nhiều hình thức khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến
và thủ tục ngày càng đơn giản Ở đây, NHTM đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ
NHTM thực hiện chức năng thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi Đó chính là tiền để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán
Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán… tùy theo nhu cầu khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ
Trang 17tiền trong túi, không phải mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người thanh toán dù ở gần hay xa, họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán này Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí về thời gian, tiền bạc, lại đảm bảo được thanh toán an toàn hơn so với thanh toán trực tiếp Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chuyển vốn, đồng thời việc thanh toán qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt lưu thông, góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền…
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và thanh toán mà các NHTM có khả năng “tạo tiền” Đó là khả năng mở rộng tiền gửi nhiều lần Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào một ngân hàng, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một
hệ thống NHTM, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi (còn được gọi là số nhân tiền) Hệ số mở rộng tiền gửi của NHTM chịu sự tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng cho quá trình giao dịch trong nền kinh tế
Thực hiện tốt các chức năng thanh toán đó, một mặt NHTM đã có vai trò rất lớn trong việc giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, thực hiện tốt kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế
Trang 18theo một cơ cấu ngành và khu vực thích hợp Mặt khác, với vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế, NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW Thông qua hoạt động của NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá… của nền kinh tế được phản hồi về cho NHTW, giúp cho NHTW có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể Ngoài ra, NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các nước, góp phần đắc lực cho sự phát triển kinh tế của quốc gia
1.2 Khái niệm về lợi nhuận
1.2.1 Khái niệm chung
Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán
Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng tức là nhỏ hơn giá bán Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0 Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán
có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên Tức là doanh thu có thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất
Trang 191.2.2 Khái niệm về lợi nhuận của NHTM
NHTM có 02 nghiệp vụ chủ yếu: huy động và cho vay Trong nghiệp vụ huy động, ngân hàng trả lợi tức cho người nhận tiền, còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng phải thu lợi tức của người đi vay Về nguyên tắc, lợi tức cho vay phải cao hơn lợi tức huy động
Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức huy động sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh
tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng
1.3 Điều kiện niêm yết của các NHTM trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam
Các NHTM cũng là doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, chính vì vậy
để được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, cụ thể là trên sàn Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn Chứng khoán Hà Nội, các NHTM cần đáp ứng đầy
đủ các điều kiện được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành Gần đây nhất chính là Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật Sửa đổi,
bổ sung một số điều Luật Chứng khoán mà Chính phủ vừa ban hành
Ngoài ra, Nghị định 58 cũng quy định thêm các điều kiện để doanh nghiệp được lên sàn Chứng khoán TPHCM, đó là: phải có 2 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5%; hoạt động kinh doanh của 2 năm liền trước phải có lãi; không có nợ quá hạn trên 1 năm; không lỗ lũy kế đến năm đăng ký niêm yết
Đồng thời, tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất
300 cổ đông (không phải cổ đông lớn) nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Đối với sàn chứng khoán Hà Nội, công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 30 tỷ
Trang 20đồng trở lên mới được phép niêm yết Điều kiện để được niêm yết chỉ cần 1 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết và tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ
Các doanh nghiệp đã niêm yết trước ngày 15/9/2011 không đáp ứng được điều kiện niêm yết theo quy định của Nghị định 58 vẫn được tiếp tục niêm yết và không phải chuyển sàn theo điều kiện niêm yết mới Nghị định 58 cũng yêu cầu các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết trên 2 sở, công ty đại chúng chào bán chứng khoán ra công chúng chưa niêm yết phải đăng ký giao dịch chứng khoán trên Upcom trong thời hạn 1 năm kể từ ngày chào bán
Đến quý 2/2009 có tất cả 5 Ngân hàng thương mại niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam Đến cuối năm 2011 đã có 9 ngân hàng đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), ngân hàng Công thương Việt Nam (CTG), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (STB), ngân hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (EIB), ngân hàng Quân đội (MBB), ngân hàng Nam Việt (NVB), ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB) Tuy nhiên, đến ngày 28/8/2012 thì ngân hàng Nhà Hà Nội đã chính thức sáp nhập vào ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội, đồng thời cổ phiếu của ngân hàng này cũng hủy niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam
1.4 Những yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại
1.4.1 Yếu tố nội tại của ngân hàng
1.4.1.1 Rủi ro tín dụng
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng là một biến số quan trọng trong nghiên cứu lợi nhuận ngân hàng Thực tế, các tổ chức phi tài chính chịu rủi ro tín dụng thấp hơn các tổ chức tài chính Cooper và cộng sự (2003) thấy rằng những thay đổi trong danh mục cho vay của ngân hàng có thể được phản ánh bởi
Trang 21những thay đổi trong rủi ro tín dụng, do đó doanh số của các tổ chức tín dụng cũng
có thể bị ảnh hưởng Duca và McLaughlin (1990) chứng minh rằng sự thay đổi của rủi ro tín dụng là lý do chính trong việc giải thích các biến động trong lợi nhuận ngân hàng, vì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên Do đó, chất lượng các khoản cho vay là tiêu chí quan trọng hơn số lượng Ở một khía cạnh nào đó thì nghiên cứu của Bourke (1989) cũng có sự tương đồng với nghiên cứu của Duca và McLaughlin (1990) vì ông chỉ ra rằng lợi nhuận của các ngân hàng sẽ thấp hơn khi họ phải đối mặt với các khoản vay có nguy cơ mất khả năng thanh toán Trong cùng một cách tiếp cận, Miller và Noulas (1997) đã cho thấy rủi ro tín dụng
có tác động tiêu cực đến lợi nhuận Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi danh mục cho vay của các ngân hàng trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro nhiều hơn, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy, các ngân hàng với các khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao hơn sẽ có lợi nhuận thấp hơn
1.4.1.2 Tính thanh khoản
Bourke (1989) đã sử dụng tỷ số tài sản lưu động (tổng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán) trên tổng tài sản để đo lường tính thanh khoản Trong nghiên cứu của mình, ông đã khai thác dữ liệu từ các báo cáo tài chính của một mẫu gồm 90 ngân hàng từ 12 quốc gia trong mười năm từ 1972 đến 1981 Kết quả này cho thấy rằng tính thanh khoản có tác động cùng chiều lên lợi nhuận, gia tăng tỷ số này sẽ nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Molyneux và Thornton (1992) đã mở rộng các phương pháp luận của Bourke (1989) bằng cách sử dụng tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản để đo lường rủi ro thanh khoản, kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa tính thanh khoản và lợi nhuận trong
số 18 nước Châu Âu từ năm 1986 đến 1989 Sự trái chiều giữa các kết quả thực nghiệm của Molyneux và Thornton (1992) và Bourke (1989) có thể được giải thích bởi sự khác biệt trong độ nhạy cảm của nhu cầu vay vốn tại các khoảng thời gian khác nhau
Trang 221.4.1.3 Hiệu quả quản lý
Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định tỷ lệ chi phí hoạt động tác động tiêu cực lên lợi nhuận của các ngân hàng (Bourke, 1989) Nói chung, việc giảm chi phí, nghĩa là hiệu quả kinh doanh được cải thiện, sẽ làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng Ngược lại, Molyneux và Thornton (1992) cho thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ chi phí nhân viên với tổng tài sản và tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên tài sản Các kết quả cho thấy trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, sự gia tăng chi phí lương để đầu tư vào nguồn nhân lực có thể làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng Davydenko (2011) chứng minh rằng lợi nhuận của các ngân hàng Ukraina có tương quan âm với tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng tài sản Mối quan hệ ngược chiều này cho thấy sự yếu kém trong khả năng quản lý chi phí ngoài trả lãi của các ngân hàng Ukraina Mối quan hệ này cũng cho thấy rằng sự cạnh tranh buộc các ngân hàng Ukraina phải tiến hành cắt giảm chi phí, thay vì tăng lợi nhuận bằng cách tăng phí hoặc lãi suất đối với khách hàng Davydenko cũng lập luận rằng nếu một ngân hàng quản lý chi phí ngoài trả lãi một cách hiệu quả thì khi có sự gia tăng chi phí, ngân hàng có thể gia tăng biên độ lãi suất, từ đó sẽ nâng cao lợi nhuận
1.4.1.4 Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng là một trong các yếu tố nội bộ quyết định lợi nhuận vì trên thực tế các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng kinh doanh của mình bằng cách tăng tài sản và nguồn vốn Nói chung, các ngân hàng lớn có thể đạt được lợi nhuận cao từ lợi thế kinh tế theo quy mô trong hệ thống ngân hàng Biến số quy mô cũng bao hàm các yếu tố về chi phí, đa dạng hóa sản phẩm và rủi ro Một mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và lợi nhuận của ngân hàng là kết quả thực nghiệm từ các nghiên cứu của Smirlock (1985)
Có một lượng lớn các nghiên cứu về ảnh hưởng của lợi thế kinh tế theo quy
mô đến lợi nhuận ngân hàng Akhavein và cộng sự năm 1997; Bourke năm 1989; Molyneux và Thornton năm 1992; Bikker và Hu năm 2002; Goddard và cộng sự năm 2004 chứng minh rằng lợi thế kinh tế theo quy mô là kết quả của mối quan hệ
Trang 23cùng chiều giữa quy mô và lợi nhuận của ngân hàng Mặt khác, lợi nhuận của các ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa Các ngân hàng tận dụng lợi thế của sự đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nó cũng có thể làm giảm lợi nhuận Trong một nghiên cứu khác, Boyd, J.H và D.E Runkle (1993) đồng ý rằng khái niệm lợi thế kinh tế theo quy mô liên quan đến quy mô của ngân hàng Về lý thuyết, nếu lợi thế kinh tế theo quy mô tồn tại, các tổ chức tài chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với chi phí thấp hơn, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Athanasoglou P và cộng sự (2006) cho thấy một sự tăng trưởng thị phần của một ngân hàng có thể dẫn đến sự gia tăng trong tỷ suất sinh lợi và lợi nhuận Điều này có thể được giải thích bởi giả định đó là các ngân hàng lớn được hưởng lợi từ lợi thế kinh tế theo quy mô bằng cách cung cấp dịch vụ của họ với giá rẻ hơn và hiệu quả hơn so với các ngân hàng nhỏ Nếu Chính phủ tạo ra các rào cản nhằm hạn chế sự thành lập các ngân hàng mới (như Việt Nam đã làm trong năm 1997), các ngân hàng lớn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn
Ngược lại, Koch (1974) và Hashimi có một quan điểm đối lập, Hashimi (2007) cho rằng không nên đưa lợi thế kinh tế theo quy mô vào trong các nghiên cứu lợi nhuận bởi vì nó chỉ liên quan đến đơn giá và sản lượng, trong khi đó, quy mô doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi mới thực sự là đối tượng nghiên cứu của lợi nhuận Bên cạnh đó, Berger và cộng sự (1987); Boyd và Runkle (1993); Miller
Al-và Noulas (1997); Athanasoglou Al-và cộng sự (2005) chỉ ra rằng sự gia tăng quy mô ngân hàng chỉ tiết kiệm được một ít chi phí khi hệ thống ngân hàng mở rộng Trong khi đó, Eichengreen và Gibson (2001) đề xuất rằng sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác động cùng chiều lên lợi nhuận đến một mức nhất định nào đó Hơn nữa, họ cho rằng mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận ngân hàng là phi tuyến tính
1.4.1.5 Tỷ lệ vốn
Về lý thuyết, Short (1979) lập luận rằng tỷ lệ vốn (tức là tỷ số vốn và dự trữ trên tổng tài sản) của một ngân hàng gắn liền với quy mô của nó bởi vì các ngân
Trang 24hàng lớn có xu hướng làm ra lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng nhỏ dựa vào khả năng huy động vốn ít tốn kém hơn Tương tự như vậy, Bikker và Hu (2002), Goddard và cộng sự (2004) có cùng một lập luận rằng trong trường hợp các ngân hàng nhỏ và vừa, quy mô ngân hàng có liên quan đến lợi nhuận thông qua tỷ lệ vốn
Ngoài ra, còn có một số bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận, cụ thể, Bourke (1989) có cùng quan điểm với Short (1979) Bourke chỉ ra rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận vì thực tế cho thấy các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và thị trường tài sản tốt hơn, vì các ngân hàng này có ít rủi ro hơn Hơn nữa, các ngân hàng có tỷ lệ vốn cao, duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay, cũng có thể cải thiện lợi nhuận
Cùng quan điểm đó, Molyneux và Thornton (1992), Williams, Molyneux và Thornton (1994) và Molyneux và Forbes (1995) cũng cho thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và lợi nhuận trong thị trường ngân hàng châu Âu
Thông qua mô hình kiểm định nhân quả Granger, Berger (1995) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tại các ngân hàng của Mỹ trong những năm 1980, nhưng mối quan hệ này đã đổi chiều vào năm
1990 Trong nghiên cứu của mình, Berger mở rộng sự kiểm định bằng cách sử dụng các chi phí phá sản dự kiến Ông lập luận rằng chi phí bảo hiểm cho các khoản nợ (không được bảo hiểm) thấp hơn sẽ tạo ra một tỷ lệ vốn và ROE cao hơn
1.4.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô
1.4.2.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Đã có khá nhiều nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng GDP lên lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xem tốc độ tăng trưởng GDP như một biến giải thích cho lợi nhuận ngân hàng Theo các nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992), tỷ lệ tăng trưởng GDP tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng Kết quả thực nghiệm này được
Trang 25khẳng định trong một số nghiên cứu khác của Hassan và Bashir (2003), Pasiouras
và Kosmidou (2007), và Kosmidou (2008), rộng hơn, các nghiên cứu này cho rằng hiệu quả hoạt động của ngành tài chính tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng GDP
Tại Brazil, Afanasieff và cộng sự (2002) đã sử dụng dữ liệu mảng để tìm ra một điều đó là cũng giống như lạm phát kỳ vọng, tốc độ tăng trưởng GDP là một trong các yếu tố quan trọng quyết định lợi nhuận ngân hàng Mặt khác, bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu của Hoggarth và cộng sự (1998) cho thấy rằng lợi nhuận của các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi GDP, nhưng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng ở Anh cao hơn ở Đức lại không thể giải thích thông qua GDP thực Ở một nghiên cứu khác, Athanasoglou và cộng sự (2005) cho thấy chu kỳ kinh doanh có tác động cùng chiều đến lợi nhuận của ngành ngân hàng
Hy Lạp Tuy nhiên, trong giai đoạn suy thoái, ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh là không đáng kể Tương tự, Flamini và cộng sự (2009) cũng chứng minh rằng trong giai đoạn này, chất lượng tín dụng sẽ giảm, do đó làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng (khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống, thậm chí là âm)
1.4.2.2 Tốc độ lạm phát
Tác động của môi trường kinh tế vĩ mô lên lợi nhuận của ngân hàng đã được nghiên cứu khá rộng rãi, trong đó tỷ lệ lạm phát là yếu tố tiêu biểu Mối liên hệ giữa lợi nhuận ngân hàng và tỷ lệ lạm phát đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Revell (1979) Ông ấy đã chứng minh rằng lạm phát tác động lên lợi nhuận ngân hàng thông qua mối liên hệ giữa tốc độ tăng của tiền lương và các chi phí hoạt động với tỷ lệ lạm phát Khả năng quản lý hiệu quả chi phí hoạt động của các ngân hàng phụ thuộc vào khả năng dự báo lạm phát trong tương lai, mà mức độ chính xác của các dự báo này phụ thuộc rất nhiều vào sự hoàn thiện của môi trường kinh tế vĩ mô Tương tự, Perry (1992) đã chỉ ra tác động của lạm phát kỳ vọng lên lợi nhuận ngân hàng Cụ thể, trong trường hợp các nhà quản lý có thể đưa ra một mức lạm phát kỳ vọng tương đối chính xác, ngân hàng cần điều chỉnh các mức lãi suất một cách thích hợp để doanh thu tăng nhanh hơn chi phí
Trang 26Bên cạnh đó, Bourke (1989) và Molyneux và Thornton (1992) đã chỉ ra tác động cùng chiều của lạm phát và lãi suất dài hạn lên lợi nhuận Ngoài ra, Kaya (2002) cũng đã khẳng định rằng trong số các yếu tố quyết định của kinh tế vĩ mô thì lạm phát và thâm hụt ngân sách có tác động đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại
1.4.3 Các yếu tố khác
1.4.3.1 Hình thức sở hữu ngân hàng
Nghiên cứu đầu tiên về tác động của hình thức sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng được thực hiện bởi Vernon (1971) Trong nghiên cứu đó, Vernon đã cho thấy có sự khác biệt giữa hình thức quản lý và hình thức sở hữu của các ngân hàng Ngoài ra, Short (1979) cho thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận ngân hàng và quyền sở hữu của Nhà nước Bên cạnh đó, Bourke (1989)
đã thử nghiệm tác động của sở hữu Nhà nước trên lợi nhuận của các ngân hàng bằng cách sử dụng một biến nhị phân đại diện cho quyền sở hữu của Nhà nước Ông chỉ ra được sự tác động ngược chiều của biến giả đại diện cho quyền sở hữu Nhà nước lên biến phụ thuộc được lượng hóa thông qua tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lợi trên tài sản Biến giả đại diện cho sở hữu Nhà nước mang giá trị dương khi biến phụ thuộc dùng để đo lường lợi nhuận tăng thêm một vài đơn vị Giá trị tăng thêm đó bao gồm chi phí nhân viên và dự phòng rủi ro các khoản cho vay Cho hai biến phụ thuộc, lợi nhuận trước thuế cộng với chi phí nhân viên theo phần trăm của tổng tài sản, lợi nhuận sau thuế cộng với chi phí nhân viên và dự phòng rủi ro các khoản cho vay theo phần trăm của tổng tài sản, lúc này biến giả sẽ mang giá trị âm Qua đó, có thể chứng minh rằng việc quản lý chi phí nhân viên trong nhóm ngân hàng quốc doanh là không hiệu quả Kết quả thực nghiệm này cho thấy năng suất lao động trong các ngân hàng tư nhân cao hơn so với các ngân hàng
sở hữu Nhà nước Molyneux và Thornton (1992) đã tiến hành một số nghiên cứu, trong đó có một mẫu lớn gồm mười tám nước châu Âu từ năm 1986 đến năm 1989, được thực hiện dựa trên các nghiên cứu của Bourke ( 1989) Ngược lại với mối
Trang 27quan hệ trong các nghiên cứu trước đó, Molynuex và Thornton (1992) , Williams , Molyneux và Thornton (1994) và Molyneux và Forbes (1995) cho thấy rằng quyền
sở hữu của Chính phủ các ngân hàng châu Âu có một tác động tích cực lên lợi nhuận trên vốn Do đó, có thể kết luận rằng các ngân hàng tư nhân tạo ra lợi nhuận trên vốn thấp hơn so với các ngân hàng quốc doanh
1.4.3.2 Tính tập trung của thị trường trong ngành ngân hàng
Phần lớn các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng liên quan đến hai giả thuyết, đó là giả thuyết sức mạnh thị trường và giả thuyết cấu trúc hiệu quả Theo Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992), giả thuyết sức mạnh thị trường, còn được gọi là giả thuyết cấu trúc - vận hành - hiệu quả (SCP: Structure – Conduct - Performance), tỷ lệ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Giả thuyết này giả định rằng các ngân hàng có thể kiếm được lợi nhuận độc quyền bằng cách tận dụng sức mạnh thị trường Giả thuyết cấu trúc hiệu quả cũng ủng hộ quan điểm rằng sự tập trung trong lĩnh vực ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng có mối quan hệ đồng biến Theo giả thuyết này, một số ngân hàng nhỏ có thể liên kết với nhau để tạo ra lợi ích nhóm Lợi ích nhóm có thể gây hại cho khách hàng và đối thủ cạnh tranh vì các ngân hàng thông đồng với nhau để tăng lãi suất cho vay và giảm lãi suất huy động cho các cá nhân Tầm quan trọng của cấu trúc thị trường và các biến đặc trưng của ngành ngân hàng có thể được giải thích bởi giả thuyết SCP Giả thuyết này giả định rằng các điều kiện cơ cấu thị trường, bao gồm cả số lượng, quy mô của các công ty và các điều kiện gia nhập xác định sự cạnh tranh trong một thị trường Một số nghiên cứu liên quan đến giả thuyết SCP cũng phù hợp với thị trường cạnh tranh ( Berger, 1995; Goddard và cộng sự, 2004; Molyneux và cộng sự, 1996) Altunbaş và cộng sự (2001) và Schure và cộng sự (2004) cho thấy mức độ hiệu quả của các ngân hàng khác nhau đáng kể giữa các ngành ngân hàng Các giả thuyết nêu trên đã được thử nghiệm bởi Smilock (1985) và Berger (1995), người đã chỉ ra mối quan hệ của cấu trúc lợi nhuận trong ngành ngân hàng
Trang 281.5 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Với các yếu tố đã được xác định, để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố nội tại của ngân hàng và yếu tố vĩ mô lên lợi nhuận của ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, tác giả dự kiến sử dụng mô hình nghiên cứu sau:
LNit = β0 + β1TKit + β2QMit + β3RRit + β4HQit + β5TLit +β6GDPt + β7LPt + eitTrong đó:
LNit là lợi nhuận của ngân hàng i ở thời điểm t – được lượng hóa bởi hai tỷ
số là ROA và ROE
TKit là chỉ số thanh khoản của ngân hàng i ở thời điểm t
QMit là quy mô của ngân hàng i ở thời điểm
RRit là chỉ số rủi ro tín dụng của ngân hàng i ở thời điểm t
HQit là chỉ số hiệu quả quản lý của ngân hàng i ở thời điểm t
TLit là tỷ lệ vốn của ngân hàng i ở thời điểm t
GDPt là tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm t
LPt là chỉ số lạm phát tại thời điểm t
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng thương mại đã được thực hiện trong rất nhiều nghiên cứu, tạp chí và luận văn trước đây Tuy nhiên, một nghiên cứu chính thức về vấn đề này tại thị trường Việt Nam thì vẫn chưa được thực hiện Chương này tập trung vào cơ sở lý thuyết, kết quả thực nghiệm và phương pháp sử dụng trong nghiên cứu lợi nhuận của ngân hàng thương mại Về mặt lý thuyết, có ba nhóm yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, cụ thể là các yếu tố đặc thù của ngân hàng (nội tại), yếu tố ngành và kinh tế vĩ
mô (yếu tố bên ngoài) Nhóm yếu tố đặc thù của ngân hàng bao gồm quy mô ngân hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý và tỷ lệ vốn Trong khi
đó, nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng GDP và lạm phát Một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng lợi nhuận của ngân hàng phần lớn bị ảnh hưởng bởi nhóm yếu tố đặc thù của ngân hàng và nhóm yếu tố ngành Tuy nhiên, cũng có một số bằng chứng cho thấy nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả sẽ tập trung phân tích và đánh giá 02 nhóm yếu tố đó là: nhóm yếu tố nội tại của ngân hàng và nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô
Trang 30CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Cho đến nay, ngành ngân hàng Việt Nam đã trải qua những cải cách đáng kể
từ cuối những năm 1980, góp phần cải thiện hoạt động của hệ thống ngân hàng Khung thể chế và chức năng của các ngân hàng đã được nâng cao một cách hiệu quả Môi trường kinh doanh cũng đã được tổ chức theo hướng tăng cường sự cạnh tranh Bên cạnh đó, Ngân hàng Việt Nam đã từng bước tham gia và trở thành một phần của các thị trường tài chính toàn cầu Để phù hợp với những chuyển biến tích cực đó, các ngân hàng Việt Nam đã tăng cường công nghệ để hỗ trợ cho các hoạt động và tăng lợi nhuận Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu bảng cân đối kế toán của
09 ngân hàng thương mại đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dữ liệu được lấy từ báo cáo thường niên của các ngân hàng và dữ liệu vĩ mô
từ năm 2006 - 2011 Do đó, tập dữ liệu có tổng cộng 54 quan sát Báo cáo thường niên được lấy từ website chính thức của từng ngân hàng, trong khi đó dữ liệu vĩ mô được thu thập từ website của Tổng cục Thống kê
Bảng 2.1: Tóm tắt thống kê mô tả của các biến lựa chọn
Mẫu quan sát
(Observations)
Bình quân (Mean)
Trung vị (Median)
Độ lệch chuẩn (Std Dev.)
Lớn nhất (Maximum)
Nhỏ nhất (Minimum)
Trang 31Bảng 2.1 chỉ ra mô tả thống kê tóm tắt của các biến độc lập và biến phụ thuộc bao gồm các thông số bình quân, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất Bình quân giá trị của ROE cao hơn ROA (14,57% so với 0,88%)
Độ lệch chuẩn của ROE cũng cao hơn ROA Bình quân tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản (TK) là 42,34% và độ lệch chuẩn của tỷ số này là 52,85% Tỷ số dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ (RR) có giá trị bình quân là 1,11% và độ lệch chuẩn là 3,7% Trong khi đó, tỷ số chi phí ngoài trả lãi trên tổng tài sản (HQ) có giá trị bình quân là 1,09% và độ lệch chuẩn là 2,24% Tỷ số nguồn vốn trên tổng tài sản (TL) có giá trị bình quân và độ lệch chuẩn lần lượt là 6,9% và 15,88% Chỉ số giá tiêu dùng CPI (LP) có giá trị bình quân cao hơn hẳn giá trị bình quân của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (12,57% so với 7,69%)
2.2 Lƣợng hóa các biến
2.2.1 Biến phụ thuộc
Theo các nghiên cứu của Sufian, F (2009), Ben Naceur và Goaied (2008), Kosmidos và cộng sự (2005), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) được sử dụng để lượng hóa lợi nhuận của các ngân hàng
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) chỉ ra bao nhiêu lợi nhuận các ngân hàng thương mại có thể tạo ra bằng cách sử dụng một đơn vị tài sản, mặc dù nó có thể bị bóp méo bởi các hoạt động ngoại bảng Tuy nhiên, đối với các NHTM Việt Nam, các hoạt động này là không đáng kể Hassan và Bashir (2003) lập luận rằng ROA có thể cho thấy khả năng của các ngân hàng trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận ROA là chỉ tiêu quan trọng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Cùng quan điểm này, Rivard và Thomas (1997) chứng minh rằng ROA là giá trị lượng hóa tốt nhất cho lợi nhuận ngân hàng vì đòn bẩy tài chính cao của các ngân hàng sẽ không ảnh hưởng đến ROA Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng đối với các tổ chức tài chính cũng như các ngân hàng, ROA có
xu hướng thấp hơn so với các ngành khác Tuy nhiên, các hoạt động nội bảng có thể ảnh hưởng đến giá trị ROA
Trang 32Mặt khác, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho thấy hiệu quả quản
lý của các ngân hàng trong việc sử dụng vốn cổ đông Các ngân hàng có xu hướng
sử dụng đòn bẩy cao, do đó họ thường đạt được ROE cao nhưng ROA thấp ROE
có thể được tính bằng cách nhân ROA với tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính có thể tác động đến giá trị của ROE Tuy nhiên, nhược điểm của ROE là không thể giải thích cho những rủi ro của đòn bẩy tài chính cao Đây chính
là lý do mà ROA trở thành chỉ số chính lượng hóa cho lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam, cả hai tỷ số ROA và ROE đều
là tiêu chí quan trọng đối với cơ quan quản lý và các ngân hàng trong việc quyết định các chiến lược quản lý phù hợp
Tỷ số tài sản lưu động (bao gồm tiền mặt, tiền gửi và chứng khoán đầu tư của ngân hàng) trên tổng tài sản được sử dụng để lượng hóa tính thanh khoản của ngân hàng Theo Athanasoglou và cộng sự (2006), tỷ số này tốt hơn tỷ số nợ trên tổng tài sản trong việc lượng hóa tính thanh khoản của ngân hàng Tuy nhiên, nắm giữ nhiều tài sản lưu động sẽ làm giảm khả năng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng
vì tài sản lưu động đóng vai trò trong việc giải quyết các khoản nợ phát sinh hơn là đầu tư tạo ra lợi nhuận Vì vậy, tỷ số thanh khoản được dự báo sẽ có mối quan hệ nghịch biến với lợi nhuận của ngân hàng
Trang 33 Quy mô ngân hàng
Để có thể tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng cần lựa chọn quy mô tối ưu Điều này chứng minh rằng quy mô ngân hàng có cả tác động tích cực và tiêu cực lên lợi nhuận Nhìn chung, trong một giới hạn nhất định, sự tăng trưởng về quy mô của các ngân hàng sẽ làm tăng lợi nhuận, lúc này, các ngân hàng sẽ có lợi thế cạnh tranh về quy mô Tuy nhiên, nếu các ngân hàng đạt đến quy mô quá lớn, lợi nhuận
có thể bị ảnh hưởng xấu bởi sự gia tăng quy mô do các yếu tố như quan liêu, bộ máy nhân sự cồng kềnh và sự sụt giảm năng suất làm việc của nhân viên Như vậy, mối liên hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận có thể được kết luận là một mối quan hệ phi tuyến tính Từ đó, logarit của tổng tài sản ngân hàng sẽ được sử dụng
để nghiên cứu mối quan hệ này Tuy nhiên, với thực tế thị trường tại Việt Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, kỳ vọng mối quan hệ này sẽ là đồng biến
Rủi ro tín dụng
Trong ngành ngân hàng, rủi ro tín dụng chính là rủi ro lớn nhất và cần lưu tâm nhiều nhất Rủi ro tín dụng tác động lên lợi nhuận của tất cả các tổ chức tài chính, bao gồm cả ngân hàng Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc các khách hàng mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của mình trong việc thanh toán nợ đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng Chính vì điều này mà rủi ro tín dụng tác động cực kỳ mạnh mẽ lên sự tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng
Trong nghiên cứu này, tỷ số dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ sẽ được
sử dụng để phản ánh rủi ro tín dụng mà các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt Theo
lý thuyết của Stubos và Tsikripis (2005), trong một nền kinh tế kế hoạch tập trung, các nguồn tín dụng được sử dụng như một công cụ để thực hiện các mục tiêu của chính phủ, do đó, việc đánh giá rủi ro tín dụng được bỏ qua Nền kinh tế Việt Nam
và khu vực ngân hàng đang trong quá trình cải cách theo nền kinh tế thị trường, vẫn chưa thoát khỏi chế độ cũ, vì vậy, phần lớn các nguồn tín dụng được phân bổ theo các tiêu chí chính trị thay vì năng suất biên của dự án
Trang 34Theo Miller và Noulas (1997), rủi ro tín dụng của các ngân hàng tăng sẽ làm giảm lợi nhuận do sự tích lũy các khoản nợ xấu Do đó, NHNN đã quy định cụ thể mức dự phòng đối với các khoản tín dụng tại các NHTM nhằm tối thiểu hóa rủi ro tín dụng có thể xảy ra Mức dự phòng này cũng được điều chỉnh theo từng thời kỳ
để phù hợp với cơ chế và sự phát triển của thị trường Do đó, rủi ro tín dụng có thể được khái quát như là một biến xác định trước Theo các nghiên cứu trước đây như Athanasoglou và cộng sự (2006), Athanasoglou và cộng sự (2008), Sufian (2009) cho rằng sự gia tăng rủi ro tín dụng sẽ làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng, do
đó, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ có mối quan hệ nghịch biến giữa yếu tố rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng
Hiệu quả quản lý
Trong ngành ngân hàng, số lượng nhân viên được sử dụng là rất nhiều, do
đó, chi phí quản lý chung sẽ là gánh nặng lớn đối với các ngân hàng hoạt động không hiệu quả Tỷ số chi phí ngoài trả lãi trên tổng tài sản được sử dụng để lượng hóa cho yếu tố hiệu quả quản lý của các ngân hàng Chi phí ngoài trả lãi bao gồm chi phí lương, trợ cấp và chi phí hoạt động của hệ thống Hiệu quả quản lý của ngân hàng thường được phân tích và đánh giá thông qua chi phí hoạt động
Một số nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề này đã cho rằng việc cải thiện hiệu quả quản lý cùng với giảm chi phí ngoài trả lãi có thể nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Cụ thể, Bourke (1989) đã chỉ ra được mối quan hệ ngược chiều giữa chi phí ngoài trả lãi và lợi nhuận ngân hàng trong nghiên cứu của mình Ở một khía cạnh khác, việc trả lương cao hơn cho nhân viên lại có thể nâng cao lợi nhuận ngân hàng Chính từ thực tế này, Molyneux và Thornton (1992) đã cho rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí ngoài trả lãi và lợi nhuận Với cùng quan điểm trên, Claessens, Demirgüç-Kunt và Huizinga (2001) cho rằng sự dư thừa lao động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng tại các nước đang phát triển với mức thu nhập thấp, thế nhưng ảnh hưởng này sẽ trở nên tích cực đối với các ngân hàng hoạt động ở những nước phát triển với mức thu nhập cao Bên cạnh đó, với những đề xuất trong nghiên cứu của Sathye (2001), ngành ngân hàng đang phát triển tại Việt